1. Chúng ta thường có một niềm tin ngây thơ rằng nếu cố gắng tìm chân lý, thoát khỏi mọi định kiến tôn giáo, ý thức hệ, lịch sử sẽ trở thành một khoa học khách quan.
LĨNH VỰC
- Công nghệ Việt Nam
- Kỹ năng sống
- Lịch sử - Địa chính trị
- Ngôn ngữ
- Nhàn phiếm
- Tư duy về thế giới
- Văn nghệ
Thứ Sáu, 10 tháng 6, 2022
Lịch sử và căn tính dân tộc,
Căn tính và bi kịch của một dân tộc
1. Trong "Bi kịch của Trung Âu", Milan Kundera cho rằng bi kịch của Trung Âu là việc đi tìm căn tính Âu châu chống lại thể chế toàn trị phương Đông. Các dân tộc nhỏ ở Trung Âu phải vật lộn để xác lập căn tính đó. Ông cho rằng đế chế Áo-Hung đã từng là một giải pháp khả dĩ và bền vững để hình thành một quốc gia đa sắc tộc, mà mỗi dân tộc nhỏ sẽ đóng góp bản sắc vào quốc gia lớn mà không làm mất bản sắc của mình. Ông đúng khi cho rằng Trung Âu đã đóng góp những giá trị tốt đẹp nhất và to lớn cho Âu Châu.
Thứ Năm, 11 tháng 11, 2021
[Sử Việt] Danh tướng Nguyễn Đa Phương
Nguyễn Đa Phương là con danh tướng Nguyễn Nạp Hòa còn gọi là Sư Tề, do ông là thầy dạy võ nổi tiếng. Nạp Hòa chỉ huy vệ Thần Võ, được phong làm Bình Man Đại tướng Quân. Trong chiến dịch đánh Chiêm Thành, ông làm phó chỉ huy cho Đại tướng Đỗ Lễ. Quân ta kéo sâu vào hiểm địa, quân Chiêm đã phục sẵn, vua Duệ Tông không nghe lời can của Đỗ Lễ mang quân vào hiểm địa, mắc phục binh, toàn quân bị tiêu diệt. Các đại tướng Đỗ Lễ, Nguyễn Nạp Hòa, Phạm Huyền Lệnh đều bảo vệ vua đến phút cuối và tử nạn cùng với vua. Nguyễn Đa Phương là cha của danh tướng Nguyễn Cảnh Chân nhà Hậu Trần, chính là ông tổ của dòng họ Nguyễn Cảnh.
Thứ Bảy, 8 tháng 10, 2016
Vũ Tường – Đọc Việt Nam 1946: Chiến tranh đã bắt đầu ra sao
Thứ Ba, ngày 31 tháng 8 năm 2010
Đăng lại từ Talawas
Thứ Sáu, 11 tháng 3, 2016
Nước Việt cổ có phải là Việt Thường
Thứ Hai, 9 tháng 3, 2015
Giả thuyết về Thời gian Ma
Dễ thấy và khách quan nhất là ngày xuân phân và ngày thu phân (equinoxes) là ngày có thời gian ban ngày bằng thời gian ban đêm. Điều đó gây khó chịu cho Giáo Hoàng Grigory XIII, khi ông thấy ngày lễ Phục Sinh ngày càng rời xa ngày xuân phân, trong khi lịch sử giáo hội đã ghi nhận lúc đầu, ngày Phục sinh rơi vào ngày xuân phân. Năm 1582, Giáo hoàng Grigory XIII ra lệnh cải cách lịch và ban hành lịch Grigorian. So với lịch Juilan, lịch Grigorian được điều chỉnh 10 ngày, ngày Phục sinh được điều chỉnh lại để rơi đúng vào tiết xuân phân.
Bên cạnh đó, Heribert Illig còn tìm ra hàng loạt lý lẽ khác trong lĩnh vực kiến trúc, trong thư tịch của Hồi giáo để khẳng định kết luận của mình. Tất nhiên, cũng có rất nhiều lý lẽ phản bác Giả thuyết Thời gian Ma. Theo phong cách phương Tây, hễ đã định bàn chuyện gì là họ tìm hiểu đến nơi đến chốn, dù chống phá hay ủng hộ khác với kiểu bàn luận nhợt nhạt về lý luận, nhưng không thiếu trợn mắt, quát nạt, kết quả cứ vòng vòng như kiến bò miệng chén của Á Đông. Chẳng hạn là khi so sánh với các sự kiện trong lịch sử Trung Quốc, số liệu thiên văn học. Đáng chú ý, có một số học giả khác cũng có các giả thuyết tương tự, như Anatoly Fomenko, một nhà toán học Nga cũng đưa ra Giả thuyết về Trật tự thời gian mới (New Chronology) và còn đi xa hơn, cho rằng hơn 1000 năm bị mất tích.
