Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử - Địa chính trị. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử - Địa chính trị. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 10 tháng 6, 2022

Lịch sử và căn tính dân tộc,

     1. Chúng ta thường có một niềm tin ngây thơ rằng nếu cố gắng tìm chân lý, thoát khỏi mọi định kiến tôn giáo, ý thức hệ, lịch sử sẽ trở thành một khoa học khách quan.

2. Đã đành rằng lịch sử nên dựa trên khách quan một cách nhiều nhất có thể. Tuy nhiên, lịch sử không thể nào hoàn toàn khách quan, theo tiêu chí của khoa học tự nhiên (nói cho cùng khoa học tự nhiên cũng có rất nhiều điều mặc định).
3. Có thể tạm chia 2 phong cách viết sử: Trung Quốc và Hy-La. Sử Trung Quốc có thể chia loại Truyện-Sử ký, Toàn Thư và Thực Lục, với mức độ chân thực cao dần. Mẫu mực của Hy-La gồm 3 nhà cổ điển Heredotus, Thucidides và Tacitus với phong cách gần tương tự về độ chân thực như sử Trung Quốc. Tacitus có phong cách ghi chép tỉ mỉ chính xác gần như Thực lục. Trong khi Heredotus gần với Truyện-Sử Ký.
4. Tuy Heredotus cũng nhấn mạnh tính chân thực lịch sử, nhưng ông cũng nhận ra rằng trong lịch sử có những khoảng tối và tranh tối tranh sáng không thể nào làm rõ. Tôi nhớ một lần lái một chuyển xe tải một mình vào lúc 4 giờ sáng tới vùng biên giới ba tiểu bang New York-New Jersey-Pensylvania. Nơi đây là chân rặng núi Apalachia hùng vĩ, dọc theo những khe nước lớn, tuyệt đẹp, lúc ẩn lúc hiện, trong tranh tối tranh sáng trước bình minh. Tôi chợt nhận ra rằng lịch sử bắt đầu bằng những bút ký mà ở đó cách nhìn cá nhân có vai trò quyết định. Nếu như vậy, con người đi tìm chân lý lịch sử sẽ luôn có những cách nhìn của riêng mình.
3. Chúng ta không thể bắt các sự kiện lịch sử lặp lại như trong khoa học tự nhiên để kiểm chứng. Vì vậy, luôn cần có những giả thiết bổ sung. Các giả thiết này phụ thuộc vào nhãn quan, trực cảm của người viết và người cảm nhận lịch sử. Và cũng có những quy tắc và mỹ học của nó. Lịch sử cũng phải mở cho các khoa học khác vào để mô phỏng kiểm chứng, khi chúng ta "giải thích" xã hội, tự nhiên bằng lịch sử. Và ngược lại các ngành khoa học khác cũng đưa đến cách nhìn mới về lịch sử.
4. Chính vì thế các sử gia đương đại luôn có những phóng chiếu của mình về lịch sử vào các vấn đề đương đại. Vì vậy lịch sử sẽ là đề tài có thể khai thác mãi mãi. Người ta có quyền làm điều này vì rất nhiều sự kiện, thời kỳ lịch sử không đủ sử liệu để tái hiện một bức tranh hoàn chỉnh và có ích. Việc bổ sung vào các trực quan hoặc ý đồ khác nhau sẽ có những bức tranh khác nhau. Vấn đề của lịch sử không phải là bức tranh nào đúng hơn bức tranh nào mà là trực cảm lịch sử và liên tưởng tới các vấn đề hiện tại, hoặc các giá trị tinh thần lâu dài. Có những tiêu chuẩn mĩ học cho trực cảm lịch sử, chứ không phải là mọi lựa chọn bừa bãi là bình đẳng. Cũng như con người ta bình đẳng nhưng sẽ có vấn đề nếu coi một cách hành xử man dại ngang hàng với cách hành xử văn minh.
5. Chúng ta hãy suy nghĩ tiếp về quy luật vận động của các trực cảm lịch sử. Điều gì chi phối quy luật này? Có thể có nhiều yếu tố khác nhau, nhưng tôi muốn nhấn mạnh tới sự hình thành căn tính dân tộc, bởi có lẽ đây là động lực quan trọng và cũng đầy cạm bẫy nhất.
6. Đặc trưng quan trọng thứ hai của lịch sử là làm bệ đỡ cho căn tính của dân tộc. Các dân tộc có thể cùng phát triển đến một điểm đến, ở một nền văn minh có thể giống nhau và có thể cùng một xuất phát điểm ở châu Phi, Lưỡng Hà, hay ở chân Hy Mã Lạp Sơn, châu thổ sông Hồng hay sông Hoàng. Sự khác biệt rõ ràng không chỉ phụ thuộc vào điểm đầu hay điểm cuối mà còn phụ thuộc vào con đường nối giữa hai điểm đó. Đó chính là lịch sử và tạo ra một căn tính khác biệt. Và sự khác biệt sẽ quyết định bước đường tiếp theo. Điều đó không chỉ đúng cho một dân tộc mà còn đúng cho mỗi con người.
7. Có rất nhiều yếu tố ngẫu nhiên quyết định bước đi lịch sử của một dân tộc. Nhưng cũng có những lựa chọn tạo nên căn tính dân tộc. Lựa chọn như thế có thể tạo nên bi kịch, anh hùng ca hoặc một may mắn trường tồn. Điều trớ trêu của lịch sử là phần lớn các lựa chọn đều ngẫu nhiên. Nhưng đôi khi có những con người, có những thời điểm, có thể có các lựa chọn có tính quyết định, tạo thành sự bại vong hay vinh quang của dân tộc.
8. Lựa chọn thường phải dựa trên một hình dung về căn tính dân tộc cần hướng tới. Những dân tộc có tính cách yếu ớt, không hợp xu thế đều phải trả giá, có khi phải diệt vong. Người ta nói tính cách đẻ ra số phận chính là như thế. Sự lựa chọn này đôi khi phải quằn quại, đau khổ, rất nhiều rủi ro và hung hiểm.
9. Từ thời Lý chúng ta đã lập quốc nhờ một căn tính cơ bản nào đó và có được một bộ sử phần lớn dựa trên dã sử, có thể là sự sáng tạo của một vài người và được chấp nhận như một khế ước cộng đồng đầu tiên. Tuy nhiên vài trăm năm sau, tới tận thời Trần, Hồ, Lê, căn tính này vẫn phải tiếp tục hình thành và vẫn còn dẫn tới ngoại xâm, phân tranh để căn tính này ngày càng vững chắc hơn.
10. Căn tính dân tộc tốt là một căn tính vững chắc nhưng phải đủ mềm dẻo và linh hoạt, có độ dung sai tốt, có thể kiện toàn và thích ứng. Một căn tính dân tộc quá cứng rắn trở thành tinh thần dân tộc chủ nghĩa quá khích, trong trường hợp may mắn thì làm đất nước mãi đóng cửa lạc hậu , trường hợp xấu hơn có thể tan đàn sẻ nghé, chiến tranh địch họa liên miên.
11. Tôi không lo lắng với sự đe dọa từ ngoại bang. Những người phóng đại nguy cơ đó đều có một giáo điều gì đó muốn áp đặt cho đám đông. Chúng ta đã mệt mỏi với quá nhiều giáo điều khác nhau để có thể tập trung vào vấn đề chính. Vì sao các nước nhỏ như Lào, Sing, Thụy Sĩ,... vẫn trường tồn trong hoàn cảnh ly loạn? Một nước lớn như Việt Nam với căn tính mạnh mẽ với các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm chắc chắn không dễ dàng bị bắt nạt trong hoàn cảnh hiện tại. Điều tôi suy nghĩ nhiều hơn là bước đường phát triển của căn tính này trong tương lai. Rõ ràng dân tộc ta chưa phải là một dân tộc may mắn, hạnh phúc. Có lẽ vì căn tính này chưa ổn định, hay ở một thái cực khác: quá cứng nhắc, chưa đủ linh hoạt để phát triển. Suy cho cùng hai thái cực đó chính là hai mặt của một vấn đề. Có thể chính nó đang có rất nhiều biến tướng khác thời sự hơn mà tôi không có thời gian đi vào chi tiết.

Căn tính và bi kịch của một dân tộc

  1. Trong "Bi kịch của Trung Âu", Milan Kundera cho rằng bi kịch của Trung Âu là việc đi tìm căn tính Âu châu chống lại thể chế toàn trị phương Đông. Các dân tộc nhỏ ở Trung Âu phải vật lộn để xác lập căn tính đó. Ông cho rằng đế chế Áo-Hung đã từng là một giải pháp khả dĩ và bền vững để hình thành một quốc gia đa sắc tộc, mà mỗi dân tộc nhỏ sẽ đóng góp bản sắc vào quốc gia lớn mà không làm mất bản sắc của mình. Ông đúng khi cho rằng Trung Âu đã đóng góp những giá trị tốt đẹp nhất và to lớn cho Âu Châu.

