Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhàn phiếm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhàn phiếm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 15 tháng 11, 2024

Trung bình và trung dung

        1. Nếu ai hỏi tôi khái niệm Toán học nào sâu sắc và vĩ đại nhất, tôi sẽ chọn khái niệm “trung bình”. Tại sao không chọn khái niệm số, đơn vị hay số không như các nhà toán học hay nói? Số là một khái niệm tự nhiên, hình thành từ cuộc sống. Khi Con người quyết định đứng thẳng lên thì cũng là lúc số tự đến với Con người, không cần đến sự sâu sắc và vĩ đại, vì đó chính là Cuộc sống. 2. Số 1 đương nhiên tồn tại như một số, nhưng phát hiện con số này là đơn vị lại là một phát minh vĩ đại cần đến một trí tuệ Toán học chín muồi. Số 0 vốn không phải là một số, phát hiện ra nó là sự vượt trội về kỹ năng dùng số của Con người, do đó có thể nói đó là một sáng chế kỹ thuật ghi số vĩ đại. Tuy vậy, đơn vị 1 và con số 0 đều mang tính kỹ thuật, toán học vị toán học, sinh ra để làm Toán, không có tính nhân văn có thể so sánh với phép lấy trung bình.

3. Tôi cho rằng, với một mô hình ngôn ngữ lớn không có các thuật ngữ đơn vị hoặc số 0, AI vẫn có thể tạo ra các khái niệm đó trong một tương lai không xa. Tuy nhiên, tôi không chắc AI hiện tại có thể làm điều đó với phép tính trung bình. Nói một cách khác, phép tính trung bình có tính người hơn các phát kiến toán học vĩ đại khác. Sự vĩ đại có tính người sẽ nhân văn hơn nhưng cũng mang theo cả những thói hư tật xấu của con người.

4. Trung bình sinh ra để mô tả quy luật phổ quát của tự nhiên, vì thế nó là một phát minh vĩ đại và sâu sắc. Sự phổ quát này quán xuyến một triết lý căn cội của xã hội mà cụ Khổng cố đơn giản hoá thành khái niệm trung dung, vừa ngạo mạn vừa nhút nhát, vừa có vẻ trí tuệ vừa lười suy nghĩ.
5. Có lẽ trung bình sinh ra từ bản chất tranh chấp của con người. Thú vật cũng có bản tính tranh chấp, nhưng chúng chỉ có thể giải quyết tranh chấp bằng bạo lực hoặc một năng lực nào đó tinh tế hơn gây thiệt hại và khó chịu cho đối phương, buộc các đối tượng này phải từ bỏ tranh chấp. Trong thế giới thú vật, hoàn toàn không có nhượng bộ. Con người nhanh chóng nhận ra rằng, tranh chấp theo luật thú sẽ dẫn đến phải tiêu diệt đồng loại hoặc bị đồng loại tiêu diệt.
6. Đối với kẻ mạnh, sự tồn tại của đối phương cũng cần thiết, có khi còn quan trọng hơn đối tượng mà chúng đang tranh đoạt. Điều đó để chúng không bị cô đơn khi chống lại những đối tượng thứ 3, đang rình rập để tiêu diệt cả hai bên tranh đoạt. Thế giới tồn sinh trong rừng thẳm có quy luật sinh tồn vô cùng khốc liệt. Do đó, khái niệm trung bình ra đời cùng với nhân tính, sự thoả hiệp và rộng lượng. Con người thắng được cái tôi bản năng để tới cái tôi cao quý chỉ sau khi phát minh ra trung bình.
7. Sau này, chúng ta bị nhồi sọ ở tiểu học định nghĩa trung bình cộng là phải có hai số cộng lại chia đôi. Rồi lớn lên chúng ta lại mặc cả theo bản năng “cưa đôi”, tham nhũng cũng cưa đôi lợi nhuận với doanh nghiệp đút lót “mới bền”, liên minh cộng sinh đó mới kéo dài. Thực ra đó là một khái niệm trung bình man rợ kiểu thô bạo máy móc dành cho loài thú đột nhiên được làm người.
8. Chúng ta đừng nghĩ người thượng cổ là thô sơ, thời gian trưởng thành của họ từ khi biết đứng thẳng so với thời gian trưởng thành của họ đến chúng ta gấp tới hàng chục lần. Phép trung bình của họ là một khoảng nào đó hợp lý ở giữa, người có nhu cầu hơn sẽ được phần hơn. Họ không so đo lắm về sự chênh lệch. Công bằng tuyệt đối không đòi hỏi độ chính xác. Tôi đồ rằng phép cưa đôi chỉ xuất hiện khi có sự tham dự của người thứ 3, manh nha cho xã hội, bắt đầu từ thế chân vạc. Về mặt Toán học, ngày nay người ta đã phát hiện rất nhiều khái niệm trung bình đều cho kết quả nằm ở giữa chừng, trung bình cộng không phải luôn là trung bình hay ho nhất.
9. Chúng ta thử nghĩ xem cái đẹp là gì? Đừng ngắn quá, đừng dài quá, đừng béo quá, đừng gầy quá, đừng đen quá, đừng trắng quá, môi đừng dày cộp hay mỏng dính, mắt đừng ti hí hay trợn trừng trợn trạc. Đó chính là trung bình. Có người đã viết một chương trình xử lý ảnh, đầu vào là hàng ngàn bức ảnh các cô gái xấu xí theo các kiểu khác nhau. Sau khi lấy trung bình tất cả các đường nét, màu sắc, máy tính cho ra một bức ảnh một cô gái đẹp mĩ mãn. Điều đó cho thấy cái đẹp là cái trung bình. Tôi sẽ không tranh luận về quan niệm cái đẹp của xã hội bị trung bình hoá nên bị định kiến quy định.
10. Cái Thiện khó nói hơn, do có nhiều góc nhìn. Tuy nhiên, trong nhiều hoàn cảnh, cái Thiện thô sơ trong rừng chỉ có 1-2 cá thể không còn khả thi. Một khái niệm trung bình, được gọi là trung dung, tuy không thể lượng hoá khách quan, có thể xem là giải pháp cho Thiện cho xã hội. Vì Thiện không thể lượng hoá, nên Trung dung là một nghệ thuật sống, cố nhiên cũng sẽ bị lợi dụng bởi bọn “ỡm ờ, ba phải không chính kiến” nhưng vô cùng tinh ranh nhắm đến những phần chia chác khác bẫm hơn. 11. Vì vậy biết phân biệt giữa Trung Đạo và Ba Phải là phản ánh chất lượng của con người. Tuy vậy nói cho cùng, Thiện là một khái niệm trung bình trừu tượng nằm giữa việc không dám giết một con kiến đến bạo tàn. Có thể vô cùng nhút nhát nhưng có thể vô cùng táo tợn. Nói tóm lại, nếu chỉ hô hào khẩu hiệu Thiện chẳng nói lên được điều gì. Chính vì thế Thiện hay bị tôn giáo hoặc ý thức hệ lợi dụng, vì họ có thể nhào nặn nó theo ý muốn, rồi nướng chiên hoặc hấp thành những cái bánh thơm phức theo khẩu vị của đám đông u mê nhưng vô cùng manh động, tuy tỏ ra bướng bỉnh nhưng vô cùng dễ kích động theo chủ đích.
12. Tương tự, có một điểm trung bình giữa Giả dối và Thô lỗ được gọi là Trung thực. Trước một người què hồn nhiên nói về nhảy cao, trước người đui chê bai việc không biết màu sắc, không thể gọi là Trung thực, mặc dù đó có thể thoả mãn định nghĩa Trung thực trong rừng rậm.
13. Trong thời đại truyền thông, tuy các ý kiến có nhiều màu sắc, những đều thăng giáng không đáng kể xung quanh một số tâm điểm hút rời rạc. Chúng ta sẽ gọi đó là các quan điểm quá khích. Phải nói sự quá khích có sức hấp dẫn ghê gớm. Một mặt, bản năng của đám đông là lười suy nghĩ. Đa số người săn thông tin trên mạng không phải để tìm cái mới, nâng cao hiểu biết. Thực tế họ đã có chủ ý sẵn, phần lớn hình thành từ quyền lợi, xuất thân, thói quen. Họ không đủ sức, nghị lực và không có nhu cầu xem xét chủ ý đó một cách duy lý. Thay vì tra cứu, đọc sách, tìm hiểu, nghiền ngẫm, đối chiếu thực tế, chiêm nghiệm, họ sẽ lên mạng lười biếng tìm những mảng vá để đắp vào chủ ý cho na ná một chính kiến. 14. Đừng tưởng họ đọc, nghe toàn bộ lập luận của người khác để học hỏi. Họ chỉ hơm hớp, đợi có chỗ nào phù hợp cắt vội lấy một mảnh để vá vào chỗ họ còn thiếu. Tôi không tin ở những cái gọi là kiến thức ăn liền được vá víu đó. Đã nói về Bandera tức là phải biết về cuộc đời, hành trạng, tư tưởng và tác phẩm của ông ta trước khi tôn ông ta làm anh hùng dân tộc. Cũng cần xem liệu khái niệm anh hùng đó có mâu thuẫn gì với hệ thống giá trị vốn có của mình hay chỉ muốn biến hệ thống đó thành một nồi cám lợn.
15. Đạo Trung Dung cũng như mọi phạm trù triết học có nhiều biến thể. Từ việc đi tìm chân lý đến việc trùm chăn, hay định kiến hủ lậu đều có thể nhân danh Trung Dung. Nhưng Trung Đạo như một sợi chỉ mong manh xuyên suốt, mọi minh triết đều mong manh, trong một biển vô minh. Nấu cám lợn hiểu theo cách của bọn phàm phu tục tử cũng là một phép lấy trung bình.

Thứ Ba, 18 tháng 10, 2022

Tản mạn về nghệ thuật và ẩm thực

Tôi thường nghĩ âm nhạc kích thích thính giác, hội hoạ điêu khắc kích thích thị giác, tạo nên mỹ cảm, sự hứng khởi, thăng hoa, đều được coi là nghệ thuật. Tại sao tác động lên các giác quan khác lại không được tôn vinh như vậy.

