Hiển thị các bài đăng có nhãn Huy Phương. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Huy Phương. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 12 tháng 9, 2018

Lê Nin trước mặt tôi - HUY PHƯƠNG

Lê Nin ngồi trước mắt tôi
Tay bóp trán, trần ngâm, suy nghĩ
- Bức tranh nhỏ tôi mua ngoài phố
Giữa hàng trăm tờ báo cũ phai màu
Nhưng Lê Nin với đôi mắt thẫm sâu
Vẫn chói lọi giữa đống giấy nhàu thời sự -

Lê Nin về cùng tôi từ đó
Ngày đêm Người gần gũi bên tôi
Phòng nhỏ đơn sơ, đối diện với Người
Tôi bỗng thấy tôi vô cùng giàu có!

Những buổi mai mặt trời rực đỏ
Những đêm dài không ngủ, trầm ngâm
Những ngày mưa rả rích âm thầm
Người vẫn lặng bên tôi, suy nghĩ.
Và tôi bên Người, cần cù bền bỉ
Bút chẳng rời tay kiên nhẫn làm thơ
Tôi muốn được cùng Người lặng lẽ thi đua
Người suy nghĩ và tôi sáng tác

Trên vách lặng Người nhìn tôi thầm nhắc:
- Thuở hoa niên, ta cũng như anh:
Yêu cuộc sống vinh quang, yêu Tổ quốc chân thành
Là biết sống không ngừng sáng tạo !

Cám ơn Lê Nin !
Người đã giúp tôi qua những ngày giông bão
Những phút run tay mình tưởng thiếu tin mình
Những mẩu đời ti tiện, lưu manh
Muốn nắm cẳng lôi tôi sụp đổ

Những sau những giờ loanh quanh đường phố
Những phút hoa tay, mím lợi, chau mày
Tôi lại về trong phòng,
Lê Nin của tôi đây
Vẫn bình tĩnh trước bàn suy nghĩ

Trên đường lớn đi lên chân lý
An ủi bao nhiêu những đôi mắt chân thành,
Khi nhớ một nụ cười, một mảng trời xanh,
Một nắm tay đựa nặng tình đồng chí
Ta đứng dậy đi vào giông bão
Không một lần ngợ bước, run tay.
Mỗi một niềm tin còn trọn vẹn hôm nay
Mạng lịch sử
                     bao nỗi niềm đầu tiên
                                                         bé bỏng !

Cám ơn Lê Nin, đôi mắt từ dĩ vãng
Rọi sáng bây giờ, và cả những ngày mai
Như ánh sao đêm thao thức chân trời
Vĩnh viễn yêu thương
                                     chan hòa,
                                                          suy nghĩ

Đôi mẳt bên tôi ngày đêm gần gũi
Vượt trên tất cả :
                            Thời gian - bia đá - tượng đồng.
                                             5-1957
                                    Báo Văn Nghệ 1957

 


CÂU CHUYỆN 60 NĂM SAU

Ngày 12/9/2018, trên Facebook có người đăng ảnh bài thơ được dịch ra tiếng Nga đăng trên tờ Pravda 5/9/1958. Đó cũng là ngày sinh nhật của chủ nhân Facebook. Nhân dịp này, một anh bạn người Nga, gửi tặng chủ nhân FB tờ Pravda đăng ngày này có một bài thơ của tác giả Việt Nam, nhan đề Bức Chân dung.

Chủ nhân FB không tìm được tác giả bèn nhờ một người bạn dịch ra tiếng Việt và đăng lên FB. Chỉ 3 tiếng sau, thông điệp đã tới được tôi. Tôi đã nhận ra đó chính là bài thơ của cha tôi, với phong cách suy tư và thơ bậc thang sở trưởng của ông. Thật kỳ diệu, hôm nay cũng là ngày sinh nhật của con trai tôi, cháu đích tôn của Người.

Tôi không tìm được bức tranh nào của Lê Nin bóp trán suy nghĩ. Chỉ có một bức tranh thời trẻ của Lê Nin. Tôi hiểu rằng cha tôi dùng Lê Nin như một biểu tượng và câu cuối cùng "Vượt trên tất cả : Thời gian - bia đá - tượng đồng" cho thấy ông không hề nghĩ về Lê Nin như một lãnh tụ cần phải sùng bái như đa số người thời đó.

Sau đây là bản dịch từ tiếng Nga ra tiếng Việt của Nguyễn Hải Thanh 
BỨC ẢNH
Hữu Phương
Ánh sáng diệu kì từ nụ cười trong lành
Khuôn mặt Người tư tưởng lớn lao tỏa sáng
Trong phòng tôi đã bao năm bức ảnh
Ngày dần trôi qua đi năm tháng
Trang báo từ lâu đã ngả màu rồi
Và bức ảnh cũng ngả màu thời gian
Nhưng đôi mắt thân yêu như mặt trời luôn rực sáng
Từ trên tường cao vẫn dõi nhìn thân quen một nụ cười
Từ bức ảnh bước ra Lê Nin thường tới bên tôi
Và trái tim tôi lại hòa nhịp đập cùng trái tim Người
Khiêm nhường căn phòng tôi nhưng tôi có trên tường bức ảnh
Nên đời tôi giàu có biết bao nhiêu
Những đêm không ngủ tràn về bao suy nghĩ
Những ngày u ám ào ạt mưa dông
Luôn cùng tôi trong nắng sôi hay buốt giá
Niềm tin, cách nhìn và tư tưởng của Lê Nin
Tôi nhìn lên bức ảnh và trào dâng con sóng
Nhiệt huyết tràn lồng ngực giục tiếng hát trái tim
Nụ cười của Người, thưa đồng chí Lê Nin,
Cho những vần thơ của tôi thêm sức mạnh
Cuộc tranh đấu này của chúng ta đầy gian khổ
Đường tới chiến thắng bao khốc liệt, chông gai
Nhưng trong lành và xán lạn nụ cười của Người
Giúp chúng ta tiến lên phía trước
Và chúng ta bước qua bao cuộc chiến
Dù cho bao bão lửa hiểm nguy
Chúng ta vượt qua có xá chi
Theo con đường Lê Nin thân yêu chỉ lối
Ánh nhìn người cha tỏa nụ cười tươi sáng
Từ bức ảnh đôi mắt thân yêu vẫn dõi nhìn
Cảm ơn Lê Nin vì Người luôn cùng bên
Luôn ở bên cùng các dân tộc toàn thế giới.
(5/ 9/1958 Dịch từ bản tiếng Việt của Hữu Phương sang tiếng Nga công bố trên Báo Sự Thật của ĐCS Liên Xô: M. Vaksmakher)
(12/9/2018 Dịch từ bản tiếng Nga của M. Vaksmakher sang tiếng Việt tặng Nguyễn Chánh tuổi 60: link Nguyễn Hải Thanh)




Thứ Sáu, 13 tháng 3, 2015

EM TÔI Thơ của Huy Phương

Bài thơ của cha tôi gửi tặng cô tôi là nhà văn Thanh Hương

Thuở ấy miền Hương Ngự
Dịu dàng như một lá thư xanh
Một dòng sông xinh
Đôi bờ thông nhỏ
Có con đường ngát gió
Về Nam Giao bóng nắng chênh chênh.
Em tôi áo biếc hiền lành
Lòng vui bước rộn nhanh nhanh đường dài
Phấn thông tỏa xuống lưng đồi
Lòng em cùng với hương đồi lâng lâng
Em thích bóng trăng
Vờn trên trang sách ngỏ
Em thích nghe tiếng gió
Ngân dài trong đêm sương
Mùa qua dệt mộng bình thường
Lững lờ trong nhịp dòng Hương khoan hò.\
Nhưng rồi có một mùa thu
Nắng không vàng xao xác
Súng nổ, đô thành tan tác
Máu hồng hoen ố đường xanh
Hướng về núi Ngự chênh chênh
Mịt mù khói tỏa, dập dềnh súng ngân
Em tôi cũng lên đường
Một sáng mùa thu ấy
Trong tiếng gọi mười phương
Cả đô thành bừng dậy hiên ngang.
Mẹ già đưa tiễn bên nương
Ngùi ngùi tóc trắng, vương vương lệ sầu
Em cười: “Năm bảy tháng sau
Con về với mẹ, có sao mẹ buồn?”
Nắng vàng ngả bóng nẻo thôn
Em đi, bước rộn trên đường vui vui.
Rồi từ đấy xa xôi
Em ra miền Bắc Việt
Trập trùng cao núi biếc
Ngàn ngạn dải sương xanh
Bốn mùa áo biếc hiền lành
Em vui gian khổ, vui tình núi sông
Em mơ một thuở phản công
Trở về Hương Ngự miền Trung với mẹ già
Với trang sách nhỏ đơn sơ
Chiều chiều có bóng trăng mờ nghiêng nghiêng.
Đêm nay gió lạnh mênh mang
Em tôi có nhớ nẻo đường chênh chênh
Một mùa thông ngát màu xanh
Mai sau cờ đỏ rung rinh sao vàng.
                               Hà Tĩnh, 4.1950