Việc kiểm tra các giả thuyết này, dù là lý thú, nhưng đối với Việt Nam là quá xa xôi và không có nhiều ích lợi cụ thể. Tuy vậy, Lịch sử Việt Nam cũng có một khoảng Thời gian Ma trong triều đại của 18 vua Hùng, khi đối chiếu với Lịch sử Trung Quốc, kéo dài từ trước thời Tam Hoàng đến tận thời Tần-Hán kéo dài trên 2600 năm. Sự tồn tại của Thời gian Ma trong thời đại Hùng Vương không chỉ là một giả thuyết, mà có bằng chứng chắc chắn. Tuy nhiên, khác biệt ở chỗ không có nhiều quan tâm của giới học giả để giải đáp câu hỏi này. Lý do có thể ở chỗ ngay cả sự tồn tại của thời đại Hùng Vương cũng không hề có cơ sở rõ ràng. Có lẽ cần đặt câu hỏi câu chuyện về Thời đại Hùng Vương bắt đầu từ bao giờ? Có người cho rằng Sư Vạn Hạnh đã sáng tạo ra câu chuyện này để làm cơ sở pháp lý và ý thức hệ cho Đại Việt, khi Lý Thái Tổ lên ngôi. Gần đây có những thuyết mới về Hồng Bàng Thị thấm đẫm các học thuyết âm mưu và chủ nghĩa dân tộc. Các nghiên cứu mới nhất về ngôn ngữ Việt cổ còn lại trong các thư tịch cổ Trung Hoa gần đây cho thấy rằng các đoạn văn tự này phần lớn liên hệ tới ngôn ngữ Thái. Đó cũng là một cảnh tỉnh đối với cách nghĩ dân tộc chủ nghĩa Viet-centric. Chắc chắn vào thời Hùng Vương, việc có một nhà nước tập quyền phong kiến với triều đình gồm hai ban văn võ Lạc hầu, Lạc tướng trong một vương quốc được tổ chức hành chính chặt chẽ với 15 bộ chỉ là tác phẩm của trí tưởng tượng. Tuy nhiên, có thể giả thiết rằng, sư Vạn Hạnh đã sáng tạo ra một thời kỳ dựa trên những câu chuyện thần thoại, huyền sử rải rác trong dân gian và còn lưu lại một chút ký ức về thời hoang sơ, khi mà khái niệm người Việt còn chưa thành hình. Dù thế nào đi nữa, có lẽ ví dụ về Thời gian Ma cũng điển hình cho cách tư duy người Việt, cảm tính, sốt ruột, coi thường mọi lý luận nhưng lại hay lý sự.
Thứ Bảy, 12 tháng 7, 2014
Hội chứng ký ức giả tạo của Trung quốc
Thứ Bảy, 12 tháng 4, 2014
Về hành trình di cư và định cư của tổ tiên người Việt
Sau này Bách Việt, dưới sức ép của Hoa Hạ, Mông Cổ lại Nam tiến theo hai hướng Tây Nam và Nam.
Năm 2008, tôi có dịp sang Etiopi, tự nhiên tôi có một giao cảm thân thiện với vùng đất này, như mình đã biết vùng đất này từ lâu. Ban đêm, tôi cũng có những giấc mơ kỳ lạ nhưng hết sức dễ chịu trong suốt thời gian ở đây. Âu cùng là một điều kỳ lạ.
Bài này post nguyên bản tiếng Anh đã lâu. Cho đến hôm nay mới dịch, cắt bớt râu ria và viết thêm vài đoạn tóm lược cho rõ nghĩa.
Trích dịch từ bài của J.A.Edmondson, "Sức mạnh của ngôn ngữ đối với quá khứ: định cư của người Thái và ngôn ngữ Thái ở Nam Trung Hoa và Bắc Việt Nam" ("The power of language over the past: Tai settlement and Tai linguistics in southern China and northern Vietnam")
Tóm lược ý tưởng chính: Trong khi các nghiên cứu ban đầu về gien đã đưa ra các bằng chứng về sự di cư của các chủng tộc ở Đông Nam Á và Trung Hoa, nghiên cứu về ngôn ngữ đưa ra một số thông tin bổ sung khác về quan hệ họ hàng huyết thống của các tộc dân vùng Đông Nam Á. Qua đó chúng ta hiểu rõ thêm khái niệm người Việt và người Bách Việt. Bài tiếp sau sẽ nói về các thông tin nguồn gốc chủng tộc cất dấu trong ngôn ngữ.
