Có người ví quyền năng của Einstein là quyền năng của Satan, vì nếu Newton làm mọi sự trở nên sáng sủa minh bạch thì Einstein làm mọi sự trở nên tối tăm và mơ hồ. Trước hết là việc trong lỗ đen và ở thời điểm Big Bang không có không gian và thời gian gây ra rất nhiều khó chịu và sinh ra các câu hỏi: Chui vào lỗ đen rồi đi đâu? Trước Big Bang là cái gì? Nếu vũ trụ là một điểm thì xung quanh đó là cái gì? Phải có cái gì đó chứa một điểm hay phải có cái gì gây ra Big Bang chứ?
Chủ Nhật, 13 tháng 2, 2022
VŨ TRỤ CAM
NGUYỄN VĂN HIỆU VÀ TÔI, - Nguyễn Ái Việt (6)
Con người Nguyễn Văn Hiệu
Nguyễn Văn Hiệu là một
nhà khoa học lớn, nhưng trước hết là một con người. Ở vị trí của mình, ông phải
chịu sức ép quá lớn từ hoàn cảnh, vốn không mấy thuận lợi cho việc phát triển
khoa học. Tôi nghĩ, ông thừa thông minh để hiểu, các nhà khoa học được tôn vinh
đôi khi chỉ để trang trí hoặc chỉ như một gia vị.
Nhiều người nói điểm mạnh và cũng là điểm
yếu của Nguyễn Văn Hiệu là tính độc đoán và định kiến. Trong nhiều hoàn cảnh,
tính quyết đoán của Nguyễn Văn Hiệu là ưu điểm vượt trội của ông trong một nền
hành chính thiếu quyết đoán, mù mờ, thủ tục nhiêu khê kéo dài, không ai dám quyết,
dám làm, dám chịu trách nhiệm. Ông kiên quyết bảo vệ quan điểm của mình. Dù
không phải lúc nào ông cũng đúng, nhưng sau này, có kinh nghiệm quản lý, tôi mới
thấy điều đó là cần thiết. Làm được 6-7 việc và sai 2-3, nếu không vi phạm luật
chắc chắn là hơn nhưng người chỉ làm 1-2 việc đúng. Tuy nhiên cũng có khi ông
khá độc đoán và định kiến kéo dài, không công bằng với một số người. Đó là điểm
yếu của ông, nhưng cũng là tất yếu có thể hiểu được.
Một
số người khác nói rằng điểm yếu của Nguyễn Văn Hiệu là khoa trương, nói nhiều
việc nhưng không thực hiện được. Sự thực thì Nguyễn Văn Hiệu rất nhiệt tình
truyền cảm hứng cho mọi người. Mỗi khi ông đi công tác nước ngoài về, có được
những ý tưởng mới, ông lại mời các cán bộ trong Viện lại và say sưa nói về viễn
cảnh phát triển. Có người đã nghe ông nói hàng chục lần, trải qua hàng chục
năm, nghe ông nói vẫn thấy nhiệt huyết sôi sục, muốn bắt tay vào việc. Đây
chính là biệt tài của ông, khiến ông có sức thu hút, có khả năng tập hợp người,
làm nhiều việc thành công. Tất nhiên, ông rất linh hoạt và luôn có ý tưởng mới,
vì vậy ông như một người rắc ý tưởng trên đường đi, không phải luôn luôn có thời
gian và nguồn lực để thực hiện. Nếu ai nắm bắt và sử dụng được, mọi ý tưởng của
ông đều hàm chứa những chân trời phát triển mới. Vì thế tôi cho đây là một tính
cách hồn hậu, nhiệt tình của Nguyễn Văn Hiệu.
Có
lẽ điểm yếu thực sự của ông là một tính cách tưởng chừng vô hại, và cũng là
tính cách chung của nhiều nhà khoa học Việt Nam là cảm tính và cả tin. Chẳng hạn,
tôi đã tận mắt thấy Nguyễn Hoàng Phương làm việc với “các nhà ngoại cảm”, ghi tất
cả những gì họ nói coi là nguồn thông tin tin cậy mà không kiểm tra. Ông ngây
thơ cho rằng ai cũng trong sáng, trọng danh dự và yêu chân lý như mình, không hề
nghĩ tới những động cơ xấu. Thành thử các nhà khoa học, đáng ra rất duy lý lại
dùng cảm tính để suy diễn và rất hay bị lừa phỉnh. Nguyễn Văn Hiệu cũng có những
niềm tin cảm tính như vậy. Là nhà quản lý, có danh vọng, nhiều người vây quanh
tâng bốc, lại bận rộn lọc thông tin không kỹ càng, rất dễ sai lầm. Bên cạnh đó,
nhà quản lý thường cô đơn, vì những nhà khoa học thực sự, có bản lãnh thường
không thích hòa mình vào đám đông xun xoe đang vây quanh ông. Tôi cảm nhận được
sự cô đơn của Nguyễn Văn Hiệu và nhiều khi thấy thương ông vô cùng.
GS Cao Long Vân, một nhà vật lý lý thuyết
xuất sắc tại Ba Lan, tỏ ý tiếc cho việc Nguyễn Văn Hiệu không phát huy được mặt
mạnh nhất của ông là lý thuyết trường và hạt cơ bản tại Việt Nam. Ông không có
truyền nhân trực tiếp nào có tầm cỡ như ông hoặc ít ra tương đương với các học
trò trong vật lý chất rắn. Trong những học trò đời cuối cùng của ông chỉ có Hà
Đại Phước còn làm về lý thuyết hạt cơ bản ở Mỹ, nhưng không phải theo hướng của
Nguyễn Văn Hiệu đã hướng dẫn. Tại Mỹ, Hà Đại Phước đã đi theo hướng nghiên cứu
của tôi làm thời sinh viên là tính mô ment từ của các hạt baryon và có những kết
quả xuất sắc. Nhà khoa học sẽ được sống mãi trong công việc tiếp nối của các học
trò, Nguyễn Văn Hiệu để những kiến thức về lý thuyết trường và hạt sơ cấp của
ông uổng phí là một điều đáng tiếc, không phải đối với riêng ông mà còn đối với
ngành Vật lý Việt Nam. Chúng ta có quyền đặt câu hỏi vì sao khi các học trò xuất
sắc nhất của ông như Nguyễn Ái Việt A, Nguyễn Toàn Thắng, Nguyễn Bá Ân, đã trưởng
thành, nghĩa vụ của Nguyễn Văn Hiệu đối với vật lý chất rắn đã hoàn tất, ông
không truyền thụ nốt cho họ những “tuyệt chiêu” về lý thuyết trường và hạt cơ bản
của ông. Một người thầy lớn phải luôn luôn mong muốn có những học trò được như
mình, thậm chí hơn mình, như Nguyễn Hoàng Phương đã từng hết lòng với Nguyễn
Văn Hiệu.
Theo
tôi, tình yêu của Nguyễn Văn Hiệu đối với Vật lý luôn cháy bỏng, nhưng ông luôn
hướng tới những kết quả cụ thể, không để ý nhiều tới những vẻ đẹp mê hồn của
nó. Có một điều gì đó, tôi thấy thiếu ở Nguyễn Văn Hiệu là sự lãng mạn, tôn thờ
cái đẹp thủy chung trong Vật lý ở những người như Nguyễn Hoàng Phương, Cao Chi.
Có lẽ ông quá bận rộn không có thời gian để thưởng thức những vẻ đẹp mà đáng ra
ông có quyền được hưởng. Đôi khi ông bỏ qua những tài năng trẻ không theo những
hướng nghiên cứu mà ông đang quan tâm. Trường hợp mà tôi tiếc nhất là Trần Trí
Triết, là nghiên cứu viên của phòng Vật lý lý thuyết trong những năm 1979-1980.
Anh có những tư tưởng rất táo bạo, kiến thức rất sâu, nhưng không được động
viên và tạo điều kiện thích đáng, cuối cùng phải bỏ nghề.
Điều tôi tiếc nhất cho Nguyễn Văn Hiệu là
ông không giữ được quan hệ tốt đẹp với một số đồng nghiệp, trong đó có những
người thực sự xuất sắc. Nếu ông có thể kết hợp với họ, sử dụng được năng lực của
họ, với cả một tập thể lớn, nền vật lý của chúng ta có thể sẽ tiến xa hơn nữa.
Nước nổi, thuyền nổi, người cầm lái sẽ càng nổi. Người xưa có nói “dụng nhân
như dụng mộc”, dùng cây không chỉ dùng thân, sử dụng được cả lá, cành và rễ mới
là thợ cả giỏi. Đôi khi toàn bộ giá trị
của cây lại nằm trong phần rễ xấu xí ẩn sâu trong lòng đất.
Nhắc đến Nguyễn Văn Hiệu, không nhắc đến
Nguyễn Hoàng Phương là một thiếu sót lớn, không công bằng, có thể là thiếu
trung thực. Nếu Nguyễn Văn Hiệu không gặp được Logunov, Nguyễn Văn Hiệu có thể
không có bằng sáng chế về tán xạ phi đàn tính sâu, ông vẫn có thể có những công
trình khác với Pontercovo, Markov, Ogievetsky ở phòng thí nghiệm neutrino. Việt
Nam vẫn có thể có nhà quản lý Nguyễn Văn Hiệu, vì thời thế đã gọi tên ông. Thậm
chí ông có thể được nhắc tên nhiều hơn trên về khoa học. Nhưng nếu không có, sự
giúp đỡ chí tình, vô tư và tầm nhìn của một người thầy lớn, những hướng dẫn ban
đầu của Nguyễn Hoàng Phương, khó có thể có một Nguyễn Văn Hiệu như ngày nay
chúng ta biết.
Có thể nếu được làm việc dưới quyền của
Nguyễn Đình Tứ, tôi sẽ có cơ hội học hỏi nhiều hơn về tư duy quản lý, cảm thấy
sự ấm áp hơn về tình người. Nếu được làm khoa học với Trần Hữu Phát, có thể tôi
sẽ có được nhiều giờ thảo luận sâu hơn về vật lý thực sự. Có thể nếu được sinh
ra sớm hơn, tôi có thể sẽ được làm việc với Nguyễn Hoàng Phương để tiếp thu những
ý tưởng bay bổng. Nhưng nếu được chọn lại từ đầu, có lẽ tôi vẫn sẽ chọn về Viện
Vật lý, cho dù chỉ được chiêm ngưỡng, học hỏi Nguyễn Văn Hiệu từ xa và cuối
cùng chỉ nhận được từ ông sự cảm thông muộn màng. Đối với con đường khoa học và
đến với những hoài bão tuổi trẻ, một lời tri kỷ từ một đồng nghiệp cũng đã là
may mắn đủ cho thiên thu không dễ dầu gì có được. Có lẽ tôi cũng cô đơn như
ông, mặc dù chưa bao giờ muốn làm một người khổng lồ, với đôi đầu gối mỏi mòn
dưới sức nặng ngàn cân, lê từng bước nặng nề hành hương về một phương trời vô định.
NGUYỄN VĂN HIỆU VÀ TÔI, - Nguyễn Ái Việt (5)
Phần 4c
Những
kỷ niệm cuối cùng
Từ năm 1991, tôi đi Mỹ, nghiên cứu tại Đại
học Syracuse, phát triển lý thuyết Kaluza-Klein với chiều gián đoạn, thống nhất
tương tác hấp dẫn với các tương tác điện từ, mạnh và yếu. Đây là một hướng
nghiên cứu hẹp, công cụ toán học trừu tượng và khó. Hồi bấy giờ, Syracuse là
trung tâm mạnh nhất thế giới về lý thuyết hấp dẫn, quy tụ được nhiều nhà vật lý
cự phách như A.Ashtekhar, R.Penrose (giải thưởng Nobel 2021), L.Smolin,
C.Rovelli,… Do đó tôi quyết định gác những đề tài đang còn dở dang chuyển sang
làm hấp dẫn để có thể tận dụng cơ hội hiếm có này. Cũng may, khi đó TS.Nguyễn Hồng
Chương, một chuyên gia về vũ trụ học cũng đang làm việc tại Syracuse. Mỗi buổi
sáng vào trường, Nguyễn Hồng Chương lại nói cho tôi nghe một chút về bức tranh
toàn cảnh của lĩnh vực này, điều mà tôi rất thiếu khi bước vào lý thuyết trường.