SA MẠC Truyện ngắn của Huy Phương

Image result for Desert
Anh vừa ngồi vào bàn, viết được mấy dòng thì điện tắt. Cơ sự sẽ ra sao nếu sáng hôm nay anh không nộp được bài bình luận thời sự cho ông thư ký tòa soạn? Từ cửa miệng anh bật ra một tiếng nguyền rủa. Căn buồng bỗng tối như bưng. Anh rủa ai. Rủa cái anh nhà máy điện tùy tiện cửa quyền hay rủa số phận đã đem nhốt anh vào cái căn buồng không có cửa sổ này? Dẫu chỉ là viết một bản tin, việc đó cũng cần đến lòng say mê và cảm hứng. Nhưng có ai cần đến cảm hứng của anh kia chứ. Hai bàn tay anh sờ soạng trên cái mặt bàn ram ráp những vết mọt nhấm, giống như bàn tay một pháp sư lần tìm phép lạ. Cái bao diêm đây rồi. Một tia lửa bật lên vừa đủ hắt ánh sáng lên một cái thông phong đèn ám khói. Nhưng anh chưa kịp mừng rỡ vì cái điều may mắn đầu tiên trong một ngày thì từ phía ngoài sân đã nghe những chiếc xô sắt loảng xoảng va vào nhau và có tiếng hét bai bải của chị hàng xóm: Đứa nào trút xô nước của tao? Tiên sư cái con đĩ nào? Anh thở dài, ném que diêm xuống đất. Làm sao anh còn có thể quan tâm đến cuộc chiến tranh bên cái vịnh Ba Tư xa lắc ấy, một khi những cuộc chiến tranh vẫn cứ diễn ra hàng ngày, trong cái sân nhỏ kia, ngay trước cửa buồng anh.
Xứ Mêdôpôtami ở vùng Trung Á xưa kia vốn là một vùng đất phì nhiêu. Vậy mà do nạn phá rừng và khô kiệt nguồn nước, chỉ trong vòng mấy trăm năm, quá nửa đã trở nên một miền sỏi đá cằn cỗi. Hai hôm nay, kể từ lúc đi thăm ông bạn họa sỹ ấy trở về, không biết vì sao cái ý nghĩ về những vùng sa mạc xa xôi cứ luôn ám ảnh anh. Đã đến lúc, ngoài Đức ra, anh không có một người bạn nào khác trong cái thành phố này. Anh yêu Đức, chẳng phải vì những bức tranh của anh ta mà chỉ vì những gì anh trông thấy đằng sau những bức tranh ấy: một tài năng, một tâm hồn nghệ sỹ bẩm sinh. Chỉ có điều, luôn trong hàng chục năm trời này, Đức đã ra công cắt xén, nhào nặn tài năng ấy vào trong một cái khuôn tưởng tượng nào đó. Và tâm hồn anh, anh đã chà xát, vắt kiệt nó như một người thợ giặt tận tụy với nghề. Là bạn của Đức từ ngày còn trên ghế nhà trường phổ thông, từ những buổi đầu, khi Đức đang là một họa sỹ không có tên tuổi gì, anh biết rõ như thế. Nhưng thoạt tiên, điều ấy đối với anh mới đang là một linh cảm, một nỗi lo ngại mơ hồ. Hai ngàn năm trước Công nguyên, trên vùng đất Mêdôpôtami đúng là đã có một vương triều hùng mạnh, và năm trăm năm sau Công nguyên là cả một đế quốc cường thịnh. Sự suy sụp có thể là do một thái độ khinh suất đối với thiên nhiên, hoặc giả là lòng ham mê võ công và danh vọng đã làm hỏng tất cả. Còn đối với Đức, thì mọi biến đổi đã bắt đầu theo một lối khác. Những bạn bè gần gũi nhất của anh ở cái thành phố này hồi ấy hẳn vẫn chưa quên ba bức tranh sơn dầu ký tên Hoàng Đức, trưng bày ngay ở lối ra vào của phòng triển lãm tranh toàn quốc. Bức thứ nhất là một bức tĩnh vật và hai bức sau là hình ảnh của ngõ phố Hà Nội một chiều mưa với lối đi lầy lội, những gốc bàng già cỗi, những em bé nép bên vỉa hè ngước đôi mắt thơ ngây nhìn lên bầu trời, cả hai cùng một đề tài nhưng ở hai khung cảnh và sắc độ khác nhau. Báo chí nghệ thuật bình luận nghiêm khắc về ba bức tranh đó mà họ cho là đen tối về nội dung và suy đồi về phong cách. Thời kỳ đó, mỗi tác phẩm nghệ thuật, dẫu thuộc thể loại nào đều được xem như là một tuyên ngôn về chính kiến của tác giả. Hai bức “mưa chiều” mang ẩn ý bi quan của tác giả điều đó là khó chối cãi. Còn bức tranh tĩnh vật, chính vì nó từ chối không nói điều gì, nên ắt là một lời nói che giấu và đáng ngờ… Hoàng Đức thấy choáng váng vì bất ngờ khi đọc mấy bài báo ấy. Nhưng một con người như anh không chịu thất bại dễ dàng, sau một lần va vấp. Mình sẽ làm lại từ bước đầu tiên, Đức nói với anh như thế. Và quả thực anh đã làm, như anh nói. Anh mang giá vẽ lên Tây Bắc, lặn lội vào các tỉnh miền Trung, đến những nơi có chiến sự gay go nhất. Hai năm liền, gần như anh bặt tin, chỉ có vợ anh là thỉnh thoảng nhận được một lá thư, không có địa chỉ rõ ràng gửi về từ một nơi nào đó. Trên một trang giấy xé từ sổ tay ra, Đức nhắn anh một dòng ngắn ngủi: “Mình đang làm lại tất cả. Cuộc sống thật là lớn lao và đó là cái nguồn vô tận của nghệ thuật. Cậu hãy chờ xem những tác phẩm của mình”. Quả nhiên, cuối năm ấy, áp Tết, Đức đã trở về với những cuộn tranh bột màu, những phác thảo và ký họa, xếp đầy trong hai chiếc ba lô lớn. Căn nhà của Đức trở nên một phòng trưng bày suốt ngày nườm nượp khách ra vào, trong đó có đại diện quan trọng của các ngành văn hóa, những giáo sư mỹ thuật lão thành. Mọi người kinh ngạc trước hình ảnh mới mẻ và sống động mà tác giả đã ghi lại trên những tờ giấy như còn phảng phất mùi khói súng và cái màu nắng gió rực rỡ từ những dốc núi, bến sông, những công trường dã chiến trong hang đá. Anh cũng ngạc nhiên, nhưng với cái cảm giác bỡ ngỡ như chợt bắt gặp trên những bức tranh của bạn một con người khác hẳn, sắc sảo, tinh tường trên từng nét bút thật là khác lạ với người bạn họa sỹ mà anh từng biết lâu nay. Cũng không hẳn là như thế. Ở những ký họa chép lại một gương mặt thiếu nữ, một lối mòn gập ghềnh ven đồi, ánh đèn trong đêm hắt lên đôi mắt người lính trẻ, đây đó anh vẫn còn nhận ra cái sức rung cảm bí ẩn bắt nguồn từ một bản năng cảm nhận tinh tế và bộc trực nó vốn là cái nét tài hoa riêng biệt của Đức. Nhưng khi được bố cục thành những bức tranh thì tất cả đều mất đi, mà chỉ còn lại là những hình khối, mảng màu hướng về một ý định nào đó vừa chung chung mà lại vừa quá lộ liễu, làm tan biến hết những ấn tượng mạnh mẽ mà người xem vừa thấy nhóm lên khi nhìn vào tranh. Cảm giác ấy anh không thể nói với Đức. Vả chăng điều ấy phỏng có ý nghĩa gì? Sa mạc cũng có cái nét hùng vĩ riêng của nó. Và sỏi cát là cái gì, nếu không phải cũng chỉ là đất bị phong hóa, bị xói mòn mặt trời nung đốt hàng trăm, hàng ngàn năm mà hóa thân. Ai biết được xung quanh những thành cổ Babylon, một trong bảy kỳ quan thế giới, xưa kia đã từng có cuộc sống rực rỡ đến thế nào? Đức đã tìm thấy nghệ thuật trong lòng cuộc sống. Nhưng cuộc sống chỉ riêng nó phải chăng đã là cái khuôn của nghệ thuật? Đức không cần đặt câu hỏi đó vì anh tin vào tay nghề tài hoa của anh. Những năm sau đó, Đức vẽ tranh ngày một nhiều hơn, liên tiếp đi từ thành công này đến thành công khác. Bức sơn dầu “Bình minh rực rỡ” của anh, vẽ về nông trường chăn nuôi Tam Đảo được giải nhất trong cuộc triển lãm liên tỉnh. Bộ tranh thuốc nước “Ráng hồng” lấy đề tài từ một hợp tác xã đánh cá miền Trung được in lại trên các họa báo. Nhiều câu lạc bộ và cơ quan nhà nước đặt mua tranh của Đức. Các tờ báo hàng tuần và hàng ngày của thành phố coi như là một vinh dự được in tranh của Đức trên trang đầu vào những ngày lễ lớn. Anh hiểu Đức và mừng cho bạn. Người viết Thánh Kinh vẫn có thể là một nhà thơ lớn. Sự tích Phật tổ trên những bức phù điêu Ăngkovát là tác phẩm của những nghệ sĩ thực sự. Và Maia đã từng làm thơ về những chiếc đinh và thanh củi lò. Chỉ có điều, Hoàng Đức cứ mỗi ngày càng đi xa hơn. Anh sợ hãi cái lãnh đạm của dư luận. Anh sợ nỗi cô đơn và cái vắng lặng nhiều khi chính là dòng sữa thầm kín nuôi dưỡng những thai nhi nghệ thuật. Có nhà sử học nói những người Khơme xưa kia phải rời bỏ Ăngko vì nạn hạn hán đe dọa. Nhưng cũng có người nói đó chỉ là vì một nỗi sợ hãi bí ẩn, trong bước phát triển tột cùng của vương quốc. Để có những bức tranh tươi đẹp, Đức đã chưng cất tâm hồn anh thành một tinh dầu, một thứ nước thánh chỉ cần dùng cho các lễ hội. Cuộc sống rời bỏ dần những họa phẩm của anh, nơi đó hình ảnh cuộc đời và con người chỉ còn là đồ trang sức. Những năm về sau, hình như Đức cũng cảm thấy điều đó. Nhưng anh đã quá mệt mỏi để thay đổi. Cái công việc tự chưng cất mình đã làm anh kiệt sức. Và ở dưới đáy chiếc bình cất, qua năm tháng đã đọng lại nhiều tạp chất đục khoét cái cơ thể vốn không phải là khỏe mạnh của anh. Anh trở nên hoang tưởng. Anh đọc các bài nghiên cứu mỹ thuật và nổi giận khi người ta quên nhắc tới một bức tranh của anh. Anh mất ngủ nhiều đêm khi nghe một lời nói đùa vô tình của bè bạn. Anh nổi gai lên như một con nhím khi thấy báo chí tâng bốc có phần quá lời đối với một họa sỹ trẻ tuổi mà anh cho là bất tài. Rồi để khuây khỏa, anh lại vác ba lô lên đường. Nhưng những chuyến đi của anh cứ ngắn dần. Đức than thở là anh không vẽ được dễ dàng như trước nữa. Bởi vì, mình không thể lặp lại mình, anh nói thế. Chiếc bút vẽ của mình thì có hạn mà cuộc đời thì biến đổi quá nhanh. Đức đã gặp lại cô du kích năm xưa nay trở nên một cô mậu dịch viên đanh đá và tham lam. Người anh hùng lái xe hồi nào từng làm mẫu cho nhiều ký họa của Đức thì nay đang là một anh phó ty Giao thông trưởng giả và xảo quyệt. Thần thoại chỉ là vĩnh cửu trên những bức phù điêu, còn bên cạnh các kim tự tháp từ mấy ngàn năm con người đã tàn phá thiên nhiên, biến đất màu thành sỏi đá. Đức muốn con đà điểu rúc đầu trong cát. Anh cấm ngặt vợ con không nói đến chuyện giá rau, giá thịt trong bữa ăn. Mà không biết mỗi quả trứng, lá rau trên mâm cơm gia đình, vợ anh đấy thôi cũng phải xoay xở lo liệu bằng bao mưu tính. Mùa đông năm ấy bàn tay tài hoa của Hoàng Đức đã không thể giữ vững được bút vẽ. Anh là người đầu tiên nhận thấy triệu chứng căn bệnh của Đức mỗi lần đến chơi khi thấy Đức nâng chén mời nước anh mà run rẩy đến mức để nước sánh ra, lênh láng trên mặt bàn.

*
Cát còn có sức chảy dữ dội hơn nước nhiều lần. Người ta nói ở Ai Cập đã từng có nhiều thành phố cổ bị chôn vùi trong cát. Còn anh, hồi còn bé anh đã thấy ở bờ biển quê anh những đụn cát cao như núi mỗi ngày đêm có thể xê dịch hàng trăm mét và đã có những làng mạc bị quét đi dưới bước chân khổng lồ của cát. Nay thì cái ngôi nhà anh đang ở đây, giữa lòng thành phố, cũng đang có nguy cơ trở thành sa mạc. Khuôn sân vuông vắn xưa kia có hòn giả sơn, có chậu cảnh kê một dãy dài bên tường hoa nay chỉ còn là một mặt đất lát gạch, trơn nhão những rêu và rác rưởi mục nát trộn lẫn với nước xà phòng, nước gạo. Những viên gạch cũng chẳng còn nguyên vẹn. Từ hai tháng nay, những người sống quanh sân đã đào bới chúng lên để vét cống và tìm nguồn nước. Cái vòi nước công cộng bị bẻ cụt dần và nay thì người ta đang moi xuống mãi lòng đất để cưa, để cắt, để đục, hy vọng có thể làm bật lên cái dòng chất lỏng, thiếu nó thì cuộc sống không tồn tại trên trái đất. Sa mạc làm gì có chim muông và cá. Thậm chí cũng hiếm thấy có loài động vật nào ngoài lạc đà, các con vật thuộc bộ gặm nhấm và giống kỳ nhông mình đầy gai nhọn. Riêng ở Xahara, gần các ốc đảo, thỉnh thoảng người ta cũng nghe thấy tiếng rú của loài linh cẩu còn hung tợn hơn chó sói. Chiến tranh hàng ngày xảy ra trên cái sân con này. Và khi anh nhóm được lửa, nấu xong ấm nước thì tiếng la hét đã dậy lên bốn phía, tiếng tru tréo của đàn bà lẫn với tiếng giẫm chân thình thịch. Trên hành lang, không một ai động cựa. Trời đã đủ sáng để soi rõ những chuồng gà, chuồng vịt, những chạn ăn, những tủ bếp dầu kê ngổn ngang bên lối đi. Chị bác sỹ vừa đi xuất khẩu lao động ở Ăngôla về nửa năm nay, như thường lệ, vẫn ngồi đeo kính, trang trọng nhặt từng hạt thóc trong cái rá gạo nấu cơm sáng của chị. Xa hơn một chút, ông hàng xóm làm nghề phê bình văn học, gầy như một chiếc giá áo ở hiệu may, đang bình thản múa bài nhu quyền theo phép dưỡng sinh. Chị bác sỹ đã đủ giàu để trở nên keo kiệt và ích kỷ chẳng thiết để ý gì đến các bệnh tật của người đời. Còn nhà phê bình chuyên nghiệp kia, ông đã đủ thấm thía cái nghèo khó của nghề văn để chẳng thừa hơi quan tâm đến cái đúng cái sai trong những vụ tranh giành vì một xô nước trên cái sân gạch nhão này. Cũng như ở vịnh Ba Tư và nhiều nơi trên thế giới, chiến tranh cứ việc diễn ra và tự kết thúc, dẫu có ý kiến của Hội đồng Bảo an hay là không có. Vả chăng, ai mà can thiệp nổi vào một cuộc chiến tranh khi mỗi người đều có mang một cuộc nội chiến ở trong lòng. Giây lát đó, choáng váng vì những la lối, chính anh cũng đang bàng hoàng như trong một giấc mơ. Anh chỉ sực tỉnh, khi từ căn phòng ngay phía trước mặt, anh thấy nhao ra cái thân hình nhỏ nhắn của một người con gái. Trong chùm ánh nắng rọi chếch từ góc tường hoa sạt lở, anh thấy gương mặt tái nhợt của cô với đôi mắt đỏ ngầu bên dưới một mái tóc bù rối. Huệ! Anh chỉ kịp kêu to lên một tiếng thì cô gái đã lao vào giữa đám đông, chiếc gậy lớn trong tay vung lên. Chị hàng xóm to béo đứng ở góc sân trượt chân, ngã xoài về phía sau cũng là lúc cây gậy nện choang vào chiếc xô sắt, nước tung tóe lên giữa những tiếng hò la, chửi rủa. Ba bước chân, anh đã ở bên cạnh cô gái, tay níu chặt lấy hai vai cô. Huệ ngước lên, mắt đã dại đi, trắng dã, không còn nhận ra anh nữa. Bỏ tôi ra, giời ơi, ông có bỏ tôi ra không nào? Tiếng hét líu lại trên đôi môi tím ngắt, sít chặt thành một vạch rúm ró. Giống như tiếng gió rít qua một khe đá.