2. Tuy vậy Kundera có phần cục bộ khi hạn chế ở Trung Âu, ước muốn hội nhập với châu Âu có cả ở Ukraina, Belorussia, Bulgaria và Nga, mà theo ông là "một thế giới khác". Bản chất hội nhập với Âu Châu là khát vọng tới văn minh, vươn tới những giá trị của Âu châu đã xây dựng được từ kỷ nguyên Bừng sáng, Phục hưng và thời đại của các nhà hiền triết. Về khía cạnh đó, những tư tưởng gia cấp tiến của Á châu từ Nhật Bản, Trung Quốc tới Việt Nam cũng đã từng mong ước. Âu hóa chính là con đường thay đổi số phận dân tộc chống lại tư duy mơ hồ, ý thức hệ phong kiến phương Đông.
3. Trong "Bi kịch của Ukraina", Nicolai Petro cho rằng bi kịch của Ukraina bắt nguồn từ sự chia rẽ của dân tộc này trên con đường đi tìm căn tính của dân tộc. Sự chia rẽ này đã được Samuel Huntington, tác giả của "Sự va chạm giữa các nền văn minh" mô tả như "một dân tộc đứt gãy". Chừng nào một dân tộc còn chưa thống nhất được về căn tính của mình để hình thành một quốc gia có căn tính, sự tồn tại của dân tộc đó còn nhiều rủi ro. Trong giai đoạn hình thành căn tính dân tộc đó, thường có một thế cân bằng để bảo đảm tính ổn định của cộng đồng, thể hiện bằng "tập quán" và "pháp lý".
4. Bi kịch bắt đầu từ việc các cá nhân lãnh đạo hoặc tầng lớp elite duy ý chí muốn xé bỏ các thể chế tập quán và pháp lý, và đưa quốc gia vào một trạng thái mất cân bằng, ở đó các phía đối lập không thể đối thoại để lập lại cân bằng mới, vì thế tiến tới tình trạng bất ổn. Richard Lebov, trong cuốn "Tầm nhìn chính trị bi thảm" dựa trên phân tích của sử gia Hy Lạp cổ đại Thucydides về chiến tranh huynh đệ tương tàn giữa Sparta và Athens, bắt nguồn từ ý muốn bướng bỉnh của Pericles đã làm chiến tranh không thể tránh khỏi, khi ông phá vỡ mọi cơ hội đối thoại bằng cách vi phạm các thể chế về tập quán và pháp lý. Điều đó có thể đúng phổ quát và đặc biệt cho trường hợp của Việt Nam vào thời Hồ-Hậu Trần và Ukraina hiện nay.
5. Chúng ta thường ngây thơ cho rằng ý thức dân tộc của Việt Nam đã xác lập từ thời vua Hùng, tồn tại hiển nhiên suốt nghìn năm Bắc thuộc. Việc Hai Bà Trưng, hai anh em họ Triệu, Mai Thúc Loan, Lý Bí, Triệu Quang Phục nổi dậy, không có nghĩa là dân tộc Việt đã có một căn tính. Chúng ta thường cho rằng họ Khúc, họ Ngô hay họ Đinh đã xác lập một quốc gia. Rồi đến nhà Tiền Lê, nhà Lý, nhà Trần, chúng ta cũng cho là Đại Việt đã là một dân tộc ổn định và thống nhất. Thực ra không phải vậy, động lực phân liệt vẫn còn là bản năng xuyên suốt, sau thời Ngô, lại có 12 sứ quân. Đời Đinh, Tiền Lê, các địa phương vẫn liên tục nổi dậy. Suốt thời Lý cho đến tận thời Trần, các địa phương vẫn chưa có một ý thức về một quốc gia thống nhất, vẫn còn phân biệt Kinh và Trại, với văn hóa, ý thức hệ, thiết chế cai trị riêng. Kể cả thi cử cũng phải chia Kinh và Trại. Sử ghi nhận, trong các đợt Chế Bồng Nga và Bí Cai mang quân đánh Đại Việt, dân Trại từ Thanh Hóa trở vào trong, hưởng ứng "phần đông theo giặc". Đến thời Trương Phụ, Hoàng Phúc sang xâm lấn Đại Việt, các phụ lão Bắc Hà (Kinh) ký vào tờ tâu xin nội thuộc vào bản đồ Trung Quốc, trở thành quận huyện. Vì thế nhà sử học Mỹ Keith Taylor trong cuốn "Sự hồi sinh của Việt Nam" cho rằng phải tới thời Hậu Lê mới hình thành Việt Nam như một quốc gia.
6. So sánh với Lịch sử của Hy Lạp và cách nhìn bi kịch của Lebov, chúng ta có thể thấy cải cách của Hồ Quý Ly mang tính duy ý chí, phá vỡ sự cân bằng nội tại của cộng đồng Đại Việt và mâu thuẫn Kinh và Trại đã không còn cơ hội dàn xếp. Trong khi Hoàng Hối Khanh, Đặng Tất, Nguyễn Cảnh Chân xây dựng một giải pháp liên minh với Chiêm Thành, Trần Thiêm Bình, Mạc Thúy, Mạc Viễn, Lương Nhữ Hốt dẫn đường cho quân Minh vào nước ta, cha con Hồ Quý Ly hoàn toàn bất lực và chỉ làm cho hai khối ngày càng chia rẽ.
7. Theo Petro, việc loại bỏ Tổng Thống Yanukovich là bước cuối làm mất cân bằng giữa "hai Ukraina". Sau đó dẫn tới ba quan điểm về khủng hoảng dân tộc của Ukraina. Quan điểm thứ nhất, đa số là ở miền Nam và miền Đông Ukraina, cho rằng mâu thuẫn không thể hóa giải nếu chính phủ vẫn còn cho rằng 1/3 đất nước là những kẻ gián điệp cho ngoại bang. Quan điểm thứ hai cho rằng những kẻ nổi loạn ở Donbass là phản quốc, cần phải có chiến thắng quân sự quyết định trực diện đối với Nga, là thế lực hậu thuẫn. Quan điểm thứ ba, là của phe Tổng thống Poroshenko, cũng cho rằng Nga đứng đằng sau sự rối loạn, nhưng không tin rằng có thể giải quyết bằng quân sự. Quan điểm này cho rằng, cần từng bước tăng áp lực của phương Tây để Nga phải trao trả Crimea và Donbass.
8. Điều quan trọng nhất là đối thoại, thiết lập giải pháp cân bằng và dung hòa được các xung đột. Tuy nhiên, giới lãnh đạo của Ukraina, thể hiện ở các Tổng thống và thực hiện ý chí của giới elite đã làm tất cả các biện pháp có thể để tăng xung đột đến trạng thái không thể đối thoại bằng cách xóa bỏ "tập quán" thông qua việc thay đổi các địa danh, cấm sử dụng tiếng Nga, lưu hành văn hóa Nga, và xé bỏ "pháp lý" bằng các liên tục xóa bỏ các điều khoản đã cam kết trong Thỏa thuận Minsk 1 và 2, cũng như những điều luật có tác dụng gìn giữ sự cân bằng. Bên cạnh đó việc dung dưỡng cũng như tôn vinh các giá trị dân tộc chủ nghĩa quá khích và đáng ngờ cũng như bỏ thêm dầu vào lửa.
9. Điều đó không có nghĩa là biện minh cho động cơ xâm lược của Nga hay nhà Minh. Tuy nhiên, đó là hệ quả tất yếu khi tầng lớp lãnh đạo và elite tự tay phá hủy công cuộc đi tìm căn tính cho dân tộc mình. Phân liệt thì không thế hình thành căn tính khi dân tộc như một cộng đồng thống nhất còn non nớt. Một dân tộc không có căn tính, nếu có thể sống hòa bình thì chỉ vì may mắn và phụ thuộc vào lòng tốt viển vông của láng giềng.

Thứ Năm, 11 tháng 11, 2021

[Sử Việt] Danh tướng Nguyễn Đa Phương

  Nguyễn Đa Phương là con danh tướng Nguyễn Nạp Hòa còn gọi là Sư Tề, do ông là thầy dạy võ nổi tiếng. Nạp Hòa chỉ huy vệ Thần Võ, được phong làm Bình Man Đại tướng Quân. Trong chiến dịch đánh Chiêm Thành, ông làm phó chỉ huy cho Đại tướng Đỗ Lễ. Quân ta kéo sâu vào hiểm địa, quân Chiêm đã phục sẵn, vua Duệ Tông không nghe lời can của Đỗ Lễ mang quân vào hiểm địa, mắc phục binh, toàn quân bị tiêu diệt. Các đại tướng Đỗ Lễ, Nguyễn Nạp Hòa, Phạm Huyền Lệnh đều bảo vệ vua đến phút cuối và tử nạn cùng với vua. Nguyễn Đa Phương là cha của danh tướng Nguyễn Cảnh Chân nhà Hậu Trần, chính là ông tổ của dòng họ Nguyễn Cảnh.