Đồng thời tôi cũng theo dõi công việc của nhóm Ashtekhar. Chính nhờ vậy, tôi đã
nhanh chóng nắm được những vấn đề lớn trong lĩnh vực này và định ra được cho
mình một hướng đi sau 6 tháng khi tới Syracuse. Nhờ vậy, tôi đã xây dựng thành
công lý thuyết Einstein dựa trên hình học không giao hoán, vượt quá được những
khó khăn mà nhóm của J.Frohlich đã vấp phải và chỉ ra lý thuyết này chính là lý
thuyết Kaluza Klein với chiều phụ gián đoạn. Về mặt hiện tượng luận, cũng có những
thành công nhất định, khi ứng dụng lý thuyết này tiên đoán khối lượng của quark
top, hạt Higgs và mô tả hệ Hall lượng tử hai lớp. Trước khi mất một năm nhà vật
lý gốc Ấn Độ, giải thưởng Nobel 1983, S.Chandrasekhar có tới Syracuse gặp tôi
sau khi đọc các bài báo này và khuyên tôi “Nếu tôi là anh và nếu tôi còn trẻ,
cho đến cuối đời, tôi sẽ chỉ làm đề tài này.” Đối với tôi đó là thành tích cao
nhất về khoa học mà tôi có được.
Năm 1995, tôi chuẩn bị cho việc về nước,
nên bắt đầu nghiên cứu thêm về CNTT, khi đó bắt đầu phát triển rất mạnh tại Mỹ
sau sự ra đời của công nghệ Web. Khi đó tôi nghĩ rằng CNTT sẽ phát triển ở Việt
Nam, tôi sẽ có thêm một nghề tay trái để tiếp tục làm Vật lý lý thuyết. Tuy
nhiên, những cơ duyên mới được mở ra và do nhu cầu thực tế, tôi trở thành
chuyên gia CNTT, Vật lý lý thuyết chỉ còn là nghề tay trái. Trong lĩnh vực mới
này, tôi có cơ hội đóng góp tốt hơn cho xã hội. Do đó tôi phần nào hình dung được
việc Nguyễn Văn Hiệu chuyển hướng sang Vật lý bán dẫn, rồi công nghệ nano. Có lẽ
ông cũng loay hoay tìm hướng hoạt động có tác động xã hội trực tiếp và mạnh
hơn. Về phương diện này, có lẽ tôi đã may mắn hơn ông.
Năm 2003, tình cờ Nguyễn Văn Hiệu gặp vợ
tôi và nói “Chú vẫn thường xuyên đọc tất cả công trình của Việt, và thấy rất
thích cách nghĩ táo bạo của Việt. Chú thấy Việt có nhiều điểm giống chú. Bây giờ
chú thấy tiếc đã không hướng dẫn trực tiếp và tạo điều kiện làm việc tốt cho Việt.
Việt đã phải làm việc trong điều kiện rất khó khăn mà vẫn tìm được cho mình được
con đường riêng là một điều đáng phục.” Lúc đó tôi mới biết, ông chưa hề “bỏ
rơi” tôi về tinh thần. Điều đó đã giải phóng cho tôi phần nào tâm sự, và làm
tôi thấy nhẹ nhõm hơn. Quả thật tôi chỉ muốn có một sự thừa nhận công bằng chứ
không hề muốn có sự nâng đỡ đặc biệt của bất cứ ai. Lần cuối cùng, tôi gặp ông
tại một Hội thảo về Bách Khoa Toàn Thư Việt Nam. Chúng tôi phụ trách công việc ở
hai Ban khác nhau, ông ở Ban Vật lý, tôi ở Ban Công nghệ Thông tin. Ông đăng
đàn, kể lể công lao của ngành Vật lý khiến tôi bùi ngùi xót xa. Ngành Vật lý là
một ngành khoa học lâu đời nhất của nền khoa học Việt Nam, một thời tập trung
nhiều nhân tài xuất chúng nhất, đáng lẽ phải là anh cả, dẫn đầu các ngành khoa
học mà chỉ yêu cầu được coi ngang hàng hay gần bằng với các ngành khoa học, công nghệ khác mà thôi ư? Ai phải chịu trách nhiệm về điều đó? Tại
hội thảo đó, tôi đã đề xuất một phương pháp ứng dụng CNTT thông tin để soạn
Bách Khoa Toàn Thư nhanh chóng và đảm bảo chất lượng. Sau Hội thảo, ông cùng
Nguyễn Đại Hưng đến gặp tôi nói “Chú ủng hộ phương pháp của Việt. Về CNTT, bây
giờ chú phải học cháu chứ. Chạy dạy chú cách để chú làm Bách Khoa Toàn thư cho
ngành Vật lý.”
Thứ Năm, 10 tháng 2, 2022
NGUYỄN VĂN HIỆU VÀ TÔI - Nguyễn Ái Việt (4c)
Phần 4c
Tiếp
tục nghiên cứu về lý thuyết trường lượng tử
Tôi về phòng Viện Vật lý, đúng dịp TS Đào
Vọng Đức đi nghiên cứu dài ngày ở Ý. GS. Nguyễn Văn Hiệu, nhận tạm thời hướng dẫn
tôi và anh Hoàng Ngọc Long. Ông lại hướng dẫn chúng tôi đọc các bài báo về
monople của t’Hooft và Polyakov, về instanton của Belavin, Schwarz, Polyakov và
Tyuptin. Đây là các vấn đề rất khó và rất thời sự vào lúc đó, được hy vọng là lời
giải cho bài toán cầm tù quark. Rõ ràng Nguyễn Văn Hiệu chưa bao giờ rời bỏ những
hướng nghiên cứu mà ông đã vạch ra cho tôi. Một trong những điểm khó hiểu nhất
trong các bài báo này là các khái niệm về topo và hình học vi phân. Tôi đã tổ
chức một semina hàng tuần về phương pháp toán học này tại nhà, có Nguyễn Quốc
Nam, Nguyễn Hùng Sơn và một số người khác tham dự. Nguyễn Văn Hiệu rất quan tâm
đến semina này. Ông thường hỏi tôi “Semina của cậu có hay không?” Tuy vậy, thời
gian được làm việc với thầy Hiệu của tôi chỉ kéo dài 2 tháng. Thậm chí, tôi
chưa có buổi nào được làm việc trực tiếp mà chỉ nhận tài liệu qua thư ký để đọc.
Ông quá bận để có thể có thời gian cho tất cả mọi người.
Một trong những khó khăn của tôi trong thời
kỳ này là việc định hướng nghiên cứu. Tôi khi đó còn quá trẻ chưa có tầm nhìn
toàn cảnh về ngành Vật lý, không biết phải học và nghiên cứu cái gì. Sau này,
Nguyễn Văn Hiệu có nói ông có hai may mắn. Một là được chuẩn bị kiến thức cơ bản,
đọc đúng sách cần thiết trước khi đi Dubna. Hai là gặp được những người hướng dẫn
tận tình và giỏi. Cả hai điều này tôi đều không có. Ở Phòng lý thuyết, tôi được
biết là không thể đi về các hướng sẽ hướng tới sử dụng máy tính như ở Budapest,
bên cạnh đó, ở Việt Nam khi đó chỉ có Nguyễn Văn Hiệu quan tâm tới sắc động học
lượng tử. Một lần, Nguyễn Văn Hiệu đi công tác ở Pháp về gọi chúng tôi tới nói
về các công trình siêu hấp dẫn trong không gian 11 chiều của một nhà vật lý trẻ
là Julia. Ông nói: Julia không hơn gì tuổi các cậu đã giỏi như vậy, các cậu phải
cố lên. Thực ra không dễ dầu gì có được điều kiện làm việc như Julia. Cái chúng
tôi được nhà nước cung cấp cho là một tháng 2 thếp giấy nháp màu nâu, chỉ viết
được trên một mặt và 2 cái bút chì, và được bảo là “làm khoa học đi”. Các tạp
chí khoa học trước đó được Trung Quốc viện trợ, lúc đó đã bị cắt hẳn. Thi thoảng
cũng có một vài số tạp chí mới nhất, thường là chậm từ 5-10 năm. Chúng tôi chia
sẻ với nhau một số sách tiếng Nga kinh điển như cuốn “Điện động học lượng tử” của
Akhiezer, “Nhập môn lý thuyết trường lượng tử” của Bogoliubov và Shirkov. Chúng
tôi cũng được truyền kinh nghiệm “Sếp Hiệu đã tính nát hai bộ sách này, nên mới
thành công như vậy ở Dubna”. Chúng tôi cũng tin là chỉ cần đọc kỹ và thực hiện
tính toán trong hai cuốn sách này, vật lý thế giới sẽ nằm trong tầm tay. Ngày
nay nhìn lại mới thấy niềm tin đó thật ngây thơ như ếch ngồi đáy giếng. Vào năm
1956-1958, hai bộ sách này còn là mới và đang theo sát các vấn đề mà giới vật
lý quan tâm, được hướng dẫn đọc hai bộ sách này, rồi lại đến Dubna làm việc với
các tác giả là may mắn của Nguyễn Văn Hiệu. Tới năm 1980, các cuốn sách này ít
có liên hệ trực tiếp với những vấn đề thời sự trong vật lý. Tuy vậy, tôi quyết
định bỏ thời gian nghiên cứu phương pháp topo và hình học vi phân. Tôi nói rằng
nếu Julia thành công ở tuổi 30, tôi sẽ được như Julia vào năm 40 tuổi hoặc thậm
chí 60 tuổi cũng là tốt rồi. Thực ra, đó chỉ là cách chọn hướng cụ thể khác, về
phương pháp cũng là do ảnh hưởng từ Nguyễn Văn Hiệu.
Năm 1980, Nguyễn Văn Hiệu quan tâm trở lại
lĩnh vực trường lượng tử và hạt cơ bản. Ông lập một nhóm nghiên cứu rất mạnh gồm
có Nguyễn Hùng Sơn, Hà Đại Phước và Lê Viết Dũng, là những nhà khoa học trẻ giỏi
nhất của Trung tâm Vật lý lý thuyết. Đây là thế hệ học trò cuối cùng về vật lý
hạt cơ bản của Nguyễn Văn Hiệu. Sau hơn 10 năm không làm việc trong lĩnh vực
này, mặc dù vẫn luôn cố gắng cập nhật với các thành tựu mới nhất, Nguyễn Văn Hiệu
đã phải hết sức vất vả để mở một hướng đi cho nhóm này vừa phải xứng đáng với tầm
cỡ của mình. Ông đã cố gắng nghiên cứu về một cách biểu diễn mới cho siêu đối xứng.
Tình cờ, đây cũng là đề tài nghiên cứu của tôi.
Năm 1984, tôi có dịp đến Dubna làm việc mấy tháng và chọn làm việc với
GS. V.I.Ogievetsky, là người rất nổi tiếng trên thế giới với khái niệm “siêu
không gian điều hòa”. Tại Mỹ ông được mệnh danh là “Fezza Gursey của Nga” thể
hiện một sự kính trọng tuyệt đối. Ogievetsky cùng tuổi với Nguyễn Văn Hiệu và bắt
đầu làm việc với Viện sĩ M.A.Markov tại phòng thí nghiệm neutrino từ năm 1956.
Tuy vậy, ông bị thành kiến, chèn ép nên mãi tới năm 1990 mới được ra nước ngoài
lần đầu, đến Budapest dự một hội nghị. Tôi đã đưa ông và vợ đi chơi Budapest, rất
ngạc nhiên khi ông nói lần đầu tiên được ra nước ngoài và đời sống ở Nga lúc bấy
giờ rất túng thiếu. Năm 1994, tôi còn gặp Ogievetsky lần cuối cùng ở
Philadelphia, khi ông sang Mỹ làm việc ngắn hạn theo lời mời của J.Bagger.
Nhờ những chuẩn bị khá tốt về phương
pháp hình học và topo, lại ứng dụng được những kiến thức này trong một công
trình viết chung với nhóm nghiên cứu của Ogievetsky, năm 1977, sau khi bảo vệ
luận văn tiến sĩ trong nước, tôi đã có được một công trình độc lập về phương
pháp topo được đăng Tạp chí Physics Letters B, là tạp chí hàng đầu về vật lý lý
thuyết và cũng đã hình thành được hướng nghiên cứu khá hấp dẫn về mô hình
Skyrme cùng với Phạm Thúc Tuyền. Mô hình này được quan tâm trở lại và trở thành
đề tài nóng, với tư tưởng là phương pháp topo sau công trình của nhóm nghiên cứu
của nhà vật lý Mỹ, giải thưởng Fields 1990, E.Witten. Tuy vậy, chúng tôi bắt buộc
phải tính toán trên máy tính để có các kết quả so khớp được với thực nghiệm.
Cũng may là lúc đó tôi nhận được giải thưởng về Vật lý của Viện Hàn lâm Khoa học
Hungary và có điều kiện sang Budapest. Giải thưởng này khá vinh dự vì mỗi năm
chỉ có 2 người được nhận giải, cùng năm với tôi là Viện sĩ Nga N.Gribov và trước
đó là P.Dirac, giải thưởng Nobel năm 1932. Kèm theo giải thưởng là học bổng một
năm nghiên cứu tại Budapest. Tại Budapest, tôi nhanh chóng hoàn thành các tính
toán và công bố các bài báo cùng với anh Phạm Thúc Tuyền, các kết quả này được
nhà vật lý nổi tiếng Fezza Gursey nhắc đến.