*
Anh dắt xe đạp ra sân, buồn bã. Một người nào đó cưỡi chiếc Honda đỏ chói vút qua bên cạnh anh, chiếc mũ lưỡi trai quay ngoắt lại; một tiếng quát chát chúa hắt vào mặt anh: Thằng già kia mù à? Mày đi thế hả? Không, anh không mù. Anh chỉ đang điếc và câm. Anh như đi trong một đám sương mờ dày đặc, giống như thứ ảo giác mà những kẻ lữ hành thường gặp trên sa mạc. Ừ, không biết Huệ, cô giáo nhỏ nhắn ấy có bao giờ xem tranh của Hoàng Đức không? Cô có bao giờ mơ ước đến một “Bình minh rực rỡ” hoặc trông thấy “Ráng hồng” giữa bầu trời? Cô chưa có người yêu và vẫn sống một mình trong căn phòng nhỏ ấy kể từ ngày ông bố góa vợ của cô trở về miền Nam. Cô ham đọc sách, bởi vì không đủ tiền mua sách, thỉnh thoảng cô vẫn sang hỏi mượn anh những cuốn mới nhất: Con tàu trắng, Trăm năm cô đơn và Cõi người ta. Cô đọc ngấu nghiến những cuốn tiểu thuyết đó, và khi anh dò hỏi cảm tưởng của cô, Huệ chỉ đỏ bừng mặt, đôi mắt long lanh. Một chiếc tàu lênh đênh ở chân trời, góc biển, những con người thân phận mỏng manh trong một làng xa Nam Mỹ, cánh bay giữa những vì sao và sa mạc: những chuyện đó đã đem gì đến trong cái tâm hồn đang khép kín của một cô giáo cấp hai? Anh biết sao được nơi cái khung trời chật chội phía trên mảnh sân lầy lội này, mỗi đêm ngồi bên chiếc bàn ghép bằng gỗ thùng, bê bết những vết mực xanh, mực đỏ, cô gái kia đã trông thấy những gì? Gương mặt của một kẻ tử vì đạo còn chưa tự hiểu mình kia có thể được ghi lại trong những bức ký họa nào của Đức. Và đó là gương mặt thật của Huệ hay là gương mặt của cô khi ngước lên nhìn anh với tiếng la hét và chiếc gậy trong tay? Con chó bông hiền lành nằm ở thềm nhà phải chăng có tổ tiên là chó sói. Con linh cẩu hung dữ vì bản tính hay chỉ vì nó sống lưu đày trên sỏi đá?
Anh tạt vào một quán cà phê bên đường. Bà chủ quán ngạc nhiên thấy anh gọi liền một lúc hai cốc cà phê. Ôi, sao lúc này anh thèm khát có một người bạn bên cạnh mình. Hai cốc cà phê đặt trước mặt giúp anh dịu bớt cái cảm giác cô đơn quay quắt, đến gần như nhục nhã. Dẫu sao, anh phải viết cho xong bài bình luận thời sự về cuộc chiến tranh vùng vịnh Ba Tư trước khi đến trụ sở, phải nhìn thấy gương mặt nhạt nhẽo và nghiêm nghị của ông thư ký tòa soạn. Viết cho xong, trước đôi mắt nghi hoặc của bà chủ quán có lắm nhẫn vàng, ngay trên chiếc bàn đầy vệt tàn thuốc lá và cáu bẩn này. Ước sao anh có được cái bình tĩnh của Đức mỗi lần anh ta khoác ba lô lên vai để lên đường và cái tự tin của anh ta nữa, mỗi lần đứng trước giá vẽ, ngày nào…
*
Hoàng Đức không khá lên được bao nhiêu sau ba tháng nằm bệnh viện. Anh uể oải ngồi dậy khi thấy bạn bước vào, tay chống lên những tờ tạp chí bỏ vương vãi khắp đầu giường.
Người mới tới ngồi vào chiếc ghế bành bên cửa sổ. Anh cố ý ngồi đó, để có thể ngắm nhìn Đức một cách kỹ lưỡng hơn. Đức có sắc mặt đỏ đắn hơn trước một chút, nhưng đôi mắt lại có vẻ mệt mỏi, thẫn thờ hơn.
- Thế nào? Đỡ nhiều chứ? - Anh hỏi, mắt vẫn theo dõi từng cử chỉ của Đức.
- Chẳng hơn gì! - Cái đầu của Đức khẽ lúc lắc trên một thân hình bất động - Vẫn nhức đầu, tức ngực và đau bụng từng cơn. Chỉ có điều, chắc là chưa thể chết.
Anh phì cười:
- Ờ, ờ, thì mình vẫn nói mãi với cậu như thế mà. Rốt cuộc thì mình vẫn là người chẩn đoán đúng nhất cho mà xem. Cậu chẳng có thứ bệnh tật nào giống như các ông thầy thuốc họ nghĩ ra cho cậu đâu.
Đức ốm lay lắt đã hơn một năm trời. Anh không muốn đi khám bệnh, một phần vì không tin, phần khác là vì anh sợ các bác sỹ sẽ nói lên cái sự thật mà anh muốn giấu giếm ngay cả với chính mình. Anh uống hầu hết các thứ thuốc những người quen biết mách cho anh. Thuốc đau gan, dạ dày, đường ruột. Và nhiều nhất là những liều thuốc an thần giúp anh ngủ được và khuây khỏa những cơn đau vô cớ cứ thường dằn vặt anh về đêm. Và khi đã cho anh uống đủ các thứ thuốc thì tuy không nói ra mà, kể cả vợ anh, mọi người đều nghĩ rằng anh đang mắc cái chứng bệnh hiểm nghèo mà cả loài người đều lo sợ, cái chứng bệnh nó là bản án tử hình đối với kẻ bất hạnh. Chỉ có riêng bạn anh, người đang ngồi trước mắt anh đây là chưa bao giờ tin như thế. Anh đến thăm Đức đều đều mỗi tuần, sau mỗi kỳ báo, nộp bài xong cho tòa soạn. Câu chuyện giữa hai người vẫn thế: những suy nghĩ, những băn khoăn bất tận về đời sống, về thời cuộc. Anh cố tình nói trêu chọc để khuấy động cái tâm trạng mỗi ngày một thêm u uẩn, giống như một lớp cặn xuống ngày một dày thêm trong con người của Đức. Anh muốn bạn mình có cảm giác là đối với anh ta, mọi sự đều bình thường. Nhưng cái công việc ấy mỗi ngày một thêm khó khăn. Trái ngược hẳn với bản tính xưa kia của anh, Đức trở nên ít lời, giống như anh đang thu mình lại, xa cách với mọi biến đổi ở xung quanh. Rồi ngay đến nghệ thuật cũng không làm anh quan tâm nữa. Ngồi trước mặt bạn, đôi mắt của Đức là đôi mắt của con người quay về phía bên trong, nơi đó là những dằn vặt, những cơn đau lặng lẽ, do một chứng bệnh mà không một ai, kể cả Đức có thể biết được. Ở bệnh viện, người ta đã soi quang tuyến, chụp hình từng ngóc ngách trong ổ bụng anh, thử máu hàng chục lần, làm sinh thiết gan, ruột, dạ dày, thử phân, nước dãi, sục tìm bất cứ nơi nào có thể nghi ngờ tìm thấy một khối u nào đó. Cái công việc vô hiệu ấy trong ba tháng trời ròng rã chỉ làm cho các đường dây thần kinh của Đức thêm rệu rã. Người ta lại trả anh về nhà sau khi đã bón thúc cho cái cơ thể suy kiệt của anh bằng một loạt các thứ thuốc tăng lực và sinh tố. Vợ con anh mừng rỡ. Bè bạn trong giới nghệ thuật đến tặng hoa mừng anh. Mọi người coi anh như vừa thoát hiểm trở về. Mà không một ai để ý đến đôi mắt thất thần, cái dáng đi thờ thẫn của người mộng du và gương mặt bì bì, bất động của anh. Ở sa mạc, khi con người uống hết giọt nước cuối cùng, bắt đầu trông thấy trước mắt hiện lên những hồ nước, những dòng sông, những thành phố lộng lẫy, đó là khi con người đó sắp lìa đời. Cái chết làm nên những ảo ảnh. Và ảo ảnh, đến lượt nó lại làm nên cái chết, ảo ảnh về một đế quốc thuần chủng đã tạo nên Hitle. Ảo tưởng đã từng một thời gieo rắc bao tang tóc lên đất nước Khơme cổ kính. Còn nghệ thuật khi nó rời bỏ cuộc sống thực, cũng có thể tạo nên những ảo giác nguy hiểm. Đôi mắt thất thần của Đức đã từng nhìn thấy ráng hồng ở nơi chỉ có màu xanh, và thấy tráng lệ, rực rỡ ở nơi chỉ có cuộc sống bình thường, hồn hậu. Căn phòng với bốn bức tường la liệt những bức tranh nhiều màu sặc sỡ vây quanh gương mặt của Đức lúc này, anh chợt thấy rờn rợn cái khung cảnh của một điện thờ. Và từ đáy lòng, anh thấy nhói lên một nỗi lo âu đến choáng váng cả đầu óc:
 Anh nói buột ra điều đó, như phải cất một gánh nặng. Như người thầy thuốc phải bấm một cái huyệt cốt tử trên thân thể người bệnh. Và anh trông thấy gương mặt của Đức tái nhợt đi. Anh ta đặt tay lên ngực, rên lên một tiếng khe khẽ. Rồi lập cập đứng dậy, nói như nói một mình: Muộn rồi, tất cả đều muộn rồi!- Này Đức, cậu có bao giờ hối tiếc là đã vẽ nhiều tranh đến thế không? Có bao giờ cậu nghĩ cho thật kỹ là những bức tranh như thế có lợi và có hại gì cho những người xem tranh của cậu không?
*
Anh đến cơ quan trưa hôm ấy, vẫn còn kịp gặp ông thư ký tòa soạn để nộp bài bình luận thời sự của anh. Các căn phòng đều đã vắng tanh. Chỉ có cô thường trực và cô y tá cơ quan đang ngồi ghếch chân lên chiếc bàn ở phòng khách, chụm đầu vào tờ tạp chí thời trang, vừa chỉ trỏ vừa cười rúc rích. Anh muốn tạt vào gọi điện thoại cho vợ Đức nhưng sợ làm phiền hai cô gái. Mốt áo quần quả là cái trò ngốc nghếch. Nhưng nói cho đúng, thời trang cũng như thời sự, nó lôi cuốn chỉ vì nó thay đổi hàng ngày. Trong đời anh, anh đã đọc kể có đến hàng ngàn bản tin. Chẳng ai nghĩ là nên làm một bộ tổng tập các bản tin. Nếu như thế, người ta sẽ có cả bộ biên niên sử khổng lồ trong đó dễ thường có đến quá nửa là sự tích những việc làm rồ dại nhất của loài người, có phải thế không nhỉ. Theo thói quen mỗi ngày, anh ghé vào phòng tư liệu, lật qua những bản tin nhanh đã được cặp lại thành từng tập. Tin mới nhất: ở thành phố X, quận 8, một cô gái vào nhà người yêu rút chốt lựu đạn. Lựu đạn nổ, cô gái chết ngay tức khắc. Toàn bộ căn nhà bị thiêu hủy. Ở tỉnh Y, cô Nguyễn Thị Loan 17 tuổi, tự thiêu vì không chịu nổi cuộc sống chung với người dì ghẻ khắc nghiệt. Không một ai trong khu nhà vào dập tắt ngọn lửa. Cũng ở tỉnh Y: cuộc chạm súng giữa một toán cướp và nửa tiểu đội công an đi tuần tra trên quốc lộ 4. Một đại úy cảnh sát hy sinh, ba tên cướp bị bắn chết tại chỗ. Ở Atlanta, bang Georgia, Hoa Kỳ: năm vạn tấn dầu chảy tràn xuống sông. Các đội phòng chống ô nhiễm đang làm việc 24 giờ trên 24 để cứu con sông. Ở Trieste, Italia: một nhóm khủng bố đặt mìn trong phòng đợi nhà ga. Hai mươi tám hành khách bị thương nặng và thiệt mạng... Chỉ trong một ngày đã có bao tin tức như thế trong nước và trên thế giới. Đầu anh thấy ong ong cái nắng oi ả của một ngày hè muộn và cả cái nóng từ những dòng tin giống như thứ gió lửa thường thổi qua các sa mạc Bắc Phi. Giữa lúc ấy, mái tóc đen nhánh của cô thường trực chợt nhô vào ở khung cửa: A, chú vẫn còn ở đấy à? Có điện thoại gọi chú gấp từ bệnh viện. Anh ném tập bản tin xuống bàn chạy vội theo cô thường trực. Ở đằng kia dây nói, anh nghe vẳng đến cái giọng nói hổn hển của vợ Hoàng Đức.
Với chiếc thẻ phóng viên, anh tìm đến được ngay phòng cấp cứu mà không gặp khó khăn gì. Vợ Đức ngồi trên chiếc ghế dài ở hành lang lưng gập xuống, hai gò má ướt nước mắt. Trong phòng bệnh, lố nhố nhiều chiếc áo choàng trắng xúm quanh cái giường sắt, mùi cồn, ête nồng nặc. Qua những vai áo, anh trông thấy đôi mắt nhắm nghiền của Đức, cái thân hình gầy gò, giống như thân hình trẻ con chỉ còn hơi phập phồng ở nơi vùng ngực. Mà thật lạ, trên gương mặt của Đức lúc này là một dáng vẻ điềm đạm, hồn nhiên, gần như ngây thơ mà anh đã trông thấy một lần nào đó. Đó là gương mặt của con người sắp lìa đời hoặc đang tái sinh, gương mặt mà anh đã bắt gặp ở Đức hơn ba mươi năm trước trong một lòng khe cạn bên chân dốc Ba Rền, Quảng Bình. Trong chuyến đi lần ấy của hai người, từ Bình Trị Thiên ra, cơn sốt ác tính đã quật ngã Đức ở giữa đường. Năm ngày liền, dưới một mái lán bỏ hoang, dột nát, anh đã nuôi Đức với ít nước cháo nấu bằng mấy lon gạo cuối cùng dành cho cả hai người. Anh đã cố gắng cứu Đức bằng một thứ củ rừng giống như củ sả có mùi thơm hăng hắc mà cho đến nay anh vẫn chưa biết là loại củ gì. Nhiều đêm giữa cảnh hoang vắng đến tê lạnh của núi rừng, anh chợt thức giấc, nghe những con thú đi ăn đêm sục tìm mồi ngay dưới chân mình mà kinh hoàng với cái ý nghĩ chỉ cần anh thiếp đi chốc lát thì lúc tỉnh dậy anh sẽ không sờ thấy bạn ở bên cạnh mình nữa. Vậy mà, hết ngày thứ năm Đức đã hồi tỉnh. Và hai hôm sau, gặp một đơn vị bộ đội đi qua, họ đã giúp cáng Đức đi theo và cũng kịp cứu sống chính anh, lúc này đã lả đi vì đói.
Dẫu thế nào thì những con người như anh và Đức cũng không thể chết được vì những chứng bệnh thông thường. Chiến tranh đã không giết được họ. Bây giờ, cuộc sống bình thường này cũng đang ấp ủ trong lòng nó một thứ chiến tranh khác, giữa những con người với chính mình. Họ sẽ không bị loại bỏ dễ dàng chừng nào còn chưa chịu là người thua trận. Ở ngoài hành lang, một vị bác sỹ trẻ tuổi đi đến trước mặt anh. Infarctus: anh ta nói khe khẽ và lắc đầu. Nhồi máu cơ tim ư? Hết dạ dày, gan, ruột, rồi lại đến tim, thật là đơn giản. Một người như Đức, nếu chết thì đó chỉ là do đã vỡ ra một cái gì đó trong sọ não mà thôi.
Trên chiếc ghế dài, vợ Đức đã có vẻ trấn tĩnh hơn khi nhìn thấy nét mặt thản nhiên của anh. Bao giờ cũng vậy, chị tin vào sự sáng suốt của bạn chồng mình hơn là ở chính anh ta. Chẳng biết vì sao lại thế!
Image result for sa mạc hóa
*
Anh trở về nhà, đèn đường đã bật sáng. Một vài nhà trông ra vỉa hè, ngoắc trộm được điện, sáng trưng ánh đèn, trong khi các căn hộ khác vẫn tối om. Nhưng mọi người đều có vẻ phấn chấn. Từ đầu ngõ, có tiếng râm ran. Có nước rồi! Có nước rồi! Từ ngày mai, cuộc chiến tranh có cơ hòa hoãn vì người ta đã tìm thấy được dầu hỏa trên sa mạc. Trong lòng đất, sau một ngày ra sức đào bới, đám thanh niên trong khu nhà đã khám phá được ống nước cái. Và bây giờ thì các cậu đang trổ tài cưa, đục. Trên cái sân con, gần như không thiếu mặt một ai. Chị hàng xóm béo tốt, bà bác sỹ chủ nhân của ba chiếc xe Cub, toàn thể gia đình bác thợ khóa với mấy cô con gái to mồm và đến cả nhà phê bình văn học khổ hạnh vẫn thường lạnh lùng quan sát xã hội để răn đe các nhà văn. Ánh đèn bão hắt lên trên những gương mặt thân thiện, hoan hỉ. Giờ phút đó có cái không khí hòa hợp, long trọng chưa từng thấy, đến mức làm cho anh không nén nổi xúc động. Ôi hạnh phúc và những gì làm nên niềm vui cho con người quả là hiếm hoi mà cũng giản dị làm sao.
Anh vừa thắp được ngọn đèn dầu, thì thấp thoáng trước cửa có bóng người. Hành lang đầy bóng tối nên anh chỉ trông thấy nửa khuôn mặt của Huệ chập chờn trong ánh đèn. Huệ dừng lại ở bậc cửa, có ý không muốn vào nên anh phải đi đến gần cô.
- Cháu mang mấy cuốn sách sang trả chú và cũng để xin lỗi chú - Cô gái nói bằng giọng bối rối.
- Có gì đâu - Anh cười vui vẻ - Những cuốn ấy tôi đã đọc rồi. Cô giữ mà đọc đến bao giờ cũng được.
Huệ cúi xuống, tay mân mê bìa cuốn sách như có vẻ suy nghĩ. Rồi chợt ngước lên với đôi mắt rầu rĩ:
- Không phải đâu ạ. Cháu xin lỗi chú về một chuyện khác… Sáng nay cháu đã không phải với chú, không phải với mọi người. Nhất là với chú...
Giọng cô gái nghẹn ngào, ấm ức. Và anh nóng bừng cả người khi trông thấy từ đôi mắt đã nhòa đi của cô gái, những giọt nước mắt trào ra.
- Kìa Huệ, làm sao thế? Cô có lỗi gì với tôi đâu?
Anh nói lúng búng, không biết là mình đang nói gì.
Huệ lắc đầu và như hơi lảo đảo, phải tựa mình vào khung cửa:
- Không ạ. Chú hiểu cho cháu. Cháu xấu hổ lắm. Trong đời cháu, cháu chưa bao giờ như thế. Cháu biết làm cách nào để chú có thể hiểu được cháu.
Và cô đặt vội mấy quyển sách lên mặt bàn, chạy vội đi.
Phải làm gì để cô gái ấy yên tâm. Phải nói gì để cô ấy hiểu rằng cuộc đời của cô còn rất dài và lầm lỗi của cô không phải là tội ác so với tất cả những gì đã xảy ra trong ngày hôm nay trên trái đất. Hơn nữa, cô đã hối hận. Lần thứ hai, trong một ngày, anh đã trông thấy những giọt nước mắt. Thế mà ngày nào, anh và Hoàng Đức vẫn thường mơ tưởng đến một thế giới mà đi đến đâu cũng chỉ thấy những gương mặt phớn phở và nghe thấy tiếng cười. Chừng nào trái đất còn tồn tại thì ngày ấy con người cần phải biết xấu hổ về chính mình. Còn riêng anh, ngày hôm nay, lẽ nào anh lại không có điều gì đáng phải ân hận? Anh đã không dám phá những ống nước cũng như không ngăn cản người ta đục phá những ống nước, trong cái thành phố cũ kỹ đã rệu rã khô kiệt vì nắng mùa hè này.
Tối nay, anh lại trở vào bệnh viện. Chưa bao giờ anh cảm thấy tính mạng của mình gắn liền với chính mình đến thế. Nhưng rồi liệu Hoàng Đức có vượt qua được không? Điều đó, lần này đã rõ ràng là chẳng còn phụ thuộc vào ý muốn của một riêng ai được nữa. Nhưng anh sẵn lòng tin, như bằng một thứ linh cảm, là có một điều tốt lành sẽ đến.
Đèn đã bật sáng trong các ngôi nhà. Từ trong các ngõ xóm anh nghe thấy tiếng cười reo của lũ trẻ con. Giờ này chắc là Huệ đã ngồi vào bàn, trước chồng vở học sinh của cô. Ngày mai, cô sẽ đến lớp và bắt đầu bài trí nhớ, hình ảnh của một con tàu lênh đênh, một cánh bay giữa các vì sao và mênh mông sa mạc.