Có lẽ vị giác, khứu giác và xúc giác chỉ là cảm nhận tức thời không lưu giữ cố định được. Tôi đã từng nghe một cô gái tả về chấn động tâm lý như luồng điện khắp châu thân và thấy hồn mình bay lên khi thoáng ngửi thấy mùi nước hoa quen thuộc của người yêu ở xa. Tác động mạnh mẽ được như vậy còn hơn cả nghệ thuật. Tôi thường ngửi mùi cỏ nồng sau cơn mưa lại nhớ những cơn mưa thời thơ bé trên triền bãi sông Hồng, hay bên con rộc ở Quế Võ, hay trong những buổi hẹn chiều hè Hungari xa thẳm, nhiều khi thấy choáng người vì hoài niệm trào dâng, chặn lấy hơi thở, nhịp đập trong lồng ngực đến thắt nghẹn. Những cảm xúc như thế, có thể còn mạnh mẽ và gợi hình ảnh còn sắc nét hơn nhạc của Vivaldi. Kỳ nam, trầm hương, nước hoa “Độc dược” đều có thể coi tương đương với các bản nhạc trữ tình nhất.
Tôi chưa tưởng tượng được hết tác động của nghệ thuật lên xúc giác sẽ như thế nào. Chắc hẳn người mù sẽ biết thưởng thức loại hình nghệ thuật này hơn chúng ta. Có thể chúng ta không vượt nổi sáng tạo của Thượng Đế về làn da mịn màng, cơ bắp săn chắc, viên đá cuội nhẵn lì, mát lạnh, một cái ôm chân tình hoặc lả lơi quấn quý, một bàn tay mộc mạc hoặc ôn nhu, hay hơi ấm của đống lửa trong rừng lạnh. Chúng ta đều đã từng thưởng thức, nhưng có mấy ai đắm mình vào những cảm xúc đó để tận hưởng, thăng hoa tới tột cùng. Nghệ thuật là những gì Con người sáng tạo ra vượt tầm Thượng Đế.
Còn vị giác thì sao. Cụm từ “nghệ thuật ẩm thực” là một trò chơi tu từ mị dân. Thâm tâm của những người thường nói cụm từ này vẫn không coi các đầu bếp kiệt xuất ngang hàng với Mozart, Beethoven, Picasso hay Tề Bạch Thạch. Các món ăn cũng là tác phẩm con người vượt qua Thượng Đế. Từ đậu đến Đậu phụ đã là một đoạn đường xa, từ Đậu phụ đến Chao lại là kiệt tác. Tôi nhớ có người nói, Con người trở nên minh triết nhờ có đồ ăn nấu chín và biết làm rượu vang. Chao ôi, chỉ có rượu vang và beefsteak cũng có bao nhiêu kiểu cách, và cách nào cũng khó cưỡng. Các cụ ngày xưa cũng có nói "Thế gian ba sự khôn chừa. Rượu nồng, dê tái, gái vừa đương tơ". Có lẽ vị giác chất chứa, gắn kết với quá nhiều thị dục nên khó thăng hoa thành nghệ thuật chăng? Vị giác cũng như mĩ cảm về giới tính, dù không ai thoát khỏi, nhưng vẫn chẳng được coi là nghệ thuật hoặc có chăng cũng phải lồng ghép vào các loại hình nghệ thuật khác, như nhạc, hoạ, điện ảnh.
Những thợ cả của ẩm thực thường là đàn ông, nhưng những người thực thi tạo dựng cho hoạt động ẩm thực thường xuyên hơn lại là phụ nữ. Vì vậy, ẩm thực của một dân tộc thường phản ánh khí chất của người phụ nữ. Ẩm thực Việt Nam hơi nhạt nhẽo, có nhiều đồ luộc so với ẩm thực của các dân tộc khác. Tôi chưa bao giờ thấy món thịt luộc trên bàn ăn Âu châu.
Chúng ta có thể tự hỏi đâu là tinh tuý của ẩm thực Việt. Mọi người thường nói đến Phở. Tôi cũng đánh giá Phở là một kiệt tác, nhưng không phải sáng tạo thuần Việt, mà có thể xem đó là thành công của hội nhập quốc tế, hương vị Việt, phong cách Pháp có chút phong vị Trung Quốc. Phở ra đời khoảng đầu thế kỷ XX. Có thể khẳng định các danh nhân của dân tộc như Nguyễn Trãi, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Huệ, Hồ Xuân Hương chưa bao giờ được nếm Phở. Cũng có người cho Chả Giò hay Nem Rán là tinh túy của ẩm thực Việt. Bà hàng xóm nhà tôi ngày xưa nói món này ở miền Bắc vốn gọi là nem Sài gòn, trong khi ở Sài gòn lúc đó thường gọi là nem Hà Nội. Chả Giò là một từ mới, rất láo nháo, không có từ căn nào sát nghĩa. Từ đó suy ra món này chỉ có thể mới xuất hiện vào thời thuộc Pháp.
Nói đặc biệt là phải không đâu bằng, như nước sauce của Pháp, mì Ý, đồ chua và súp Hungari, thịt cừu nướng và trứng cá Nga. Có lẽ Việt Nam nhất thế giới là rau thơm, phong phú và đặc sắc không đâu bằng. Ý có các loại mì khác nhau, Pháp có các loại pho mai khác nhau, Hung có các loại dưa chua khác nhau, Nhật có các loại gỏi cá sống khác nhau, cớ sao Việt Nam không thể có các món cuốn rau thơm khác nhau. Tôi vẫn ấp ủ ý tưởng nếu có thời gian và tiền sẽ mở hai hàng ăn: Nhà Mì Miến (Noodle House) và Nhà Rau Thơm (Herb Vegi House). Ở nhà hàng thứ nhất có đủ loại bột chế biến cán thành sợi như mì, miến, bún, phở, há cảo,... kể cả spagetti, lasagna, mì ống, mì đen,... của Ý, udon, soba, ramen,... Nhật bản. Cũng có những loại lai ghép, sáng tạo bất tận từ tổ hợp giữa chúng. Nhà hàng rau thơm chủ đạo là các món cuốn với rau thơm Việt Nam, nhưng cũng có các loại rau thơm, gia vị của Âu, Ấn, Arab,...Thực khách sẽ tự do sáng tạo các công thức riêng của mình. Và sẽ có những kỳ thi về các món cuốn và mì miến với các sáng tạo độc đáo ở tầm thế giới để tiến gần với nghệ thuật.

Thứ Bảy, 3 tháng 9, 2022

Dân chủ đa nghĩa

 1. THEO ĐA SỐ CÓ PHẢI LÀ DÂN CHỦ

Vấn đề này tôi đã bàn tới hơn một lần. Có những vấn đề cần quyết định bằng phổ thông đầu phiếu. Đó là những vấn đề cơ bản, ai cũng hiểu, cố nhiên là theo những cách khác nhau.
Có những vấn đề chuyên môn, hoặc quyết định có độ phức hợp cao, thuộc về trách nhiệm quyết định của một số cá nhân. Việc đưa các vấn đề thuộc loại này ra bỏ phiếu để quyết chính là vô trách nhiệm và phản dân chủ.
Nếu đa số luôn đúng thì đã chẳng có cải cách ruộng đất, cách mạng văn hóa, đã không giết Socrates, không đưa Jesus lên đinh câu rút. Khi đó đất nước cần gì có chính phủ, quốc hội, mỗi người sắm một smart phone, khi có vấn đề gì cần quyết định, như xử bắn một ai đó, hay tha bổng cho một tên giết người, chỉ cần đếm số nhấn nút là xong. Chắc chắn là oan sai còn nhiều hơn các vụ báo chí đang làm om sòm hiện nay. Nếu một chị lao công có quyền bỏ phiếu về hướng nghiên cứu của một Viện ngang như các nghiên cứu viên, đã bỏ hàng chục năm nghiên cứu, thì đó mới thực là bất công.
Thượng Nghị Viện ra đời là một cơ chế kiểm soát dân chủ, đảm bảo ý chí của đám đông ngu dốt không luôn luôn thắng thế đè bẹp các ý tưởng khai phóng đang mới manh nha.
Năm 1945, Hồ Chí Minh ký pháp lệnh Bình dân học vụ,cưỡng ép xóa mù chữ là đúng. Không thể trưng cầu ý kiến đa số khi đa số đang mù chữ và chưa thể thấy được sự cần thiết của chữ nghĩa.
Chương trình dạy toán phổ thông có tích phân, số phức hay xác suất không, không phải là chuyện đưa ra phổ thông đầu phiếu. Cũng như bắn hay không bắn địa chủ trong cải cách ruộng đất, không thể trao quyền cho nông dân. Đám đông dù sao cũng không thể nào quan trọng bằng khế ước xã hội. Ba ông lập hội với nhau bằng một thỏa thuận tự nguyện, hai ông không thể lấy đa số xé thỏa ước ăn thịt ông kia. Sở dĩ cần lãnh đạo là để quyết định trong trường hợp có nguy cơ đám đông muốn lấy thịt đè người chà đạp khế ước xã hội. Lãnh đạo sử dụng đám đông để chà đạp khế ước xã hội thì không còn gì để nói.
Mặc dù xác suất chọn bừa chọn láo về lý thuyết là 50%, đa số các vấn đề chuyên môn hoặc quyết định quan trọng bằng đầu phiếu là sai lầm thảm hại, ở các nước dân trí thấp lại càng tồi tệ hơn.
Trở lại chuyện học chữ Hán. Tôi nghĩ rằng về chuyện này, tôi bỏ thời gian và công sức nhiều hơn so với 90% dân nước Nam, có thể có ý kiến có đôi chút giá trị khả tín, nhưng vẫn không đủ tư cách ra quyết định, thậm chí bỏ phiếu. Đây không phải là chuyện để bỏ phiếu, mà phải quyết định từ các học giả về ngữ văn, văn hóa và giáo dục. Đám đông biết gì về chuyện này mà bi bô. Tôi không hoàn toàn tán thành ý kiến cho rằng không học chữ Hán thì tiếng Việt sẽ sụp đổ. Nhưng ý kiến này sai không có nghĩa là không nên dạy chữ Hán. Thực ra phe chống dạy chữ Hán nói sai, nói dốt nát cũng vô khối, thực không đáng tốn bút mực. Những người nói rằng tiếng Việt đã trong sáng, hoàn chỉnh, chắc chắn ra chưa hề nghiên cứu tiếng Việt, đang lẫn tiếng sột soạt "bóng chữ" là nhà thơ Lê Đạt đã từng cố mò mẫm với ngôn ngữ. Tiếng Việt đang manh mún, chưa hoàn thành, đang nát như tương, cần chấn chỉnh và cải cách gấp. Nhưng đó là một việc khác, không liên quan tới học chữ Hán.
2. NGHỊCH ĐỀ DÂN CHỦ
Có 5 anh cần ra quyết định về ngân sách. 2 anh có ý kiến cần tiêu 10 đồng, 2 anh có ý kiến cần tiêu 1 đồng, 1 anh có ý kiến tiêu 5 đồng. Kết quả anh bỏ phiếu tiêu 5 đồng thắng. Đó là dân chủ.
Nhưng nếu chúng ta hiểu tiêu 10 đồng có nghĩa là mua một con gà để chén, tiêu 1 đồng là uống trà đá, và để 9 đồng cho cuộc đi chơi sau. Tiêu 5 đồng hoàn toàn không có phương án gì, hoàn toàn là mị dân, không muốn mất lòng bên nào, nhưng cũng vừa cơ hội, gặp thời lên làm bố thiên hạ. Ông này thực ra lãng phí nhất, mua nhảm nhí cho hết 5 đồng, không có mục tiêu nào. Sướng không sướng, cũng chẳng nhìn xa, cố tiêu vào mấy thứ bim bim, xanh đỏ cho đủ chỉ tiêu.
Dân chủ trong thực tế thực ra là thế. Tôi nghiệm thực tế mấy anh phát biểu theo kiểu ba phải, mờ nhạt, bao giờ cũng lên to. Chả thế cụ Khổng dạy bọn nho sĩ cứ Trung Dung mà sống chọn Trung Đạo mà đi, sau một đời long đong thất bại. Mua ô tô phải đủ cả 4 bánh, 1 vô lăng, một động cơ. Tranh cãi mua ô tô sẽ kết thúc bằng bố trí đủ kinh phí mua 2 bánh, nếu có vô lăng thì không có động cơ và ngược lại. Nghe thì như đùa, thực sự mọi quyết định ngân sách đều na ná như thế.
Vì thế tôi chẳng tin đa số có gì thông minh. Ba thằng ngu sẽ ngu hơn một thằng ngu. Chỉ khi nào có ít nhất hai thằng thông minh mới nên đầu phiếu. Vậy dân chủ là mục tiêu và lợi ích của phát triển chứ không phải là con đường đến phát triển. Chân lý trước hết phải là chân lý, đừng nhìn vào đa số nghĩ thế nào.
Chưa kể đám đông ngu dốt hoàn toàn không có chính kiến, nghe loáng thoáng theo cảm tính, vừa xu nịnh quyền thế, để bị giật dây, chẳng biết lợi hại cho mình thế nào. Vì vậy đám đông hôm qua, đám đông hôm nay, đám đông ngày mai vẫn những người đó, nhưng mỗi ngày một giọng. Đừng tưởng đem lý ra mà hiểu được họ. 3. DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Dân chủ và Cộng hoà là các hình thức nhà nước phổ biến. Tuy vậy người ta thường ít để ý đến nghĩa và khác biệt giữa chúng. Đó là điều các hoạt đầu chính trị lợi dụng hàng ngàn năm nay.
Dân chủ theo định nghĩa là quyền quyết định các vấn đề xã hội thuộc về đám đông có thể thông qua các đại diện của họ để bảo vệ quyền lợi cho đám đông. Dân chủ trong đời sống được hiểu là tốt, đảm bảo bình đẳng, công bằng và tôn trọng con người (bác ái)
Thực ra khái niệm dân chủ theo đúng định nghĩa của nó có rất nhiều vấn đề, dễ bị lợi dụng và khó lòng được như mơ ước.
Nếu xem xét lại định nghĩa chúng ta sẽ thấy 4 cấu phần quan trọng 1) Đám đông thường được đồng nhất với Nhân dân, là một từ đẹp đẽ hơn, nhưng thực tế là Đa số. 2) Đại diện 3) Quyền quyết định 4) Quyền lợi. Cả 4 cấu phần phối hợp rất khó đảm bảo đồng thời công bằng, bình đẳng và bác ái.
Trước hết Đám đông trong đa số các xã hội đương đại, nhất là các xã hội Á Đông hoặc/và kém phát triển là một quần thể không có lý tính, thay đổi nhận thức xoành xoạch, rất dễ bị chi phối bởi bọn dân tuý, và đặc biệt không biết quyền lợi lâu dài của mình là gì để ảnh hưởng lên khâu ra quyết định. Thực tế cho thấy những quốc gia tàn phá triển vọng tương lai của mình bằng sự phấn khích của đám đông. Mặt khác đám đông có thể dày xéo lên sự bác ái, rất cần thiết cho những thiểu số kém may mắn hoặc những tư tưởng gia bừng sáng. Đừng bao giờ quên nền Dân chủ Athens đã dung dưỡng chế độ nô lệ và bức tử Socrates.
Vấn đề của Đại diện là liệu họ có đại diện thực sự cho đám đông hay không. Tất nhiên có người nhận thức rằng Đại diện là một trò chơi tu từ học vì không rõ nội hàm. Cũng có người cho rằng Đám đông vốn không có chủ kiến gì, Đại diện là hình thức không liên quan gì đến hành động cụ thể, nên tự cho mình hành động theo ý muốn, và luôn có cách để đám đông tuân phục. Một số người lý tưởng thề tận tuỵ với Đám đông sớm muộn cũng vỡ mộng với những cảm tính bất nhất của đám đông.
Quyết định chính là quyền lực chính trị tối thượng trong xã hội, được sử dụng phục vụ cho nhóm lợi ích cầm quyền. Trong chính thể dân chủ phục vụ đám đông trên danh nghĩa, do đám đông không có ý thức về lợi ích ổn định của chính họ, sớm muốn cũng sinh ra những nhóm lợi ích nặc danh, giống như mafia nấp sau đám đông.
Nói trắng ra thì Dân chủ là cơ chế phổ thông đầu phiếu. Có những ngoại lệ nó có thể hoạt động chấp nhận được, nhưng trong đa số trường hợp nó giống như một tập thể có Andrew Wiles và 1000 ông chưa học hết trung học cần quyết định về định lý Fermat. Như vậy Dân chủ là một ước mơ lý tưởng đẹp, nhưng trong thực thi nó có khoảng 4 nghìn phiêb bản nghiêm chỉnh chưa kể dị bản quái thai, và thường bị lợi dụng.
Cộng hoà là một khái niệm có vẻ ít mập mờ hơn dân chủ. Bản chất của nó là tôn trọng các cá thể công dân, nhưng không nhấn mạnh việc bầu cử phổ thông. Quan niệm có từ thời Platon là chỉ có một số ít đủ năng lực và tư cách mới có thể tham gia vào việc ra quyết định là ý tưởng cốt lõi của Cộng hoà. Bình đẳng đối với Cộng hoà là bình đẳng về cơ hội, chứ kg có nghĩa là ý kiến của một người thao thức nghiền ngẫm hàng chục năm phải bình đẳng với một ông mới biết 15 phút.
Tham chiếu cho những nhà minh triết ra quyết định chính là Hiến pháp, được thiết kế để đảm bảo những triết lý ổn định vừa bảo vệ cho những nhóm người thiểu số. Nói một cách khác thể chế cộng hoà về nguyên tắc là để một số người chuyên nghiệp ưu tú, không kể xuất thân thuộc giai tầng nào hay nhóm sắc tộc nào, vì thế đảm bảo công bằng về cơ hội cho mọi người, ra quyết định. Thực tế đã chỉ ra, tuy đa số các nhà minh triết xuất thân từ tầng lớp trên của xã hội, nhưng họ thường có ý thức chín mùi hơn về sự công bằng và việc cần thiết chăm lo cho những thiểu số bất lợi, vì hệ thống giá trị tinh thần về bình đẳng bác ái là lý tưởng của họ, khiến họ có thể hy sinh quyền lợi cá nhân và gia tộc. Ngược lại, có khá nhiều người xuất thân bần hàn khi gặp vận luôn luôn muốn bám trụ lại giai tầng mình may mắn lạc vào lại không hề đếm xỉa tới những người khốn khổ và luôn phủ nhận nguồn cội. Bảo hoàng hơn vua là như thế. Nói trắng ra, nền cộng hoà lý tưởng phải được vận hành bởi các chính trị gia minh triết, biết dâng hiến và quả cảm phụng sự các giá trị của Hiến pháp. Nhưng thực tế các nước chậm phát triển, đặc biệt ở Á Đông bị đè nặng bởi giáo điều, không phải là môi trường để các nhà minh triết thảng hoặc xuất hiện, bộc lộ.
Vì thế Cộng hoà cũng như Dân chủ cũng bị biến nghĩa và bị lợi dụng, để những người không thực sự minh triết nắm quyền, dù thông qua hình thức tuyển cử thế nào. Trong thực tế, người ta quy giản Cộng hoà thành việc không có vua. Cá nhân tôi cho rằng giữa Cộng hoà và Dân Chủ, Cộng hoà sẽ là thực sự “dân chủ” hơn theo nghĩa quyền lợi lâu dài của đa số được đảm bảo bằng câc hành động minh triết, vừa tiến tới công bằng, bác ái và bình đẳng đúng nghĩa. Tuy nhiên tôi cũng cho rằng phải có trình độ phát triển nhất định mới có thể thực thi Cộng hoà hay Dân chủ đúng nghĩa. Tôi cũng cho rằng hai khái niệm này sẽ tiệm cận với nhau, nếu hâu hết các cá nhân đều đủ minh triết. Nhưng có vẻ con đường đến đó đi qua Cộng hoà có vẻ ít chông gai và dễ kiểm soát hơn.
Thêm nữa các sự kiện chính trị diễn ra ở Việt Nam gây bất lợi cho việc hiểu ý nghĩa chữ Cộng hoà. Ngô Đình Diệm, người sáng lập Đệ nhất Cộng hoà Việt Nam hẳn là muốn sử dụng chữ Cộng hoà với hàm ý “không vua” để có ưu thế với cựu hoàng Bảo Đại, người cố gắng giương cao khẩu hiệu Quốc gia.
Về mặt ngữ nghĩa Cộng hoà có nhiều bất lợi so với Cộng hoà Dân chủ, là một hình thức cải tiến của Cộng hoà nhằm khắc phục yếu kém của nền Cộng hoà. Chính thể Mỹ là một chính thể Cộng hoà ( có tính) Dân chủ. Một mặt Quốc Hội thể hiện quyền lực phổ thông đầu phiếu, Thượng viện lại là nơi thể hiện ý chí của những bang ít dân, và của những người có tố chất chọn lọc tinh hoa. Những người phê phán chế độ bầu cử Tổng thống qua đại cử tri không dân chủ bằng đầu phiếu phổ thông không hề chú ý tới nỗ lực của những người thiết kể ra chính thể này đã phải dày công nghiền ngẫm để ý chí của thiểu số không bị bóp chết bởi đám đông. Con đường bảo vệ quyền lợi của người Da Đỏ ở Mỹ hay người Chàm ở Việt Nam là phải thông qua Hiến pháp, với những điều khoản được xây dựng cách li với quyền lợi và đám đông, tốt nhất là bởi những người tinh hoa, dấn thân vì công bằng, binh đẳng bác ái, nên trở nên minh triết.
Tôi nghĩ Hồ Chí Minh đặt tên nước VNDCCH là muốn theo mô hình Mỹ. Nhưng trớ trêu của lịch sử đã đưa hai luồng ý tưởng tương đồng về chính thể vào xung đột. Ở đây cũng có trò chơi rồ dại của tu từ học tham gia. VNDCCH có thể cắt nghĩa theo hai cách Việt và Hán-Việt ( đều là ngôn ngữ Việt Nam) Theo cách thứ nhất VN là danh từ chính dân chủ và cộng hoà là hai bổ tính chất bình đẳng tuy vậy dân chủ được nhấn mạnh hơn. Theo cách thứ hai Cộng hoà là danh từ chính dân chủ là tính từ cho Cộng hoà trở thành cụm danh từ democratic republic là thể chế của Mỹ và Việt Nam là tính từ bao trùm. Do đó về ý tưởng VNDCCH có tầm nhin có ưu thế hơn từ thiết kế. Vì vậy chọn Cộng hoà là một chiêu bài sắc về chính trị, nhưng cùn về ý thức.
Quốc hiệu hiện tại của Việt Nam là CHXHCNVN chỉ có một nghĩa duy nhất là Cộng hoà là danh từ chính, xã hội chủ nghĩa và Việt Nam là bổ ngữ và vì thế cũng không tiến về ý tưởng so với VNDCCH.