Chủ Nhật, 6 tháng 2, 2022
NGUYỄN VĂN HIỆU VÀ TÔI, - Nguyễn Ái Việt (4b)
Phân 4b:
http://aivietnguyen.blogspot.com/2022/02/nguyen-van-hieu-va-toi-nguyen-ai-viet-4a.html
Ứng
dụng phương pháp trường lượng tử trong vật lý chất rắn
Khi về Viện Vật lý, tôi được phân công làm
trong nhóm của các TS. Đào Vọng Đức và Nguyễn Thị Hồng. Nguyễn Văn Hiệu chỉ nói
ngắn gọn “Cháu sẽ làm việc về lý thuyết hạt cơ bản với chú Đức, là một người rất
giỏi. Chú cũng làm về hạt cơ bản, nhưng sẽ phụ trách nhóm nghiên cứu lý thuyết
bán dẫn.” Sau này, tôi mới biết Nguyễn Văn Hiệu vẫn say mê và không ngừng
nghiên cứu vật lý hạt cơ bản là mối tình khoa học đầu tiên của ông. Tuy vậy,
ông nhận thức được rằng vật lý chất rắn sẽ có ý nghĩa lớn hơn đối với ứng dụng
tại Việt Nam và tự thấy mình có trách nhiệm phát triển hướng nghiên cứu này.
Ông tập hợp được một nhóm khá đông các nhà vật lý lý thuyết trẻ có năng lực, được
tuyển chọn rất kỹ như Nguyễn Ái Việt A, Nguyễn Toàn Thắng, Nguyễn Bá Ân, Nguyễn
Như Đạt, Nguyễn Vinh Quang, Hoàng Ngọc Cầm, Hà Vĩnh Tân, sau này có thêm Nguyễn Hồng Quang,
Nguyễn Quê Hương, Hoàng Anh Tuấn, ngày nay đều là những nhà vật lý xuất sắc,
thành danh. Trong phòng Lý thuyết còn có các anh lớn tuổi hơn như Nguyễn Văn Trọng,
Nguyễn Ngọc Thuân, cũng là những nhà vật lý uyên bác, thông minh xuất chúng.
Nguyễn Văn Hiệu muốn tạo ra một trường
phái vật lý bán dẫn tại Việt Nam sử dụng thế mạnh của ông đã thành công vang dội
tại Dubna là phương pháp tính biên độ tán xạ sử dụng các giản đồ Feynman. Nói ý
tưởng thì đơn giản nhưng khi áp dụng không hoàn toàn như vậy. Trong nhiều
năm, ông và các học trò đã phát triển một hướng đi độc đáo trong vật lý bán dẫn,
phát triển một phương pháp luận tính toán các quá trình sinh hủy các giả hạt để
giải thích rất nhiều hiện tượng vật lý trong chất bán dẫn. Rất nhiều công sức
đã bỏ ra để có một phương pháp luận trong sáng, dễ hiểu, dễ dùng, từ những công
cụ phức tạp của lý thuyết trường. Nhiều người cho rằng đây là cách dùng “đại
bác bắn chim sẻ”, tuy vậy, tôi cho rằng đó là cách duy nhất làm đúng. Khi đó tại
Việt Nam, tài liệu, điều kiện tiếp xúc quốc tế, điều kiện làm việc đều vô cùng
khó khăn. Để có được một công trình mới có ý nghĩa có thể công bố được trên các
tạp chí có uy tín trên thế giới là vô cùng khó khăn, chưa nói tới được việc
hình thành một trường phái lớn, có ảnh hưởng tới thực nghiệm và ứng dụng. Một
cách làm khác phổ biến hơn là vẫn tiếp tục các đề tài nghiên cứu ở nước ngoài
và nỗ lực để có những thành công xuất sắc. Ở Phòng Vật lý thời đó, có những nhà
khoa học giỏi như các anh Đoàn Nhật Quang, Nguyễn Văn Liễn, Nguyễn Minh Khuê, vẫn
có thể làm những hướng khác, độc lập. Tuy vậy, nếu nhìn lại, nét chủ đạo vẫn là
“công nghiệp tính toán sơ đồ Feynman cho bán dẫn” (như chúng tôi vẫn gọi đùa một
cách thân thương) của nhóm nghiên cứu do GS Nguyễn Văn Hiệu lãnh đạo.
Từ những năm 1980, lứa học trò đầu tiên của
Nguyễn Văn Hiệu đã trưởng thành và đã vươn tới các đề tài hiện đại và có ý
nghĩa vật lý sâu hơn như hiệu ứng Hall lượng tử, siêu dẫn nhiệt độ cao, quang học
bán dẫn, tính toán lượng tử.
Thứ Bảy, 5 tháng 2, 2022
NGUYỄN VĂN HIỆU VÀ TÔI - Nguyễn Ái Việt (4a)
Thành lập Viện Vật lý
Năm 1969, Nguyễn Văn Hiệu
cùng gia đình về nước, bằng chuyến tàu liên vận qua Syberia và Trung Quốc. Sau
này, tôi đã từng đi chuyến tàu như thế, nên cũng có thể tưởng tượng được tâm trạng
của GS. Hiệu khi đó như thế nào. Không thể nói là không có nhớ tiếc những công
việc khoa học đang còn dang dở, môi trường làm việc lý tưởng đang thuận lợi, những
người bạn đồng nghiệp tốt bụng và giỏi giang, cũng như những khắc khoải về khó
khăn trước mắt. Tuy nhiên, tâm trạng sẵn sàng cho công việc mới mà đất nước
đang sắp sửa giao phó cho ông cũng đầy hứng thú. Trên chuyến tàu này còn có TS
trẻ Chu Hảo, sau này sẽ là Thứ trưởng Bộ Khoa học Công Nghệ, là người Nguyễn
Văn Hiệu đã hướng dẫn nghiên cứu và đưa vào làm việc về Vật lý Chất rắn tại
Dubna. Tuy là thế hệ thầy trò, nhưng Chu
Hảo cũng chỉ kém Nguyễn Văn Hiệu có vài tuổi.Tôi có thể tưởng tượng chuyến tàu
đó với những câu chuyện về tương lai giữa hai nhà vật lý trẻ thông minh và vẻ mặt
đăm chiêu của Nguyễn Văn Hiệu đã chìm đắm trong những viễn cảnh mới.
Thảo luận về việc về nước năm 1969 của
Nguyễn Văn Hiệu, nhiều bạn trẻ băn khoăn, tiếc nuối về việc vì sao Nguyễn Văn
Hiệu không tiếp tục ở lại để nghiên cứu. Thực ra, thời bấy giờ việc hết thời
gian làm việc về nước, đất nước đã đào tạo ra nhà khoa học, thì nhà khoa học phải
về nước phục vụ là một việc rất tự nhiên. Tuy vậy, Nguyễn Văn Hiệu hoàn toàn có
thể nhờ các Viện sĩ có uy tín can thiệp, tác động để chính phủ Liên Xô gửi công
hàm đề nghị giữ ông tiếp tục làm ở Dubna. Rõ ràng, Nguyễn Văn Hiệu đã có chuẩn
bị cho việc về nước từ những ngày đầu. Việc này hoàn toàn phù hợp với việc cùng
một lúc tham gia vào nhiều hướng khoa học. Tôi suy luận và phỏng đoán rằng Nguyễn
Văn Hiệu khi đó đã nghĩ tới việc xây dựng một nền vật lý tương lai cho Việt
Nam, nên ông tìm hiểu và thu gom mọi kiến thức không phải cho một mình ông mà
cho cả một cộng đồng. Chính vì thế, ông làm việc bằng 3,4 lần người khác. Một trong những học trò gần
gũi của ông là GS. Nguyễn Hồng Quang, đã khẳng định trong những buổi tâm sự với
các học trò gần gũi, GS. Hiệu cũng đã tâm sự những điều tôi đã suy luận được.
Về đến Việt Nam, Nguyễn Văn Hiệu được Thủ
tướng Phạm Văn Đồng và chính phủ giao cho việc thành lập Viện Vật lý, khi mới
31 tuổi. Cho tới nay, ông vẫn là người trẻ nhất làm Viện trưởng một Viện nghiên
cứu. Tôi nghe được câu chuyện Thủ tướng Phạm Văn Đồng, khi biết được người ta xếp
lương cho Nguyễn Văn Hiệu ở mức chuyên viên 1 là 105 đồng, đã tự tay thay đổi
thứ tự các con số thành 150 đồng, bằng lương Bộ trưởng, chuyên viên 7.
Thứ Năm, 3 tháng 2, 2022
NGUYỄN VĂN HIỆU VÀ TÔI, - Nguyễn Ái Việt (3d)
Tán xạ phi đàn tính sâu
Trong những năm cuối ở Dubna, Nguyễn Văn
Hiệu đã làm việc với một nhóm các nhà vật lý xuất sắc nhất trong nhóm của
Bogoliubov như A.A.Logunov, A.N.Tavkhelize,… xây dựng các phương án thí nghiệm
cho Trung tâm Vật lý năng lượng cao đang sắp hoàn thành ở Serpukhov. Nguyễn Văn
Hiệu đã sử dụng những công cụ ông hết sức thành thạo để tính toán biên độ tán xạ
cho các quá trình va chạm các hạt cơ bản ở năng lượng rất cao. Về mặt lý thuyết,
sau khi nhà vật lý, giải thưởng Nobel, người Anh P.Dirac tìm ra phản vật chất,
người ta đã biết rằng khi các hạt có năng lượng rất lớn va chạm với nhau sẽ tạo
ra các hạt mới, từ các cặp hạt-phản hạt. Các quá trình này được gọi là các quá
trình tán xạ phi đàn tính sâu. Các tính toán của nhóm Logunov, Tavkhelidze và
Nguyễn Văn Hiệu, là cơ sở để thiết kế các thí nghiệm tại Serpukhov. Do những
đóng góp này, Nguyễn Văn Hiệu đã được tặng giải thưởng Lenin. Nguyễn Văn Hiệu
và Logunov, giám đốc Trung tâm Serpukhov và sau này là Hiệu trưởng Đại học Quốc
gia Moskva mang tên Lomonosov, đều được trở thành Viện sĩ Liên Xô.
Hình ảnh lý tưởng: Richard Feynmann
Theo đánh giá cá nhân của tôi, nếu Nguyễn
Văn Hiệu được tiếp tục nghiên cứu tại Liên Xô, ông sẽ còn có những thành công rực
rỡ hơn nữa. Có thể sẽ có những hiệu ứng, những phương trình vật lý mang tên
Nguyễn Văn Hiệu. Nhưng đất nước Việt Nam vào thời điểm đó đang như ông để xây dựng
ngành Vật lý non trẻ. Đó là một sự hy
sinh không hề nhỏ của Nguyễn Văn Hiệu, khi ông trở về nước năm 30 tuổi, tài
năng đang vừa độ chính, uy tín quốc tế của ông đã rất lớn, các hướng nghiên cứu
của ông đều đang hứa hẹn những kết quả phi thường. Tuy vậy, đối với tương lai của
đất nước, việc xây dựng nền vật lý và cộng đồng khoa học sẽ là quan trọng hơn.
Việc chúng ta có được một nền vật lý như ngày nay với một tập thể đông đảo các
nhà khoa học theo nhiều hướng nghiên cứu khác nhau là một kiệt tác tầm cỡ hơn
nhiều của Nguyễn Văn Hiệu. Tư tưởng đó của Nguyễn Văn Hiệu và nhiều người cùng
thời đã ảnh hưởng tới nhiều tới các quyết định quan trọng của tôi trong sự nghiệp.
Nếu được chọn cho Nguyễn Văn Hiệu một
môi trường làm việc lý tưởng trên thế giới sau năm 1964, tôi sẽ chọn cho ông
trường Đại học Caltech, để làm việc cùng với R.Feynman, giải thưởng Nobel 1964.
Toàn bộ sự nghiệp của Nguyễn Văn Hiệu tình cờ có một sự đồng cảm sâu sắc với
các phát minh của Feynman. Ông rất thành thạo phương pháp tính giản đồ và tích
phân phiếm hàm của Feynman. Nếu được tới Caltech vào năm 1964, có thể ông sẽ
giúp Feynman hình thành ý tưởng về parton sớm hơn, có những tính toán nhanh
hơn. Ý tưởng vật lý của Feynman và năng lực tính toán của Nguyễn Văn Hiệu có thể
là một kết hợp tuyệt vời. Về tính cách con người và tư duy, giữa Feynman và
Nguyễn Văn Hiệu có nhiều điểm khác biệt, có thể bổ sung cho nhau. Nhưng về
chuyên môn, hai người có những đồng cảm sâu xa. Đặc biệt là ở việc quan tâm rất
rộng tới nhiều khía cạnh trong vật lý. Tôi nhớ Feynmann đã từng nói đại ý “Hãy
mang vấn đề tới đây. Tôi sẽ giải quyết nó bằng bất cứ cách nào, hoặc sẽ sáng tạo
ra cách giải quyết nó.” Nguyễn Văn Hiệu cũng là một người như vậy. Đó là tư duy
của người khổng lồ, không phải dân tộc nào, thế hệ nào cũng có thể sản sinh được.