Image result for Ốc đảo


Thứ Tư, 4 tháng 3, 2015

THẾ GIỚI CỦA HUY PHƯƠNG - Nguyễn Ái Việt

Lời giới thiệu: Bài giới thiệu sau đây là bản gốc, hơi khác với bản cuối cùng đã đăng trong Tuyển Tập Huy Phương mới in trước Tết vừa qua. Bản đã được đăng trong Tuyển tập, đã được Nhà xuất bản văn học cố gắng sửa chữa vừa đảm bảo các ý tưởng chính vừa để độc giả bị phân tâm sang những nội dung khác. Tôi rất tán thành và cảm ơn Nhà xuất bản về điều đó. Bài gốc ở đây được post lại với tư cách một bài viết độc lập, không nhất thiết phải tập trung vào các mục tiêu của Tuyển tập. Những đã đoạn đã lược bỏ trong Tuyển Tập được viết dưới đây bằng màu đỏ.



THẾ GIỚI CỦA HUY PHƯƠNG
Nhà văn Huy Phương (1926-2009) là cha của tôi. Viết bài giới thiệu về cha, đặc biệt cho bộ tuyển tập, là kỷ niệm và tổng kết về một đời lao động sáng tạo của cha, là một việc chưa có nhiều người làm. Trước hết, tôi không phải là một người hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực văn học, cảm nhận về văn học của tôi đều chỉ có tư cách một độc giả bình thường. Mặt khác, đã có nhiều nhà phê bình, nghiên cứu viết về cha tôi, tôi không đủ kiến thức để có thể thêm bớt vào các công trình lý luận này. Cuối cùng, đánh giá về người thân thường không thuyết phục đối với người khác. Tuy vậy, lời giới thiệu trong một tuyển tập không cần thiết phải là một đánh giá đầy đủ về tác giả, càng không nên là một bài nghiên cứu lý luận. Nếu bài giới thiệu đó có thể cung cấp cho độc giả một số tư liệu về cuộc đời của nhà văn, người đọc sẽ có thể tự mình sử dụng nó như một chất gắn kết để sáng tạo ra các mỹ cảm mới khi đọc tác phẩm của nhà văn. Cha tôi là một nhà văn luôn tìm tòi những vấn đề mới, cho đến hôm nay vẫn còn là thời sự.
Bạn bè của cha tôi lúc sinh thời thường nói cha tôi là một người luôn nói say sưa không biết mệt với các ý tưởng. Các cuộc nói chuyện nhiều giờ, thâu đêm suốt sáng với cha tôi là những màn tra tấn thể lực thực sự với người nói và cả người nghe. Mẹ tôi thường phải nhẹ nhàng phân bua với khách: Anh Phương cứ như vậy thành ra cứ gầy mãi. Một lần đi nghỉ mát ở Trà Cổ, cha tôi nói chuyện với nhà thơ Xuân Quỳnh về thơ ca Pháp, suốt từ sau bữa tối đến khuya. Cô Xuân Quỳnh cho con nhỏ ăn xong rồi ru ngủ mà hai người vẫn còn nói chuyện. Không hiểu cha tôi hứng chí rung đùi thế nào mà cái giường gãy cái rầm, em họ tôi là Hương Giang chạy về hớt hải báo với mẹ tôi: Bác Phương làm gãy giường của cô Xuân Quỳnh. Hôm sau mẹ tôi nhẹ nhàng nói với cô Xuân Quỳnh: Anh Phương say mê mà không để ý cô có con nhỏ phải nghỉ sớm. Cô Xuân Quỳnh cười rất xinh nói: Anh Phương dạy em nhiều thứ hay lắm chị ạ.
Tôi còn nhớ một lần đi với cha ra đến cửa khu nhà 65 Nguyễn Thái Học, thì gặp họa sĩ Nguyễn Sáng đang đứng chống tay vào cột điện. Cha tôi hỏi Nguyễn Sáng về việc tìm ý tưởng để vẽ một tác phẩm tranh “loại nhất”. Nguyễn Sáng trả lời trong hơi men “Nghệ sĩ đã sáng tạo ra thì cái gì cũng phải loại nhất. Nguyễn Sáng đã vẽ tranh nào thì đều là loại nhất không ai bắt chước được, mà mình cũng không tự bắt chước được luôn. Cũng như sẽ không có ai viết được Xi măng như Huy Phương. Nếu nghệ sĩ không dám nghĩ là đang làm những tác phẩm loại nhất, thì thà đi cuốc đất còn hơn, đúng không, anh Huy Phương?” Cha tôi kể Nguyễn Sáng vẽ nhiều tranh bằng phấn trên nền nhà mà các bạn của ông hàng tháng không cho lau nhà và ông mê vẽ đến mức phải can báo cũ để vẽ vì giấy phát không đủ. Một lần Nguyễn Sáng nói châm biếm ở Hội Văn Nghệ về thị hiếu nghệ thuật của đám đông: Nếu để một gói đường và tranh Nguyễn Sáng cạnh nhau, người ta sẽ đạp lên tranh của tôi để cướp lấy gói đường. Cha tôi nói: Người nghệ sĩ sống theo cái đẹp lý tưởng như Nguyễn Sáng sẽ có cuộc đời vất vả. Nhà văn lại phải nói ra các ý tưởng của mình bằng lời nên sẽ càng hay gặp rắc rối.
Cha tôi chia sẻ rất nhiều quan điểm với nhà văn Nguyên Ngọc và là một trong những người ủng hộ, đọc trước góp ý kiến cho Đề dẫn tại Hội nghị đảng viên của Hội nhà văn năm 1979. Nhưng hai ông cũng đã từng có những tranh luận nhất định. Tại một hội nghị tại Đà Nẵng ngay sau ngày giải phóng, cha tôi phát biểu về đất nước “anh hùng và bất hạnh”, Nguyên Ngọc lên cố nắn lại là “anh hùng và đáng tự hào”. Mẹ tôi nói: Anh phải gặp, tranh luận thêm cho anh Nguyên Ngọc hiểu. Cha tôi cười: Không cần tranh luận, Nguyên Ngọc thông minh lắm, sớm muộn cũng sẽ hiểu, mà có khi cũng đã biết thừa rồi.
*
*        *
Nhà văn Huy Phương, tên thật là Nguyễn Huy Phương, lớn lên ở cố đô Huế trong một gia đình quan lại xuất thân nho học. Thân sinh là Nguyễn Huy Nhu, một danh sĩ xứ Nghệ, người làng Vạn Lộc, nay là phường Nghi Tân, thị xã Cửa Lò, tiến sĩ khoa Bính Thìn, làm quan với nhà Nguyễn đến chức Tá lý Bộ Lễ rồi bỏ quan về phát rẫy trồng ớt nuôi gia đình. Nguyễn Huy Nhu đỗ đạt sớm, năm 22 tuổi đỗ cử nhân, 29 tuổi đổ tiến sĩ, nổi tiếng tài hoa từ khi trẻ, nên có rất nhiều bạn vong niên, như Đinh Văn Chấp, Phan Bội Châu, Phan Võ, Tạ Quang Diễm,… Đặc biệt, với gia đình cử nhân Tạ Quang Diễm, cha của giáo sư Tạ Quang Bửu và nhà báo Tạ Quang Đạm, ông có một mối thâm giao suốt đời. Nữ sĩ Sầm Phố, vợ của cụ Tạ Quang Diễm kể với tôi là ông nghè Nhu đã cùng cả gia đình bà lênh đênh trên biển gần một tháng trong một lần đi thi ở Huế về gặp bão, nên thể làm bạn vong niên sống chết. Khi Phan Bội Châu bị giam lỏng ở Bến Ngự, ông nghè Nhu là một số ít bạn bè gần gũi đi lại. Ông nghè Nhu tuy là nhà nho, nhưng giỏi tiếng Pháp, đọc nhiều sách Pháp, nên có nhiều tư tưởng mới so với các bạn bè. Khi Phan Bội Châu khởi xướng phong trào Đông Du, ông tôi do đang có tang mẹ nên không đi được. Cũng chính vì thế mà ông bất đắc chí, bản tính cũng cao ngạo không chuyên chú vào việc làm quan. Cuộc sống riêng của ông nghè Nhu cũng nhiều trắc trở. Người vợ đầu mất rất sớm để lại một người con trai là Nguyễn Huy Sương, sau này là Ủy viên giáo dục, tương đương với Giám Đốc Sở Giáo dục, đầu tiên của chính quyền nhân dân Tỉnh Quảng Bình và một người con gái là Nguyễn Thị Ái Khanh. Người vợ thứ hai là bà Nguyễn Thị Tú, quê ở Hội An, Quảng Nam, sinh ra cha tôi, Nguyễn Huy Phương, nhà văn Nguyễn Thanh Hương và một người cô nữa là Nguyễn Thị Vân Hòa. Bà nội tôi không may cũng bị bệnh mất sớm, khi cha tôi mới 7-8 tuổi, cô Hương và cô Hòa đều còn rất nhỏ, chưa biết buồn mất mẹ. Cha tôi kể lại: Ông tôi thường dậy sớm, khoảng 4-5 giờ sáng, tự tay nấu trước pha trà mời vợ, rồi ngâm thơ đến sáng, giọng tốt hiếm có. Bà tôi cũng vấn khăn, mặc áo dài chỉnh tề, ngồi ngay ngắn hầu trà chồng, rất tương đắc. Sau khi bà tôi mất, ông tôi vẫn giữ thói quen đó, nhưng vừa uống trà ngâm thơ cô đơn một mình vừa chảy nước mắt. Cha tôi học thuộc các bài thơ và học được cả giọng ngâm thơ của ông tôi, một giọng ngâm thơ cổ rất lạ, trở thành tài lẻ của ông. Sau này không có ai biết giọng ngâm đó, kể cả các nghệ sĩ ngâm thơ nổi tiếng như Châu Loan và Trần Thị Tuyết. Một vài lần ca sĩ Tân Nhân đến nhà để cha tôi dạy cho ngâm một số bài theo giọng cổ để làm bài tủ.
Ông nội tôi đặc biệt chăm sóc cưng chiều cha tôi, như muốn bù đắp cho đứa con mất mẹ sớm. Cha tôi thích triết học, văn học, học trường Quốc học và có Tú Tài bán phần về triết học. Những ngày nghỉ cha tôi thường cùng bạn bè lên Ngự Bình hay Thiên An ngắm đất trời và bàn chuyện triết học, văn chương. Huế của thời đó yên tĩnh, phẳng lặng, phảng phất buồn. Những con đường dập dìu người xe ngày nay như ở Nam Giao, Tây Lộc, Kim Long, Vĩ Dạ, ngày đó vắng tanh như những làng quê, đi suốt con đường không gặp một bóng người, chỉ thấy thấp thoáng những tà áo dài trong vườn. Huế ngày đó, có một bầu không khí nửa hư nửa thực của Phấn Thông Vàng, của tia nắng vàng chiếu xiên trong vườn hoang, lóa màu áo trắng của nàng thiếu nữ Vĩ Dạ, của tiếng chuông chùa Thiên Mụ, của tiếng mưa đều đều rả rích “thối đất thối trời”. Sống trong một bầu không khí như vậy, có mấy chú học trò không tập làm thơ và ôm mộng văn chương. Cha tôi đến với cách mạng từ thời Tiền Khởi Nghĩa, đơn giản chỉ vì đọc một cuốn sách của Plêkhanốp, say mê luôn các lập luận triết học trong đó. Rồi Huế khởi nghĩa, vua Bảo Đại thoái vị. Cha tôi trở thành Ủy viên Chính trị của Tự vệ chiến đấu Thành Huế, đeo súng, kiếm, đi ngựa, đọc nhật lệnh trước cả tiểu đoàn, năm mới 18 tuổi, nghĩ cuộc đời ở phía trước thật là đơn giản, sáng lòa. Nhưng rồi, Tây đánh vào Huế, bộ đội chủ lực ta đã rút hết từ trước ra chiến khu Hòa Mỹ, tự vệ chiến đấu đã anh dũng quyết tử bảo vệ thành Huế, giành giật với Tây từng góc phố. Nhưng rồi, Huế lại thất thủ một lần nữa trong một cuộc chiến không cân sức. Cha tôi chia tay ông nội và cô Vân Hòa còn rất nhỏ, cứ khóc đòi đi theo anh, dứt áo ra đi, không ngờ biền biệt mấy chục năm. Năm 1975, khi cha tôi trở về, gặp lại anh trai, cô tôi lúc đó đã có bốn mặt con, níu áo cha tôi, bật khóc tủi thân: Anh ơi, cậu mất rồi. (Ông tôi mất từ năm 1962, trước đó đã mười mấy năm).