Thứ Hai, 14 tháng 2, 2022

Tính phi nhân của tư tưởng Á Đông

 Nhiều người cho rằng tư tưởng Á Đông mạnh về toàn cục nên kém về phân tích so với tư tưởng Phương Tây. Cao Xuân Huy cho rằng sự khác biệt là ở chủ toàn-chủ biệt. Phương Đông nhìn vấn đề theo hướng toàn cục, Phương Tây dựa trên phân tích thành từng mảnh nhỏ để lĩnh hội các mảnh dễ hơn "chia để chinh phục" (divide and conquest).

Nhiều người khác lại cho rằng tư tưởng Á Đông trọng ở tâm linh, tư tưởng Phương Tây trọng ở vật chất. Chúng ta sợ bất cứ loại ý thức siêu nhiên, phi vật chất nào, từ bình vôi đến ma xó. Phương Tây chỉ lo thiếu tiền, vì thế có sốt vàng, sốt thuộc địa, phát triển hạm đội, máy móc để kiếm tiền, trong khi ta nhàn tản trồng rau, nói chuyện đạo đức. Người khác lại cho Á Đông là duy tâm, Phương Tây là duy vật, Á Đông là chủ quan, Phương Tây là khách quan, Phương Đông là lý trí, Phương Tây là cảm giác, vân vân và vân vân.

Tất cả những luận thuyết đó đều là giản lược để phục vụ cho nhận thức chủ quan hoặc do hiểu quá sơ sài về tư tưởng Phương Đông hoặc Phương Tây, hoặc cả hai. Các quan điểm này mâu thuẫn với nhau đến nỗi chẳng thể rút ra một điều gì chung bổ ích. Thực ra mọi thứ như duy tâm-duy vật, tâm linh-vật chất, lý trí-cảm giác, chủ toàn-chủ biệt, chủ quan-khách quan, bản thể-hiện tượng, dù Đông hay Tây đều có đủ. Có chăng là ở Phương Tây do có phương pháp khoa học phát triển hơn mà các phạm trù này đều tinh tế hơn.

Khác biệt lớn nhất của tư tưởng Á Đông và Phương Tây là phi nhân và vị nhân. Mọi chủ thuyết của Á Đông đều không dựa trên cá nhân, không dựa trên cái tôi cụ thể. Mọi cá thể con người đều phải phủ định bản thân mình để phục tùng một trật tự được ai đó cho là hợp lý theo một nghĩa nào đó. Tu dưỡng, đào luyện ở phương Đông là quá trình phủ định các bản năng, để tiến tới phủ định hoàn toàn tư duy độc lập và cuối cùng là cá thể con người. Trong khi đó, cái Tôi là trung tâm của mọi tư tưởng, hành vi của Phương Tây. Nghệ thuật tạo hình Á Đông cũng vô cảm như vậy. Các bức tượng, tranh của phương Đông đều mang tính ước lệ đến nỗi các khuôn mặt tượng đều vô cảm, giống hệt nhau cho đến cả tư thế ngồi.

Xã hội Phương Đông được tổ chức mô phỏng theo hình thức toàn hảo nhất của loài côn trùng gồm ong, kiến và mối. Dân chủ, đổi mới nhất cũng chỉ là Vua Khỉ. Mọi cá thể khỉ đều là vô nghĩa, chỉ là một cái lông của Mỹ Hầu Vương. Mọi Hồng vệ binh chỉ là một con kiến thợ, mọi xúc cảm của họ đều là vô nghĩa trong tư tưởng chói sáng của Mao Chủ Tịch.

Chủ Nhật, 9 tháng 1, 2022

Chỉ những nền văn hoá lớn mới nuôi được bọn gàn

Dân tộc nào, thời đại nào cũng có người gàn. Socrates đốt đuốc tìm chân lý ban ngày. Diogenes sống trong thùng gỗ. Bá Di Thúc Tề không ăn thóc nhà Chu đến nỗi chết đói Thú Dương. Nhạc Phi cùng con trai bị hãm chết ở Phong Ba Đình vẫn tin ở "thiên nhật chiêu chiêu" (mặt trời sáng tỏ). Bùi Giáng rách rưới, đói khát, ngủ ngoài đường mà tự cho mình là trích tiên.

Gàn tức là đi ngược lại tính toán khôn ngoan thường tình. Thường thì gàn không có công tích gì cụ thể, chẳng tạo lập được tài sản, ngu ngơ giữa đường đời, thiệt thân mình, khổ vợ con.
Vậy mà những dân tộc lớn lại trọng người gàn. Những dân tộc quá tỉnh táo, khinh rẻ người gàn thường lại là nhược tiểu, đói nghèo, lạc hậu, suốt ngày nói chuyện khởi nghiệp, đi tắt đón đầu, mơ chuyện ông Bành Tổ, chê bai kẻ gàn dở, khinh bạc kẻ cần kiệm, bạc đãi kẻ không biết xa hoa.
Quốc gia sáng suốt không phải là tập hợp của những kẻ quá tinh ranh. Kẻ tinh ranh thành thói quen tính lợi hại trước mắt. Tính lợi hại thì xoay chiều liên tục, như chiếu tam cúc, chuyển tiền từ túi này qua túi khác rồi lại trở về, khó sinh giá trị mới. Quốc gia sáng suốt phải dựa trên các giá trị ổn định. Không ai giữ giá trị ổn định đáng tin cậy bằng bọn gàn. Vì sao quỹ khoa học, quỹ đầu tư của các quốc gia, không phải lo quản lý đến từng xu mà chọn lựa vẫn công tâm, hiệu quả đầu tư cao? Vì bọn quản lý toàn những tay gàn, không hề quan tâm đến thiệt hơn. Đừng có tưởng bọn Tây là ngố ngốc dễ lừa. Không bọn con buôn nào ma lanh láu cá như bọn tư bản Tây. Nhưng hễ cần hỏi ý kiến là chúng mời ngay bọn gàn, được chăm bẵm để giữ bằng được bản tính gàn và để ra các quyết định thay cho xã hội.
Cố nhiên các quốc gia tinh ranh hơn không đời nào chịu nuôi bọn gàn, để mất thời gian nghe chúng bàn chuyện viển vông, nghiên cứu phát triển RD gì đó vớ vẩn. Vả lại có muốn nuôi cũng chẳng nuôi nổi vì các quốc gia này thường đói nghèo, lạc hậu, quốc khố rỗng tuếch có được đồng nào không bị bọn tinh ranh tham nhũng thì đã bị các quyết định đầu tư ngu xuẩn ăn hết sạch.
Vì thế mới có chuyện bà bán phở ở khu Kim Liên xem TV thấy giới thiệu về Giáo sư Trần Đức Thảo nổi tiếng thế giới bèn chép miệng mà rằng "Cũng là Trần Đức Thảo mà Trần Đức Thảo của người ta sao mà giỏi giang quý hoá thế. Trần Đức Thảo ở khu mình sống khác gì con chó".