NGUYỄN VĂN HIỆU VÀ TÔI, - Nguyễn Ái Việt (3c)
Đối xứng unita của các hạt sơ cấp
Điểm đặc biệt trong thành công của Nguyễn
Văn Hiệu ở chỗ ông đã có một tầm nhìn xa và sâu sắc về bức tranh toàn cảnh Vật
lý. Đó là tư duy của một nhà lãnh đạo khoa học tương lai. Trong khi làm luận án
TS, ông đã nghiên cứu song song thêm các đề tài khác về tương tác mạnh và đã có
những kết quả quan trọng bên ngoài luận án TS. Chúng ta có thể thấy nhà khoa học
trẻ Nguyễn Văn Hiệu khao khát kiến thức và có năng lực làm việc lớn như thế
nào. Ở đây chúng ta đã thấy thấp thoáng bóng dáng của một người khổng lồ, vác
lên vai tất cả những kiến thức đồ sộ mà anh có thể thấy trên đường, để đem về
xây dựng cho nền vật lý tương lai của quê hương. Ông như muốn học cả cho những
người đang ở quê nhà, đang đợi ông để cùng xây dựng nền vật lý tương lai cho Việt
Nam. Nếu chỉ để học cho cá nhân mình,
hay vì bằng cấp, Nguyễn Văn Hiệu hoàn toàn không cần làm như vậy. Đến Dubna năm 22 tuổi, 8 năm sau ông đã được phong
học hàm GS Liên Xô, phụ trách một nhóm nghiên cứu lớn, có nhiều học trò giỏi.
Cùng với GS. Ya.A.Smorodinsky, Nguyễn Văn Hiệu
đã nghiên cứu đối xứng unita của các hạt cơ bản. Đây là một hướng nghiên cứu rất
mới, do nhà vật lý Mỹ M.Gell Mann đề xuất. Đối xứng unita là một quy luật tuần
hoàn, phản ánh các thuộc tính lặp đi lặp lại của rất nhiều hạt cơ bản được phát
hiện trong các máy gia tốc có năng lượng rất cao. Các thuộc tính tuần hoàn này
tương tự như các thuộc tính của các nguyên tố hóa học trong bảng tuần hoàn
Mendeleev. Công cụ toán học để phân loại và sắp xếp các hạt cơ bản là lý thuyết
biểu diễn nhóm, một lý thuyết rất khó và trừu tượng vào lúc bấy giờ. Bằng công
cụ toán học mới này, người ta thấy có một vị trí trong bảng tuần hoàn mới đó
còn thiếu. Gell Mann đã tính toán khối lượng của hạt đó mà được ông đặt tên là
Omega. Năm 1964, người ta đã phát hiện hạt Omega, bằng thực nghiệm. Đó là một
thành công rực rỡ của nhóm đối xứng unita, mà các nhà viết lịch sử khoa học thường
so sánh với việc phát hiện ra hành tinh Neptun. Nhóm nghiên cứu của Smorodinsky
và Nguyễn Văn Hiệu đã nghiên cứu về nhóm đối xứng unita rất sớm. Smorodinsky, khi
đó đã là trưởng phòng vật lý lý thuyết tại Dubna, vốn là học trò của nhà vật lý
Liên Xô, giải thưởng Nobel, L.D.Landau lừng danh. Ông là một trong số ít những
người thành công trong kỳ sát hạch khó khăn của Landau dành cho các nhà vật lý
trẻ. Trong nhóm nghiên cứu của Smorodinsky, Nguyễn Văn Hiệu là người đi tiên
phong trong việc nghiên cứu các công cụ toán học của lý thuyết biểu diễn nhóm.
Ông tính toán cẩn thận và giảng lại cho các đồng nghiệp. Các bài giảng này sau
này được soạn lại thành sách, một sách giáo khoa mẫu mực về sự sáng sủa về dễ
hiểu. Cuốn sách này được Viện sĩ Bogoliubov viết lời nói đầu. Nguyễn Văn Hiệu
cũng là một trong những người đầu tiên đề xuất sử dụng nhóm SL(6,C) để biểu diễn
hạt cơ bản. Đây là nhóm đối xứng vừa chứa đối xứng unita SU(6) mô tả đối xứng gần
đúng của 6 hạt quark mà sau này người ta sẽ tìm ra và nhóm đối xứng tương đối
tính Lorentz.
Nhiều
năm sau, hướng nghiên cứu về đối xứng unita và các đối xứng mở rộng được tiếp tục
ở nhóm nghiên cứu tại Viện Vật lý của Đào Vọng Đức và Nguyễn Thị Hồng, và nhóm
nghiên cứu tại Khoa Vật lý, Đại học Tổng hợp TPHCM của Nguyễn Ngọc Giao và
Dương Văn Phi. Cá nhân tôi cũng là một chuyên gia trưởng thành từ hướng nghiên
cứu này. Có thể nói, ảnh hưởng của Nguyễn Văn Hiệu đã lan tỏa trong giới Vật lý
Việt Nam trong nhiều năm sau.
Thứ Hai, 31 tháng 1, 2022
NGUYỄN VĂN HIỆU VÀ TÔI, - Nguyễn Ái Việt (3b)
Phần 3a: http://aivietnguyen.blogspot.com/2022/01/nguyen-van-hieu-va-toi-nguyen-ai-viet-3a.html
Phần 3b:
Bất
biến thang độ và tương tác mạnh
Với Viện sĩ N.N.Bogoliubov, giám đốc Viện
Dubna, Nguyễn Văn Hiệu, nghiên cứu mô hình các hạt sơ cấp, các tính chất nhân
quả của biên độ tán xạ. Các nghiên cứu đó, sau này có ảnh hưởng tới việc nghiên
cứu các quá trình tương tác mạnh của các hạt sơ cấp, là một lĩnh vực khác với vật
lý neutrino. Ông nhanh chóng có những đóng góp quan trọng vào những kết quả nổi
tiếng thế giới về hệ thức tán sắc, tái chuẩn hóa của Bogoliubov. Viện sĩ N.N.Bogoliubov
từng là một trong những thần đồng khoa học của Liên Xô, bắt đầu nổi tiếng với
các công trình khoa học từ khi 15 tuổi. Có lẽ đó là điểm đồng cảm giữa
Bogoliubov và Nguyễn Văn Hiệu. Chính Bogoliubov đánh giá rất cao tài năng của
Nguyễn Văn Hiệu. Ông viết “Nhà vật lý
tài giỏi và năng động Nguyễn Văn Hiệu đã trở thành một nhà vật lý lý thuyết có
đẳng cấp cao. Anh nhanh chóng bước vào các lĩnh vực vật lý lý thuyết mới, nắm vững
kỹ thuật nghiên cứu mới. Trong bất kỳ lĩnh vực nào anh làm việc, anh luôn đạt
được những kết quả mới và quan trọng”. Trong nhóm của Bogoliubov lúc đó
có một nhà vật lý xuất sắc là A.A.Logunov. Ông bảo vệ TSKH năm 1959, khi đó đã
là phó phòng Vật lý lý thuyết và là học trò cưng của Bogoliubov và là tấm gương
để Nguyễn Văn Hiệu noi theo. Logunov cũng bỏ rất nhiều thời gian với Nguyễn Văn
Hiệu và nhanh chóng có những kết quả tốt. Nhờ các kết quả này, Nguyễn Văn Hiệu
đã bảo vệ thành công luận án TSKH về “Bất biến thang độ của tiết diện tán xạ tạo
thành nhiều hạt” năm 1964, chỉ một năm sau khi bảo vệ luận án TS. Trong việc
Nguyễn Văn Hiệu sớm bảo vệ thành công và xuất sắc luận án TSKH, Logunov là người
có công lớn. Logunov rất cởi mở, luôn nói rằng Nguyễn Văn Hiệu là cộng sự của
mình. Vì vậy, trong một thời gian dài, có nhiều người cho rằng Nguyễn Văn Hiệu
là học trò của Bogoliubov cũng như Logunov. Sau này, Nguyễn Văn Hiệu đã cải
chính điều này, nói rằng ông coi Logunov như thầy.
Nhiều người đã đặt câu hỏi làm thế nào
trong một năm Nguyễn Văn Hiệu có thể làm luận án về một đề tài mới, có những kết
quả đỉnh cao để có thể bảo vệ luận án TSKH. Có người cho rằng đó là một may mắn,
khi Nguyễn Văn Hiệu được làm việc trong một nhóm nghiên cứu đang “đào trúng mỏ
vàng” như cách nói của M.A.Markov. Tuy vậy, tôi không nghĩ rằng Nguyễn Văn Hiệu
đã thực hiện công việc một cách tuần tự và chỉ bắt đầu nghiên cứu về đề tài này
sau khi hoàn thành luận án TS. Những người có kinh nghiệm trong lĩnh vực nghiên
cứu này đều biết rõ rằng, trong một năm, chỉ để hiểu về một vấn đề trong lĩnh vực
này cũng không thể đủ thời gian. Trong khoa học có những bước đi thần tốc,
nhưng cũng cần những thời gian ấp ủ để ý tưởng sáng tạo chín muồi và nảy mầm. Bất
biến thang độ là đặc trưng của tương tác mạnh giữa các hạt cơ bản, thể hiện bằng
việc trong các quá trình tán xạ ở năng lượng cao, các hạt hadron thể hiện tính
chất như là các hạt điểm, không có cấu trúc.
Nguyễn Văn Hiệu sử dụng rất thành thạo
các công cụ rất nổi tiếng mang tên “tái chuẩn hóa BPHZ” của nhóm Bogoliubov để
mô tả tường minh bất biến thang độ. Nhưng đặt vấn đề nghiên cứu bất biến thang
độ là một ý tưởng vật lý đi trước thời đại, chứ không phải chỉ là kỹ thuật tính
toán. Sau này, đến năm 1966, nhà vật lý nổi tiếng người Mỹ J.Bjorken mới phát
hiện ra thang độ Bjorken trong các tán xạ bao gồm hadron. Năm 1973, một nhà vật
lý Mỹ khác S.Brodsky mới phát biểu tường minh ý tưởng áp dụng bất biến thang độ
trong các quá trình tương tác mạnh sử dụng sắc động học lượng tử. Dựa trên các
ý tưởng này, nhà vật lý Mỹ, giải thưởng Nobel 1964, R.Feynmann đã phát triển mô
hình parton, làm cơ sở cho những quá trình thực nghiệm khẳng định sự tồn tại của
quark. Trong thập kỷ 1980, nhóm nghiên cứu của GS. Trần Hữu Phát ở Viện 481 có
nhiều công trình nghiên cứu xuất sắc về mô hình parton và các hiệu ứng EMC tính
đến vi phạm bất biến thang độ.
Ở hướng nghiên cứu này, chúng ta thấy ảnh
hưởng của Bogoliubov đối với Nguyễn Văn Hiệu rất lớn. Nhiều cộng sự với Nguyễn
Văn Hiệu sau này đã kể lại, việc ông đã đọc đi đọc lại bộ sách “Nhập môn lý
thuyết trường lượng tử” của Bogoliubov và Shirkov, tính toán rất chi tiết đến từng
bước suy diễn đơn giản nhất. Ông đã bắt đầu đọc bộ sách này ngay từ khi vừa mới
tốt nghiệp đại học, làm việc ở Khoa Vật lý. GS. Nguyễn Hoàng Phương, chủ nhiệm
đầu tiên của Khoa Vật lý, Đại học Tổng hợp Hà Nội, sau khi làm việc tại Dubna
đã mang bộ sách này về và giới thiệu bộ sách này với các nhà vật lý trẻ trong
khoa, tại semina khoa học về Vật lý lượng tử do ông tổ chức. Semina này đã đào
tạo ra một thế hệ vật lý xuất sắc và sau này sẽ thành danh như Trần Hữu Phát,
Đào Vọng Đức, Cao Chi, Nguyễn Ngọc Giao, Lương Duyên Bình, Phạm Công Dũng,… Người
tiếp cận nhanh nhất được với kiến thức mới là Nguyễn Văn Hiệu. Ông đã được GS.
Nguyễn Hoàng Phương giới thiệu với GS Tạ Quang Bửu là một nhà khoa học “trẻ và
giỏi một cách kỳ lạ.” Chính GS. Phương đã đề nghị Nguyễn Văn Hiệu thay mình đi
làm cộng tác viên về vật lý lý thuyết tại Dubna. Trong khoa học, thành công phụ thuộc vào cố gắng
và năng lực cá nhân, nhưng sự giúp đỡ ban đầu là một trong những may mắn quan trọng nhất. Phải rất nhân văn mới nhận thức được những điều quý giá mà sau này chỉ có vẻ rất nhỏ nhặt.