Trên đường ra Bắc, tại Quảng Trị, cha tôi còn phải chia tay với một người bạn gái, cùng tham gia cách mạng với ông từ sớm. Người bạn gái này hứa với cha tôi trở về thành sẽ cố học tiếp thành tài, chăm sóc ông nội tôi và đợi cha tôi trở về. Cha tôi trao cho người bạn khẩu súng ngắn tùy thân. Hai người lúc đó đều không ngờ sẽ đi trên hai con đường, ngày càng xa nhau mãi mãi. Trong chuyến đi này, cha tôi đã viết một số ký sự và một số bài thơ về tự vệ chiến đấu anh hùng của Huế, một số hình ảnh làng xóm bị giặc chiếm, nỗi nhớ gia đình và thành phố quê hương. Đặc biệt là bài thơ Em tôi, gửi em gái là nhà văn Nguyễn Thanh Hương, có nhiều kỷ niệm đẹp về Huế, đúng tâm trạng nhớ nhà của lớp học sinh Huế theo cách mạng, nên được nhiều người nhớ, truyền miệng.
Ở Nghệ An, cha tôi vào quân giới, cố công học và lấy được bằng Phó Kỹ Sư với một chuyên gia người Đức theo cách mạng có tên Việt Nam là Hồ Chí Thọ. Ông Hồ Chí Thọ, nhiệt tình dạy nhưng đòi hỏi các học trò phải làm việc cật lực, nhiều người như nhạc sĩ Trần Hoàn, vốn tính nghệ sĩ, ưa thoải mái, phải bỏ giữa chừng. Rồi cha tôi chuyển sang công tác Đảng, là bí thư Liên Chi bộ gồm 18 Chi bộ Đảng quân giới Khu Bốn. Trong thời gian này, cha tôi đã tham gia Văn nghệ Khu Tư với những người bạn thân như Trần Hữu Thung, Vĩnh Mai, Lưu Trọng Lư, Trung Anh, Nguyễn Anh Tài,… Nhà thơ Trần Hữu Thung là người bạn thân nhất của cha tôi. Hai ông đi đâu cũng có nhau, thân đến nỗi sau này về đến Hà Nội, cha tôi và bác Thung vẫn còn tiêu tiền chung. Nhuận bút tập thơ Gió Nam của Trần Hữu Thung là để mua sữa nuôi tôi. Nhuận bút tập Những Ngôi Sao đỏ của Huy Phương là để lo đám cưới cho bác Thung và cô Thanh Lan. Vào khoảng thời gian bác Thung viết bài Thăm Lúa, cha tôi cũng có bài Anh hoe Tân về nghỉ phép được rất nhiều người thuộc và đem biểu diễn, độc tấu tại rất nhiều buổi liên hoan, trở thành bài tủ của nhà văn Phùng Quán và nhà thơ Thanh Tịnh. Hai bài này đều theo giọng xứ Nghệ, nhưng bài Thăm Lúa có giọng Nghệ An rõ hơn, trong khi “anh hoe Tân” có nét phảng phất giống nhân vật trong phim “Bài ca người lính” của Liên Xô, sau này được chiếu ở Việt Nam. Bài thơ Gửi người bạn hôm qua cha tôi viết sau khi nhạc sĩ Phạm Duy trở về thành, là những tình cảm rất nhân bản, xúc động, đánh giá cao những đóng góp của Phạm Duy, tiếc nuối, có phần hơi khác với phong cách đánh giá, kết tội đối với những người bỏ hàng ngũ của các bộ phận tuyên huấn và tổ chức thời bấy giờ.
Năm 1953, cha tôi xin thôi công tác Đảng, chuyển hẳn sang làm văn nghệ, ra Việt Bắc và khi hòa bình lập lại đã tham gia thành lập Hội nhà văn Việt Nam với tư cách là hội viên sáng lập. Cũng trong khoảng thời gian này, ông xây dựng gia đình với mẹ tôi, Thái Thu Lan, một cựu nữ sinh trường Đồng Khánh, Huế, khi đó đang là cán bộ Tuyên huấn và Địch vận của Trung Đoàn 57, sư đoàn 304. Đám cưới của cha mẹ tôi được tổ chức trong vùng kháng chiến Nghệ An. Nhà thơ Lưu Trọng Lư làm chủ hôn, cô dâu mặc áo cưới may bằng vải dù chiến lợi phẩm. Đêm tân hôn, hai bác Vĩnh Mai và Phương Chi phải nhường phòng uyên ương cho cha mẹ tôi. Khi cô dâu vào phòng tân hôn, gặp ngay một con chuột, hoảng hốt ngã bươu trán. Trong đám cưới, các nhạc sĩ như Nguyễn Văn Thương, Phan Thanh Nam, Văn Ký biểu diễn văn nghệ, nhạc sĩ Sĩ Ngọc trang trí hội trường, các nhà thơ như Lưu Trọng Lư, Trần Hữu Thung, Vĩnh Mai đọc thơ làm quà mừng. Một đám cưới đơn sơ thời chiến nhưng thực là hiếm có về giá trị tinh thần. Sau này ở Hà Nội, cha tôi cũng hay dẫn tôi tới thăm các bác Vĩnh Mai và Lưu Trọng Lư. Nhà thơ Vĩnh Mai còn có bút danh là Búa Tạ, vốn là một chiến sĩ cách mạng lão thành, trải qua nhiều nhà tù của Thực dân Pháp, là bí thư Thành ủy Huế từ năm 1945. Tính tình cương trực, lại thêm tính châm biếm mỉa mai rất sắc nhọn, bác Vĩnh Mai hợp tính với cha tôi, mặc dù ăn nói rất “xóc óc”. Mỗi lần gặp nhau là cha tôi và bác Vĩnh Mai chuyện trò râm ran, hai ông đều gầy tóp vì mải nói và suy tư. Bác Vĩnh Mai và bác Phương Chi không có con cái, nhưng là một cặp trời sinh, sau này cùng về an nghỉ trong một mộ ở Huế, đúng là cái kết có hậu của một chuyện tình đẹp.
*
*       *
Hòa bình lập lại, cha tôi về Hà Nội, làm việc ở Ban Đối ngoại, Hội Nhà Văn với nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, rồi về Báo Văn với các nhà văn Nguyên Hồng, Nguyễn Công Hoan. Cha tôi trẻ, hăng hái, rất giỏi ngoại ngữ, nên được các bác yêu mến và tôn trọng. Trong thời gian này, cha tôi sang tác được một bộ các bài thơ chính luận đặc sắc nhất gồm các bài Nhật ký Đêm hè, Bài thơ trên mộ cũ của người cộng sản,… Các bài thơ này viết theo lối bậc thang, và các ý tưởng táo bạo, tràn ngập sinh lực, đến hôm nay đọc vẫn thấy còn nguyên giá trị, làm người đọc phải suy nghĩ. Cha tôi nói rằng, thơ chính luận làm theo lối bậc thang sẽ có hơi thở mạnh mẽ và có sức gợi mở tư duy hơn. Loại thơ quá vần điệu, theo niêm luật cũ kỹ thường thích hợp với hoài cổ và chức năng tuyên truyền hơn. Cha tôi kể: Hồi đó nhà thơ Tố Hữu còn ở phố Tôn Đản gần nhà tôi ở phố Ngô Quyền. Tối đến, cha tôi đi bộ lại sang nói chuyện làm thơ với Tố Hữu, vì nhà thơ là đàn anh vừa là đồng hương. Cha tôi lúc đó đang thể nghiệm làm lối thơ bậc thang, viết được bài nào cũng đem ra đọc cùng với Tố Hữu. Tố Hữu khi đó cũng muốn học làm thơ bậc thang, theo gương Maiakốpxki, nên rất thích mấy bài thơ chính luận của cha tôi, khen cả về nghệ thuật và ý tưởng. Sau thử nghiệm không thành công thể thơ bậc thang, Tố Hữu cảm thấy loại thơ này không hợp với mình, nên đã quay lại với các loại thơ thất ngôn, lục bát, tứ tuyệt, quen tay và thuận tiện hơn đối với việc diễn đạt các ý tưởng của mình. Sau này, khi cha tôi bị một số người phê phán vì các bài thơ bậc thang, Tố Hữu im lặng, không hề nhắc là đã từng tán thưởng các bài thơ đó thế nào.
Nhật ký đêm hè là một bài thơ hay và gần gũi nhất đối với tôi, vì nó được viết để gửi về tương lai cho tôi, lúc đó còn nằm trong nôi. Bài thơ sôi nổi như tính cách của cha tôi, đã dự báo về những tiêu cực của xã hội nhưng cũng lạc quan kỳ lạ, đến nỗi mấy chục năm sau đọc lại tôi phải nhiều lần rơi nước mắt vì thương cha. Bài thơ viết trên mộ cũ, có thể nói là bài thơ hay nhất của cha tôi, nói về những bầy dơi đang bay chập choạng kiếm ăn khi tranh sáng tranh tối, mang hình người, đeo thẻ ngà, lợi dụng tên tuổi của những người cộng sản anh hùng đã dấn thân lên đoạn đầu đài, làm thang làm bậc công danh, làm quan tòa giảng đạo, kết tội những cặp tình nhân yêu nhau,…Bài thơ cũng có những hình ảnh rất lạc quan về những anh cán bộ thức đêm làm kế hoạch xây dựng các công trình cho tương lai tươi sáng đang chờ thế hệ của chúng tôi.
Gần đây tôi đọc được một bài phê bình của nhà văn Tô Hoài về bài thơ này, trong kho tư liệu về phong trào Nhân Văn Giai Phẩm. Cách viết của Tô Hoài thật là thâm thúy, chê đấy, nhưng qua giọng văn thấy rõ là chê qua loa cho qua chuyện, cho vừa ý một số người đang nắm quyền sinh sát văn nghệ sĩ, trong bụng vẫn là khen. Cha tôi thường không gần gũi lắm với lãnh đạo Hội Nhà Văn, nhưng cha tôi đặc biệt kính trọng bác Nguyễn Huy Tưởng như một người anh, và riêng với bác Tô Hoài, cha tôi rất thông cảm và quý trọng, cho đó là một người biết khéo léo giữ gìn được phẩm cách trong chốn quan trường.  
Trong thời gian này, cha tôi đã viết một số truyện ngắn hay như Đêm Cuối Năm của nhà thơ họ Đỗ, Nàng Xuân,… nói về tâm trạng băn khoăn, khắc khoải của người nghệ sĩ trong những xáo trộn xã hội lớn thời bấy giờ như Cải tạo Công thương, Cải cách ruộng đất, đặc biệt là với những thói hư tật xấu, tệ sùng bái cá nhân, mưu đồ danh lợi bắt đầu nẩy nở. Văn nghệ sĩ là những người mẫn cảm, đã có những dự cảm không lành từ rất sớm. Sau này cha tôi kể rằng Nhà thơ họ Đỗ ban đầu định theo mẫu của nhà thơ Khương Hữu Dụng, nhưng khi viết lại có bóng dáng của nhà văn Đỗ Quang Tiến hiện rõ nét, một người hết sức hiền lành, ít nói. Vả lại, nếu đặt tên truyện là “Nhà thơ họ Khương” thì lại thành truyện “người thật việc thật” ai cũng sẽ dễ dàng đoán ra nguyên mẫu. Riêng tôi, tôi khi đọc truyện này, lại có cảm giác như viết về nhà văn Nguyễn Thành Long, bạn văn gần gũi của cha tôi ở Hà Nội, một người hiền lành, hay bị chèn ép, luôn luôn suy tư và hay dằn vặt về thói xấu của cuộc đời.