Chủ Nhật, 28 tháng 4, 2019

PHỦ ĐỊNH VẦ TƯ DUY

Câu hỏi tại sao đóng một vai trò quan trọng trong phát triển tư duy. Nếu một con vật đặt được một câu hỏi tại sao duy nhất nó ắt sẽ trở thành người vì sẽ có hàng vạn câu hỏi tại sao tiếp nối. Biết trả lời cho một vạn câu hỏi tại sao là đã có thể thành minh triết. 
Quy trình dạy cách đặt câu hỏi tại sao cho trẻ em nói chung và cho người lớn bị liệt chức năng này như sau: 1) Luyện cách đặt các mệnh đề phán đoán. 2) Phát biểu một cặp mệnh đề có thể có liên quan. 3) Đặt câu hỏi tại sao. 4) Đặt câu nhân quả: vì.... nên.... 5) Mở rộng: nếu... thì....
Tuy vậy, tôi đoán rằng nếu bước 1) luyện không kỹ, tức là năng lực phán đoán không tốt, chưa ổn định, lập luận nhân quả sẽ lung tung. Đối với trẻ nhỏ thì việc xoá bỏ đi hoàn toàn để luyện lại rất dễ. Đối với người lớn tuổi bằng cấp chức tước càng cao sửa càng không dễ. Bản thân tôi thấy nhiều GS, TS, BT, CT lập luận mà thấy phải sửng sốt, phán đoán họ là nguồn cảm hứng vĩ đại của Mao Chủ Tịch khi Người nhận định về trí thức. Với những người cao cấp hơn không phải không có chuyện đó, nhưng tạm thời chúng ta sẽ không nói tới, thông cảm cho họ đã mất công vất vả leo trèo đến đó. Vả lại cũng không mấy bổ ích hay tác dụng.
Chỉ tóm gọn là có những lập luận của các bậc được xã hội kính trọng nhưng như ... shit. Dùng tạm tiếng Anh cho nhã. Thực ra, lập luận của họ thế nào không đáng làm ta quan tâm. Điều quan trọng là ta có thể rút ra kết luận có ích cho xã hội là khi năng lực phán đoán không vững lập luận sẽ như shit. Nói cách khác, không biết phải trái thị phi thì dù có là ông nọ bà kia cũng sẽ chẳng nên cơm cháo gì.
Phán đoán tức là phải có phủ định. Đừng lo chân lý bị phủ định. Chân lý luôn có thể phủ định bởi ai đó. Chân lý được phủ định mới thành chân lý. Đã là chân lý thì không bao giờ tàn lụi chỉ vì bị phủ định. Một đứa trẻ thích phủ định và biết phủ định, chưa biết đúng sai thế nào là đã hơn cả những người lớn không bao giờ thử phủ định các chân lý tưởng như bất di bất dịch.

Thứ Hai, 26 tháng 3, 2018

Sách Chu bễ có phải là ngụy thư?

Sách Chu bễ còn gọi là Chu bễ Toán kinh (周髀算经) là sách cổ của Trung Quốc. Đa số các học giả Trung Quốc cho là xuất hiện sớm nhất khoảng TK1 trước CN tức là khoảng thời Hán Vũ Đế. Điểm đặc biệt là trong sách này có thuyết Cái Thiên và cơ sở cho lịch Tứ phân. Một số học giả cho rằng sách này ra đời sớm hơn vào thời Chiến Quốc (TK5-TK3 trước CN). Một số học giả quá khích hơn còn cho rằng sách này soạn đầu đời Chu (TK11 trước CN) hoặc thời Xuân Thu (TK8-TK5 trước CN). Một số người lại cho tác phẩm này xuất hiện muộn hơn nhiều.
Đặc biệt mô hình vũ trụ của Chu bễ hoàn toàn khác biệt với Thiên văn học dòng chủ lưu của Trung Quốc với thuyết Cái thiên như sau "Thiên viên như trương cái, địa phương như kỳ cục" (Trời tròn như cái lọng, đất vuông như bàn cờ). (Cái là cái lọng do đó thành tên chủ thuyết). Chủ thuyết này là bất di bất dịch trong quan niệm chủ lưu của Trung Quốc cho đến cuối đời Minh, khi Thang Nhược Vọng (giáo sĩ người Đức) đưa ra Tân thuyết giải thích bốn mùa, năm đới khí hậu, gây ra ầm ĩ và phản đối trong giới sĩ phu. Tuy nhiên, trong sách Chu bễ đã nói về việc tại Bắc Cực đến hè băng cũng không tan. Chu Bễ cũng nói mặt đất hình tròn, bầu trời cũng hình tròn, song song với mặt đất cách mặt đất 8 vạn dặm. Cần nói rõ Chu Bễ không hề nói Trái Đất hình cầu, mà chỉ nói bề mặt Trái Đất cong, có thể là một phần của mặt cầu và vì thế cũng không hề biết có Nam Cực.
Điều đáng chú ý là mô hình vũ trụ của Chu Bễ hoàn toàn giống hệt như mô hình có trong sách cổ của Ấn Độ là Puranas (Vãng thế thư), ước ra đời TK10 trước CN. Nhiều học giả Trung Quốc cũng cho rằng, tuy ý tưởng giống nhau có thể sinh ra tại nhiều nơi, nhưng việc trùng đến mức quái dị từ đại thể đến tiểu tiết giữa Chu Bễ và Puranas, khó lòng không cho chúng là từ một gốc. Chính học giả Trung Quốc nói rằng cho rằng "Ngẫu nhiên xảo hợp" là cách giải thích vô cùng miễn cưỡng.
Ở điểm này, các học giả TQ có hai cách nhìn nhận khác nhau. Một cho rằng Puranas chép từ Chu Bễ, rồi từ đó truyền sang Lưỡng Hà, Hy Lạp, La Mã. Quan điểm khác cho rằng, Chu Bễ nhắc tới Chu Công (TK10 trước CN) và Trần Tử (TK1 trước CN, tức là thời Hán Vũ Đế), như vậy không thể ra đời trước Puranas. Lại có người cho rằng Chu Bễ được soạn một lần thời Chu Công và lần sau thời Trần Tử. So sánh văn phong với sách Hoài Nam Tử, người ta có thế thấy phần Trần Tử có văn phong đồng thời với Hoài Nam Tử. Từ đó suy ra Chu Bễ có thể có niên đại như TK1, nếu bản Hoài Nam Tử mà chúng ta có hiện nay đích xác là nguyên bản của Lưu An. Tuy nhiên, các chi tiết của phần có Trần Tử cũng giống Puranas. Mặt khác, thời cổ không có Internet, thời gian để một cuốn sách do Chu Công phổ biến ra xã hội đã lâu, để lan truyền ra ngoại vực không thể trong vòng vài năm.
Đáng chú ý trong Hán Thư của Ban Cố (TK1) trong Nghệ Văn Chí có nhắc đến hai tác phẩm toán học là Hứa Thương Toán Thuật và Đỗ Trung Toán Thuật, không hề có Chu Bễ Toán Kinh. Do đó có khả năng là Chu Bễ Toán Kinh thời đó vẫn chưa có.
Và còn một số lý do khác mà tôi sẽ không thảo luận ở đây, đa số học giả thừa nhận, thời gian ra đời sớm nhất có thể có của Chu Bễ là vào đời Hán Vũ Đế (TK1 trước CN). Nên nhớ rằng thời gian này là thời gian thuyết Cái thiên của Trương Hành đang là chủ lưu. Nội dung của Chu Bễ mâu thuẫn hoàn toàn với các thuyết chủ lưu, khó lòng có thể chen chân vào học giới. Cách học của người Trung Quốc lại rất câu nệ sách vở giáo điều, không bao giờ tham khảo các quan điểm dị biệt, cho là tà thuyết.
C. Cullen cho rằng Chu Bễ không phải một người viết, mà đại thể có thể chia thành nội thiên và ngoại thiên. Nội thiên lấy Trần Tử làm trung tâm, có thể được soạn vào thế kỷ 1. Tuy nhiên ngoại thiên không thể soạn muộn hơn thế kỷ 2. Lại có học giả Nhật Bản căn cứ vào nội dung của Chu Bễ có xác định vị trí của sao Bắc Cực luận đoán ra, người viết quan sát thiên tượng của TK6-TK7 trước CN. Tuy nhiên cách lập luận này đã bị phê phán rất nhiều.
Hiện nay đa số học giả thống nhất được là Chu Bễ không do một người trước tác do nội dung và văn phong đều bất đồng. Các tác giả cũng ở nhiều thời kỳ khác nhau, và có những quan điểm bất đồng. Trong lịch sử Trung Hoa, việc san định, chú giải sách khá tùy tiện, như sách Tam Quốc của Trần Thọ nhưng lượng đóng góp của Bùi Tùng Chi rất lớn, và không loại trừ việc sửa cả văn gốc. Hoặc Tôn Tử Binh Pháp có thêm rất nhiều đóng góp của Tào Tháo đời Hán và Lý Tĩnh đời Đường cách rất xa về niên đại. Nếu thừa nhận Chu Bễ có nhiều tác giả và nhiều quan niệm khác nhau, cần phải xác định ý tưởng nào thuộc về thời kỳ nào thông qua nội dung và so sánh với chủ lưu chứ không thể gán ghép toàn bộ nội dung cho một thời kỳ để ra những kết luận không có cơ sở, như một năm dài 365.25 ngày (nếu có) có trong Chu Bễ được gán ghép cho thời Chu hoặc Xuân Thu, Chiến Quốc. Như vậy những lời được cho là của Thương Cao, Chu Công, Trần Tử đều là hư cấu của người sau.
Các học giả Trung Quốc cũng đặt vấn đề "Tri thức về thời tiết nóng lạnh và 5 đới khí hậu từ đâu đến". Tri thức thiên văn chủ lưu của người Trung Quốc không cho phép giải thích thời tiết khí hậu. Do đó có thể nói đến thế kỷ 17, Thang Nhược Vọng mới mang tri thức này vào Trung Quốc. Tuy nhiên Chu Bễ Toán Kinh lại có manh nha loại tri thức này, là một điểm kỳ lạ và đứt đoạn.
Tôi tạm dịch một số đoạn nhận định sau
比较合理的解释似乎只能是 ∶ 这些知识不是中国传统天文学体系中的组成部分, 所以对于当时大部分中国天文学家来说, 这些知识是新奇的, 与旧有知识背景格格不入的, 因而也是难以置信的.
So sánh giải thích hợp lý tựa hồ chỉ có một khả năng là∶ những tri thức này không phải là bộ phận trong hệ thống thiên văn học truyền thống của Trung Quốc, vì lẽ đó đối với đại bộ phận các nhà thiên văn học Trung Quốc thời đó mà nói, những tri thức này là mới mẻ, không ăn nhập gì với các tri thức cũ mà họ cho, vì thế rất khó chấp nhận.
其次, 在古代中国居传统地位的天文学说 ---- 浑天说中, 由于没有正确的地球概念, 是不可能提出寒暑五带之类的问题来的.
Hơn nữa, trong thuyết Hỗn thiên, thuyết thiên văn có địa vị (trung tâm) trong truyền thống cổ đại Trung Quốc, do không có khái niệm địa cầu chính xác, không thể có năng lực đề xuất các loại vấn đề liên quan tới thời tiết, khí hậu.
Để kết luận, tôi xin bày tỏ quan điểm cá nhân, người đọc tùy ý lựa chọn tin tưởng hay không: Khả năng Chu Bễ Toán Kinh là ngụy tạo dần dần từng chi tiết hoặc toàn bộ không phải là không có. Việc ngụy tạo sách vở cổ thư của Trung Quốc không phải là chuyện hiếm. Việc các tri thức về vũ trụ của Chu Bễ gần như bê nguyên xi từ Puranas là hiển nhiên. Khả năng trùng hợp (xảo hợp) rất hiếm hoi như lạc đà chui qua lỗ kim, tuy theo thuyết lượng tử không phải là không có tý xác suất nào. Tin ở những điều may rủi vu vơ như vậy, trong khi có quá nhiều điều hay và chắc chắn hơn, phụ thuộc bạn có quá nhiều thời gian không biết dùng làm gì hay không. Cuối cùng, dù là ngụy thư, tự phát minh hay sao chép, các kiến thức có giá trị trong Chu Bễ cũng nằm ngoài kiến thức chủ lưu của Trung Quốc trong suốt lịch sử cho đến Trung hoa Dân Quốc. Do đó không thể coi là tri thức thiên văn học Trung Quốc. Mặt khác các kiến thức này đều có ở Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ trước Chu Bễ rất nhiều. Những điều tôi nói đây không phải là suy đoán cá nhân, hay ý kiến của học giả phương Tây mà của các học giả Trung Quốc có lý trí và công bằng.
Tôi sẽ trở lại lịch tứ phân và việc người Trung Quốc biết một năm có 365.25 ngày từ khi nào sau vào một dịp khác.