Nạp Hòa sinh Nguyễn Công Luật và Nguyễn Đa Phương. Người anh, Luật làm cận thần cho Trần Phế Đế. Đa Phương làm tướng quân dưới trướng của Tiểu Tư Không Hồ Quý Ly, khi đó thế lực đang phát triển ngày càng mạnh. Quý Ly khi nhỏ cũng học võ và binh pháp với Sư Tề nên coi Công Luật với Đa Phương là thế huynh. Tuy vậy, Đa Phương nhỏ tuổi hơn, nên hai người kết nghĩa anh em, thề cùng sống chết.
Khi đó ở phía Nam. Chiêm Thành ngày càng lớn mạnh. Vua Chiêm là Chế Bồng Nga và tể tướng là La Khải đều là những võ tướng kiệt xuất, nhiều lần đem quân đánh Đại Việt. Đa Phương nối chí cha làm võ tướng, chống Chiêm Thành. Có lần ông đã bị bắt, nhưng dùng mưu trốn được về. Ông là người giỏi võ, có tài cầm quân, có mưu mẹo, uy dũng. Năm 1382, Chế Bồng Nga và La Khải tiến đánh Thanh Hóa, cả một vùng Thanh Nghệ rung động, dân chúng phần lớn theo giặc. Hồ Quý Ly, được giao quyền chủ soái, sai Đa Phương lĩnh quân Thần Khôi giữ cửa biển Thần Đầu, dặn trước là phải hết sức cố thủ, không được khinh địch ra đánh. Quân ta cắm cọc ở cửa biển để chắn chiến thuyền địch, đồng thời đóng quân ở phía Bắc cửa sông để ngăn quân bộ.
Quân Chiêm cả hai đạo thủy bộ cùng tiến vào Thần Đầu. Chế Bồng Nga chỉ huy thủy quân, La Khải đem quân bộ áp sát bờ phía Nam để phá hàng cọc mở đường cho quân thủy. Cả hai đạo quân từ từ ép lại, không vội vã dùng quân nhẹ làm tiên phong, muốn dùng sức nặng, số đông và thanh thế để bóp nát quân ta.
Đa Phương nói: "Quân giặc không dùng quân tiên phong và khinh binh là có ý khinh quân ta hèn yếu. Nếu để chúng áp sát, mất sĩ khí chắc chắn sẽ thua." Nói vậy rồi cử những người cảm tử lập tuyến phòng ngự chắn quân La Khải giữ hàng cọc ở phía Nam. Hạn cho phải giữ được trong vòng nửa buổi bằng mọi giá. Sau đó Đa Phương sai nhổ hàng cọc ở phía Bắc, tự mình đem các chiến thuyền ra đối địch với Chế Bồng Nga. Có người can rằng "Tư không đã ra lệnh ông phải cố thủ. Nếu trái lệnh, thua sẽ mất đầu. Nếu theo lệnh, có thua đã có trên chịu trách nhiệm". Đa Phương cười lớn "Ta làm tướng, đã biết nếu giữ tất thua, tại sao phải theo. Nay đánh mới có hy vọng thắng vài phần. Há phải so đo trách nhiệm. Các ngươi cố gắng hết sức, trách nhiệm một mình ta chịu."
Thủy quân Chiêm không tính trước bị phản kích bất ngờ nên không phòng bị, bị súng Thần cơ của thủy quân Đại Việt bắn vỡ ngay mấy chục chiếc ở tuyến đầu. Trong khi đó các chiến thuyền của Đa Phương tiến lên áp sát và tràn sang tàn sát thủy quân Chiêm đang cúi rạp tránh đạn trên khoang thuyền. Các thuyền Chiêm ở tuyến hai khiếp hãi vội vã tháo lui lại va vào các thuyền đang tiến, thành thế mắc kẹt, làm hàng ngũ rối loạn, dính cứng thành từng đám, lui tiến đều khó. Đa Phương bèn cho các súng Thần Cơ nhất loạt nã vào các mảng thuyền Chiêm dày đặc. Thủy quân Chiêm thua to, tháo chạy. Đa Phương một mặt cho quân thủy đuổi đánh vào tận Nghệ An, một mặt cho thủy quân đổ bộ lên bờ Nam, đánh vào hậu quân của La Khải. Quân bộ của ta, từ bờ Bắc dùng thuyền nhẹ vượt sông, cùng với quân cảm tử trấn giữ hàng cọc phản công. Quân bộ Chiêm tan vỡ, La Khải phải chạy vào rừng để trốn về nước. Tin Đa Phương thắng trận truyền về Kinh Thành, ông được phong làm Kim Ngộ Vệ Đại Tướng Quân. Hồ Quý Ly, là chủ soái, cũng được thăng thưởng, giao chức Phán thủ, soái lĩnh binh quyền, thế lực ngày càng mạnh.
Đa Phương trở thành đệ nhất hổ tướng đương thời của Đại Việt. Ông bày kế phòng thủ đất nước, huấn luyện binh sĩ. Mọi kế hoạch quân sự và kế hoạch lâu dài của Quý Ly đều do Đa Phương sắp đặt. Quý Ly lại thu phục được một quan văn trẻ ở Ngự sử đài, là Phạm Cự Luận tiến cử làm Đô Ngự sử. Cự Luận là người đa mưu, thiên về những biện pháp ngắn hạn, có phần hung hiểm. Có kẻ sĩ đa sự, bàn rằng "Luận ấy là Luân, hình tròn. Phương là hình vuông. Vậy Quý Ly có người giúp đỡ tính toán mọi việc vuông tròn." Vì vậy, cặp mưu sĩ này còn gọi là "phương viên tá lự".
Thấy thế lực của Quý Ly ngày càng lớn, Phế Đế bèn bàn với các cận thần và anh là Trần Ngạc "Nếu để lâu ngày ắt Quý Ly sẽ cướp ngôi và khó chế ngự" và tính giết Quý Ly. Thầy dạy vua là Vương Nhữ Mai làm tiết lộ tin này. Quý Ly lo sợ bèn bàn với Đa Phương và Cự Luận. Đa Phương nói "Ngày xưa, Khương Duy, xin làm tướng cầm quân ở ngoài để được yên. Quyền thần cầm quân ở trong thì một là sẽ bị nghi ngờ dèm pha, mà gặp họa sát thân, hai là phải chuyên quyền đến cùng. Nay ngài với Thượng hoàng là anh em họ, nhà vua sáng suốt, mạnh mẽ, chỉ có chút hiểu lầm, chưa đến mức phải và cũng chưa thể chuyên quyền. Xin ngài dâng biểu xin ra trấn thủ Đại Lại, phòng quân Chiêm. Ngài cầm quân ở ngoài, ai dám động đến. Kẻ nào dèm pha, ngài sẽ đem quân về Kinh hỏi tội dèm pha đại tướng ở mặt trận. Chỉ giết vài thằng hủ nho là trời tối lại sáng. Tôi lĩnh quân Kim Ngô, Cự Luận giữ đài Ngự sử, có quyền ăn nói can gián Thượng Hoàng. Không ai có thể chống." Cự Luận nói "Kế của Đa Phương tuy lâu dài nhưng không quyền biến. Xin ngài vào khóc với Thượng Hoàng xin được chết theo Ngự Câu Vương. Thượng Hoàng là người mềm yếu, thương yêu ngài là vì anh em họ, lại đau lòng vì quan gia đã giết Ngự Câu Vương". Nguyên trước đó Ngự Câu Vương là Trần Húc, làm trấn thủ chống quân Chiêm, đã bại trận lại còn câu kết với Chế Bồng Nga, hại nước, bị Phế Đế giết, Thượng Hoàng không thể can ngăn nhưng vẫn đau lòng và giận Phế Đế chuyên quyền, không nghĩ tình anh em.
Đa Phương can "Đó là việc can thiệp đến nội bộ hoàng gia, nếu không thành thì tất là tội chết. Nếu thành thì cũng kết oán với quan gia, hoặc để loạn hoàng thất. Ngài có đủ nhẫn tâm chăng?" Cự Luận nói "Đã đành nếu không thuyết phục được sẽ nguy. Lúc đó xin ra Đại Lại cũng không muộn. Nhưng tôi xem ra Thượng Hoàng là người nhu nhược, lại tình cảm theo kiểu đàn bà, ngài chỉ cần khóc lóc mùi mẫn, đòi chết. Tôi chắc con rể ngài sẽ lên ngôi. Thế của ngài sẽ càng mạnh." Quý Ly nghe kế của Cự Luận. Đa Phương thở dài im lặng lui ra, vẫn không cho là phải. Kết quả, Thượng Hoàng Trần Phủ, nghe Quý Ly, giết Phế Đế và Ngạc, đưa Thuận Tông, con rể Quý Ly lên ngôi vua. Nguyễn Công Luật, anh trai Đa Phương trung thành với Phế Đế nên cũng bị giết.