Hai truyện ngắn này, tuy cũng in trong Giai Phẩm, nhưng còn khá hiền lành so với các bài thơ bậc thang. Đêm cuối năm của nhà thơ họ Đỗ, do họa sĩ Bùi Xuân Phái vẽ tranh minh họa, nói về một nhà thơ không khai bút nổi vào dịp đầu năm, do tâm trạng rối bời. Ngày nay đọc lại, chúng ta có thể thấy được tâm trạng chung của trí thức trong giai đoạn phân vân đó. Câu chuyện giản dị, hầu như không có cốt chuyện, gần như là độc thoại nội tâm, nhưng đọc rất cuốn hút, phảng phất phong cách của Hemingway trong Ông già và biển cả. Có lẽ sau này, cha tôi dịch rất thành công Ông già và biển cả do có một giao cảm sâu sắc với văn phong của Hemingway. Nàng Xuân kể câu chuyện một chàng thi sĩ đi tìm Nàng Xuân, là một cô gái đẹp theo nhận thức của loài người. Nhưng sau bao công tìm kiếm, chàng thi sĩ hoàn toàn thất vọng khi Nàng Xuân là một bà già khô cằn, xấu xí. Câu chuyện nói về sự vỡ mộng của người nghệ sĩ lãng mạn đối với thực tế phũ phàng trong cuộc sống. Văn phong câu chuyện này có nét hóm hỉnh của cha tôi. Đọc lại, tôi vẫn như nhìn thấy ánh mắt linh lợi của ông cười cười nhìn người đọc, cố dấu một nụ cười thú vị. Sau này, trong những tác phẩm của ông cũng rất nhiều hình ảnh hóm hỉnh, như một anh cán bộ tổ chức ngành Bưu điện, kể về tên “phản cách mạng Trốt kít hạng nặng” Suez, đầu sỏ của vụ kênh đào Suez, hay hình ảnh chú bói cá trầm tĩnh như một nhà hiền triết, khi thấy lợi lộc luôn trở nên nhanh nhảu, sau khi đớp được mồi lại lấy lại vẻ hiền triết, không màng lợi ích. Trong cuộc sống, cha tôi luôn luôn có rất nhiều các quan sát và nhận xét sắc sảo trào lộng như thế. Ông cho rằng trào phúng chính là tư duy của nhà văn, cần phải được rèn luyện thường xuyên. Có lần ông hỏi tôi: con người hơn con vật ở chỗ nào là rõ ràng nhất. Tôi nói là tình thương và tư duy. Ông nói con vật chắc chắn cũng có tình thương và không có gì chứng tỏ con vật không có tư duy. Nhưng có điểm chắc chắn, con vật không biết cười, mà chỉ biết khóc. Triết gia Pháp Henri Bergson đã viết một tác phẩm nhan đề Cái cười, nói về tính trào phúng, như một điểm khác biệt của con người. Trong tiếng cười có văn hóa đã bao gồm cả tình thương và tư duy.
Cũng trong giai đoạn này, Huy Phương cũng có một số bài tiểu luận về lý luận văn học, tiếp theo các ý tưởng chủ đạo đã có trong bài lý luận Tương lai văn nghệ Việt Nam viết từ thời mới khởi nghĩa đăng trong Tập san Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác Thuận Hóa. Trong số đó, có bài Phê bình và đả kích, một mặt của chủ nghĩa hiện thực xã hội đăng trên báo Văn nghệ, năm 1956, bênh vực các nghệ sĩ mạnh dạn mô tả mặt trái của xã hội, và vạch rõ ranh giới với việc đả kích cá nhân, chụp mũ tư tưởng đối với các nhà văn dám dũng cảm nói lên sự thật. Mà oái oăm thay việc đả kích cá nhân cay độc lại rất thịnh hành trong một xã hội không dám đả kích những mặt trái hồi đó.
*
*     *
Sau năm 1960, cha tôi thôi không làm thơ, tập trung hẳn vào văn xuôi. Sau này khi tôi sắp vào đại học, ông nói với tôi: Thơ phải nói thực cảm xúc và ý nghĩ của mình, sẽ khó có tác dụng, thậm chí gây họa cho người viết khi xã hội chưa khuyến khích nói thật. Văn xuôi tuy cũng phải trung thực, nhưng dù sao cũng có những thủ pháp để các ý tưởng của mình ngấm vào người đọc theo nhiều cách khác. Nếu không được nói những điều đáng nói, viết văn chỉ là để làm giá áo túi cơm thôi. Cha tôi và nhà văn Nguyễn Thành Long, đều không muốn con cái làm nghề văn, mà khuyến khích con cái làm khoa học kỹ thuật, để rèn luyện tính trung thực khoa học, làm người. Cha tôi nói: Trong khoa học tự nhiên, con người sẽ có tự do, không ai có thể bắt buộc người khác tin hai nhân hai bằng năm. Trong khoa học xã hội, nhiều khi phải chấp nhận những điều còn vô lý hơn. Tôi kể chuyện đó với cô tôi, nhà văn Thanh Hương. Cô tôi lo lắng nói rằng: Chắc bố cháu nghĩ cháu còn bé quá, hoặc cho rằng cháu đã lớn quá. Cô không biết rằng, từ nhỏ cha tôi đã quen nói chuyện với tôi như với một người lớn.
Cha tôi nung nấu viết tiểu thuyết ngay từ những năm 1960. Ông nói: phải viết tiểu thuyết mới làm quen được với lao động văn học thực sự. Tiểu thuyết là vua của các thể loại văn xuôi. Viết tiểu thuyết là một quá trình hoàn toàn khác, gần giống như làm công nghiệp. Dạo đó, cha tôi thường đi về các khu công nghiệp như nhà máy Xi măng Hải phòng, nhà máy điện Uông Bí, khu gang thép Thái Nguyên,… lao động chân tay thực sự như một người công nhân. Tôi còn nhớ một lần được mẹ dắt xuống Hải Phòng, đợi cha tan tầm, mặc áo công nhân, trên đường ray xe goòng, tóc trắng bụi xi măng, nhưng cười rạng rỡ. mạnh mẽ, trẻ trung, đẹp sáng ngời. Cha tôi bắt đầu bằng viết bút ký với những tác phẩm như Những ngôi sao đỏ. Thời đó, ở Việt Nam cho rằng bút ký là một thể loại văn học gần với ghi chép để đáp ứng yêu cầu nhanh có tác phẩm phục vụ tuyên truyền. Cha tôi có một quan niệm khác hẳn. Ông nói: Viết bút ký cho hay rất khó vì cần phải có kiến thức rộng và khả năng liên tưởng, kết nối nhiều hiện tượng sự vật khác nhau, đặc biệt phải có óc phân tích và tư duy rất sâu. Sau này tôi mới biết, bút ký chính là narrative essay, một thể loại văn xuôi rất khó, cầu kỳ, được nhiều nhà văn lớn sử dụng, chứ không phải là một loại ký họa hay “mì ăn liền” bằng văn xuôi, phục vụ tuyên truyền cách mạng. Có lẽ bút ký là thể văn phù hợp nhất với sở trường của cha tôi, là người có kiến thức nền tảng và tư duy triết học sâu sắc.
Cùng với bút ký, cha tôi còn viết truyện ngắn và truyện vừa. Trong giai đoạn này, cha tôi viết truyện vừa Một câu chuyện đang bắt đầu về nữ công nhân Trương Thị Len ở nhà máy xi măng Hải Phòng là hình mẫu sau này trong tiểu thuyết Xi măng. Sau này, cha tôi cũng có nhiều truyện vừa, tiêu biểu nhất là Chọn một con đường viết về Anh hùng Lao động bác sĩ Đặng Văn Ngữ, hay Nhật ký chị kỹ sư. Chọn một con đường, cha tôi viết rất công phu và dành nhiều thời gian nói chuyện với bác Đặng Văn Ngữ. Hai ông rất tâm đầu ý hợp. Cha tôi kính trọng bác Ngữ với tư cách là một nhà khoa học có tiết tháo, cứng cỏi và trong sạch. Bác Ngữ quý cha tôi vì gặp được một người hiểu lòng mình, đến mức sau này trước khi đi công tác ở chiến trường B, bác Ngữ nhận cha tôi làm em nuôi và gửi thư cho cô con gái đang học ở Lêningrát kể về chú Huy Phương, nhà văn. Rất tiếc, sau đó bác sĩ Ngữ hy sinh ở chiến trường, cô con gái cũng mất vì bệnh cúm ở Nga.
Về sau này, cha tôi có một số truyện ngắn hay, như truyện Sa Mạc nói về mối lo sa mạc hóa và liên tưởng đến hiểm họa thế giới tâm hồn con người ngày một khô cằn. Truyện này được rất nhiều người nhắc nhở và tán thưởng. Đặc biệt, hôm báo Văn nghệ in truyện này, cha tôi vừa ra khỏi cửa liền có một người đàn ông đứng tuổi đến mời đi đãi đằng đủ thứ, và khẩn khoản mời về nhà chơi, vì “mấy chục năm mới được đọc được một truyện ngắn hay như thế”. Cha tôi đi cả ngày với người đàn ông đó và mang về một đống mặt nạ. Cha tôi kể người đó cũng ôm mộng văn chương từ thời đi học, sau hình như dính dáng đến phòng trào Đất Mới, nên mới bỏ văn chương đi kinh doanh về mặt nạ. Ông ta nói làm mặt nạ cho đời cũng có triết lý rất hay, đang buồn có thể đeo mặt nạ vui, mặt nạ hề toe toét cười nhưng mắt lại rất buồn, suy cho cùng người ta cũng đeo mặt nạ với nhau trong các cuộc họp cả. Cha tôi rất thú vị về việc có thể tìm thấy niềm vui có ý nghĩa ở những công việc rất bình thường và đặc biệt sung sướng khi có được một độc giả chân thành như vậy. Cha tôi nói: truyện ngắn gần với thơ, phải có một tứ rất cô đọng và phải dùng biểu tượng rất nhiều, không cần phụ thuộc vào logic hoặc chặt chẽ về ngôn ngữ.
Để luyện thêm về cách xây dựng tiểu thuyết, cha tôi nhận dịch một số tiểu thuyết như Ông già và biển cả của Ernest Hemingway, Con đường đói khát của George Amado, Gieo mầm của Emile Zola,… Các tiểu thuyết cha tôi nhận dịch đều là các tác phẩm rất khó dịch. Cha tôi rất kỹ lưỡng và khó tính trong việc dịch thuật. Các tác phẩm dịch của ông đều rất trau chuốt mềm mại về mặt văn học, có cảm giác như dịch giả và nhà văn nhập làm một. Nhà văn Xuân Cang nhắc tới tác phẩm dịch Ông già và biển cả đã lôi cuốn ông vào con đường văn học. Cha tôi dịch cũng vất vả dụng công như viết tác phẩm của chính mình. Tác phẩm dịch dưới tay ông, như được sáng tác thêm một lần nữa. Tuy nhiên, cha tôi cẩn thận để không bao giờ để mất mát hoặc sai lệch một ý nào của tác giả dù rất nhỏ. Nhiều chữ, nhiều ý, dù cha tôi đã biết rõ, nhưng vẫn cố công nghiên cứu, tra đi tra lại, nếu thấy vẫn chưa hợp lý. Về dịch thuật, tuy không có dịp nói ra nhưng ông bênh vực quan điểm của Thái Bá Tân. Ông nói: đừng vì ý tưởng mới lạ nghe không thuận tai mà bóp méo nó nhân danh việc dịch bay bướm hay thoát ý. Chính dịch thuật phải có nhiệm vụ đưa những tư tưởng mới của nhân loại vào Việt Nam.
Viết bút ký, truyện ngắn, truyện vừa và dịch thuật, đều là các công việc cha tôi làm để chuẩn bị cho việc viết tiểu thuyết. Cha tôi đọc rất nhiều, đặc biệt là các báo tiếng Pháp của nước ngoài như Nhân Đạo (Pháp), Thời mới (Liên Xô) cha tôi đều mang về đọc hết, để khỏi lạc hậu với tư duy của thời đại. Từ năm 1967, ông đã giới thiệu với tôi ngành Tự động hóa và ngành Thông tin học, phải đến mấy chục năm sau mới trở thành trào lưu trên thế giới và ở Việt Nam. Cha tôi cũng đọc rất nhiều tiểu thuyết mới của Pháp, nhờ một người bạn thân là cô Xuân Phượng mượn về từ sứ quán và bạn bè nước ngoài. Thỉnh thoảng chú Trung Anh, bạn cũ từ thời ở Khu Bốn với cha tôi, lúc đó là biên tập viên báo Phụ Nữ đến chơi, nói chuyện về mơ ước chung của hai ông là viết tiểu thuyết. Chú Trung Anh cho rằng: Viết tiểu thuyết hoặc không viết gì cả, bởi vì “phải như voi ẹ, không ra những cái lẹp nhẹp như chuột ẹ”. Cha tôi chỉ cười tủm tỉm không nói gì, khi chú Trung Anh về mới bình luận không đồng tình “Voi thì đúng rồi, nhưng chê chuột, khó mà ẹ được cái gì ra hồn. Viết văn lại so với ẹ, chắc khó mà viết được.”