NGUYỄN VĂN HIỆU VÀ TÔI - Nguyễn Ái Việt (3a)
Phần 2: http://aivietnguyen.blogspot.com/2022/01/nguyen-van-hieu-va-toi-nguyen-ai-viet-2.html
Phần 3a:
Những năm thành công huyền thoại tại Dubna
Lớp cán bộ trẻ của phòng Vật lý lý thuyết,
Viện Vật lý chúng tôi thời đó vẫn truyền tụng nhau về những thành công huyền
thoại của GS Nguyễn Văn Hiệu tại Viện nghiên cứu liên hợp hạt nhân Dubna. Chính
Viện sĩ Viện trưởng N.N.Bogoliubov lừng danh đã đánh giá Nguyễn Văn Hiệu là một
trong số nhà khoa học trẻ giỏi và thông minh nhất một thời tại Dubna, là nơi vốn
quần tụ các anh tài vật lý một thời của Liên Xô và các nước Đông Âu. Nếu như đa
số các nhà khoa học Việt Nam thời bấy giờ và sau này đều làm việc với một thầy,
tập trung vào một đề tài để bảo vệ cho xong luận án TS, rồi tiếp tục làm TSKH,
Nguyễn Văn Hiệu đã thể hiện một cách làm hoàn toàn khác. Ông không chỉ nhanh
chóng hoàn thành nội dung luận án TS, mà còn đồng thời tham gia nghiên cứu với
nhiều những nhóm nghiên cứu hàng đầu của Dubna và nhanh chóng có thành tựu vang
dội và có tầm cỡ thực sự.
Tính
chất tiệm cận biên độ tán xạ và vật lý neutrino
Tại
phòng thí nghiệm neutrino, Nguyễn Văn Hiệu làm việc với các Viện sĩ M.A.Markov
và B.Pontercovo về tương tác yếu của các hạt neutrino bí ẩn, có khả năng đâm
xuyên qua mọi vật cao nhất trong các hạt mà chúng ta biết. Lĩnh vực này đến nay
vẫn là một trong những lĩnh vực sôi động và còn nhiều bí ẩn nhất trong vật lý.
Chính Viện sĩ Markov là người đề xuất ý tưởng kính viễn vọng neutrino ngầm dưới
đáy biển. Viện sĩ Pontecorvo là cha đẻ của ý tưởng dao động neutrino. Hiện tượng
này chỉ được kiểm chứng thực nghiệm sau khi Pontecorvo mất 22 năm, đem lại giải
thưởng Nobel năm 2015 cho nhà vật lý người Nhật T.Kajita và nhà vật lý người
Canada A.B.McDonald. Năm 1963, khi bảo vệ luận án TS nhan đề “Các hệ thức tiệm
cận của biên độ tán xạ trong lý thuyết trường lượng tử tương đối tính” liên
quan tới các tính chất của neutrino, Nguyễn Văn Hiệu đã công bố 12 công trình
khoa học. Trả lời phỏng vấn báo chí, Viện sĩ Markov nói “Bạn và tôi đang tiếp xúc với một con người xuất chúng. Đôi khi người
ta thực sự gặp may trong công việc nhờ tìm thấy một ý tưởng thiên tài dẫn đến
những kết quả quan trọng, như phát hiện một mỏ vàng. Nguyễn Văn Hiệu đi theo một
con đường khác. Như người ta thường nói, anh không ngồi chờ khoa học đến
"bố thí"; anh đã đạt được những kết quả đáng ngạc nhiên bằng cách lao
động rất nhiều, bằng năng lực lao động rất lớn”. Tình cờ, tôi cũng có
duyên nợ với con số 12 này, năm 1987, khi bảo vệ luận án TS Toán Lý trong nước,
tại Viện Vật lý, tôi cũng đã có 12 bài báo được công bố.
Nguyễn Văn Hiệu đã có cơ hội hợp tác với Pontecorvo để đi đầu trong hướng nghiên cứu về dao động neutrino. Và nếu ông nhận thức được tầm quan trọng của neutrino, hoàn toàn có thể giải thưởng 2015 đã phải nhắc đến tên ông. Tuy vậy, có vẻ như Nguyễn Văn Hiệu quan tâm nhiều tới sử dụng công cụ tính toán để có những thành công nhanh chóng hơn là những vấn đề vật lý cơ bản cần thời gian dài để chín muồi. Do đó, ông hướng sự chú ý tới hướng nghiên cứu thuộc một phòng thí nghiệm khác.
NGUYỄN VĂN HIỆU VÀ TÔI - Nguyễn Ái Việt (2)
Phần 1:
http://aivietnguyen.blogspot.com/2022/01/nguyen-van-hieu-va-toi-1.html
Phần 2:
Hai
đặc trưng đáng yêu nhất của Nguyễn Văn Hiệu
Năm 1978, khi đang học
năm thứ 4, ngành Vật lý, tại Đại học Debrecen, Hungary, tôi nhận được một bức
thư với nét chữ lạ, rắn rỏi, vuông vức. Trên phong bì đề Nguyễn Văn Hiệu. Bức
thư khá dài, đại khái ông được biết tôi đang học Vật lý lý thuyết, và rất mừng
khi có người sẽ theo ngành của ông. Ông căn dặn tôi nghiên cứu về các hướng mô
hình quark, sắc động học lượng tử và hiện tượng cầm tù quark. Quark là hạt do
nhà vật lý Mỹ, giải thưởng Nobel 1969, M.Gell Mann đề xuất là hạt thành phần
cho các hạt cơ bản thuộc họ hadron. Dựa trên giả thiết về sự tồn tại của quark,
người ta có thể giải thích được một lớp rất lớn các hạt cơ bản quan sát được
trong các máy gia tốc năng lượng cao. Các hạt baryon được giải thích là trạng
thái liên kết của ba hạt quark, các hạt meson được giải thích là trạng thái
liên kết của một hạt quark và một hạt phản quark. Các quark tương tác với nhau
thông qua một trường màu với lượng tử là các hạt gluon, tương tự như photon là
lượng tử của trường điện từ. Sắc động học lượng tử là lý thuyết tương tác giữa các
quark. Do quark không quan sát được trong thực tế, người ta giả thiết quark bị
cầm tù trong những cái túi. Ngày nay, sự tồn tại của quark là một trong những
cơ sở của Mô hình Chuẩn, là nền tảng cho hiểu biết của chúng ta về vật lý cơ bản
ở vùng năng lượng cao mà các máy va chạm trên Trái Đất có thể đạt tới. Nhưng hồi
đó, nhiều nhà vật lý vẫn chưa thực sự tin tưởng ở sự tồn tại của quark. Vì vậy,
lá thư của GS. Nguyễn Văn Hiệu làm tôi vừa mừng vui vừa ngạc nhiên. Trước hết,
tôi ngạc nhiên khi biết ở Việt Nam đã có người quan tâm đến vấn đề mới như thế
này. Ở Debrecen, nơi tôi học đại học, với phong cách khá thủ cựu, người ta hoàn
toàn không nhắc đến quark. Điều đó làm các
sinh viên trẻ như bị giam cầm vào các đề tài cũ kỹ. Thứ hai, việc GS. Nguyễn
Văn Hiệu quan tâm viết cho tôi, một sinh viên trẻ, không có tiếng tăm gì, một
lá thư dài và chi tiết như thế, không phải là một việc thường thấy ở các nhà quản
lý Việt Nam. Sau này, tôi mới biết việc luôn luôn quan tâm tới những vấn đề vật
lý thời sự nhất trên thế giới và tới các sinh viên trẻ là thói quen và phong
cách suốt đời của Nguyễn Văn Hiệu. Tuy không có điều kiện làm việc trực tiếp
nhiều với ông, tôi luôn kính trọng ông về điều đó.
Rất
may cho tôi, hồi bấy giờ Budapest đang là một trong những trung tâm nghiên cứu
sôi động trên thế giới với mô hình túi quark Budapest do J.G.Kuti, sau này là
GS ở Đại học San Diego (Mỹ) dẫn đầu. Các nhà vật lý nổi tiếng thế giới như
P.Dirac, V.Gribov, H.Nielsen,…đều thường xuyên đến Budapest dự hội thảo, đọc
bài giảng. Vì vậy, tôi dễ dàng tiếp cận về những vấn đề mà GS. Nguyễn Văn Hiệu
đã “đặt hàng”. Nếu như GS. Nguyễn Hoàng Phương, định hướng cho tôi học Vật lý
lý thuyết, thì GS. Nguyễn Văn Hiệu là người định hướng cho tôi nghiên cứu vật
lý hạt cơ bản. Năm thứ 5 đại học, tôi chuyển về Budapest làm luận văn tốt nghiệp
về “Mô men từ của baryon trong mô hình thế năng dao động điều hòa của quark” với
Viện sĩ I.Lovas tại Viện Vật lý Trung tâm. Tôi được dự các bài giảng về Sắc động
học lượng tử của J.G.Kuti và Hình học vi phân của G.Sos tại Đại học Tổng hợp
Budapest. Năm đó tôi cũng được giải thưởng đặc biệt trong cuộc thi Ortway
Rudolph dành cho các nhà vật lý trẻ, đồng thời có kết quả nghiên cứu tốt, tôi
được Viện Hàn Lâm đề nghị chuyển tiếp sinh, với một vị trí nghiên cứu được thu
xếp ngoài hiệp định giữa hai nước. Tuy vậy, tôi nóng lòng về nước gặp Nguyễn
Văn Hiệu để kể cho ông nghe về những cái tôi đã làm được. Tôi nghĩ rằng tôi sẽ
quay lại Budapest dễ dàng trong một thời gian ngắn. Nhưng nếu ở Việt Nam có
công việc cần đến tôi, thì việc quay lại Budapest cũng không hoàn toàn quan trọng.
Hồi đó chúng tôi đều nghĩ đơn giản và trong sáng, không hề màng tới bằng cấp, sở
thích và lợi lộc cá nhân như thế.
Về Việt Nam, tôi có hai lựa chọn là về Viện
Hạt Nhân của GS.Nguyễn Đình Tứ hoặc về Viện Vật lý của GS.Nguyễn Văn Hiệu. GS.
Nguyễn Đình Tứ, khi đó đang kiêm Bộ trưởng Bộ Đại học, là người có quyền quyết
định về việc quay lại Budapest làm việc của tôi. Ông đã gặp tôi đề xuất tôi trở
lại Budapest nghiên cứu về vật lý lò phản ứng. Ông giới thiệu cho tôi các anh
Trần Thanh Minh, Phạm Duy Hiển từ Đà Lạt ra và nhóm lý thuyết của các anh Cao
Chi, Đoàn Nhượng, tại trụ sở Nguyễn Du. Các anh đều rất dễ mến và cởi mở. Phải
nói đề xuất của Nguyễn Đình Tứ khá hấp dẫn, tôi vẫn có thể tiếp tục nghiên cứu
về quark vừa học thêm các kiến thức để vận hành lò phản ứng ở Đà Lạt, là công
việc đang rất cấp thiết. Nhưng cuối cùng tôi bị thu hút bởi phong cách của Nguyễn
Văn Hiệu nhiều hơn. Ông tới nhà tôi nhiều lần, rồi chạy sang Bộ Đại Học, để xin
cho tôi về Viện Vật lý. Lần nào ông cũng tất tả đến rồi đi như một cơn lốc, nhiều
lần không ngồi, chỉ đứng nói và nói ầm ầm. Ông có một phong cách sôi nổi, lôi
cuốn đối với bọn trẻ như tôi, trái với phong cách nhỏ nhẻ điềm đạm của Nguyễn
Đình Tứ. Nguyễn Hoàng Phương cũng ủng hộ tôi về làm việc ở Viện Vật lý của GS Hiệu. Sau này tôi mới biết GS Hiệu tốt nghiệp
đại học khi mới 18 tuổi, năm 1958 và năm 22 tuổi đã được các thầy Nguyễn Hoàng
Phương và Tạ Quang Bửu giới thiệu và cử đi nghiên cứu tại Dubna.
NGUYỄN VĂN HIỆU VÀ TÔI - Nguyễn Ái Việt (1)
Người khổng lồ cô đơn
Hơn nửa thế kỷ qua, cái bóng của Nguyễn Văn Hiệu vẫn sừng sững phủ lên nền khoa học, ngành Vật lý Việt Nam và các học trò của mình. Ông là người cuối cùng của thế hệ đã đặt nền móng cho nền khoa học đó. Là một nhà lãnh đạo khoa học lâu năm nhất, ông có nhiều người mang ơn, yêu quý, nhưng cũng không thiếu người không ưa, trách móc hay ghen tị. Nhưng thật công tâm mà nói, ai cũng phải thừa nhận tài năng khoa học và đóng góp của ông cho khoa học nước nhà.