Năm 1389, Chế Bồng Nga lại cùng La Khải đem quân đánh Đại Việt. Thượng Hoàng sai Quý Ly đem các tướng vào Thanh Hóa chống giữ. Quân ta khi đó khá đông. Quý Ly bèn sau các tướng hai đường thủy bộ tiến đánh quân Chiêm. Đa Phương ra sức can ngăn. Quý Ly nói "Lần trước nhà ngươi ít quân còn phá được giặc. Lần này ta lĩnh gần trăm tướng, quân vài vạn, sợ gì quân địch." Đa Phương nói "Phép dùng quân mỗi lúc một khác. Lần trước giặc khinh ta, chủ quan, ta đánh bất ngờ nên thắng. Nay giặc đã có phòng bị. Ta đông quân, giữ chắc, không cần vội, đợi giặc mỏi mệt, sẽ tung ra đánh. Chắc sẽ thắng." Quý Ly không nghe, cho là Đa Phương ghen ghét, không muốn mình lập công bèn cử Đại tướng Nguyễn Chí suất lĩnh 80 viên tướng, đem đại quân thủy bộ cùng tiến đánh quân Chiêm. Chí vài 80 tướng dẫn hơn 3 vạn quân sa vào trận địa phục kích của Chế Bồng Nga và La Khải, bị vài trăm thớt voi vây chặt. Pháo của quân Chiêm cũng vượt trội. Kết quả, Nguyễn Chí cùng 3 vạn quân và 70 tướng bị chém đầu, bắn nát thây hoặc bị voi dày tại trận. Chiến thuyền bị quân Chiêm chiếm sạch. Các phòng tuyến đóng cọc đều bị chiếm mất. Quân ta chỉ còn chưa đầy 2 vạn, đạn dược đều hết, chiến tướng chỉ còn hơn 20 vị.
Quý Ly bèn giao cho Phạm Khả Vĩnh làm chánh tướng, Đa Phương làm phó tướng ở lại giữ Thanh Hóa, bản thân mình chạy về Thăng Long, xin thêm quân và chiến thuyền tiếp viện. Thượng Hoàng nghe nói Quý Ly chủ quan nướng quân bèn không phê chuyển thêm quân và thêm thuyền. Phủ nói "Nay Thăng Long chỉ còn lại chưa đầy 5 vạn quân và hơn nghìn chiến thuyến. Nếu đưa vào Thanh Hóa và mất nốt, ta sẽ không còn gì để bảo vệ Kinh Thành." Quý Ly làm mặt giận dỗi xin trao trả binh quyền. Thượng Hoàng vì yêu Quý Ly nên cũng không trách phạt.
Khả Vĩnh và Đa Phương cổ thủ Thanh Hóa, đợi viện quân, đang gặp nhiều khó khăn do lực lượng quá chênh lệch. Quân đã ít, tướng mỏng, lại mất hết tinh thần do trận thua. Phòng tuyến lại bị chọc thủng, các điểm trấn giữ quan trọng đều bị Chế Bồng Nga và La Khải lần lượt khống chế. Giữa lúc đó, quân lưu tinh từ kinh thành tới báo Quý Ly đã rời binh quyền và sẽ không có quân tăng viện. Đa Phương bàn với Khả Vĩnh "Nay Phán thủ đã không nắm binh quyền. Lại không có quân tiếp viện. Chúng ta tiếp tục giữ vô ích, sớm muộn cũng mất Thanh Hóa. Chúng ta chết không sao, nhưng còn 2 vạn quân này cũng gần 1/3 binh lực Đại Việt nếu mất nốt, sẽ không vực dậy nổi. Nay ta đem quân rút về hợp quân với Thăng Long rồi bày thế phòng thủ khác."
Khả Vĩnh nghe theo, cùng Đa Phương cắm thật nhiều cờ xí nghi bình, đem thuyền lớn tiến tới sát các hàng cọc, giả bộ như sẽ tiến đánh. Chế Bồng Nga và La Khải lo quân Đại Việt cùng đường sẽ quyết tử bèn ra sức phòng thủ. Quân Đại Việt bèn dùng thuyền nhẹ rút hết trong một đêm về Thăng Long.
Đa Phương nói " Cậy mạnh đem quân liều đánh không phải là trí. Thấy khó trả binh quyền xin lui là nhát. Nhát lại không trí cầm quân sao được." Câu đó đến tai Quý Ly, Quý Ly giận xin Thượng Hoàng rút binh quyền của Đa Phương, không cho giữ quân Kim Ngô. Thượng Hoàng nói "Tạm như vậy để nêu phép nước. Một thời gian sau sẽ dùng lại. Không tướng nào bằng Đa Phương." Đa Phương không phục nói "Nếu giao quyền cho ta thì lo gì quân giặc. Nay tước quyền ta thì lấy ai chống giặc. Sao nêu gương được người có công thì thưởng, người có tội phải phạt."
Quý Ly nghe vậy, lo lắm bèn hỏi ý Cự Luận. Cự Luận nói "Đa Phương tài gấp 10 tôi, nếu hắn lôi kéo được các quan trong triều như Nguyên Hãng, Khả Vĩnh, Nguyên Đán,... vây cánh sẽ lớn không thể trị nổi. Nếu Thượng Hoàng nghĩ lại việc ngài xui giết Phế Đế và Ngạc, sẽ dựa vào Đa Phương để hại ngài." Quý Ly nói "Nhưng ta đã kết nghĩa anh em với hắn, lẽ nào trái lời." Cự Luận nói "Ngài đã lên lưng hổ, không có lựa chọn nào khác." Quý Ly chảy nước mắt "Chính trị làm ta trở thành khốn kiếp."
Quý Ly bèn xin Thượng Hoàng trị tội Đa Phương dám lui quân ở Ngu Giang. Thượng Hoàng nói "Đa Phương là danh tướng thời nay vừa trí vừa dũng, nếu được toàn quyền đã không thua. Nay hắn rút là bảo vệ được toàn quân. Vả lại chủ tướng là Khả Vĩnh sao không trị lại trị tội phó tướng. Hãy trị tội thật nhẹ." Quý Ly nói "Đa Phương nhiều mưu lại kiêu dũng. Hắn mà trốn sang nước khác sẽ gây họa cho Đại Việt." Thượng Hoàng nghe lời bèn bắt Đa Phương tự vẫn. Đa Phương trước khi chết cười và nói "Ta có tài nên được giàu sang, nhưng tự phụ vì tài nên phải chết." và dặn Cảnh Chân nên cố đem tài phục sự đất nước, nhưng không nên tự phụ như cha. Quý Ly sau này vẫn nhớ Đa Phương mà thấy hối tiếc, nên dùng Cảnh Chân, nhưng không cho ở Kinh mà đưa vào Hóa Châu giúp việc cho Hoàng Hối Khanh, cùng Đặng Tất. Hối Khanh, Tất và Cảnh Chân đều mưu khôi phục nhà Trần. Kịp khi quân Minh chiếm nước ta, ba người đều hết sức bày mưu khôi phục nhưng không thành, ba người đều chết vì nước.
Sử thần Ngô Sĩ Liên nói "Không dùng được Đa Phương là chỗ kém của Nghệ Tông."
Sử gia Ngô Thì Sĩ hoàn toàn không có khái niệm về quân sự lại trách lầm Đa Phương là "người lui 50 bước dám buộc tội người lui 100 bước" (chỉ Quý Ly) há không phải là lẫn lộn ngọc quý với bùn đất sao?
Khả Vĩnh sau này tham gia hội thề Đốn Sơn mưu sát Quý Ly, bị giết cùng Trần Khát Chân.
Lời bình: Nạp Hòa, Công Luật, Đa Phương, Cảnh Chân, 4 người, 3 đời sát nhau đều chết bất đắc kỳ tử. Nổi tiếng nhất là Cảnh Chân, cùng Đặng Tất bày mưu phá giặc mạnh ở bến đò Bô Cô, sau chết vì chuyên quyền mà bị chủ nghi ngờ. Đa Phương theo Quý Ly cũng vì tự phụ mà bị chủ giết. Tính cách và tài năng của Đa Phương phải là chủ soái mới thể hiện được tài năng và không mang họa vào thân. Đa Phương muốn giữ mạng cho Phế Đế có thể có tình riêng là vì anh, nhưng có thể cũng vì lý tưởng như Tuân Úc muốn giữ nhà Hán. Nạp Hòa và Công Luật đều trung thành chết theo chủ, thật đáng thương. Nhưng tài năng, tư cách của họ Nguyễn Cảnh nổi tiếng sau này đều từ đó mà ra. Ngô Thì Sĩ không đánh giá đúng Đa Phương đó là chỗ kém của sử gia.