 Cha tôi viết tiểu thuyết Xi măng trong nhiều năm. Cho đến bây giờ nhắc đến cha tôi, người ta vẫn nhắc đến Xi măng. Tôi còn nhớ hình ảnh của cha tôi viết Xi măng trên bàn viết bề bộn bản thảo, cắt dán, ghép, trong phòng nghi ngút khói thuốc lá. Mùa đông lạnh, cha tôi thường khoác áo chứ không mặc, chắc để khỏi vướng víu và bị cảm giác chật hẹp bó buộc. Ông mang từ hiệu sách về nhà đủ các loại sách giáo khoa về công nghiệp hóa chất, công nghiệp chế tạo xi măng và tìm hiểu về quá trình chế tạo cờ lanh ke, cách xem khói để đoán định chất lượng xi măng. Trong tiểu thuyết, có một đoạn viết về đánh tiết canh vịt, cha tôi cũng chịu khó học hỏi về nội trợ, mặc dù ở nhà mẹ tôi không để cha tôi phải nhúng tay vào việc gì, đến nỗi ông không thể phân biệt tỏi với hành khô. Sau khi tiểu thuyết Xi măng được in, có một gia đình nhà văn, tôi không nhớ rõ là ai, thịt vịt, mẹ gọi con “Lấy ngay quyển Xi măng của chú Huy Phương xuống đây để xem phải làm thế nào.” Nghe chuyện này, bố tôi thích thú ra mặt, mẹ tôi chép miệng: Anh Phương có bao giờ phải làm vịt đâu. Xi măng có mô tả một số nhân vật phản diện trong lãnh đạo chủ chốt của nhà máy, là một điều tương đối mới vào lúc bấy giờ, nên dư luận xì xào là sẽ bị đánh. Một số nhà phê bình “máy chém”, tuyên bố úp mở sẽ vào cuộc, đánh cho Xi măng tan tác. Cha tôi rất lo, vì thời đó, tiểu thuyết lệch hướng là tội to nhất, sau mới đến thơ và truyện ngắn. Như nhà văn Hà Minh Tuân, vốn là chính ủy trung đoàn Sông Lô, đại tá quân đội chuyển ngành, giám đốc Nhà Xuất bản Văn học, chỉ vì tiểu thuyết Vào đời mà kết thúc sớm sự nghiệp viết văn. Phê bình, lý luận văn học hồi đó cũng ấu trĩ, như cuốn truyện thiếu nhi Đứa con nuôi Trung đoàn của Phù Thăng bị chụp mũ là “có vấn đề” chỉ vì có chi tiết mấy cậu bé nghịch bôi nhọ nồi lên ống điếu của cán bộ Trung đoàn. Về lý luận văn học, thời đó một cuộc tranh luận dài mấy năm trên báo Nghiên cứu Văn học giữa nhà phê bình Đông Hoài và nhóm các nhà phê bình như Nam Mộc, Hồng Phong. Số nào tôi cũng thấy các bài tranh luận này và cũng đọc, nhưng không hiểu họ tranh luận nhau ở điểm gì, chỉ thấy họ đều buộc tội nhau là giáo điều, xét lại, trốt kít, và tuyên bố mình đang bảo vệ lập trường vô sản. Tôi hỏi cha tôi, thì cha tôi lắc đầu không biết, mấy hôm sau thấy cha tôi hỏi Đông Hoài: Các ông đều kiên quyết bảo vệ Đảng, chống giáo điều, xét lại thế thì phải bắt tay nhau làm bạn chứ cãi nhau nỗi gì. Thằng con tôi hỏi, mà tôi chịu không biết trả lời thế nào. Trong số các nhà phê bình lý luận văn học thời đó, có một nhà phê bình nổi tiếng cứng nhắc, xuất thân cán bộ tuyên truyền cấp huyện, do tinh thần đấu tranh không khoan nhượng, nên được cất nhắc rất nhanh đến chức Viện Phó Viện Văn học. Các nhà văn đều ngại nhà phê bình đó, nên năm 1979, khi nhà thơ Chế Lan Viên mạt sát ông này công khai tại một hội nghị kết tội đã chôn nhiều sự nghiệp nhà văn, ai nấy đều hả dạ. Đến phiên ông này lên phát biểu các nhà văn đều la ó gõ bàn vỗ tay ầm ĩ không cho nói. Nhưng vào đầu những năm 1970, không khí chưa được cởi mở dân chủ như sau này. Thấy cha tôi lo lắng, các chú Nguyễn Thành Long và Việt Phương đã chuyển giúp Xi măng cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Nhờ Thủ tướng có ý kiến và một bài giới thiệu khá khôn ngoan của nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Hạnh trên báo Nhân dân, Xi măng đã ra mắt với bạn đọc thành công, có tiếng vang và gắn liền với sự nghiệp văn học của cha tôi.
*
*   *
Từ sau khi đi thực tế ở nhà máy Xi măng về, cha tôi về Nhà Xuất Bản Văn học, là tổ trưởng tổ Văn, gồm toàn các nhà văn nhà thơ cự phách như các nhà thơ Khương Hữu Dụng, Yến Lan, Quang Dũng, Hoàng Minh Châu, các nhà văn Nguyễn Thế Phương, Lữ Huy Nguyên, nhà phê bình Đông Hoài,… Sách của Nhà Xuất Bản Văn học thời bấy giờ biên tập, sửa bông rất kỹ, nên rất ít lỗi chính tả, chất lượng cao, mặc dù giấy hồi đó đen và xấu, nhiều trang lại không được rọc hết. Tôi nhớ có lần, một cuốn sách chỉ có chừng 7 lỗi chính tả, nhà phê bình Như Phong là giám đốc, cho chi một khoản tiền bồi dưỡng, tất cả gia đình các biên tập viên đều đến tham gia sửa lỗi, làm suốt đến đêm, rất vui. Hồi đó các chú các bác làm việc mấy ngày, ăn ngủ ở Nhà Xuất bản tại 51 Trần Hưng Đạo là chuyện thường. Sách bây giờ lỗi chính tả dày đặc không phải là của hiếm, dùng một tờ đính chính như ngày xưa chắc không đủ. Thương nhất là nhà thơ Quang Dũng, lương thấp, vợ con không có hộ khẩu Hà Nội, nên phải đong gạo mua thực phẩm ngoài, cuộc sống rất eo hẹp. Bác Quang Dũng lại to cao như Tây, tiêu chuẩn 5 mét vải một năm, giá không phải nhường vợ con chắc cũng chẳng đủ, nên mùa đông trời lạnh cũng mặc quần soóc.  Cha tôi thỉnh thoảng lại về nói mẹ tôi có cái gì cũng dành cho bác Quang Dũng. Mẹ tôi rất kính trọng bác Quang Dũng, như một người anh hùng lỡ vận, kể cho tôi về người đại đội trưởng Tây Tiến hào hoa, thơ tràn hùng khí năm nào. Bác Quang Dũng là người tình cảm, có lần kể cho cha tôi nghe về các chết của nhà thơ Dương Tử Giang ở chiến trường, trước mặt tôi mà bác nghẹn ngào rồi bật khóc hu hu: nó chết mà đau đớn lắm, Huy Phương ơi. Nhà thơ Khương Hữu Dụng là người lớn tuổi nhất trong tổ biên tập, nói nhiều át cả cha tôi. Cha tôi cứ đùa là chỉ đợi bác Dụng chấm câu là chào chia tay, nhưng bác có thể nói thêm vài tiếng mà chỉ dùng toàn dấu phảy hoặc chấm phảy, ra đến cửa chia tay nhanh nhất cũng khoảng nửa tiếng. Mẹ tôi gọi bác Khương Hữu Dụng là bác, cha tôi lại gọi bằng anh, vì thế lúc đầu tôi gọi bác Dụng bằng ông, bác Dụng có một bài thơ tặng cho tôi về chuyện xưng hô lung tung như thế. Cha tôi thường đọc các bản thảo rất cẩn thận, góp ý kiến rất kỹ. Rất nhiều sách xuất bản hồi bấy giờ, tôi đều được đọc từ khi còn ở dạng bản thảo, với ghi chú biên tập của cha dán chi chít.  Đặc biệt, cha tôi rất hay bênh vực các tác phẩm có góc cạnh và các tác phẩm của các nhà văn trẻ. Nhà văn Ông Văn Tùng có kể lại là cha tôi gửi trả lại bản thảo để “cứu” ông thế nào. Có một cây bút trẻ khác là Nguyễn Quang Vinh cặm cụi viết nhiều năm mà không có được tác phẩm, cha tôi kiên nhẫn chỉ dẫn nhiều năm, rồi cũng có in được một số truyện. Đặc biệt có một lần, cha tôi nhận được một công trình đồ sộ của một vị đại tá chính trị trong quân đội nghiên cứu về nhà văn Nguyễn Thành Long, chụp mũ tư tưởng nhiều tội, trong đó có tội dám mô tả cái cười của Thủ tướng Phạm Văn Đồng hay Đại tướng Nguyễn Chí Thanh với mục tiêu phản cảm. Ông ta so sánh Nguyễn Thành Long với các nhà văn chống cộng nổi tiếng trên thế giới. Cha tôi rất ghét những kiểu phê bình chụp mũ như thế. Ông nói những trò văn chương như thế thường là của những kẻ cuồng vĩ, ôm mộng làm văn bất thành, chuyển sang “làm lý luận”. Trong điều kiện xã hội bình thường, điều đó cũng vô hại, nhưng ở ta có khi lại sinh ra các nhà lý luận ngôi cao chức lớn, có quyền sinh sát, gây họa vô cùng cho làng văn. Vì vậy, cha tôi cất biến tập bản thảo nọ, cứ trả lời vị đại tá nọ là để đâu mất, đang tìm. Cũng may, hồi bấy giờ chưa có máy photo và máy tính, nên viết lại được một công trình đồ sộ như thế không phải là chuyện dễ.  
Đó là thời chiến tranh, mỗi năm vài lần, cha tôi lại đi công tác tuyến lửa, khu Tư, Quảng Bình, Quảng Trị. Cha tôi hay đi với nhà thơ Xuân Diệu, nhà văn Bùi Hiển. Mỗi lần như vậy mẹ tôi lại chuẩn bị cho cha tôi rất chu đáo làm bác Xuân Diệu, vốn sống độc thân, cứ nắc nỏm khen mãi, lại viết cả bài thơ Em choàng lưới mũ cho anh tặng mẹ tôi. Mỗi đợt đi về cha tôi cũng mang về rất nhiều ghi chép làm tư liệu cho tiểu thuyết Nơi anh sẽ đến và những tập bút ký chuyện ngắn. Tôi nhớ một số chuyện ngắn về ngành bưu điện trong tuyến lửa khá cảm động, trong đó cha tôi mất mấy ngày chỉ để đặt cho một nhân vật một cái tên rất khó đọc là Đượu, chỉ để gây ấn tượng thực tế. Một truyện ngắn là Chim lửa, kể về một anh chàng lãng tử, trêu ngươi với máy bay Mỹ trên chiếc mô tô trên đường về Vinh, có thể dựng thành phim không thua phim hành động của Mỹ bây giờ. Một truyện ngắn khác kể về một chiến sĩ tháo bom nổ chậm, lại dùng văn phong sở trường giống như Hemingway trong Ông già và Biển cả, cốt truyện rất đơn giản, nhưng hồi hộp hấp dẫn từ đầu đến cuối.
Cha tôi cũng kể về các bạn cũ là các nhà thơ Trần Hữu Thung, Xuân Hoàng, Minh Huệ,…đang sống trong tuyến lửa thế nào. Nhà thơ Xuân Hoàng chơi với cha tôi từ bé, là người rất lãng mạn, lạc quan, cười nói và “xổ ra thơ” suốt ngày. Sau giải phóng chú Xuân Hoàng về sống ở Huế làm chủ tịch Hội Văn nghệ Tỉnh. Tôi đi công tác ghé thăm mấy bận, chú nhiệt tình đưa tôi đi chơi, và xưng hô “ông, mình” với tôi như với người lớn. Cha tôi kể chú Xuân Hoàng rất đãng trí, vì lúc nào cũng nghĩ chuyện làm thơ, nên có lần vợ giao cho việc đi giặt quần áo ở giếng, giặt nhầm đồ của người khác rồi đem phơi mà cũng không để ý, đến cơ quan vợ, đêm chui nhầm vào màn của người khác. Cha tôi nói thơ Xuân Hoàng có nhiều đặc sắc, nhưng vì viết nhiều và dễ tính quá, nên không được đánh giá đúng mức.