Cá nhân tôi
đánh giá Nguyễn Văn Hiệu là một tài năng lớn mà mỗi dân tộc không phải lúc nào
cũng có thể sản sinh ra. Năng lực và nỗ lực cá nhân đặc biệt hội tụ với những
cơ hội hiếm có đã chung đúc nên một Nguyễn Văn Hiệu xuất chúng như chúng ta biết.
Sẽ phải còn rất lâu, dân tộc ta mới sẽ sản sinh được một tượng đài như thế.
Dù vậy, tôi đã
băn khoăn nhiều trước khi cầm bút viết bài này. Một mặt, tôi chưa từng là học
trò hay đồng sự gần gũi của Nguyễn Văn Hiệu. Kỷ niệm của tôi với ông không có
nhiều, thậm chí chỉ là một tấm ảnh chụp chung cũng không có, không đủ thuyết phục
để viết về ông. Mặt khác, tôi không phải là một người có thể viết tốt một bài tổng
kết, đánh giá để tôn vinh một người vừa nằm xuống. Về tư duy quản lý khoa học,
tôi và Nguyễn Văn Hiệu thuộc về hai thời kỳ hoàn toàn khác nhau. Có thể giữa
chúng tôi có một mối tương thông nào đó về tư tưởng, hoặc với tư cách là đồng
nghiệp, tôi có thể diễn giải ý nghĩa nhiều
công trình khoa học của Nguyễn Văn Hiệu để mọi người có thể hiểu đúng những giá
trị thực sự đẹp đẽ đằng sau vẻ chói lòa của chúng. Tôi có thể sẽ viết một cuốn
sách đầy đủ về ông vào một dịp khác, khi không khí trang trọng nhớ tiếc đối với
ông sẽ lắng xuống, nhường chỗ cho việc suy nghĩ duy lý và công bằng hơn. Cuối
cùng, như một con người Nguyễn Văn Hiệu có những điểm yếu, những bi kịch cá
nhân, bị giằng xé bởi nhiều mâu thuẫn. Sẽ là phiến diện, công thức một chiều
hay sáo mòn, nếu không hiểu được những khía cạnh con người, cảm thấy được sức nặng
mà ông đã phải gánh chịu để thấy hết được tầm cỡ lớn lao của ông.
Nhắc đến GS Nguyễn
Văn Hiệu, tôi luôn nhớ tới hình ảnh của ông rất đẹp vào những năm 1980: mạnh mẽ,
xốc vác, sẵn sàng xông vào bất cứ vấn đề khoa học nào, không ngán ngại bất cứ vấn
đề quản lý nào. Ông như một người khổng lồ sẵn sàng vác cả ngành vật lý và cả nền
khoa học Việt Nam trên vai mình. Vào một ngày nào đó, buổi sáng, GS Hiệu có thể
đang say sưa nói về lý thuyết siêu hấp dẫn trong không gian 11 chiều, giảng về ứng
dụng lý thuyết trường lượng tử trong vật lý bán dẫn, buổi chiều, ông đã tất tả
bay vào Tây Nguyên, vật nài một ai đó để có hàng trăm mét khối gỗ xây dựng cho
Viện Khoa học Việt Nam. Dưới những áp lực khủng khiếp của thời cuộc, của những
định kiến lạc hậu và ngộ nhận duy ý chí của một thời, để tồn tại và được làm việc,
ông đã phải thỏa hiệp, chịu đựng và thậm chí phải đánh đổi rất nhiều. Đằng sau
vinh quang chói lọi là sự cô đơn mênh mông. Nhưng với một năng lượng tinh thần
không bao giờ cạn, ông luôn miệt mài với công việc mới, không nề hà bất cứ công
việc nào, dẫm lên nỗi buồn mà đi. Có lẽ với tâm thế như vậy, ông dần hình thành
một dáng đi rất đặc biệt: bước chân nặng nề, đầu gối như phải chịu áp lực ngàn
cân, tưởng chừng sẽ sụt xuống, nhưng rồi lại hết sức bật lên, không ngừng tiến
tới, giống như một người khổng lồ trong thần thoại Hy Lạp đang vác cả bầu trời
trên đôi vai vạm vỡ của mình.
Thứ Hai, 26 tháng 3, 2018
Sách Chu bễ có phải là ngụy thư?
Đặc biệt mô hình vũ trụ của Chu bễ hoàn toàn khác biệt với Thiên văn học dòng chủ lưu của Trung Quốc với thuyết Cái thiên như sau "Thiên viên như trương cái, địa phương như kỳ cục" (Trời tròn như cái lọng, đất vuông như bàn cờ). (Cái là cái lọng do đó thành tên chủ thuyết). Chủ thuyết này là bất di bất dịch trong quan niệm chủ lưu của Trung Quốc cho đến cuối đời Minh, khi Thang Nhược Vọng (giáo sĩ người Đức) đưa ra Tân thuyết giải thích bốn mùa, năm đới khí hậu, gây ra ầm ĩ và phản đối trong giới sĩ phu. Tuy nhiên, trong sách Chu bễ đã nói về việc tại Bắc Cực đến hè băng cũng không tan. Chu Bễ cũng nói mặt đất hình tròn, bầu trời cũng hình tròn, song song với mặt đất cách mặt đất 8 vạn dặm. Cần nói rõ Chu Bễ không hề nói Trái Đất hình cầu, mà chỉ nói bề mặt Trái Đất cong, có thể là một phần của mặt cầu và vì thế cũng không hề biết có Nam Cực.
Điều đáng chú ý là mô hình vũ trụ của Chu Bễ hoàn toàn giống hệt như mô hình có trong sách cổ của Ấn Độ là Puranas (Vãng thế thư), ước ra đời TK10 trước CN. Nhiều học giả Trung Quốc cũng cho rằng, tuy ý tưởng giống nhau có thể sinh ra tại nhiều nơi, nhưng việc trùng đến mức quái dị từ đại thể đến tiểu tiết giữa Chu Bễ và Puranas, khó lòng không cho chúng là từ một gốc. Chính học giả Trung Quốc nói rằng cho rằng "Ngẫu nhiên xảo hợp" là cách giải thích vô cùng miễn cưỡng.
Ở điểm này, các học giả TQ có hai cách nhìn nhận khác nhau. Một cho rằng Puranas chép từ Chu Bễ, rồi từ đó truyền sang Lưỡng Hà, Hy Lạp, La Mã. Quan điểm khác cho rằng, Chu Bễ nhắc tới Chu Công (TK10 trước CN) và Trần Tử (TK1 trước CN, tức là thời Hán Vũ Đế), như vậy không thể ra đời trước Puranas. Lại có người cho rằng Chu Bễ được soạn một lần thời Chu Công và lần sau thời Trần Tử. So sánh văn phong với sách Hoài Nam Tử, người ta có thế thấy phần Trần Tử có văn phong đồng thời với Hoài Nam Tử. Từ đó suy ra Chu Bễ có thể có niên đại như TK1, nếu bản Hoài Nam Tử mà chúng ta có hiện nay đích xác là nguyên bản của Lưu An. Tuy nhiên, các chi tiết của phần có Trần Tử cũng giống Puranas. Mặt khác, thời cổ không có Internet, thời gian để một cuốn sách do Chu Công phổ biến ra xã hội đã lâu, để lan truyền ra ngoại vực không thể trong vòng vài năm.
Đáng chú ý trong Hán Thư của Ban Cố (TK1) trong Nghệ Văn Chí có nhắc đến hai tác phẩm toán học là Hứa Thương Toán Thuật và Đỗ Trung Toán Thuật, không hề có Chu Bễ Toán Kinh. Do đó có khả năng là Chu Bễ Toán Kinh thời đó vẫn chưa có.
Và còn một số lý do khác mà tôi sẽ không thảo luận ở đây, đa số học giả thừa nhận, thời gian ra đời sớm nhất có thể có của Chu Bễ là vào đời Hán Vũ Đế (TK1 trước CN). Nên nhớ rằng thời gian này là thời gian thuyết Cái thiên của Trương Hành đang là chủ lưu. Nội dung của Chu Bễ mâu thuẫn hoàn toàn với các thuyết chủ lưu, khó lòng có thể chen chân vào học giới. Cách học của người Trung Quốc lại rất câu nệ sách vở giáo điều, không bao giờ tham khảo các quan điểm dị biệt, cho là tà thuyết.
C. Cullen cho rằng Chu Bễ không phải một người viết, mà đại thể có thể chia thành nội thiên và ngoại thiên. Nội thiên lấy Trần Tử làm trung tâm, có thể được soạn vào thế kỷ 1. Tuy nhiên ngoại thiên không thể soạn muộn hơn thế kỷ 2. Lại có học giả Nhật Bản căn cứ vào nội dung của Chu Bễ có xác định vị trí của sao Bắc Cực luận đoán ra, người viết quan sát thiên tượng của TK6-TK7 trước CN. Tuy nhiên cách lập luận này đã bị phê phán rất nhiều.
Hiện nay đa số học giả thống nhất được là Chu Bễ không do một người trước tác do nội dung và văn phong đều bất đồng. Các tác giả cũng ở nhiều thời kỳ khác nhau, và có những quan điểm bất đồng. Trong lịch sử Trung Hoa, việc san định, chú giải sách khá tùy tiện, như sách Tam Quốc của Trần Thọ nhưng lượng đóng góp của Bùi Tùng Chi rất lớn, và không loại trừ việc sửa cả văn gốc. Hoặc Tôn Tử Binh Pháp có thêm rất nhiều đóng góp của Tào Tháo đời Hán và Lý Tĩnh đời Đường cách rất xa về niên đại. Nếu thừa nhận Chu Bễ có nhiều tác giả và nhiều quan niệm khác nhau, cần phải xác định ý tưởng nào thuộc về thời kỳ nào thông qua nội dung và so sánh với chủ lưu chứ không thể gán ghép toàn bộ nội dung cho một thời kỳ để ra những kết luận không có cơ sở, như một năm dài 365.25 ngày (nếu có) có trong Chu Bễ được gán ghép cho thời Chu hoặc Xuân Thu, Chiến Quốc. Như vậy những lời được cho là của Thương Cao, Chu Công, Trần Tử đều là hư cấu của người sau.
Các học giả Trung Quốc cũng đặt vấn đề "Tri thức về thời tiết nóng lạnh và 5 đới khí hậu từ đâu đến". Tri thức thiên văn chủ lưu của người Trung Quốc không cho phép giải thích thời tiết khí hậu. Do đó có thể nói đến thế kỷ 17, Thang Nhược Vọng mới mang tri thức này vào Trung Quốc. Tuy nhiên Chu Bễ Toán Kinh lại có manh nha loại tri thức này, là một điểm kỳ lạ và đứt đoạn.
Tôi tạm dịch một số đoạn nhận định sau
比较合理的解释似乎只能是 ∶ 这些知识不是中国传统天文学体系中的组成部分, 所以对于当时大部分中国天文学家来说, 这些知识是新奇的, 与旧有知识背景格格不入的, 因而也是难以置信的.
So sánh giải thích hợp lý tựa hồ chỉ có một khả năng là∶ những tri thức này không phải là bộ phận trong hệ thống thiên văn học truyền thống của Trung Quốc, vì lẽ đó đối với đại bộ phận các nhà thiên văn học Trung Quốc thời đó mà nói, những tri thức này là mới mẻ, không ăn nhập gì với các tri thức cũ mà họ cho, vì thế rất khó chấp nhận.
其次, 在古代中国居传统地位的天文学说 ---- 浑天说中, 由于没有正确的地球概念, 是不可能提出寒暑五带之类的问题来的.
Hơn nữa, trong thuyết Hỗn thiên, thuyết thiên văn có địa vị (trung tâm) trong truyền thống cổ đại Trung Quốc, do không có khái niệm địa cầu chính xác, không thể có năng lực đề xuất các loại vấn đề liên quan tới thời tiết, khí hậu.
Để kết luận, tôi xin bày tỏ quan điểm cá nhân, người đọc tùy ý lựa chọn tin tưởng hay không: Khả năng Chu Bễ Toán Kinh là ngụy tạo dần dần từng chi tiết hoặc toàn bộ không phải là không có. Việc ngụy tạo sách vở cổ thư của Trung Quốc không phải là chuyện hiếm. Việc các tri thức về vũ trụ của Chu Bễ gần như bê nguyên xi từ Puranas là hiển nhiên. Khả năng trùng hợp (xảo hợp) rất hiếm hoi như lạc đà chui qua lỗ kim, tuy theo thuyết lượng tử không phải là không có tý xác suất nào. Tin ở những điều may rủi vu vơ như vậy, trong khi có quá nhiều điều hay và chắc chắn hơn, phụ thuộc bạn có quá nhiều thời gian không biết dùng làm gì hay không. Cuối cùng, dù là ngụy thư, tự phát minh hay sao chép, các kiến thức có giá trị trong Chu Bễ cũng nằm ngoài kiến thức chủ lưu của Trung Quốc trong suốt lịch sử cho đến Trung hoa Dân Quốc. Do đó không thể coi là tri thức thiên văn học Trung Quốc. Mặt khác các kiến thức này đều có ở Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ trước Chu Bễ rất nhiều. Những điều tôi nói đây không phải là suy đoán cá nhân, hay ý kiến của học giả phương Tây mà của các học giả Trung Quốc có lý trí và công bằng.