Thứ Bảy, 8 tháng 10, 2016

Vũ Tường – Đọc Việt Nam 1946: Chiến tranh đã bắt đầu ra sao


Thứ Ba, ngày 31 tháng 8 năm 2010

Đăng lại từ Talawas

Điểm sách Vietnam 1946: How the War Began (From Indochina to Vietnam: Revolution and War in a Global Perspective) của Stein Tonnesson, NXB ĐH California, Berkeley, 2010.[1]

Năm 1946 là một thời điểm rất quan trọng trong lịch sử Việt Nam khi nước này vừa thoát ra khỏi ách thuộc địa. Trong quyển Vietnam 1946, sử gia Na Uy Stein Tonnesson theo dõi quá trình diễn biến quan hệ Việt-Pháp từ nhân nhượng đến xung đột qua hai biến cố: Hiệp định sơ bộ 6-3-1946 và biến cố 19-12-1946 khi chiến tranh bùng nổ. Tonnesson trình bày hai phát hiện quan trọng. Thứ nhất, Hiệp định sơ bộ 6-3 có được do công của các tướng lãnh Quốc dân Đảng Trung Quốc đã cố gắng môi giới cho cả hai bên Pháp Việt tiến hành đàm phán. Mặc dù thực ra sau năm 1945, Paris chỉ muốn bảo vệ quyền lợi của Pháp ở Nam bộ, các viên chức Pháp ở Đông Dương đặt kế hoạch giành quyền kiểm soát lâu dài cả miền Bắc khi họ điều quân ra Bắc để thay thế quân đội chiếm đóng Quốc dân Đảng Trung Quốc. Nếu không có phía Quốc dân Đảng Trung Quốc gây áp lực mạnh đối với cả hai bên Pháp Việt để ký Hiệp định sơ bộ 6-3, chiến tranh có lẽ đã bùng nổ vào lúc đó. Phát hiện thứ hai của Tonnesson liên quan đến câu hỏi ai chịu trách nhiệm đối với việc chiến tranh nổ ra vào ngày 19-12-1946. Cũng như đối với trường hợp trên, Tonnesson cho thấy những viên chức Pháp ở Đông Dương làm trái với chỉ thị của chính phủ Pháp khi họ khiêu khích chính phủ Việt Minh để nhử Việt Minh tấn công trước. Quân đội Việt Minh đã cố gắng không trả đũa các trò khiêu khích của quân Pháp trong một thời gian, nhưng cuối cùng đã sập bẫy và nổ súng vào ngày 19-12, chỉ vài ngày sau khi chính phủ Đảng Xã hội lên cầm quyền ở Pháp và mở ra triển vọng đạt được hòa bình bằng con đường thương thuyết. Tonnesson cũng phê bình tướng Võ Nguyên Giáp, vị Tổng tư lệnh của Việt Nam, vì đã ra lệnh khai chiến hoặc đã không ngăn cản được binh sĩ của ông ta nổ súng vào đêm 19-12-1946.

Tonnesson sử dụng rất nhiều tài liệu chủ yếu từ các kho lưu trữ ở các nước phương Tây. Rất rõ ràng và thuyết phục, ông cho thấy vì nhiều lý do, Paris đã bỏ bê tình hình ở Đông Dương, thông tin giữa Paris và Sài gòn (nơi Cao ủy Pháp đóng bản doanh) bị lệch pha, và các chỉ huy Pháp ở Sài gòn đã có những hành động dẫn đến chiến tranh. Chủ yếu dựa trên tư liệu Pháp kết hợp với một ít tư liệu Việt Nam, Tonnesson dựng lại bức tranh khá chi tiết mô tả các biến cố xảy ra từng giờ trong ngày 19-12 cực kỳ quan trọng. Bức tranh này phức tạp hơn nhiều so với câu chuyện chúng ta vẫn nghe về biến cố này như một cuộc tấn công bất ngờ vào lực lượng Pháp do quân đội Việt Minh tổ chức. Mặc dù tướng Giáp đúng là có soạn ra một kế hoạch tấn công như vậy từ trước, Tonnesson cho thấy rằng quyết định tấn công chỉ được đưa ra vài giờ trước khi nổ súng, và cũng không thể loại trừ khả năng binh sĩ dưới quyền tướng Giáp tự tiện nổ súng không có lệnh trên [và ông ta chỉ còn cách phải tuyên chiến với Pháp vì việc đã lỡ xảy ra].

Không chỉ soi rọi các biến cố xảy ra trong năm 1946, công trình của Tonnesson còn có ba đóng góp rộng hơn đối với lịch sử Việt Nam. Đóng góp thứ nhất là về vai trò của Quốc dân Đảng Trung Quốc trong diễn tiến lịch sử Việt Nam. Cho đến nay, giới sử học đã coi nhẹ vai trò của Quốc dân Đảng Trung Quốc đối với sự tồn tại của chính phủ Hồ Chí Minh. Nếu người Trung Quốc đã làm như người Mỹ ở Seoul (từ chối không công nhận một chính phủ thiên tả vừa mới thành lập sau khi Nhật đầu hàng), hay như người Anh ở Sài Gòn và Jakarta (cho phép quân đội Pháp và Hà Lan trở lại khôi phục thuộc địa cũ đã bị Nhật chiếm trong Thế chiến II), chính phủ Hồ Chí Minh có rất ít cơ hội sống sót. Bộ chỉ huy quân chiếm đóng Quốc dân Đảng Trung Quốc giúp chính phủ Hồ Chí Minh qua việc ép buộc các nhóm chống cộng là Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội phải tham gia vào chính phủ Việt Minh và ký Hiệp định sơ bộ 6-3. Mặc dù Đảng Cộng sản Đông Dương không thực sự chia sẻ quyền lực với các nhóm này, việc họ tạm thời chấp nhận tham gia vào chính phủ Việt Minh cho phép chính phủ này tuyên bố là Việt Minh đại diện cho tất cả mọi giai cấp và phe nhóm Việt Nam. Thay vì cảm ơn Tưởng Giới Thạch và các tướng lĩnh của ông ta, lịch sử quan phương ở Việt Nam lại chê trách họ: người Trung Quốc bị xem là một kẻ thù còn tệ hơn người Pháp. Các học giả Tây phương (trừ King Chen) cũng rất hay chỉ ra tính chất vô kỷ luật và thổ phỉ của quân đội Quốc dân Đảng Trung Quốc, nhưng quên mất vai trò quan trọng của họ đối với vận mệnh chính phủ Hồ Chí Minh.

Đóng góp thứ hai của Vietnam 1946 là góp thêm chứng cứ cho luận điểm ngược lại với quan điểm lịch sử quan phương về sự lãnh đạo tập trung của Đảng Cộng sản Đông Dương trong và sau “Cách mạng tháng Tám.”[2] Bức tranh ngày càng rõ nét cho thấy một Đảng Cộng sản Đông Dương yếu ớt, phải dựa vào những lực lượng khác để giữ chính quyền, mặc dù có thể Đảng này có tổ chức mạnh nhất so với tất cả. Đảng có rất ít quyền kiểm soát đối với chính quyền địa phương ngoài những thành phố lớn. Việc giải thể Đảng Cộng sản Đông Dương vào cuối năm 1945 làm cho tình hình này tồi tệ hơn. Dựa trên tư liệu của tình báo Pháp, Tonnesson (tr. 24) suy đoán rằng “công tác Đảng bị các lãnh đạo Đảng (nếu không phải là chính Trường Chinh) xem nhẹ trong giai đoạn 1946-47 vì họ bận rộn với công việc quản lý nhà nước.” Giả thuyết binh sĩ của tướng Giáp nổ súng tấn công Pháp bất chấp lệnh trên vào tối 19-12 góp thêm một chi tiết vào bức tranh chung trên.