Thứ Ba, 22 tháng 9, 2015

Đạo lý Tetrix.

Vi sao hệ thống nhà nước mê hoặc công chức? Công chức công việc chính là cạo giấy. Vô cùng nhàm chán. Lại rất ỷ eo nhiều chuyện vô nghĩa, hạn chế suy nghĩ độc lập, làm cùn nhụt ý chí. Đãi ngộ lại vô cùng bạc bẽo. Người ta nghĩ rằng động lực công chức là bổng lậu. Thực ra, hàng trăm vị trí công chức không có lấy một vị trí có thể kiếm được bổng lậu. Tất nhiên không thiếu các vị trí kiếm được tiền giời ơi, nhưng động lực chính cho công chức trẻ vẫn không phải là vật chất. Một công chức 30-40 có danh xưng Phó Vụ Trưởng đến các cuộc họp đã được giới thiệu rất oai. Nhưng tại Vụ, ngài PVT chỉ huy bao nhiêu người? Nhiều Vụ có 5-6 người đã có tới 4-5 người ở cấp Phó Vụ Trưởng, Vụ trưởng, thậm chí hàm Vụ trưởng. Chuyên viên còn quý hiếm hơn quan. PVT vẫn cạo giấy như thường, trừ những vị trí đặc biệt, đó chỉ là danh xưng bên ngoài. Như vậy quyền lực, điều khiển người khác cũng không phải là động lực. Động lực chính vẫn là hệ thống cấp bậc, chức danh và sự cay cú hoặc thỏa mãn đi đôi với các nấc thang. Tâm lý này giống hệt trò chơi Tetrix. Trò chơi này khá đơn giản, không có gì lý thú, nhưng hấp dẫn bởi hệ thống tính điểm lên bậc, ngoài ra không có gì khác. Cũng giống như hệ thống cấp bậc của Cái bang: Bắt đầu là đệ tử 1 túi, lên đến chín túi rồi mới đến trưởng lão, lại trở lại một túi đến chín túi, rồi mới đến đại trưởng lão, rồi mới có chức như truyền công, chấp pháp, rồi mới tới phân đà chủ, phó bang chủ mới đến bang chủ. Lên mỗi nấc là trăm sự nhiêu khê, lễ nghi lằng nhằng. Nhưng sự hấp dẫn ở đó, tính ràng buộc cũng ở đó. Đệ tử 9 túi là một cấp bậc vô cùng nhỏ nhoi, vô nghĩa, nhưng mất hàng chục năm công cán, bao nhiêu lần lên chức trước ngàn cặp mắt ghen tỵ của đồng cấp. Nếu bỏ đi thì tiếc vô cùng. Cấp bậc quân đội cũng hấp dẫn như vậy. Ngày nay, tại Trung Quốc quân nhân không thể lên chức Nguyên Soái, thậm chí Đại tướng cũng không có. Nhưng đã có thêm 4 bậc Quân Sĩ trưởng (tương đương với 7 cấp bậc Hạ Sĩ quan), 3 cấp Úy, 4 cấp Hiệu và 3 cấp Tướng. Đeo lon cấp Úy hay Hiệu đã là vinh dự và khó như lên trời, vô cùng hấp dẫn. 
Từ bao giờ chẳng biết, tư duy tetrix cũng len vào giới học thuật, chuyên môn. Cũng tốt. Học thuật chuyên môn là làm việc thật. Làm việc mà không tưởng thưởng thì tốt quá. Nên mới đẻ ra các bậc viên chức, phóng viên chính, nhà giáo ưu tú, nghệ sĩ nhân dân, PGS và GS các loại. Nhà giáo mà không có có ưu tú, thì chẳng khác nào có thêm cái nhãn không ưu tú.Phóng viên mà không chính khác nào là có mác phóng viên phụ. Chuyên gia không có chữ cao cấp khác nào loại hai, thấp cấp, trong một thị trường toàn đồ hàng dỏm, nhái. Khó chịu lắm. Ai biết sắc sảo tận tâm, hùng hồn uyên bác thế nào, tất cả đều nhòe nhoẹt trong một đám ngu phu ngu phụ vô danh. Thế là bản năng tetrix trồi dậy cuốn hút bao người vào một hành trình thăm thẳm. Có người làm việc chi phí thấp hản là tốt rồi. Nhưng xem ra hệ thống chức danh cũng có những nhược điểm ngày càng lộ rõ. Quan trọng nhất là động lực danh và động lực làm việc đã nhanh chóng đi về hai hướng. Mấu chốt nhất là chế độ tưởng thưởng, ít ỏi nên phải phân biệt, và theo danh thì đỡ eo xèo nhất. Thế là trò tetrix này càng thêm động lực, trở thành Võ lâm truyền kỳ, binh khí cấp bậc tính ra tiền ảo, tiền ảo đổi thành tiền thật. Không ai còn làm gì chỉ sôi sục theo danh lợi tạo thành cơn sốt ảo.
Trò chơi này đến lúc nào đó sẽ có những biến thái mới. Sẽ có đứa trẻ nào hô lên chuyện Hoàng đế ở truồng. Ăn nhau là mặc quần áo hay không, chứ không có quần mà gọi là tơ siêu hạng, nhẹ như không để người đời bắt buộc phải tán thưởng có gì lý thú. Và nhất là danh hiệu hão không thể là động cơ vĩnh cửu vận hành một bộ máy thực sự làm việc

Thứ Bảy, 18 tháng 4, 2015

Nhàn đàm: Công nghiệp hát rong kể chuyện

Qua nhiều tỉnh ở Việt Nam, thấy nhân dân sống còn nghèo, tôi cứ băn khoăn không biết làm thế nào với những người này, có thể thu tiền làm CNTT từ họ. Hay nói rộng hơn, có thể thu tiền gì từ họ, ngoài đồ ăn, cái mặc, chỗ ở, thuốc thang và xa hơn một chút là học hành. Nếu thị trường mua không có, thì cũng khó có thể giúp họ có được thu nhập để nâng cao đời sống. Nói cho cùng, họ cũng phải bắt đầu thu nhập từ môi trường xung quanh. Vấn đề của các tỉnh đều là tìm ra sản phẩm công nghiệp. Tỉnh nào cũng nói thị trường trong tỉnh không có, muốn tìm cách bán ra tỉnh ngoài, nhưng cũng dựng hàng rào ngăn chặn sản phẩm của tỉnh khác vào tỉnh mình. Quay đi quay lại, cuối cùng lại trở về bán tài nguyên. Tỉnh nào không có tài nguyên thì bán đất. Đất mỗi ngày một cạn mà công nghiệp, sản phẩm không có, tương lai sẽ không biết bán cái gì. Tôi tán thành bán tài nguyên, nếu như nhằm vào mục tiêu tạo vốn, đầu tư vào công nghiệp, để trong tương lai có sản phẩm bán được.

Có lẽ vấn đề của cả nước Việt Nam cũng như vậy. Rất ít sản phẩm được thị trường trong và ngoài nước chấp nhận. Tôi đã từng đi dự một hội chợ sản phẩm công nghệ và hoàn toàn thất vọng. Mặt hàng bán chạy nhất là trái vải của Bắc Giang và bánh đậu xanh của Hải Dương. Cách sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao nhất là quy trình nuôi tôm và nén mùn cưa thành củi. Có lẽ khó khăn không nằm ở việc làm một sản phẩm cụ thể, mà ở chỗ vòng quay của hệ thống không trơn tru. Động vào chỗ nào cũng phải thắng được lực ì của cả hệ thống. Làm một việc thành công ở Việt Nam là phải vác lên vai toàn bộ các vấn đề của xã hội. Thành thử chỉ các công ty lớn mới có hy vọng thành công vì mới bõ công xây dựng một bộ máy toàn diện để giải quyết chừng đó vấn đề.

Tuy nhiên, xem ra các đại gia cũng chỉ say sưa lợi dụng thương quyền để đào mỏ, chứ không phải là muốn giải quyết đến gốc của vấn đề để phát triển lâu dài. Vì vậy, các khẩu hiệu luôn luôn đổi mới được đưa ra, giống anh con rể bắt chước bố vợ đủ thứ trong tiếu lâm Việt Nam, mà không làm chuyện gì cho ra hồn.

Xem ra, để làm ăn lớn có lẽ nên bắt đầu từ thị trường nước ngoài. Thị trường nước ngoài nếu thành công lâu dài và ổn định sẽ dần dần tạo ra thị trường trong nước. Thực sự thì trong CNTT, xu hướng gia công là xu hướng duy nhất thành công ở quy mô công nghiệp, sau khi đã thử nghiệm các ý tưởng như game, thương mại điện tử, mạng xã hội,.... không mấy thành công. Đến như đại gia Viettel, trước nguy cơ bão hòa thị trường Viễn thông trong nước đã bắt đầu tìm ra nước ngoài.

Có điều, chỉ là ra nước ngoài thôi thì vẫn chưa phải là một chiến lược cụ thể. Rõ ràng gia công không phải là một hướng lâu dài, do không thể hình thành thương hiệu. Không có thương hiệu thì không thể có khách hàng lâu dài và không thể có sản phẩm công nghiệp có tầm cỡ. Gia công mà không để ý tới sản phẩm thì cũng không hơn gì bán tài nguyên, trong đó con người cũng là một dạng tài nguyên. Có thể gia công là một giải pháp tốt nhất hiện nay mà chúng ta có, nhưng không thể là đích đi tới. Cũng như bán hoa hậu, người mẫu, than đá, dầu mỏ, đều phải hướng tới mục tiêu trong tương lai, là phải có sản phẩm công nghiệp.

Tôi nhớ, hình như Tố Hữu có lần được hỏi sẽ làm gì sau khi thôi chức Phó Thủ tướng, ông đã trả lời "Tôi sẽ đi hát rong kể chuyện". Cũng có thể ngài Phó Thủ tướng -Thi Sĩ phụ trách kinh tế hoàn toàn không có một ý tưởng nào về công nghiệp. Nhưng tôi chợt nghĩ: Tại sao lại không có công nghiệp hát rong kể chuyện. Nếu chúng ta thử tính xem doanh thu do di sản của ông già hát rong kể chuyện mù Homer, hay chàng nghệ sĩ Shakespeare đã tạo ra cho nhân loại là bao nhiêu, có lẽ toàn bộ doanh thu của ngành công nghiệp CNTT chỉ là con muỗi. La Quán Trung ngày xưa, Trương Nghệ Mưu ngày nay cũng là những người hát rong kể chuyện. Hát rong kể chuyện Harry Potter, Lords of the Ring tạo ra doanh thu khổng lồ mà bất cứ ngành công nghệp nào cũng phải ao ước.

Việt Nam có thể hát rong kể chuyện gì cho thế giới để thay vào các cố gắng thi hoa hậu, thi Olympics, làm game, đá bóng nhại theo tiqui-taka, gia công phần mềm.... không thể nào thành công nghiệp quy mô quốc gia được. Đừng tưởng hát rong kể chuyện không có vai trò lớn. Người ta mua hàng Trung Quốc, du lịch Trung Quốc, đầu từ vào Trung Quốc cũng bắt đầu từ các câu chuyện hát rong kể chuyện Đèn Lồng Đỏ treo Cao, Ngoạ hổ Tàng Long, Tam Quốc, Hồng Lâu Mộng,.... Trước khi  các thương hiệu Sony, NEC, Canon, Honda, Toyotta,... của Nhật trở thành quen thuộc, thế giới đã say sưa nghe Kurosava hát rong kể chuyện về con người và văn hóa Nhật bản. Có thể nói văn hóa dẫn đường và cũng là người bảo tiêu quan trọng nhất cho hàng hóa công nghiệp. Chúng ta sẽ kể chuyện gì đây và sẽ kể thể nào?  