Phần 1 Quá khứ xa xưa được đổi tên mới và lược bớt phần cuối tóm lược những thông tin hành trình di cư và định cư của tổ tiên người Đông Á dựa trên các bằng chứng về gien.
Về hành trình di dân và định cư của tổ tiên người Việt
Những phát hiện tiếp theo sau thời kỳ Đỉnh Điểm Băng Hà 25.000 năm trước đây có thể xem như thuộc về Homo sapiens. Chúng ta biết về sự di cư của nòi giống của chúng ta vì đã có (1) đột biến di truyền ngẫu nhiên và tiếp theo là (2) những động lực và hiệu ứng trôi ngẫu nhiên có chọn lọc đã xác định được một mã DNA rõ ràng mới của một gen sau đó trở thành cố điểm định trong quần thể dân số.
1. Như vậy, trong trường hợp này, một đột biến, có lẽ tương tự như sự khác biệt về nhóm máu, dẫn đến các đơn bội hình M168 của nhiễm sắc thể Y ở nam giới có ở một nhóm người Homo sapiens Châu Phi. Chính những người mang đột biến này đã rời bờ phía đông của Hồng Hải vào khoảng 80 thiên niên kỷ trước đây.
Các bộ sưu tập của các đơn bội hình như thế, gọi là các nhóm đơn bội hoặc các đánh dấu đa phôi một nucleotide (SNP) đánh dấu, có thể được nghiên cứu trong các quần thể dân cư ngày nay bằng cách thu thập mẫu di truyền của các nhóm dân cư và xác định tỷ lệ phần trăm của chúng về các nhóm đơn bội cụ thể. Sau đó, dữ liệu nhiễm sắc thể Y này có thể được sử dụng để phân tích phân bố tần suất của các đánh dấu trên khắp một khu vực địa lý và để tạo ra bản đồ đường bao, cho phép chúng ta biết về con đường và niên đại di cư của họ.
Khoảng 35.000 năm sau đó, nhóm đơn bội F (M89) đã xuất hiện ở Châu Phi và có thể cả Trung Đông. Nhiều người ở lại đó nhưng những người khác tiếp tục di chuyển về phía đông để kiếm sống. Nhóm này có ý nghĩa quan trọng đối với chúng ta, vì người ta tin rằng họ đại diện cho một "làn sóng phát triển thứ hai" từ Châu Phi. Do đó, một nhóm hậu duệ của những người đánh dấu bằng M89 SNP mang đánh dấu M9, xuất hiện khoảng 35.000 năm trước đây trong một người ở Iran.
Đơn bội hình này ngày nay đã được tìm thấy trong mọi người Châu Á. Một hậu duệ sau nữa của đơn bội hình M9 là M175, chỉ tìm thấy được ở nam giới Châu Á; người mang đánh dấu di truyền này đã được sinh ra khoảng 30.000 năm trước đây. Người này đã đi cùng với với một nhóm tới Đông Á, nơi họ bị ngăn cản việc tiếp tục di chuyển bởi các dãy núi cao và nhiệt độ vẫn còn lạnh cóng.
Một số con cháu của người này vẫn còn lại ở Đông Nam Á và phát triển thành các quần thể thổ dân vẫn còn tìm thấy ở đó, ví dụ như các quần thể Austro-Asiatic, xen kẽ với các chủng "Phi" ("Negritos") đã có mặt từ trước ở Malaysia, Andamans, và Philippines, những người đã đến trong "làn sóng đầu tiên" của những người Phi đến định cư ở châu Á, có lẽ vào 80 ngàn năm trước hay hơn nữa, xem công trình của Leroi (2005).
Những người ở gần vùng Thượng Hải, được gọi là 老 越 Lão Việt, được hấp thụ trong thế kỷ 4 trước công nguyên, bởi những người nhập cư Hoa Hạ / Miêu-Dao di chuyển vào khu vực này. Những người Hoa Hạ đến phương nam vào một thời điểm muộn hơn đã hòa trộn với các quần thể dân cư phía nam, như các tư liệu di truyền của những người con cháu họ cho thấy. Kết quả này là khẳng định của các tài liệu lịch sử nói rằng người Hoa Hạ, và các dân tộc T-B phía bắc đã di chuyển về phía đông nam và tây nam, người Hoa Hạ vào lãnh thổ Bách Việt, có lẽ sau khi đã hòa trộn sớm hơn với một số với quần thể dân cư Miêu-Dao của Hồ Bắc/Hồ Nam, xem Wen và đồng sự (2004).