Tôi sẽ trở lại lịch tứ phân và việc người Trung Quốc biết một năm có 365.25 ngày từ khi nào sau vào một dịp khác.
Thứ Sáu, 30 tháng 9, 2016
LÝ THUYẾT CARTAN-EINSTEIN VÀ CUỘC PHIÊU LƯU ĐANG TIẾP DIỄN CỦA HÌNH HỌC.
Thứ Sáu, 27 tháng 11, 2015
Tranh chấp quyền tác giả về thuyết tương đối
Sau đó có rất nhiều tác giả, và thời gian gần đây lại rộ lên việc tranh chấp quyền tác giả với Einstein về các lý thuyết trên. Trong số những người ủng hộ Einstein, phần lớn là các nhà vật lý có tiếng như Kip Thorne, Pais, Logunov, các nhà triết học như Popper, Arthur Miller,.... Những người chống đối phần lớn là những kẻ đốt đền, một số người có ghế giáo sư vật lý nhưng các công trình cũng làng nhàng. Chỉ có Whittaker thực sự là nhà toán học xuất sắc. Một số người còn đi xa hơn Whittaker cho rằng lý thuyết tương đối rộng là của Hilbert hoặc đưa ra giả thiết Einstein đã đạo văn khi làm ở Cục Sáng chế và làm review cho Annalen der Physik.
Tôi không có nhiều thời gian tìm hiểu lịch sử và văn bản nên chỉ xem xét vấn đề dựa trên yếu tố chuyên môn. Đặc biệt: Lorentz và Hilbert là hai người có khả năng tranh chấp nhất về quyền tác giả cũng đã công nhận công lao về SR và GR thuộc về Einstein. Tôi sẽ lần lượt xét các điểm sau:
I. Về tổng thể: Nếu chúng ta xem xét SR và GR là một tổng thể, như một quan điểm mới về không thời gian, có lẽ vai trò của Einstein sẽ không cần tranh cãi. Lorentz và Poincaré không có gì để nói trong GR và Hilbert đương nhiên không có đóng góp trong SR.
![]() |
| Albert Einstein |
![]() |
| Heinrik Lorentz |
![]() |
| Henri Poincaré |
Về mặt chuyên môn, theo ý kiến của tôi như sau:
Về các công thức toán học cần thiết đã hoàn toàn đầy đủ nhờ công sức của Lorentz và giải nghĩa đầy đủ và sâu sắc của Poincaré. Tuy nhiên, SR không phải chỉ là toán học mà là nguyên lý tương đối và quan niệm không thời gian. Công lao của Poincaré, chính là việc hình thành nguyên lý tương đối, phân tích sự phụ thuộc về tính đồng thời vào hệ quy chiếu. Tuy nhiên, điều rõ rệt nhất là cả Lorentz và Poincaré đều phụ thuộc vào các hiện tượng điện học và Ête. Trong khi đó Einstein phát biểu SR dưới dạng nguyên lý phổ quát cho toàn bộ vật lý, bao gồm cả cơ học. Xuất phát điểm của Einstein là việc cho rằng ánh sáng truyền với vận tốc không đổi trong mọi hệ quy chiếu, trong khi Lorentz và Poincaré cho rằng ánh sáng truyền với vận tốc c so với Ête. Chính vì vậy, Poincaré cho rằng độ dài của vật chuyển động là ngắn lại.
Sau này chính Lorentz cũng khẳng định công lao của Einstein và cho rằng hạn chế của mình cũng là do không nhìn được ý nghĩa của SR như Einstein.
Như vậy có thể xếp hạng công lao như sau
1. Einstein: Phát biểu nguyên lý tương đối hẹp phổ quát cho toàn bộ vật lý. Quan niệm mới về không thời gian thống nhất. Loại bỏ Ête ra khỏi SR. Xây dựng SR dựa trên tiên đề ánh sáng truyền trong mọi hệ quy chiếu với vận tốc c.
Với cách nhìn của Einstein, SR mới trở thành nguyên lý phổ quát của vật lý và gắn chặt với quan niệm mới về không thời gian thống nhất. Einstein xứng đáng ở vị trí số 1 trong SR.
2. Lorentz: Xây dựng toàn bộ khung toán học cho SR (phép biến đổi Lorentz).
3. Poincaré: Cắt nghĩa sâu sắc cho các công trình của Lorentz. Đưa ra nguyên lý tương đối cho lý thuyết electron của Lorentz. Đặc biệt ông hiểu rất rõ vai trò của đối xứng quay và tịnh tiến. Vì vậy nhóm đối xứng không thời gian mang tên Poincaré là xứng đáng và là một bộ phận không thiếu được của SR. Trong các giáo trình về SR thường bỏ qua phần này (là sai sót lớn mà tôi đang bổ khuyết). Tuy nhiên, có một lý do là lý thuyết biểu diễn hoàn chỉnh nhóm Poincaré phải đợi tới E.Wigner mới có (1953).
4. E.Wigner: Sở dĩ Wigner không được nhắc tới trong các sách về SR vì mãi tới năm 1953 ông mới cho công bố các công trình biểu diễn nhóm Poincaré, làm nền tảng cho việc mô tả các lý thuyết tương đối tính. Có lẽ do các tác giả đã quen với các bộ sách kinh điển có từ trước không có lý thuyết biểu diễn nhóm Poincaré, một cột trụ quan trọng của SR theo cách nhìn của tôi
![]() |
| Eugene Wigner |
Trước khi chuyển qua việc tranh chấp quyền tác giả về EMC và GR, cần phải nói thêm rằng, có khá nhiều thêu dệt không có căn cứ về đóng góp của người vợ đầu của Einstein vào SR, hay chuyện bồ bịch của Einstein với Marie Curie đều không có căn cứ.
![]() |
| Herman Minkowski |
C. EMC: Nói đến Einstein thường người ta vẫn viết công thức E=mc^2 coi đó là kết tinh cao nhất của Einstein và trí tuệ của loài người. Thực ra công thức này không có gì cao siêu và hoàn toàn không đại diện cho đóng góp của Einstein. Công thức này được cái đẹp về hình thức, ngắn gọn hơn phương trình Einstein. Thêm nữa khá dễ hiểu và dễ bình luận về ý nghĩa: liên hệ giữa khối lượng và năng lượng. Cũng phải nói trước và ngắn gọn, việc quy công thức này hoàn toàn cho Einstein là không đúng và lỗi của truyền thông. Ngoài ra có một lỗi khác của Einstein là rất ít tham chiếu người khác.
Hãy điểm qua những người quan trọng nhất có thể tranh chấp về công thức này:
I. Newton: Từ 1704, Newton đã phát biểu "vật chất và ánh sáng chuyển hóa được qua nhau". Tất nhiên, nói như thế không thể đòi bản quyền về EMC.
2. S.T.Preston, 1875, trong một cuốn sách Vật lý của Ête đã có một ví dụ giải phóng năng lượng từ một hạt lúa có thể nâng 100 nghìn tấn lên độ cao 3km qua đó thể hiện EMC.
3. H.Poincaré, 1900, đã quy đổi năng lượng bức xạ điện từ E sẽ tương đương với khối lượng E/c^2 và gây ra xung lượng giật ngược lại hướng bức xạ.
4. Người đầu tiên phát biểu tường minh nguyên lý chuyển hóa khối lượng năng lượng là một doanh nghiệp gia người Ý tên là Olinto De Pretto, đã phát biểu tường minh E=mc2 trong một tạp chí khoa học bằng tiếng Ý, từ tháng 6/1903. De Pretto còn đang định soạn một cuốn sách về các kết quả khoa học liên quan, nhưng bị bắn chết năm 1921, trong một tranh chấp về kinh doanh. Do đó công trình của De Pretto không được cộng đồng khoa học biết nhiều. Những người chống Einstein lưu ý Einstein rất giỏi tiếng Ý để nghi ngờ ông đã ăn trộm được ý tưởng từ De Pretto.
5. F.Hasenohrf, 1904, đã công bố một công trình trong cùng một tạp chí mà một năm sau Einstein công bố công trình có liên quan tới EMC. Có thể nói đây là dẫn xuất khoa học đầu tiên cho công thức EMC. Nhưng tiếc thay ông lại tính sai một chỗ, nên hệ số của công thức không đúng E=4/3mc2.
6. A.Einstein, 1905, suy ra được sự thay đổi khối lượng dẫn đến sự thay đổi khối lượng dE=dmc^2, tức là E=mc^2 nếu khối lượng chuyển hóa hoàn toàn thành năng lượng. Công thức có thể áp dụng cho trường hợp phổ quát. Tuy nhiên, nhiều người nói rằng dẫn xuất của Einstein không chặt chẽ và không phổ quát, vì chỉ ở trong một phép xấp xỉ. Einstein có trích dẫn Poincaré như là một trường hợp riêng đối với bức xạ điện từ.
7. M.Planck, 1907, đưa ra một chứng minh chặt chẽ cho sự thay đổi năng lượng và khối lượng phổ quát, có trích dẫn "Einstein đã có cùng kết quả". Planck cho rằng dẫn xuất của Einstein không chặt chẽ và lập luận trong một phép xấp xỉ. Do đó, Stark năm 1908 trích dẫn Planck mà không nhắc tới Einstein, làm Einstein bực tức.
Kết luận:
a.Vai trò của Einstein đối với công thức EMC không đóng vai trò tiên phong như SR, GR. Do đó EMC cần ghi công nhiều người.
b. Công thức này tuy có ý nghĩa lớn nhưng không có những concept sâu sắc vốn là thế mạnh của Einstein so với những người khác.
c. Ý tưởng liên quan tới công thức này đều đã bàng bạc trong cộng đồng trước khi Einstein công bố công thức này.
d. Dẫn xuất của Eisntein chưa thực sự tổng quát và thuyết phục.
e. Cá nhân tôi dựa trên hiểu biết về văn bản gốc còn hạn chế, cho rằng công lao số 1 vẫn là của Einstein và Poincaré, công lao số 2 thuộc về Planck. Công lao số 3 thuộc về Hasenohrl. Cũng nên nhắc tới Preston và De Pretto. Còn Newton thì quá mờ nhạt. Vả chăng tất cả mọi concept của vật lý và hệ thống thế giới đều bắt đầu từ Newton. Thiết tưởng nhắc tới ông trong một công thức nhỏ bé thế này là thừa.
![]() |
| Albert Einstein |
![]() |
| Henri Poincaré |
![]() |
| Max Planck |
![]() |
| Friedrich Hasenohrl |
| Olinto De Pretto |
Trong các tranh chấp về thuyết tương đối thì tranh chấp về GR là đáng chú ý hơn cả. Một là các lý lẽ về việc tranh chấp này thú vị và có ý nghĩa cần bàn cãi hơn. Hai là tầm cỡ và độ tinh vi của vấn đề này cao hơn, quả thật đáng là vấn đề để tranh chấp hơn. Ba là trong cuộc tranh chấp này chỉ có hai người đó là A.Einstein và D.Hilbert.
Cần phải nói thêm rằng đây là một cuộc tranh chấp mang tính giả tưởng giữa hai nhóm hậu sinh muốn thắng. Hilbert hoàn toàn không có ý tranh chấp và công nhận công lao của Einstein. Có đôi chút va chạm và căng thẳng giữa hai nhà bác học, chủ yếu là do tính cách của Einstein, và họ đã giảng hòa rất nhanh.
Một điều khác là các tác giả tạo dựng nên cuộc tranh chấp này cũng đã thổi phồng từ tranh chấp về phương trình Einstein thành việc tranh chấp về GR. GR không chỉ là một phương trình trường, cũng như cơ lượng tử không phải chỉ là phương trình Schrodinger hoặc đại số ma trận, cũng như toán giải tích không chỉ là luật tính đạo hàm Leibnitz. Cho dù Hilbert là người duy nhất viết ra phương trình Einstein và chúng ta có thể phải gọi đó là phương trình Hilbert, cũng chỉ có một GR duy nhất đó là GR của Einstein và cũng chỉ có một tác giả duy nhất của lý thuyết này, đó là Albert Einstein.