Thứ Tư, 4 tháng 3, 2015

Thảm họa điểm lùi và tình thế "lang bạt kỳ hồ"

Có những người dù cố sức đến mấy cũng không thể tiến lên được, có những xã hội có cố gắng bao nhiêu cũng không thế tiến hơn được. Có một số thuyết cho rằng những người đó, xã hội đó đã đến ngưỡng bão hòa. Điều lý thú hơn là ở chỗ, cũng những người đó, xã hội đó có những đặc trưng, thường được cho là các giá trị đánh giá, không khác gì những người, xã hội tiến bộ hơn. Vậy sự khác biệt là ở chỗ nào? Và quan trọng hơn là thái độ của chúng ta đối với những tình huống đó. Phải tìm cách tự hài lòng, đợi thời thế thay đổi do một thượng đế ban phát cho ư, hay lại nghĩ ra một thuyết gì mới để chứng tỏ ta ưu việt, hệ thống đánh giá có vấn đề.

Trong Toán học có một mô hình rất đơn giản để phân tích tình huống này gọi là Thảm họa điểm lùi (Cusp Catastrophe), rất giống hình tượng "lang bạt kỳ hồ" mà tôi đã phân tích một lần: Con cáo già tiến lên thì dẫm phải yếm ngực, lùi thì dẫm phải đuôi, tình hình kẹt cứng. Thảm họa điểm lùi được nhà toán học Zeeman đề xuất năm 1976, để mô tả trạng thái tâm lý, sau đó được nhiều người giải thích về sự phát triển của doanh nghiệp, xã hội và nhiều lĩnh vực khác.

Cơ sở của Thảm họa Điểm lùi là một nhánh rất phức tạp trong lý thuyết tô pô, với rất nhiều khái niệm phức tạp, tuy nhiên có một mô hình cụ thể rất dễ hiểu đối với mọi người có kiến thức phổ thông về toán như trong hình sau đây:


Giả sử một hệ thống (có thể là một con người, tổ chức hay một xã hội) được đặc trưng bằng 2 tham số năng lực nội tại trên mặt phẳng ở dưới đáy của hình vẽ trên.  Chỉ số giá trị khách quan về hệ thống đó nằm trên trục vuông góc với mặt phẳng đó. Và có một mặt gấp khúc như trong hình vẽ. Hệ thống đó xuất phát từ điểm thấp nhất và bắt đầu tiến lên, bằng cách phát triển năng lực của mình. Những hệ thống húc đầu vào nhánh dưới của mặt gấp khúc, cuối cùng sẽ tiến đến những điểm "lang bạt kỳ hồ" không tiến lên được nữa.

Một số người có thể so sánh năng lực nội tại của mình với những người thành công hơn nhiều và thấy mình không hề thua kém, có thể còn vượt trội hơn, nhưng cuối cùng giữa hai loại người vẫn là sự khác biệt lớn lao. Nói nghe có vẻ quá khích, nhưng thực tế có những kẻ dở hơi, cám hấp hay điên khùng, có những tố chất không khác gì thiên tài. Các hệ thống khác như tổ chức, doanh nghiệp, xã hội hay quốc gia cũng đều có thể vấp phải tình thế "lang bạt kỳ hồ" như vậy. Khi đó mọi nỗ lực tiến về phía trước đều vô nghĩa. Người ta có thể than thân trách phận, trách đời bất công, hoặc các thế lực bên ngoài chống phá. Thực ra vấn đề chính là nằm ở hệ thống đó. Không phải chỉ có năng lực là quan trọng mà con đường phát triển năng lực để đi lên cũng là quan trọng trong tình huống này. Một con đường khác sẽ dẫn tới nhánh trên của của diện Zeeman sẽ không có cản trở nào và có thể tiếp tục tiến lên dễ dàng và mãi mãi. Con đường đó đã tránh được nếp gấp trên diện Zeeman là nguyên nhân của "lang bạt kỳ hồ" khổ sở này.

Vấn đề là ở chỗ, người ta hay một xã hội không chọn trước được cho mình được đường đi mà hay bị dẫn dắt bởi các động cơ sáng tạo hoặc cảm tính, thấy tiện là đi. Điều đó cho thấy rằng những người chuyển động theo "second mover", giống như những người leo núi bám sát người đi trước có một chiến lược an toàn hơn so với những người tìm một con đường "đi tắt đón đầu" hay "sáng tạo trong hoàn cảnh" để húc đầu vào tình thế "lang bạt kỳ hồ". Vấn đề có lẽ quan trọng hơn là những người, tổ chức đã mắc vào trạng thái "lang bạt kỳ hồ" cần phải làm gì? Muốn tiến lên lâu dài chắc chắn phải lùi lại. Chắc chắn là đau buồn, tiếc nuối nhưng không có cách nào khác. Nếu có sức nâng được đuôi lên thì tốt, nếu không cũng đành phải cắt đuôi, hoặc ngồi ở đó cả đời. Sẽ không có ai, dù là Thượng đế hay Thần may mắn, đến cứu mình được.

Trong nhiều tình huống thực tế diện Zeeman có thể khác chút ít. Có thể từ xuất phát điểm hướng ngay về các điểm Thảm họa Điểm lùi sẽ tạo sự tăng trưởng nhanh hơn, trong khi theo hướng lên có thể tăng trưởng chậm hơn thậm chí có thể đi xuống. Mô hình này cho thấy với phát triển lâu dài, chọn con đường là quan trọng chứ không phải ở việc thể hiện các năng lực và đánh giá trước mắt.

Số phận của một dân tộc cũng vậy, có thể thỏa mãn, tự hào với những năng lực mình đang có, nhưng con đường đến được với những năng lực đó, thể hiện ở nền văn hóa, hệ thống giá trị cũng rất quan trọng. Theo một cách hiểu nào đó, văn hóa, hệ thống giá trị là những thứ mà một dân tộc nhặt nhạnh, tích lũy trên con đường đến hôm nay. Cố nhiên đã mang nặng đẻ đau sẽ có lòng yêu thương quyến luyến. Nhưng đôi khi cũng phải dứt bỏ để có thể tiến lên, đặc biệt khi đã ở trong tình huống Thảm họa Điểm lùi.

Có lẽ câu hỏi quan trọng hơn cả của mỗi người, tổ chức, xã hội hay quốc gia, là khó khăn trước mắt đã phải là "lang bạt kỳ hồ" hay chưa. Tôi xin để dành câu hỏi này cho mọi người cùng suy nghĩ.

Chủ Nhật, 18 tháng 1, 2015

Ngụy biện và Charlie Hebdo

Thế giới chia làm hai phần. Có những người lên án việc bọn khủng bố Hồi giáo tàn sát những họa sĩ châm biếm làm việc cho tờ Charlie Hebdo, đa số là những người tử tế và những người cực đoan, bênh vực bọn này.
Số những người lên án bọn khủng bố lại chia làm hai. Có những người kịch liệt ủng hộ Charlie Hebdo, cho Charlie Hebdo đúng hoàn toàn và những người không nghĩ thế. Hai nhóm người này lại chia tiếp tục chia thành các nhóm nhỏ hơn. Việc đó không có gì đáng nói. Thế giới này sở dĩ thú vị vì kể từ khi biết thế nào là tự do, người ta chấp nhận các cách nhìn nhận khác mình. Loài người là một loại động vật tồi tệ nhất kể từ khi cho phép mình tiêu diệt đồng loại chỉ vì khác biệt ý kiến về một vấn đề.
Tuy vậy, ít ai để ý tới sự gian manh, quỷ biện của Charlie Hebdo. Tờ báo này cố tình dùng phép ngụy biện, đồng nhất một số vấn đề, một cách vô lương. Trước hết họ đánh đồng việc châm biếm, khiêu khích tín đồ Hồi giáo của họ với bảo vệ tự do. Tự do của nắm đấm của chúng ta bắt đầu ở ở chỗ mũi của người khác chấm dứt. Nếu chúng ta hoa chân múa tay đấm đá vào khoảng không trước mũi của người khác 1mm, tuy vẫn là việc tự do cho phép, nhưng đã là một việc khiêu khích, người văn minh yêu tự do, không nên làm. Hãy tưởng tượng, một người giả bộ khập khiễng trước mặt người què để làm vui, nhai mỡ lợn sấy nhồm nhoàm trong nhà thờ Hồi giáo, hay in ảnh người thân đã khuất của bạn lên giấy vệ sinh và cho rằng đó là hài hước là tự do. Đó chính là khiêu khích. Khiêu khích không những vô văn hóa mà còn ngu xuẩn. Trêu chọc một kẻ điên khùng, kích động một con bò điên hay chó dại, giơ đầu ra đi dưới giàn giáo có đá rơi, rồi cho mình là tự do hay anh hùng. Khiêu khích để người ta phạm tội, chính mình cũng sẽ có tội.
Ngụy biện thứ hai có phần bất lương hơn là Charlie Hebdo đồng nhất bản thân tòa báo với những họa sĩ bị giết. Các họa sĩ bị giết là người làm công cho Charlie Hebdo, họ bị giết gia đình của họ mất người thân. Charlie Hebdo nhờ sự kiện mà thu hút người quan tâm tăng vọt, khả năng thu lợi khổng lồ. Quyền lợi khác, vì thế khác làm sao là một được. Điều bất lương ở chỗ Charlie Hebdo có biết trêu chọc con bò điên, đi dạo dưới đá rơi hay khiêu khích Hồi giáo là nguy hiểm tới tính mạng hay không. Sau sự kiện 11/9, nếu ai không biết đến sự nguy hiểm của các tín đồ Hồi giáo cực đoan, có lẽ họ sống trongg rừng hay trên hành tinh khác chứ không phải ở Paris. Nếu đã biết điều đó, Charlie Hebdo vẫn đang tâm bỏ mặc các nhân viên của mình đi vào chỗ chết. Đó là hành động gì.
Điều bất lương thứ ba là việc Charlie Hebdo vẫn cố tình ngụy biện nhân danh tự do, dùng những người đã chết để kiếm lợi ích truyền thông.
Tôi không nói về nhận thức của Charlie Hebdo về tự do, về tôn giáo và văn hóa. Tôi không hy vọng có cái gì như thế. Nhưng những người hôm nay tự xưng "Tôi là Charlie" hãy nghĩ về phép ngụy biện và tự do chân chính.

Thứ Bảy, 2 tháng 8, 2014

Tư duy và tình cảm của phụ nữ và đàn ông khác nhau thế nào?