Thứ ba, Tonnesson chia tay với một xu hướng chủ đạo trong Việt Nam học từ thập niên 1960. Các học giả theo xu hướng này né tránh việc phê phán các lãnh tụ cộng sản Việt Nam khi cần phải phê phán.[3] Theo xu hướng này, những người cộng sản được mô tả như chỉ quan tâm thuần túy và chính đáng đến việc giành độc lập dân tộc, nhưng bị buộc phải tiến hành chiến tranh tự vệ chống lại các thế lực xâm lược ngoại bang. Có vẻ như họ không bao giờ phạm sai lầm, mà nếu có phạm thì cũng rất thành thật thú nhận. Xu hướng này có lẽ do việc nhiều sử gia quá tin vào hồi ký của các lãnh tụ cộng sản như Trần Huy Liệu và Võ Nguyên Giáp. Không có gì lạ khi các nhân vật này tô vẽ hào quang lên Đảng của họ và lờ đi những sai lầm. Tonnesson mở đầu quyển Vietnam 1946 bằng việc kiểm điểm lại số người chết vì chiến tranh ở Việt Nam trong thế kỷ 20. Con số này lên đến hàng triệu người, cả người Việt lẫn nước ngoài. Tonnesson tin rằng tất cả những cuộc chiến tranh này đều có thể đã tránh được nếu chính phủ Việt Minh đã biết tự kiềm chế vào cái ngày định mệnh 19-12-1946 đó. Trong khi Tonnesson không trách Hồ Chí Minh về biến cố này, ông cho rằng Võ Nguyên Giáp có trách nhiệm để cho chiến tranh xảy ra, mặc dù trách nhiệm của ông ta ít hơn các quan chức Pháp như Đô đốc Georges D’Argenlieu, Leon Pignon, và tướng Jean-Etienne Valluy. Tệ hơn nữa, Tonnesson cho rằng Võ Nguyên Giáp là một người bướng bỉnh tự cho rằng ông ta không có trách nhiệm gì, mặc dù các chứng cớ lịch sử cho thấy khá rõ trách nhiệm của ông ta để cho chiến tranh xảy ra. Theo Tonnesson (tr. 257), “Đối với tướng Giáp, người chịu trách nhiệm rất lớn không chỉ đối với quyết định tấn công [ngày 19-12], nhưng đối với tất cả những thiệt hại nhân mạng và các khổ đau khác trong những cuộc chiến kế tiếp ở Đông Dương, ý nghĩ rằng chuỗi thảm kịch đó có thể bắt đầu từ một sự hiểu lầm là không thể chấp nhận được.”

Quyển sách có một điểm yếu quan trọng: đó là việc dùng rất ít tư liệu từ Việt Nam. Mặc dù Kho lưu trữ của Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn chưa cho phép các nhà nghiên cứu sử dụng tư liệu, có nhiều bộ Văn kiện Đảng đã được xuất bản, đặc biệt là bộ mới in gần đây từ năm 1999.[4 ]Các văn kiện trong Tập 8 (1945-1947) của bộ sách này cho thấy rõ sự tồn tại của cơ quan Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương vào thời điểm này.[5] Nhân vật bí ẩn trong tư liệu tình báo Pháp có tên là “Nhân Nhân” rất có thể là Trường Chinh, vì ông ta đôi khi ký tên Nhân dưới một số văn kiện.[6]

Chỉ đọc lướt qua Tập 8 nói ở trên, chúng ta có thể nêu thêm bốn sự việc quan trọng nhìn từ phía Việt Nam để bổ sung bức tranh phía Pháp do Tonnesson vẽ ra. Sự việc thứ nhất là chính phủ Hồ Chí Minh có vẻ sợ các đối thủ Việt Nam (Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội) hơn sợ Pháp. Trong một văn kiện ngày 3-3-1946, Thường vụ Trung ương giải thích lý do Đảng quyết định ký Hiệp định sơ bộ 6-3 với Pháp như sau. Trung ương Đảng nghĩ rằng nếu Việt Minh đánh nhau với Pháp sẽ có lợi cho Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội chứ không có lợi cho Đảng Cộng sản Đông Dương. Lãnh tụ Đảng thừa nhận rằng “chủ hòa lúc này có hai chỗ nguy hiểm: a) Bọn phản động lợi dụng tinh thần kháng chiến của quần chúng mà tuyên truyền phỉnh dân và vu ta là phản quốc, là bán nước cho Tây; b) bọn thực dân Pháp có thể tăng gia lực lượng trên đất ta để một ngày kia bội ước diệt ta.” Tuy nhiên, lãnh đạo Đảng cho rằng có hai điều lợi lớn khi ký Hiệp định sơ bộ: một là “phá được mưu mô bọn Tàu trắng, của bọn phát xít, và của bọn Việt gian, bảo toàn được thực lực;” và hai là, “dành được giây phút nghỉ ngơi để sửa soạn cuộc chiến đấu mới… tiến tới giành độc lập hoàn toàn.”[7] Một trong những biện pháp đầu tiên Đảng muốn thi hành ngay sau khi ký Hiệp định sơ bộ là “lợi dụng thời gian hòa hoãn với Pháp mà diệt bọn phản động bên trong, tay sai của Tàu trắng, trừ những hành động khiêu khích ly gián ta và Pháp.” Văn kiện này chứng tỏ rằng cuộc tranh giành quyền lực giữa các phe nhóm người Việt cũng quan trọng không kém cuộc tranh giành độc lập giữa tất cả người Việt và thực dân Pháp. Việc Đảng Cộng sản Đông Dương e ngại các kẻ thù người Việt hơn là Pháp cho thấy rằng các biến cố năm 1946 không chỉ liên quan đến nền độc lập của Việt Nam mà còn đến việc giành quyền lãnh đạo đất nước của các đảng phái Việt Nam.

Sự việc thứ hai: tư liệu Việt Nam cho thấy lãnh đạo Đảng Cộng sản Đông Dương kỳ vọng rất nhiều vào Hiệp định sơ bộ 6-3, không phải như Tonnesson (tr. 5) nghĩ rằng họ chỉ ký cho xong chuyện nhưng sau đó sẽ tìm cách thoái thác thi hành. Thực ra họ coi Hiệp định sơ bộ 6-3 là một bước tiến quan trọng so với tuyên bố của De Gaulle cho Đông Dương tự trị ngày 24-3-1945. Mặc dù theo Hiệp định sơ bộ 6-3, Việt Nam chưa được độc lập, một văn kiện Đảng viết rằng “Pháp đã từ bỏ tham vọng lập lại chế độ thuộc địa tại Việt Nam và công nhận nguyên tắc tự do và thống nhất của ta. Kẻ thù trực tiếp của chúng ta bây giờ là bọn phản động Pháp…”[8] Ít nhất là vài tháng sau khi ký Hiệp định sơ bộ, lãnh đạo Đảng vẫn muốn tiếp tục đàm phán trên cơ sở Hiệp định sơ bộ chứ không phải thoái thác thi hành, mặc dù họ vẫn tiếp tục chuẩn bị cho một cuộc đấu tranh vũ trang nếu cần thiết. Thái độ lạc quan của họ khi nghĩ rằng người Pháp đã từ bỏ tham vọng lập lại chế độ thuộc địa có lẽ là lý do tại sao Đảng Cộng sản Đông Dương sợ Pháp ít hơn sợ các đảng phái Việt Nam khác.

Sự việc thứ ba: Tonnesson chĩa mũi dùi phê phán vào tướng Giáp với tư cách người chịu trách nhiệm chính bên phía Việt Nam đối với việc chiến tranh bùng nổ. Tonnesson có nhắc đến việc Trường Chinh thuộc phe chủ chiến, nhưng tư liệu Việt Nam cho thấy giàn lãnh đạo chóp bu của Đảng Cộng sản Đông Dương đều ủng hộ tướng Giáp. Sau vụ tàn sát ở Hải Phòng, Hội Nghiên cứu Chủ nghĩa Mác (Đảng Cộng sản Đông Dương trá hình) ra tuyên bố khen ngợi các chiến sĩ Việt Nam đánh nhau với Pháp ở Hải Phòng và Lạng Sơn và kêu gọi cảnh giác và tăng cường chuẩn bị chiến tranh. Tuyên bố này nói rằng Tạm ước 14-9-1946 (do chủ tịch Hồ Chí Minh ký ở Pháp) là “một bước nhân nhượng cuối cùng.”[9] Cùng lúc đó, Trường Chinh viết một bài với giọng điệu sặc mùi chiến tranh và máu lửa: “toàn dân sẵn sàng đứng dậy; tay đã để vào cò súng, mắt đã ngắm vào đầu bọn cướp nước, những bắp thịt đã căng thẳng; chỉ chờ lệnh là hàng triệu người ào tới băm vằm quân tàn bạo.” Trường Chinh hướng mối căm thù của ông ta không chỉ vào thực dân Pháp mà vào cả những người Việt không thích chiến tranh: “Phải gạt phăng những lời khuyên đầu hàng của bọn tự nhận là “bạn” ta hay của thù ta. Phải kịp thủ tiêu những chủ trương tháo lui, dao động của những kẻ non gan trong hàng ngũ dân tộc. Phải trừng trị thẳng tay những kẻ làm tay sai cho địch, bất kỳ trong tầng lớp nhân dân nào… Trước khi xông lên ngăn địch, phải chặt những dây dợ vướng chân.”[10] Mặc dù tướng Giáp có thể đã một mình ra quyết định nổ súng vào tối hôm đó, chắc hẳn ông ta có sự đồng thuận của ban lãnh đạo Đảng. Các biến cố năm 1947 ăn khớp với cách suy luận này. Sau khi chiến tranh bùng nổ, Đảng Cộng sản Đông Dương triệu tập Hội nghị Cán bộ Trung ương để phân tích tình hình thế giới và trong nước, đồng thời thảo luận các chính sách và kế hoạch cần thiết. Bản nghị quyết dài 33 trang của Hội nghị này chỉ nói đến công tác ngoại giao trong một đoạn ngắn như trích dẫn một phần dưới đây:

Vấn đề ngoại giao: vấn đề Việt Nam vừa được đem ra bàn cãi náo nhiệt ở Quốc hội Pháp. Đảng Cộng sản Pháp, Tổng Liên đoàn Lao động Pháp vừa tỏ rõ thái độ đối với Chính phủ Pháp giảng hòa với Việt Nam. Bọn Đờ Gôn lại hoạt động mưu cho phản động thế giới mà lật đổ chế độ cộng hòa Pháp. Đứng trước tình hình ấy, đoàn thể [đây là nói đến Đảng Cộng sản Đông Dương] phải theo dõi từng tí thời cuộc và chính trị nước Pháp. Nếu Pháp nhận Việt Nam độc lập và thống nhất, nhưng phải làm cho cán bộ và nhân dân hiểu rằng, chưa đánh đến hết gia đoạn thứ ba của cuộc trường kỳ kháng chiến, thì dù có dàn xếp cũng chưa thể giải quyết hẳn được sự xung đột giữa ta và thực dân Pháp. Chẳng qua tạm hòa hoãn để dành thời gian, v.v… Bởi vậy tuy phải lợi dụng hết khả năng ngoại giao, làm cho cuộc đổ máu Việt-Pháp rút ngắn lại, nhưng không thể có thái độ chủ quan đối với những cuộc đàm phán và nhất là không được sơ hở để quân địch lợi dụng… đánh úp ta.[11]

Lãnh đạo Đảng có vẻ không đặt nhiều niềm tin vào chính phủ Đảng Xã hội của Pháp, cũng không có vẻ luyến tiếc rằng chiến tranh đã xảy ra. Mặc dù Hồ Chí Minh vẫn tìm cách đàm phán với Pháp và giao một số Bộ trong chính phủ cho các nhân vật không cộng sản vào đầu năm 1947, Trường Chinh và Lê Đức Thọ ban những chỉ thị cảnh cáo nghiêm khắc quần chúng không nên đặt quá nhiều hy vọng vào ngoại giao.[12]

Sự việc thứ tư: Tonnessson (tr. 10) cho rằng “bổn phận căn bản nhất của mọi chính phủ” là bảo vệ hòa bình, nhưng tư liệu Việt Nam chỉ ra rằng nhiều lãnh tụ Việt Nam không nghĩ như vậy. Quan điểm của họ về chiến tranh và hòa bình phải được đặt trong thế giới quan Mác-Lê đầy dẫy những tư tưởng cách mạng cực đoan.[13] Theo thế giới quan này, tương lai của thế giới sẽ được quyết định trong cuộc đấu tranh một mất một còn giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội. Hòa bình với đế quốc chỉ là tạm thời vì bản chất của đế quốc là hiếu chiến và làm giàu nhờ chiến tranh. Hơn nữa, chính trị quốc tế không thể tách rời chính trị quốc nội. Như Trường Chinh từng tuyên bố, những người cộng sản Việt Nam có thể chấp nhận đoàn kết giai cấp tạm thời vì quyền lợi dân tộc, nhưng không bao giờ chấp nhận “thỏa hiệp giai cấp” (hy sinh các quyền lợi căn bản của giai cấp mình vì mục tiêu đoàn kết dân tộc).[14] Việc chung sống hòa bình với bọn đế quốc hay hòa hoãn với kẻ thù giai cấp có vị trí thấp trên thang giá trị của những nhà cách mạng Việt Nam mà tiêu biểu là Trường Chinh. Cuộc chiến tranh với Pháp năm 1946, nếu đúng như Tonnesson mô tả, thể hiện hành vi giống với cuộc cải cách ruộng đất từ năm 1953 đến 1956 mà thực chất là một cuộc đấu tranh giai cấp tàn bạo. Đánh giá theo hướng này, quyết định của tướng Giáp tấn công quân Pháp vào đêm 19-12-1946 không chỉ là một sai lầm chiến lược (như Tonnesson lập luận) mà là kết quả tự nhiên của những bộ óc cuồng tín thích tôn vinh những hy sinh cho các sự nghiệp “cao cả” không chỉ cho độc lập dân tộc mà còn cho cách mạng thế giới.

Để kết luận, dù sử dụng rất ít tư liệu Việt Nam, Vietnam 1946 là một công trình nghiên cứu có giá trị cao. Tonnesson đã giúp chúng ta hiểu biết thêm không chỉ về các sự kiện năm 1946 mà còn về lịch sử Việt Nam.

Chú thích

1. Dịch từ nguyên văn tiếng Anh trên Tạp chí mạng H-Diplo của Hội Nghiên cứu Lịch sử quan hệ đối ngoại Mỹ. Xem bài của các tác giả khác cùng điểm sách của Tonnesson và bài trả lời của ông tại trang web: http://www.h-net.org/~diplo/roundtables/PDF/Roundtable-XI-19.pdf

2. Về những luận điểm trái với lịch sử quan phương, xem Stein Tonnesson, The Vietnamese Revolution of 1945: Roosevelt, Ho Chi Minh, and De Gaulle in a World at War (Oslo: International Peace Research Institute, 1991); David Marr, Vietnam 1945: The Quest for Power (Berkeley: University of California Press, 1995) và Vu Tuong, Paths to Development in Asia: South Korea, Vietnam, China, and Indonesia (New York: Cambridge University Press, 2010).

3. Vu Tuong, "Vietnamese Political Studies and Debates on Vietnamese Nationalism," Journal of Vietnamese Studies, 2: 2 (2007), 175-230.

4. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn Kiện Đảng toàn tập (Hà Nội: NXB Chính trị Quốc gia, 1999-2007).

5. Tonnesson (sđd, tr. 29) bày tỏ nghi ngờ về sự tồn tại của cơ quan này, và dựa theo một tài liệu Việt Minh bị Pháp bắt được, kết luận rằng cơ quan này có thật.

6. Tonnesson (sđd, tr. 171) đoán rằng nhân vật này không thể là Trường Chinh vì Trường Chinh không đeo kính như người mà mật thám Pháp theo dõi, nhưng tên “Nhân Nhân” và những chi tiết khác cho thấy người đó là Trường Chinh.

7. “Tình hình và chủ trương.” Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn Kiện Đảng toàn tập, Tập 8, 45.

8. “Chỉ thị của Ban T.V.T.Ư., 9-3-1946. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn Kiện Đảng toàn tập, Tập 8, tr. 50.

9. “Lời kêu gọi quốc dân,” Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn Kiện Đảng toàn tập, Tập 8, tr. 148.

10. “Đánh và sẵn sàng đánh,” Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn Kiện Đảng toàn tập, Tập 8, tr. 452-453.

11. “Nghị quyết Hội nghị cán bộ trung ương,” Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn Kiện Đảng toàn tập, Tập 8, tr. 186.

12. Vu Tuong, “It’s Time for the Indochinese Revolution to Show Its True Colors: The Radical Turn in Vietnamese Politics in 1948,” Journal of Southeast Asian Studies 40: 3 (Oct 2009), tr. 528.

13. Xem Vu Tuong, “From Cheering to Volunteering: Vietnamese Communists and the Arrival of the Cold War 1940-1951,” trong Christopher Goscha and Christian Ostermann, eds. Connecting Histories: The Cold War and Decolonization in Asia (1945-1962) (Stanford University Press, 2009); và “Dreams of Paradise: The Making of a Soviet Outpost in Vietnam.” Ab Imperio(August 2008), tr. 255-285.

14. Vu Tuong, Paths to Development in Asia, tr. 196.

Vũ Tường là Giáo sư (Assistant Professor), ngành Khoa học Chính trị, Đại học Oregon.

© 2010 Vũ Tường
© 2010 talawas

Thứ Sáu, 11 tháng 3, 2016

Nước Việt cổ có phải là Việt Thường

Gần đây có một phong trào tìm hiểu về gốc tích của nước Việt thời tiền sử. Cũng là một việc đáng khen và đáng cổ vũ. Tuy nhiên, cái đáng nói là một phong cách nghiên cứu tùy tiện, theo mong muốn và cảm hứng nhiều hơn. Thiết nghĩ việc tìm về cội cần có một thái độ nghiêm cẩn hơn chứ không thể tùy tiện cẩu thả như thế được. Đã đành khoa học là phải cởi mở, mọi việc trước khi kết luận đều bình đẳng. Nhưng "các công trình khoa học" như thế lại lan truyền trên khắp các phương tiện thông tin đại chúng, dùng những khẳng định chắc như đinh đóng cột, đao to búa lớn, tạo nên những định kiến cho đại chúng, trong tương lai sẽ là những ảo giác xã hội có hại.