Cha tôi có một cái thú là bắn chim. Bạn của cha tôi, đạo diễn Đình Quang mua ở Tiệp về cho ông một khẩu súng hơi. Ông hay dắt tôi và cậu em họ Vũ Huy, nay là nghệ sĩ ưu tú, họa sĩ xưởng phim, con cô Thanh Hương đi bắn chim. Chúng tôi có dịp lang thang ở các đầm hồ, rừng cây, ven bãi, và thưởng thức những vẻ đẹp của thiên nhiên tuyệt đẹp. Đó chính là chất liệu để cha tôi viết truyện thiếu nhi Sự tích một khẩu súng hơi. Truyện này nói về thế giới thiên nhiên, nhưng lại gợi mở nhiều chuyện xã hội, nói về loại chim, nhưng mô tả các tính cách đa dạng như loại người. viết cho thiếu nhi, nhưng người lớn cũng có thể đọc được nhiều điều bổ ích. Truyện này cha tôi viết khéo, nên tuy chứa nhiều triết lý, nhưng Sự tích một khẩu súng hơi không bị xét nét về tư tưởng.
*
*   *
Từ chiến trường B, các nhà văn khu 5, Nam Bộ ra Bắc hay ghé nhà tôi ở phố Ngô Quyền. Mỗi lần như thế, mẹ tôi lại tíu tít nấu ăn, chuẩn bị áo quần, ruốc, đồng hồ, bút máy gửi cho cậu tôi là nhà văn Nguyễn Chí Trung. Thời đó, qua nhà tôi có các nhà văn Phan Tứ, Nguyên Ngọc, Anh Đức,... có cả anh hùng quân đội Phan Hành Sơn. Mỗi lần như vậy nhà tôi lại râm ran chuyện văn chương, chuyện chiến trường, rất vui và được ăn ngon. Cha tôi mặc dù hay châm chọc cậu Nguyễn Chí Trung về cách sống rất kỷ luật quân đội, cứng nhắc, nhưng rất chiều và chăm sóc em vợ, đặc biệt là khi cậu giới thiệu với gia đình tôi các đối tượng của cậu. Năm 1979, cậu Nguyễn Chí Trung cùng nhà văn Nguyên Ngọc viết Đề dẫn cho hội nghị đảng viên Hội nhà văn, viết được đoạn nào cũng đến đọc cho cha tôi nghe. Có lần, hai ông bàn rất lâu về việc cần diễn đạt một ý về tự do sáng tạo trong văn học, không hạn chế ở việc sao chép nguyên xi cuộc sống, do đó văn học có thể có những nội dung nghệ thuật không nhất thiết có nguyên mẫu trong thực tế. Tuy nhiên, trước đó, có một án văn chương của một nhà báo quân đội đã dám phát biểu “văn học cao hơn cuộc sống” đã bị một vị rất to lôi cổ từ trường đảng ở Liên Xô về, kỷ luật, hạ tầng công tác. Do đó, phát biểu thể nào cũng phải dễ được chấp nhận, tránh xung đột không cần thiết. Tôi ngồi nghe lỏm và nói leo góp ý kiến, văn học về mặt nào đó là một bộ phận của cuộc sống, thì đương nhiên sẽ có những tính chất phong phú hơn cuộc sống, cũng như tập hợp tam giác thường bao gồm tập hợp tam giác đều, cho nên tam giác đều có nhiều tính chất hơn tam giác thường. Cha tôi cười phá lên vì logic quá đơn giản, và giảng lại cho cậu Nguyễn Chí Trung nghe về logic hình thức. Cậu tôi lúc đầu còn nghi ngại về việc một ví dụ nhỏ bé về hình học lại giải quyết được một vấn đề hóc búa của lý luận văn học, nhưng sau đó thích thú đến mức sang hiệu sách Quốc Văn ở gần nhà, ôm ngay một chồng sách toán cao cấp về nhà để nghiên cứu, vì toán sơ cấp đã tác dụng như thế, toán cao cấp ắt phải còn ra nhiều chuyện cao minh hơn nữa.
Ở Hà Nội có ba địa điểm cha tôi hay dẫn tôi đến để gặp các bạn văn nghệ sĩ. Nhà 53 Trần Hưng Đạo, nơi cha tôi hay tới chơi với nhà thơ Chế Lan Viên và nhà văn Vũ Thị Thường. Bác Chế Lan Viên là người sắc sảo, nên hợp tính với cha tôi. Ông coi cha tôi và nhà văn Nguyễn Thành Long như em, tự cho có trách nhiệm che chở, nhưng có khi khá độc đoán làm chú Nguyễn Thành Long tự ái tủi thân. Cha tôi sau khi bác Chế Lan Viên mất thường hay đọc Di cảo và thở dài thương bác. Sau nhà bác Chế Lan Viên, cùng dãy, là nhà của nhà thơ Bảo Định Giang, một người hiền lành, trung thực, cha tôi rất kính trọng nên thỉnh thoảng dắt tôi vào chào, nhưng không bao giờ ngồi lâu. Ở cuối dãy là nhà của nhà văn Xuân Tửu, một người bạn trung thành của cha tôi, có tiếng cười sảng khoái không thể nào quên. Nhà 96 phố Huế, là nơi ở của nhà biên kịch Hoàng Yến, nhạc sĩ Phan Thanh Nam, Văn Ký, nhà thơ Lưu Quang Thuận,…. Mỗi lần tới đó chơi, rất phiền toái vì cả dãy nhà toàn là người quen, vào nhà một người đã khó vì luôn phải dừng lại chuyện trò với những người khác, ra lại càng khó hơn, nhiều khi phải nấn ná thêm cả tiếng đồng hồ. Nhà 65 Nguyễn Thái Học có nhà em gái của cha tôi, nhà văn Thanh Hương và chồng là nhà văn Vũ Tú Nam, là nơi gia đình tôi hay tới nhất. Khu nhà này chủ yếu là các họa sĩ như Nguyễn Sáng, Nguyễn Tư Nghiêm, Nguyễn Phan Chánh, Trần Đông Lương, Mai Văn Hiến, Song Văn, Văn Giáo, Nguyễn Văn Lý, chỉ có cô Thanh Hương, chú Vũ Tú Nam là nhà văn, bác Đỗ Nhuận là nhạc sĩ.
Hầu hết các anh chị em ruột của cha mẹ tôi đều ở miền Nam, trừ cô Thanh Hương, nên hai gia đình rất thân. Năm nào đêm 30 Tết cũng ăn Tết ở nhà tôi và chiều mùng Một ở nhà cô Thanh Hương và chú Vũ Tú Nam. Lúc giao thừa là hai gia đình cùng đi dạo xung quanh hồ Gươm, nghe chúc Tết đầu năm của chủ tịch nước, rồi về nhà uống rượu ăn mứt mừng năm mới. Đầu năm cha tôi hay nghĩ ra những trò chơi văn học trong gia đình như đố chữ, tìm vần. Mẹ tôi là cô giáo dạy văn, đã từng dạy rất nhiều nhà văn thơ có tiếng như Nguyễn Khoa Điềm, Tô Nhuận Vỹ, Vương Trí Nhàn,…nên cũng tham gia tích cực vào những trò chơi đó. Có lẽ chính vì thế em gái tôi là Hiền Lương luôn luôn đoạt giải cao trong các kỳ thi học sinh giỏi văn. Riêng tôi, nhưng trò chơi đó đã truyền cảm hứng cho tôi trong việc tìm tòi nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến chữ nghĩa sau này. 
*
*   *
Cuối những năm 1970, cha tôi chuyển về Tổ sáng tác Hội nhà văn, tham gia Hội đồng Văn học Công Nhân rồi ở trong ban lãnh đạo trường viết văn Nguyễn Du. Ông hay đi các trại viết và rất say mê nói chuyện với các nhà văn trẻ. Ông cho tôi xem bản thảo một cuốn tiểu thuyết rất hay của Trúc Phương, nói về bi kịch của những người anh hùng. Ông kể rằng Trúc Phương vốn là chiến sĩ quân báo, khi viết như lên cơn, gầm gừ vì nhập vai vào những cảnh chiến tranh, nên có những trang viết xuất thần, nhưng đã viết xong thì chịu không sửa lại được. Khi đem chấm điểm tiểu thuyết của Trúc Phương, với tư cách là tác phẩm tốt nghiệp, một số người chỉ cho 1 điểm vì nội dung tư tưởng quá nổi loạn. Nhà văn Nguyên Ngọc cho 4 điểm, cũng là điểm liệt, vì kỹ thuật viết quá tốt, chỉ có vấn đề về nội dung tư tưởng. Riêng cha tôi không cho điểm, nói rằng nếu được phép chấm điểm thì phải cho 10, còn nếu đem tư tưởng ra để bàn có nghĩa là đã dùng tiêu chí tiên quyết để loại bỏ tác phẩm, giống như phạm trường quy thời phong kiến, chứ không phải vì tác phẩm chất lượng kém. Sau này, hình như Trúc Phương phải dùng một tập truyện ngắn, cách viết cũng khá mới lạ. Tôi được đọc bản thảo và thích nhất một truyện ngắn kể về một chị bí thư xã và một anh lái đò, trước là ngụy quân, gặp bão, bị chìm đò phải nương vào nhau mới trôi dạt vào bờ. Tuy đề tài này cũng khá nhạy cảm, nhưng cha tôi và các chú cũng cố gắng bảo vệ cho qua được. Cha tôi thích những nhà văn trẻ có suy nghĩ như Hồ Anh Thái. Có lần cha cùng tôi gặp Hồ Anh Thái ở nhà riêng của nhà thơ Hoàng Trung Thông, cha tôi rất khen tập Người và xe chạy dưới ánh trăng và nói với Hồ Anh Thái: chú tin cháu sẽ còn đi xa, vì cách viết rất trí tuệ.
Giai đoạn này Huy Phương viết tiểu thuyết Chùm me chín, mô tả cuộc đời của một cô gái điếm. Có lẽ đây là một truyện vừa thì đúng hơn là tiểu thuyết. Cha tôi viết Chùm me chín khá nhanh. Câu chuyện tuy buồn, nhưng không sướt mướt như mọi người nghĩ. Viết về các thân phận không may, người ta thường nghĩ đến một motif cải lương, sến, tiểu thuyết máy nước. Cha tôi đặc biệt ở chỗ có thái độ tôn trọng với nhân vật chính với tư cách là một con người.  Ông cũng hoàn chỉnh được phong cách truyện ngắn có motif thơ của mình như Hoa nở đêm, Nhớ về một thành phố. Như ông quan niệm, những truyện ngắn này đều có một tứ và dùng hình ảnh như một bức tranh, và được sắp xếp không cần theo trật tự logic thực tế.
Khi chuyển vào thành phố Hồ Chí Minh, cha tôi cũng làm thơ trở lại. Ông không còn quá bận tâm tới thơ chính luận bậc thang, mà quan tâm hơn tới những vấn đề triết học như một tiếng gà gáy buổi trưa trong lịch sử, suy nghĩ về nước Mỹ, đối phương một thời, tôn giáo,… Các bài thơ sau này của ông đều ngắn, nhưng vẫn còn những độ xóc, nhiều vần trắc, và nhiều suy tư triết học. Thơ Huy Phương nhìn chung, vẫn nhiều góc cạnh, không ưa nhịp điệu mượt mà. Sau này, con trai tôi, Nguyễn Huy Chính Điểm, cháu đích tôn của cha, đã tập chắp vần những bài thơ đầu đời bằng tiếng Anh, về Việt Nam học thơ, cũng đưa ra nhận xét là thơ tiếng Việt quá vần, quá trơn tru, không kích thích suy nghĩ. Đây chỉ là một loại quan điểm trong nhiều quan điểm về thơ, nhưng thực sự đã có một sự trùng hợp giữa hai thế hệ cách xa nhau. Điều đó cũng đáng phải suy nghĩ.

 Đời người ngắn ngủi, chí làm trai còn muốn vươn lên mãi. Thấm thoắt mấy chục năm trôi qua, các đồng nghiệp của cha tôi, thân hay sơ, cùng chí hướng hay ở phía đối lập, đều đã lần lượt ra đi, nhiều người còn để lại các tên đường phố, các mục trong từ điển văn học. Cha tôi cuối cùng cũng đã lên đường về thế giới bên kia.Trong tiếng chuông và kinh chiêu hồn rộn rã, tôi như thấy cha, ánh mắt ngơ ngác thời ốm đau đang dần lấy lại được vẻ tinh anh hóm hỉnh của một thời trẻ trung ngày xưa. Có lẽ ở thế giới bên kia, nơi những điều minh triết là hiển nhiên, ông sẽ không còn phải cố công vắt cạn sức lực để tranh luận những chuyện của thế tục. Vì thế, tôi vẫn thấy ánh mắt của ông phảng phất đâu đó, cười cười thông cảm và hơi có phần chế diễu với những điều mà “các thánh thần vẫn còn phải hoài công tranh đấu”.