       Có một anh bạn tôi nói một câu "Bọn đàn ông thường sai lầm vì không biết rằng phụ nữ xếp tư duy và tình cảm của họ vào một cái tủ không có ngăn kéo". Câu nói này đúng sai thế nào, tôi đã phải chiêm nghiệm hơn ba mươi năm và vẫn còn phải nghĩ thêm. Nhưng về mặt lý thuyết, đáng để phiếm luận, nhân dịp sáng nay tôi vừa dùng câu đó để nhắc nhở một cô bé. Xin chị em đừng vội kết luận, tôi viết bài này để phê phán phụ nữ. Vấn đề của nam giới là ở họ có quá nhiều ngăn, biến tư duy và tình cảm trở thành các lô cốt với vô số ổ đề kháng. Chính vì thế mà theo một thống kê, tuổi thọ trung bình của nam giới thường kém nữ giới. Mặt khác, đây cũng là dịp để các đấng mày râu có cơ hội lập công với chị em. Tất nhiên do tư duy "ngăn kéo" mà số các anh hiểu ra được việc đó không nhiều. Toàn bộ bài Văn hoá Luộc (Xem ở đây) tôi chỉ nhận được một lời cảm ơn của một gentleman theo đúng nghĩa. Bài Beauty and the Beast (Xem ở đây) cũng được một lời cảm ơn, nhưng tiếc thay lại từ một nhà khoa học nữ.
         Trở lại chủ đề phụ nữ cất tư duy và tình cảm vào một cái tủ không có ngăn kéo sẽ có hệ quả thế nào. Cố nhiên sẽ có những hệ quả kiểu như để mắm tôm và sô cô la không gói kỹ trong tủ lạnh. Khi ăn sô cô la sẽ thấy thoang thoảng vị mắm tôm. Khi ăn bún đậu, hay chân giò luộc ta sẽ nhớ đến sô cô la. Biết thế thì đừng bao giờ nên cãi lý với một người phụ nữ, nhất là khi người vợ đó có một số quyền lực tuyệt đối đối với ta như mẹ, em gái, người tình, vợ hay con gái. Trong đó cố nhiên đáng sợ nhất là người tình và vợ, với những vũ khí kiểu như "Anh nghĩ A chứng tỏ anh là B".  Đừng có bảo phụ nữ không có năng lực logic. Logic của họ cao siêu, đúng lý thuyết, áp dụng chính xác và sáng tạo ranh mãnh hơn đàn ông chúng ta nhiều. Đàn ông chẳng qua là một loài động vật huyênh hoang thực chất là nô lệ cho logic chứ đâu có làm chủ được nó. Tôi đã từng bị quy tội là "vô tri vô giác" chỉ từ tam đoạn luận tuyệt vời thế này: "Anh có biết A (một việc bé như đầu đũa)?" --"Không biết A là vô tri A"--"Anh là người vô tri vô giác".  Cái hay của phụ nữ là họ lập luận logic theo kiểu lấn chiếm đất đai, mỗi ngày chỉ lấn vài cm, thay vì thực hiện logic đỏ mặt tía tai trong vòng một phút như đàn ông. Binh pháp kiểu này đến Đức Thánh Trần cũng đã từng chịu là không có cách gỡ.
       Khi nói lý phụ nữ họ hay "rút nhầm" tình cảm ra để đối phó, nên các anh đàn ông tưởng là phụ nữ chỉ thạo về tình cảm. Sai lầm to. Phụ nữ là loài động vật lý trí hơn đàn ông rất nhiều. Những khi anh đàn ông vì tình cảm mà tê liệt lý trí, là khi lý trí của phụ nữ hoạt động mạnh nhất, theo đúng nguyên tắc của võ học Vịnh xuân: phát lực cực đại khi kình lực của  địch thủ cực tiểu. Khi anh đàn ông đang ngây ngất trong mùi Chanel 5, say sưa hứa hái cả mặt trăng xuống cho em là khi người phụ nữ đang suy tính xem người lãng mạn ba hoa hơn hay người chân chất thực dụng hơn hoặc mặt trăng nào to nặng hơn. Trong phòng the người phụ nữ cũng phải tính toán ngày mai đi chợ bằng gì. Tôi nghĩ rằng đó là tố chất vĩ đại của người phụ nữ và ưu thế của cái tủ một ngăn.
       Tủ một ngăn của phụ nữ không chỉ trộn lẫn tư duy với tình cảm, còn trộn lẫn các vấn đề tư duy và trộn lẫn các loại tình cảm. Tôi thực sự thán phục khả năng liên tưởng của phụ nữ giữa các vấn đề rất xa nhau. Đã từng có chuyện một kết quả toán học chứng minh dài dòng, bị một bà nội trợ chỉ ngay ra chỗ sai. Tuy thế, tôi khá e ngại việc trộn lẫn các loại tình cảm, mặc dù một số anh đàn ông láu cá có thể lợi dụng việc trộn lẫn này. Đôi khi phụ nữ bắt đầu bằng lòng thương hại, kết thúc bằng một tình yêu, hoặc ngược lại bắt đầu bằng một tình yêu kết thúc bằng một sự khinh bỉ. Đọc một cuốn sách viết  những bí mật trong các fantasies tình cảm của phụ nữ, nam giới sẽ phải ngạc nhiên về những món cocktail rất lạ lùng.
      Vấn đề của đàn ông lại là có quá nhiều ngăn tủ để cất giữ tư duy và tình cảm. Thành thử, tâm hồn của đa số đàn ông giống như dãy xà lim biệt giam chuồng cọp ở Côn Đảo. Kết nối chúng lại rất khó khăn. Đôi khi người đàn ông cố gắng mở các xà lim đó một cách rất tội nghiệp và buồn cười. Cũng có đôi người có tư duy rất vĩ đại và táo bạo mới có thể thành công. Chẳng hạn Richard Feynmann có kể lại là ông đã chuẩn bị rất kỹ cho một thí nghiệm vĩ đại về phụ nữ, trước một buổi tối ông khiêu vũ với cô em gái xinh đẹp của một người bạn. Theo kịch bản, ông sẽ phải đưa ra một đề nghị khiếm nhã và sẽ phải đưa ra một giải pháp mà ông cho là rất thông minh để khắc phục sự khiếm nhã đó. Vào cuối bản slow, ông lấy hết can đảm đề nghị "Đêm nay cô sẽ về với tôi chứ?" Câu trả lời đảo lộn mọi dự tính của Feynmann là "Yes".
     Ngoài cái ngăn tủ không có ngăn và nhiều ngăn ra, tư duy và tình cảm của phụ nữ và đàn ông về đại thể cũng như nhau. Rất nhầm nếu người đàn ông nghĩ rằng chỉ đàn ông mới poligam còn người phụ nữ thì phải monogam. Đó là chỉ là lý luận thường thấy ở người phụ nữ mà thôi. Và lý luận đó cũng đã trộn nhiều tình cảm.

Thứ Năm, 17 tháng 4, 2014

PHIẾM LUẬN VỀ SOẠN SÁCH GIÁO KHOA

Mấy hôm nay thấy cộng đồng bàn về việc có băm tư nghìn tỷ hay trăm tỷ làm sách giáo khoa. Rồi lại bài về việc mời Ngô Bảo Châu hay anh A, anh B nào đó soạn sách giáo khoa. Tất nhiên, các loại ý kiến đều hay và nên nghe, chủ yếu là để biết người dân thường nghĩ gì về đại sự này của đất nước. Có điều, thấy nhiều người cũng có thể được gọi là có ăn học, cũng có những suy nghĩ rất bầy đàn, không dựa theo bất cứ hệ thống nào, lại suy nghĩ dựa dẫm vào truyền thông và giới quản lý. Vì thế có lẽ cũng nên Phiếm luận về đề tài này một chút.

Thứ nhất, việc giao cho một nhà khoa học rất giỏi làm SGK, cũng ngang như giao cho làm số định danh, thiết kế database, quản lý nhân sự cho VINASHIN, làm chủ tịch liên đoàn bóng đá Việt Nam đều có xác suất thành công xấp xỉ như nhau. Giả thiết xác suất đó đủ lớn. Nhưng tiếc thay, cũng theo như báo chí chúng ta chỉ có một hai người làm được việc đó, mà thời gian rất có hạn, cần phân phối cho chuyên môn, yêu đương, triết học và giải trí phần còn lại mới có thể cho các thứ khác. Có lẽ cần lập một bản danh sách các công việc theo thứ tự quan trọng để các siêu nhân bố trí thời gian tối ưu. Bên cạnh đó, có lẽ phải lập một bộ máy để thực thi và một bộ máy để PR cho được sự đồng thuận của xã hội. Nếu tính cả xác suất có điều kiện thành công của các bộ máy này, chưa có gì đảm bảo thành công hơn các phương án khác. Có lẽ chính vì thế, nước Pháp, nước Mỹ thiếu gì các siêu nhân mà không phải tất cả đều đi soạn sách giáo khoa.

     Chúng ta là những người đọc sách đều biết rằng đa số các nhà khoa học giỏi (không phải là tất cả) đều có thể viết sách chuyên khảo, bài review hay, nhưng viết sách giáo khoa (ngay cả cho sinh viên đại học và cao học) cho hay, nhiều khi lại là những cái tên hoàn toàn khác. Tôi biết rất nhiều đại ca, chuyên môn cũng không đến nỗi tồi, đã lăn lộn rất nhiều năm, quen cũng không thiếu ông to, rất mong được lĩnh xướng trong vấn đề sách. Họ cũng rủ tôi tham gia vào việc này với những lý luận "vì dân vì nước" rất hấp dẫn và khó từ chối. Họ đã hình thành những nhóm khác nhau, cạnh tranh với nhau để giành việc này. Ai cũng có rất nhiều quan điểm hay, nhiều khi cũng chẳng khác nhau bao nhiêu, và có thể nói rất nhiều về nhược điểm của đối thủ.  Có điều, cho dù là ai làm, có khác nhau thế nào thì cũng giống nhau là cách làm cũ, không thoát được những hạn chế tầm nhìn cá nhân.

    Trong khoa học, có nhiều trường phái, quan điểm có lẽ  cũng là một điều đáng mừng. Tôi tin rằng các "cây đa cây đề" này đều là những người giỏi, có thừa nhiệt tình và thực tế mọi việc chuyên môn cho đến công luận cũng đều trong tay họ. Nếu giao cho những siêu nhân ít thời gian chủ trì, rồi công việc cũng lại do những "cây đa cây đề" này làm hết mà thôi. Như thế còn tệ hơn vì chẳng có ai chịu trách nhiệm trực tiếp. Kiểu làm như thế thì rồi cũng lại có kết quả như từ trước đến nay, không có vấn đề này cũng có vấn đề khác. Cách làm mới là vấn đề, chứ không phải ở chỗ ai làm tốt hơn ai.

    Chúng ta không thể thử nghiệm nhiều lần với những cá nhân khác nhau để hết thế hệ này sang thế hệ khác phải chịu đựng. Mỗi lần thử nghiệm là một thế hệ sẽ qua đi. Cho dù là ai làm đi nữa, trước hết chúng ta vẫn cần có một thiết kế tổng thể theo một số tiêu chí nào đó có thể dễ dàng thống nhất với nhau. Có thể nêu ra vài ví dụ về những tiêu chí như thế, không phải khẳng định áp đặt, mà chỉ để minh họa về việc trước hết phải có vài nguyên tắc chung.

    Thứ nhất, chúng ta đang sống trong một thế giới đang ngày càng xích lại gần nhau. Không có lý nào chương trình giáo dục Việt Nam lại là một ốc đảo. Có những nguyên tắc, nhân loại đã trăn trở, trả giá bằng nhiều thế hệ. Dẫu rằng chúng ta chưa có nhiều thời gian để hiểu thật sâu sắc. Nhưng có thể tiết kiệm được hàng chục hàng trăm năm nghiên cứu, tại sao không thừa hưởng ngay điều đó. Tại sao cứ phải tìm cách phát hiện lại cái bánh xe, để rồi sau bao nhiêu vật vã mới hiểu ra cái điều ai cũng biết. Chỉ riêng nhận thức được như vậy, đã tiết kiệm được bao nhiêu thời gian và công sức.

     Thứ hai, một hệ thống sách giáo khoa bao giờ cũng hướng tới một hệ thống giá trị nào đó. Nếu nhìn thấy được điều đó sau khi tham chiếu một số hệ thống tiêu biểu, chúng ta sẽ dễ dàng thêm được các giá trị mà chúng ta còn thiếu, cần bổ sung để có một khung yêu cầu hoàn chỉnh cho chương trình, làm chuẩn cho các nội dung cụ thể. Nếu chúng ta có những người có thể làm được điều đó, có nghĩa là chúng ta có thể sửa đổi một số chỗ sao cho chương trình của chúng ta hợp lý hơn, tạo được sự đồng bộ giữa các môn học. Chẳng hạn, sao cho đừng biến các môn học vật lý, hóa học và sinh vật thành các bộ môn toán học ngây ngô như hiện nay hay đừng làm các môn xã hội xa rời lẫn nhau và xa rời khoa học tự nhiên, khoa học tự nhiên xa rời thực tế và công nghệ. Nếu chúng ta chưa có những người như vậy, có lẽ nên thuê các chuyên gia nước ngoài, trong nửa năm sẽ có được một cái khung tốt và đào tạo được những người nắm được phương pháp và tinh thần của cái khung đó. Cách đó rẻ hơn nhiều so với việc lập các hội đồng nghiệm thu các đề tài cấp nọ cấp kia mà thực tế chỉ là công nghiệp sản xuất 

    Thứ ba, có lẽ là vấn đề cần đột phá nhất, là tạo ra một cơ chế cạnh tranh trong việc viết sách giáo khoa. Ai cũng có thể viết sách giáo khoa, sách giáo khoa của ai cũng có thể được sử dụng, miễn là tuân thủ chuẩn do nhà nước ban hành, thực hiện các nội dung của khung giáo dục. Muốn như vậy cần có hai điều kiện. Thứ nhất, khung phải được công bố công khai, phổ biến rộng rãi. Thứ hai, phải xóa bỏ ngay việc độc quyền về sách giáo khoa. Các sách giáo khoa do các nhà giáo, nhà khoa học hoặc bất cứ một ai khác viết ra đều có thể được công nhận hợp chuẩn, trong một quá trình đơn giản, dễ dàng, minh bạch và công khai. Các thầy đều có thể chọn các sách nào thấy phù hợp nhất trong danh sách các sách đã được công nhận hợp chuẩn. Như thế, bao giờ cũng có sách tốt nhất sẽ được lựa chọn trên cơ sở thực tiễn, không phải là ý chí của riêng ai. Vả lại, có thể huy động mọi trí tuệ tốt nhất vào công việc này. Các sách khác sẽ là tham khảo và trong tương lai có thể sẽ là lựa chọn tốt hơn. Nhà nước chỉ đầu tư là những bộ sách ít người muốn làm. Những bộ sách do nhà nước dùng thuế của dân để làm sẽ phải là tài sản chung của xã hội, và như thế phải có bản quyền mở (Common Creative). Điều đó có nghĩa bất cứ ai cũng có thể sử dụng, thêm bớt để soạn sách khác, với yêu cầu duy nhất là phải trích dẫn nguồn.