Chúng ta hãy điểm qua lịch sử của vấn đề, đặc biệt là các chi tiết liên quan tới chuyên môn mà thường bị bỏ qua. Cho đến năm 1912, D.Hilbert chỉ là một nhà toán học thuần túy. Mọi trao đổi về vật lý đều qua bạn thân là H.Minkowski, là thầy dạy hình học cho Einstein. Năm 1905, họ cùng tổ chức seminar chung về một số vấn đề hình học và toán lý. Cũng cần phải đánh giá vai trò của H.Minkowski trong lý thuyết tương đối. Năm 1907, sau khi lý thuyết tương đối hẹp ra đời, Minkowski đã đề xuất khái niệm sau này gọi là không gian Minkowski, khi đó được gọi là "Đại số không thời gian" cho phép mô tả SR, lý thuyết điện từ của Maxwell trong một hình thức rất đẹp đẽ, ngày nay gọi là dạng hiệp biến. Ban đầu Einstein cho đó chỉ là một thủ thuật toán học. Nhưng rất nhanh, ông nhận thấy không gian Minkowski chứa đựng tiềm tàng khả năng thay đổi cấu trúc không thời gian và nhúng các ý tưởng hình học vào vật lý để mô tả tương tác hấp dẫn. Vì vậy, không gian Minkowski là bước đệm rất quan trọng để chuẩn bị cho GR. Vì vậy, trong 8 năm, 1907-1915 Einstein đã cùng các cộng sự chuẩn bị cho sự ra đời của GR.
Minkowski không phải là người nắm vững cấu trúc toán học, ý nghĩa vật lý và triết học của SR như Lorentz, Poincaré hay Einstein, do đó ông chỉ tiếp thu các ý tưởng của Einstein và đưa ra một số cách trình diễn mới với tư cách là một nhà hình học. Do đó, có thể nói rằng kiến thức vật lý của D.Hilbert vào khoảng 1909 khi Minkowski qua đời không sâu sắc. Tuy nhiên, ông được truyền cảm hứng từ Minkowski về khả năng hình học có thể trở thành cơ sở của vật lý.
Do đó từ năm 1912, Hilbert đắm mình vào nghiên cứu vật lý, không làm bất cứ việc gì khác. Thậm chí, ông thuê cả gia sư để hướng dẫn mình học vật lý, nghiên cứu động học chất khí, lý thuyết điện từ của Mie. Có giáo sư đến thăm Gottingen thuật lại là ông phải đợi 10 ngày mới gặp được Hilbert vì Hilbert đóng cửa nghiên cứu vật lý.
Vào khoảng thời gian này Einstein đã cùng Grossmann công bố lý thuyết và các phương trình đầu tiên về GR. Đây là một quá trình vật lộn, mà Einstein dùng phương pháp sai thử để dần dần hoàn thiện phương trình cần tìm. Điều này tương tự như các nhà vật lý đã làm trong những năm 80 của thế kỷ trước để xây dựng lý thuyết siêu hấp dẫn (supergravity-SUGRA). Như Kip Thorne sau này mô tả, Einstein đã đi từ sai lầm này sang sai lầm khác. Điều đó có thể lý giải là hình học phi Euclide vào thời gian này còn là một lĩnh vực rất khó để hiểu ngay cả đối với các nhà toán học, chưa nói đến phát triển các công cụ tính toán để ứng dụng cho vật lý. Do đó Einstein tiến bộ khá chậm trong việc nắm vững các concept toán học, hiểu rõ ý nghĩa của chúng để xây dựng các khái niệm vật lý mới, đồng thời mài giũa các công cụ tính toán. Điều quan trọng nhất là khi đó ý nghĩa của nguyên lý hiệp biến và nguyên lý phẳng địa phương chưa được hiểu sâu sắc và Einstein phải một mình làm việc đó. Nếu ai đã trải qua một quá trình nghiên cứu tương tự mới hiểu được khối lượng công việc này lớn hơn so với việc tìm một nguyên lý và phương trình trường như thế nào.
Tuy nhiên ngay từ năm 1912, Einstein đã có một hệ thống khái niệm tổng thể tương đối hoàn chỉnh đến mức ông đã cho triển khai tính toán để kiểm tra thực nghiệm GR là giải thích sự dao động quỹ đạo sao Thủy. Sau này, trong tháng 11 lịch sử khi Einstein và Hilbert chạy đua trong việc hoàn thành phương trình Einstein, khi gửi thư chúc mừng Einstein về công trình tính toán này, Hilbert đã bày tỏ sự ngưỡng mộ và không thể hiểu nổi tại sao Einstein lại có thời gian để thực hiện được các tính toán về quỹ đạo sao Thủy vào lúc đó. Gần đây, các tác giả Renn và Stachen đã đưa ra một so sánh rất khập khiễng là Hilbert bắt đầu nghiên cứu GR trong vòng 1 năm rưỡi và cùng đến đích với Einstein làm việc trong 8 năm. Điều đó có nghĩa là theo Renn-Stachen GR chỉ gồm có phương trình trường. Thực ra, Einstein đã thực hiện một khối lượng công việc lớn gấp nhiều lần, trong đó là hệ thống khái niệm về không thời gian, sự phù hợp với các nguyên lý vật lý, các hệ quả thực nghiệm và Hilbert cũng được thừa hưởng trực tiếp bởi vô số trao đổi thư từ và một loạt 6 bài giảng 3 tiếng tại Gottingen, khi ông mời Einstein đến đó một tháng vào tháng 6 năm 1915.
Cho đến bây giờ nhìn lại, thì Hilbert đã dẫn xuất được phương trình Einstein G_{\mu \nu} = \lambda T_{\mu \nu} từ yêu cầu độ cong Ricci của không thời gian phải tối thiểu một cách đẹp đẽ. Einstein thì phải mò ra phương trình này gần như đồng thời sau nhiều phép sai thử.
Sau khi Einstein ra về, giữa Hilbert và Einstein có rất nhiều thư từ trao đổi. Einstein có viết cho Sommerfeld rằng vào thời gian đó chỉ có một người "đồng nghiệp" có thể hiểu được công việc của mình và người đó chính là Hilbert. Bắt đầu từ tháng 11 là cuộc chạy đua thực sự giữa Einstein và Hilbert: tiến bộ đo bằng từng ngày. Tất nhiên cả hai người và cả nhân loại được hưởng lợi từ cuộc chạy đua này.
Cuối cùng Hilbert đã gửi bản thảo 5 ngày trước Einstein vào ngày 20/11/1915. Tuy nhiên, bài báo của Einstein được đăng vào ngày 2/12/1915 trong khi bài báo của Hilbert được đăng vào tháng 3/1916 với chú thích là có bản sửa chữa. Bài báo này cũng nhắc đến kết quả của Hilbert trùng với các kết quả "tuyệt vời" của Einstein. Nhiều người đặt vấn đề: như vậy Hilbert đã phát minh ra phương trình Einstein trước Einstein 5 ngày. Năm 1997, người ta phát hiện ra một bản bông của Hilbert khác biệt khá nhiều so với nội dung công bố vào tháng 3/1916. Đặc biệt, trong bản này hoàn toàn không có phương trình Einstein. Như vậy, có thể giả thiết là sau khi đọc công trình của Einstein, Hilbert đã bổ sung chỉnh sửa bản thảo để có dạng hoàn thiện cuối cùng kể cả phương trình Einstein. Einstein cũng đã gửi bản thảo của mình cho Hilbert trước khi công trình được in ra.
Tuy nhiên câu chuyện chưa chấm dứt ở đó. Người ta cũng phát hiện ra bản bông đó thiếu một số trang. Có người đã giả thiết rằng trong những trang thiếu đó có phương trình Einstein và có một âm mưu thay đổi lịch sử của ai đó có lợi cho Einstein. Tất nhiên đây hoàn toàn là suy diễn ngụy tạo và hoàn toàn có thể đặt vấn đề việc thay đổi này có lợi cho Hilbert là người có nhiều quyền truy cập tới bản bông hơn.
Về cá nhân giữa Einstein và Hilbert thực tế cũng đã xảy ra một số va chạm nhỏ. Einstein đã phàn nàn với một số người về việc người đồng nghiệp duy nhất hiểu công trình của mình đã có toan tính giành công lao. Hilbert, tuy trong công trình nhắc đến kết quả "tuyệt vời" của Einstein, nhưng cũng có nhắc tới "my theory" (lý thuyết của tôi) trong thư gửi Sommerfeld và Schwarzchild. Thực ra, Hilbert cho dù có phát hiện ra phương trình Einstein cũng không thể có theory riêng, ông chỉ là người phát hiện ra phương trình hoặc chỉ tìm ra cách dẫn xuất ra phương trình này từ nguyên lý biến phân độ cong Ricci. Một vấn đề thuần túy kỹ thuật và hình thức mô tả. Điều đó cũng làm Einstein bực tức và gọi lý thuyết đó là "vô nghĩa".
Mặt khác trong công trình của Hilbert cũng có một câu thường bị giải nghĩa sai là: "các kết quả của tôi trùng với các kết quả trong công trình "muộn hơn" của Einstein". Nhiều người giải nghĩa rằng Hilbert muốn nhấn mạnh Einstein đã phát hiện ra phương trình Einstein sau mình. Tuy nhiên, nếu đọc kỹ sẽ thấy đang Hilbert tham chiếu các công trình khác nhau của Einstein, "muộn hơn" là dùng để so sánh thứ tự các công trình của Einstein với nhau. Tất nhiên, không loại trừ Einstein cũng bị ai đó kích động bởi câu viết này nên mới có phản ứng gay gắt.
Đến tháng 6/1916, Einstein đã chủ động đề nghị dàn hòa với Hilbert. Trong một bài review năm 1924, Hilbert đã hết sức tán dương và đề cao công lao của Einstein.
Đến đây có thể kết luận như sau:
1. Va chạm giữa Einstein và Hilbert không có gì lớn. Giống như va chạm giữa hai cầu thủ trên sân bóng rồi lại bắt tay nhau sau trận đấu. Trong không khí chạy đua sự căng thẳng dẫn đến va chạm là bình thường. Trầm trọng hóa là sản phẩm của đời sau, không loại trừ yếu tố muốn có danh tiếng rẻ tiền.
2. Công lao về GR hàng đầu thuộc về Einstein, không phụ thuộc và phương trình Einstein và hàm tác dụng Hilbert-Einstein. Từ năm 1907, thực chất Einstein đã gánh toán bộ công việc xây dựng GR, một trong những kiến trúc lý thuyết đẹp đẽ nhất của nhân loại. Sau này Einstein nói lý thuyết này hoàn hảo về mặt logic đến nỗi chỉ một hệ luận có vấn đề sẽ làm sụp đổ toàn bộ lý thuyết. Không giống như các lý thuyết thống nhất ngày nay, người ta có thể thay đổi thoải mái rất nhiều chi tiết mà vẫn "phù hợp".
3. Hilbert có phần đóng góp quan trọng để phương trình Einstein ra đời được vào năm 1915, cho dù Einstein là người phát minh ra nó. Việc dẫn xuất ra phương trình này một cách đẹp đẽ là nhờ Hilbert. Nhưng người hiểu phương trình này sâu sắc để tính được dịch chuyển đỏ, dao động quỹ đạo sao Thủy, sóng hấp dẫn,... là Einstein.
4. Nếu không có sự giúp sức của Hilbert Einstein có thể sẽ phát hiện phương trình Eisntein muộn hơn, chẳng hạn vào năm 1916. Nhưng không có sự giúp sức của Einstein, Hilbert chắc chắn không có đóng góp cho vật lý.
5. Công lao số 1 và duy nhất cho GR thuộc về Einstein, nếu chỉ nói theo lý. Vì trước khi công trình được đăng tác giả vẫn có thể sửa đổi bản thảo, do đó không thể lấy lần gửi đầu tiên làm căn cứ. Mọi suy diễn chỉ là giả thiết vô căn cứ. Về mặt thực chất cần phải hiểu rõ GR không chỉ đơn thuần là một hàm tác dụng hoặc một phương trình trường.
6. Công lao số 2 về GR thuộc về E.Cartan với các phương trình cấu trúc sau đó gần 20 năm. Điểm này tôi sẽ phân tích kỹ hơn khi có dịp. Lý thuyết GR trở nên đẹp đẽ và dễ hiểu là nhờ hình thức luận Cartan. Lý thuyết hấp dẫn Einstein-Hilbert-Cartan, còn chứa đựng những nội dung vật lý mới.
7. Hilbert đóng vai trò số 3 và chỉ giới hạn ở phương trình Einstein và hàm tác dụng Hilbert-Einstein. Cùng vị trí số 3 này có cả người bạn thân Minkowski của ông. Nếu thiếu các ký hiệu hình thức của Minkowski có lẽ sẽ khó mà có được phương trình Einstein ở dạng đẹp đẽ như thế.
![]() |
| Albert Einstein |
![]() |
| Élie Cartan |
![]() |
| David Hilbert |