      Thứ tư, có thể khuyến khích ứng dụng CNTT làm sách giáo khoa điện tử. Như vậy học sinh sẽ không phải gù lưng, vẹo xương sống thồ sách đến trường. Một tablet PC nhỏ có thể chứa hàng nghìn cuốn sách, nếu cần có thể in những trang cần thiết. Đây thực sự sẽ là một cuộc cách mạng cho công nghiệp, CNTT và giáo dục nước nhà. Với một thị trường như thế các tablet PC này sẽ chỉ có giá $30-50.

     Có lẽ chỉ cần bỏ một ít thời gian sẽ nghĩ ra nhiều thứ rất hay. Câu hỏi cuối cùng có lẽ sẽ trở về xuất phát điểm: Nếu dễ như vậy tại sao lại đến phần mình phải nghĩ. Có lẽ câu trả lời thế này: đó là chỗ đứng, người mắt tinh đến mấy cũng không thể tự nhìn gáy của mình. Một số người đã chọn chỗ đứng bị che lấp bởi quyền lợi, một số người khác thì chọn suy nghĩ theo lối mòn của đám đông và một số người khác nữa thì chọn cách ... không suy nghĩ. Đó mới là cái nguy nhất. Nếu chúng ta cùng suy nghĩ, đừng lẫn lộn vấn đề này với vấn đề khác như lợi ích, quyền lực,... lo gì không cùng tiến lên. Và nói cho cùng mọi người cùng sẽ thấy quyền lợi lâu dài ở đó. Mà chẳng phải băn khoăn vấn đề anh làm hay tôi làm, ai giỏi ai dốt hơn ai hay nghe theo ai bây giờ.

Thứ Tư, 16 tháng 4, 2014

Ngôn ngữ và tính cách dân tộc ?

       Buổi lên lớp cao học vừa qua tôi vừa giảng cho sinh viên về phân biệt giữa "Goal", "Objective" và "Purpose". Tiếng Việt có các từ "Mục đích" và "Mục tiêu", nhưng hình như giữa hai từ này không có phân biệt rõ ràng. Cũng có một từ nữa ít dùng hơn là "Cứu cánh", nhưng từ này ít dùng và không nên dùng nữa bởi vì người dùng đã dùng một cách hỗn loạn.

       Cái đáng bàn ở đây, là người Việt ta thường rất mơ hồ về mục đích. Rất nhiều kế hoạch, chiến lược, dự án,... lẫn lộn hoàn toàn mục tiêu với giải pháp, chưa nói tới goal và objective. Có lẽ thói quen trở thành tư duy, tư duy được phản ánh bằng ngôn ngữ. Việc không có ngôn ngữ để diễn tả một số khác biệt tinh tế một số khái niệm chứng tỏ những người sử dụng ngôn ngữ đó khá mơ hồ về những khái niệm đó và cũng do thói quen suy nghĩ rất sơ sài về những vấn đề liên quan. Nếu như vậy, cũng đáng để chúng ta suy nghĩ tại sao dân tộc ta lại mơ hồ về xác định mục tiêu. Câu hỏi này có thể để cho những người ưa và thạo các vấn đề xã hội hoặc để phiếm đàm trong một dịp khác. Ở đây, tôi chỉ đưa ra một số ví dụ khác.

      Tôi có một anh bạn người Ấn Độ nói rằng trong tiếng Ấn có tới hơn 31 từ phản ánh trạng thái "buồn" và có ý nghĩa khác nhau, chỉ người Ấn mới phân biệt được. Tiếng Anh chỉ có dăm ba từ là cùng. Tôi nhận xét với anh "Như vậy người Ấn là chuyên gia buồn rầu". Có lẽ một xã hội chia đẳng cấp quá chặt chẽ, có những loại người untouchable (không được chạm vào), nỗi buồn đó cũng quá dễ hiểu. Văn hóa Ấn Độ cũng có tính triết lý sâu xa. Nhìn lại tiếng Việt, tuy không phong phú về nỗi buồn như Ấn Độ, nhưng vượt xa tiếng Anh về khoản này: "buồn", "rầu", "não", "sầu", "bi","chán chường",...   Không biết có nên tự hào về cái ưu thế biết buồn rầu này.

      Đừng nên lầm tưởng đó là vì ngôn ngữ của chúng ta giàu có, phong phú, tinh tế hay phát triển. Đơn giản chúng ta buồn nhiều, nghĩ nhiều về cái buồn mà thôi. Cha tôi nói tiếng Việt đặc biệt nghèo về màu sắc. Người Việt cũng dễ tính về màu.  Chẳng thế các cụ ngày xưa đã tổng kết đơn giản "Đẹp vàng son". Càng nghĩ thấy càng đúng. Người Việt không có từ để phân biệt "xanh lá cây" và "xanh da trời". Đối với các cụ "xanh" là "xanh" ráo. Ngay cả cách đặt tên cũng không chuẩn các thứ được cho là "xanh da trời" chẳng giống da trời tý nào, và "xanh lá cây" chưa chắc đã giống bất cứ lá cây nào. Cách đặt tên màu của người Việt cũng chẳng giống ai. Nào là "mắm tôm", "lòng tôm", "tiết dê" đến "cứt ngựa", rất thiếu thẩm mĩ. Chưa kể câu chuyện "Lá đa màu gì? Màu đen? Vì sao? Dân gian ta có câu: Sự đời như cái lá đa. Đen như mõm chó chém cha sự đời".

      Không biết việc thiếu tính chuyên nghiệp trong màu sắc có ảnh hưởng thế nào tới còn đường đi của một dân tộc (con đường đó sẽ ít màu sắc, mang dáng dấp uniform??). Nhưng nhiều khi đưa những tư tưởng mới vào Việt Nam đều bị méo mó vì nạn thiếu từ. Người Việt khá dễ tính trong việc dùng bánh đa thay quạt nhưng rất khó tính trong việc dùng từ mới. Tôi đã nhiều lần bị chê dùng từ Tây quá (mặc dù dùng chữ Việt 100%) và bắt buộc phải dùng một từ "dễ hiểu" hơn mặc dù nội dung chẳng giống gì với từ nguyên gốc. Dùng riết rồi cũng quen dẫn tới cách suy nghĩ đơn giản hóa. Việc gì cũng phiên phiến. Nói chuyện gì cũng chớt chát trên bề mặt, thành thử mấy chục năm vẫn tranh cãi mấy chuyện đó, như kiến bò trên miệng chén, không thoát ra được. Có lẽ không nơi nào trên thế giới người ta hăng hái tranh luận "nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh" như ở Việt Nam, đơn giản chỉ vì không ai hỏi rằng "tại sao không thể vị cả hai" hay "nghệ thuật chẳng qua cũng là một phần của nhân sinh". Một dân tộc coi thường nghệ thuật sẽ có cái nhân sinh thế nào?

     Tất nhiên, cái đơn giản bao giờ cũng gần với chân lý và cái đẹp. Nhưng điều đó không có nghĩa là một dân tộc luôn phải đơn giản hóa mọi vấn đề đến mức thô sơ. Người Việt ta ít duy lý, ngại suy nghĩ, nhưng cuối cùng nghĩ vấn đề gì cũng phức tạp. Một vấn đề cỏn con, nếu phát biểu bằng các khái niệm chính xác, tinh tế sẽ trở thành điều hiển nhiên, trong khi cả một giới thượng tầng xã hội tốn bao nhiêu giấy bút mà vẫn bị sa vào trò đùa của chơi chữ, tu từ. Chẳng qua là mình tự rơi vào cái bẫy của mình rồi loay hoay tìm cách tự nắm tóc để nhấc mình ra.

       Vậy thì đâu là giới hạn của các song đề đơn giản-tinh tế đó? Có lẽ chưa một ai nói về vấn đề này đơn giản, khúc triết mà sâu sắc như Ngô Tùng Phong: 
     "Ngôn ngữ của một cộng đồng dân tộc, đương nhiên là dụng cụ của nền văn hóa của cộng đồng. Nhưng ngôn ngữ chỉ trở thành một dụng cụ sung mãn của nền văn hóa khi nào ngôn ngữ gồm được hai đức tính: dễ học để trở thành một dụng cụ phổ biến, thông dụng và đại chúng; và chính xác để trở thành một dụng cụ suy luận tinh vi và sắc bén.". 
      Làm thế nào để ngôn ngữ Việt có thể vừa dễ phổ cập, đại chúng vừa có thể trở thành tinh vi sắc bén? Nhiều người cho rằng Hoa ngữ có sức biểu tượng mạnh, hàm súc và dễ phổ cấp vì phù hợp với thói quen Hán-Việt hóa. Nhưng Ngô Tùng Phong lại cho rằng
       "Hoa ngữ hoàn toàn bất lực khi phải đóng vai trò dụng cụ phổ biến thông dụng và đại chúng cho văn hóa. Cũng vì trở lực tạo ra bởi một sinh ngữ biểu ý, mà văn minh Tàu khi xưa, mặc dầu lên đến cao độ, vẫn không có sinh lực bành trướng như văn minh Tây phương ngày nay.
Lối hành văn của Hoa ngữ là lối hành văn “khiêu ý” cho nên câu văn không có kiến trúc. Mà câu văn không có kiến trúc là một câu văn không có chính xác. Và một sinh ngữ không chính xác không thể trở thành một dụng cụ suy luận sắc bén và tinh vi được. Vì không có dụng cụ ngôn ngữ suy luận sắc bén và tinh vi để sử dụng trong công cuộc thám cứu vũ trụ vật chất và vũ trụ tâm linh, nên người Trung Hoa xưa đã thay thế suy luận bằng trực giác"
"Nguyên do là Hoa ngữ, với lối văn khiêu ý, hoàn toàn bất lực khi đóng vai trò dụng cụ suy luận tinh vi và sắc bén."
Và ông rất lạc quan cho rằng
    "...thế hệ của chúng ta không có một lý do nào để không vận dụng tất cả nỗ lực, nắm lấy cơ hội đưa đến cho chúng ta để thực hiện trong lĩnh vực văn hóa, ý chí của tiền nhân: cởi bỏ ách tâm lý thuộc quốc đối với nước Tàu, cho dân tộc. Và thế hệ của chúng ta, không có một lý do nào, để từ bỏ sự phát triển văn hóa dồi dào mà chắc chắn, Việt ngữ chỉnh đốn sẽ dành cho chúng ta, để cam chịu một sự lệ thuộc, đối với một văn hóa, mà Hoa ngữ không bảo đảm sự phát triển. Và các nhà lãnh đạo, vì vô tình hay cố ý, làm cho cộng đồng quốc gia của chúng ta lỡ cơ hội này, chẳng những sẽ phản bội quyền lợi dân tộc mà còn phải mang hết trách nhiệm của một cuộc sống lệ thuộc, không vùng vẫy nổi, mà các thế hệ trong tương lai, vì lầm lỗi của họ, sẽ phải quy phục trong nhiều ngàn năm nữa."
    Tuy nhiên, sau nửa thế kỷ, mặc dù những lãnh tụ không cùng chính kiến đều đã hô hào "chỉnh đốn Việt ngữ", "giữ gìn sự trong sáng trong tiếng Việt", một cuộc cải cách tiếng Việt có hệ thống không tới, thậm chí không hề bắt đầu.
     Một số người cho rằng "ngôn ngữ là hồn dân tộc không thể thay đổi". Điều đó, không đúng ngôn ngữ Nga trước Puskin và sau Puskin là khác nhau. Tiếng Anh sau Shakespeare và trước Shakespeare cũng không giống nhau. Cải cách ngôn ngữ dù thông qua những cá nhân vĩ đại, dám gánh vác hay thông qua một tập thể là một việc sớm muộn cũng phải làm.
     Tuy nhiên, chúng ta tuy thích thần thánh hóa một số cá nhân mơ hồ, nhưng không có thói quen dung nạp các công trình kỳ vĩ. Đọc Vũ Như Tô, không lần nào tôi không thấy chua xót  khi đọc tâm sự của Nguyễn Huy Tưởng 
"Chẳng biết Vũ Như Tô phải hay những kẻ giết Như Tô phải
Đài Cửu Trùng không thành, nên mừng hay nên tiếc? 
Tháp người Hời nguyên là giống Angkor

Mải vật lộn, quên cả đài cao mộng lớn
Công ông cha hay là nỗi thiệt thòi ? 
Ôi khô khan! Ôi gay gắt ! Nhưng đừng vội tủi
Sức sống tràn từ ải Bắc đến đồng Nam

Than ôi ! Như Tô phải hay những kẻ giết Như Tô phải ? 
Ta chẳng biết! 
Cầm bút chẳng qua cùng một bệnh với Đan Thiềm"
   Chỉnh đốn tiếng Việt là một sự nghiệp kỳ vĩ vì nó thay đổi tính cách của một dân tộc, vốn không ưa những điều kỳ vĩ.