Do đó, có lẽ phải bàn kỹ một lần. Thứ nhất, việc nghiên cứu dòng di cư của các nhóm người cổ dựa trên các nghiên cứu về gien, cho thấy có sự di chuyển của các nhóm người từ phía nam lên phía Bắc không có nghĩa là dân Trung Quốc phía Nam sông Dương tử đều là người Việt cổ. Thực ra, khi đó chưa có khái niệm người Việt. Nhóm người di cư từ phía Tây qua (Giả thiết là đã qua vùng Lưỡng Hà, Ấn Độ cũng chỉ là giả thuyết thôi, chứ chưa phải là chân lý khoa học), đã mắc lại vùng Himalaya rất nhiều thiên niên kỳ trước khi tràn xuống Miến Điện, Vân Nam. Từ đó có các nhánh di cư lên phía bắc và có nhóm tràn xuống Đông Nam Á. Phải xác định rõ, việc nghiên cứu này cũng có những hạn chế về quy mô thống kê và kết luận cũng không thể như đinh đóng cột. Việc kiến giải các kết quả này cũng cần phải có một nghiên cứu kỹ lưỡng về cơ sở của phương pháp ADN để thấy được ý nghĩa cũng như phạm vi của nó để khỏi suy luận quá xa và tùy tiện như một số tác giả đã làm. 

Điểm thứ hai, khái niệm người Việt cổ cũng cần bàn. Nhiều người Việt Nam đọc sách và cho rằng Việt là chỉ Việt Nam. Điều đó không đúng. Người Thái, người Miêu, đều là Việt. Gần đây có một số tác giả phương Tây đã giải mã Việt nữ ca trong sách Thiết uyển, cho thấy đó là tiếng Thái. Các nhà "nghiên cứu" tay ngang Việt Nam rất ngại nói tới chuyện này. Điều đáng nói hơn, chúng ta cần làm rõ các khái niệm khi dùng. Tránh việc dùng các khái niệm mờ để rút ra các kết luận sau đó lại gán cho chúng các khái niệm tường minh. Thực ra đây là một phép ngụy biện giả khoa học sơ đẳng. Trước tiên chúng ta phải nói rõ với nhau thế nào là người Việt cổ và mối liên quan của họ với người Việt Nam hiện đại, với Hùng Vương hoặc với các tộc người sống tại đồng bằng sông Hồng vào thời Đường trở về sau.

Điểm thứ ba cũng là điểm quái lạ nhất là cách đọc sách tùy tiện. Căn cứ vào sách của Trung Quốc, sau đó lại dùng để vặn lại sách Trung Quốc hoàn toàn không phân tích mà dựa trên một số kết luận theo mong muốn có sẵn.  Ví dụ điển hình là bài gần đây [1], nói chung chung mơ hồ "cổ sử Trung Quốc" nói có nước Việt Thường đến dâng rùa cho vua Nghiêu. Thực ra chằng có sử nào của Trung Quốc ghi điều đó mà chính bộ sử của Việt Nam là ĐVSKTT mới đặt ra giả thuyết Việt Thường là nước ta. Việc dâng lịch rùa được ghi trong một sách cổ nhất là Thượng Truyện được Phục Thắng soạn vào đầu đời Hán, có nghĩa là khoảng 3000 năm sau sự kiện nước Việt Thường dâng rùa cho vua Nghiêu. Sau Thượng Truyện phải đến đời Tống, cách đây chưa tới 1000 năm mới có sách Thông Chí của Trịnh Tiều ghi lại việc này. Nếu người viết không "dấu nhẹm" các chi tiết như thế để cho người đọc quyết định xem "cứ liệu lịch sử" đó khả tín như thế nào thì có lẽ không có gì đáng nói.  Sau đó có một số sách soạn vào khoảng thế kỷ 10 hoặc muộn hơn võ đoán không có căn cứ về Việt Thường là Lâm Ấp hoặc vùng Hà Tĩnh ngày nay. Đến khi soạn ĐVSKTT, các sử gia Việt Nam tùy tiện đặt Việt Thường là tên một bộ ở vùng Cửu Chân, với cứ liệu là các sách Trung Quốc nói trên, chứ hoàn toàn không có một nguồn độc lập. Một điểm có cơ sở thực tiễn là thời Hán có đặt địa danh Việt Thường tại vùng Cửu Chân nhưng gần như chắc chắn không phải theo tên một quốc gia cổ đã tồn tại từ trước ở đó.

Đặc biệt các học giả Việt nam từ Đào Duy Anh và một số nhà nghiên cứu thế hệ sau cũng đã khẳng định Việt Thường không phải là địa danh trên lãnh thổ Việt Nam. Điều đó có thể đúng do đồng bằng sông Hồng lúc đó mới hình thành, không thể có một quốc gia với mật độ dân cư đáng kể. Một số người khẳng định Việt Thường ở Trung Quốc đại thể dựa trên lý luận là với khoảng cách như vậy mới có thể giao thương với Trung Quốc cổ [2].

Các nghiên cứu mới nhất của các tác giả phương Tây, ngoài Trung Quốc cũng như của Trung Quốc cũng cho thấy Việt Thường là một từ phiếm chỉ một quốc gia ở phía Nam. Như vậy, các nước Việt Thường dâng chim trĩ trắng vào thời Chu và dâng rùa vào thời Nghiêu có thể không phải là một nước. Các văn tự về sau chỉ Việt Thường được định hình là chỉ một quốc gia có địa vực từ bắc Miến Điện tới đông bắc Ấn Độ là Assam.  Các sách Hậu Hán Thư-thiên Tây Vực ký và Tân Đường Thư- thiên Địa Lý Chí, cũng là các sách cổ Trung Quốc thậm chí xác định rõ Việt Thường nằm vào khoảng Bangladesh, Miến Điện cho đến Thượng Lào ngày nay.     

[1] http://chuvietcolacviet.vn/cosu/detail/van-minh-viet-co-%E2%80%9Cbi-danh-cap%E2%80%9D-nhu-the-nao-271.html
[2] http://www.chungta.com/nd/tu-lieu-tra-cuu/viet-thuong-thi-o-dau.html

Thứ Hai, 9 tháng 3, 2015

Giả thuyết về Thời gian Ma

Tôi thường liên tưởng tới Lịch sử như một dòng sông uốn khúc rất nhiều, len lỏi giữa hai dãy núi cao, che phủ bởi mây mù dày đặc. Cảnh tượng giống như vùng núi Pocono, giáp giới giữa hai bang New Jersey và New York, thuộc dãy núi hùng vĩ Appalachia. Trong lịch sử chứa đựng bao nhiêu là huyền thoại, thật giả xen kẽ mà có lẽ mãi mãi người ta sẽ không biết được thực hư.  Ai đã từng biết mỗi cây đại thụ và những cây nâm đã lớn lên và chết đi như thế nào. Chính dãy Appalachia đã là cảm hứng cho câu chuyện lãng mạn tuyệt vời về Rip Van Winkle lãng mạn về thời gian bị cắt mất. Lịch sử luôn có một sức cuốn hút mạnh mẽ, với những trí tưởng tượng, phục dựng lại những kịch bản khác nhau dựa trên các dấu tích còn lại. Lịch sử cũng là một cơ sở dữ liệu để kiểm chứng các chân lý thông thái, chiêm nghiệm cho những vấn đề có ích và thực tế hiện tại.
Một trong những đề tài liên quan tới lịch sử gây ấn tượng mạnh mẽ đối với tôi là Giả thuyết về Thời gian Ma (Phantom Time Hypothesis). Các tác giả của giả thuyết này, Heribert Illig, Hans-Ulrich Niemitz, và một số người khác, cho rằng giai đoạn lịch sử gần 300 năm từ 614 đến 911 thuộc thời Trung Cổ ở Âu Châu hoàn toàn không tồn tại. Nếu đúng như vậy, một loạt sự kiện lịch sử và cả vị Hoàng đế vĩ đại của đế chế Lã Mã thần thánh cũng không hề tồn tại. Theo một lý thuyết âm mưu, giai đoạn này được cho là Giáo Hoàng và/hoặc các Hoàng đế La Mã thần thánh và Byzantine ngụy tạo ra để tạo một thứ hào quang có tính ý thức hệ cho lịch sử. Thực là khó tin, nhưng sở dĩ các tác giả của Giả thuyết này có thể đưa ra một giả thuyết như thế cũng là nhờ Giai đoạn Trung cổ không để lại thư tịch và các bằng chứng xác tín về sự tồn tại. Giả thuyết Thời Gian Ma đã đưa ra rất nhiều bằng chứng đồ sộ. Ở đây chúng tôi chỉ lược thuật một số điểm chính, thú vị theo quan điểm cá nhân. 
Lý lẽ đầu tiên liên quan trực tiếp tới Lịch học, là một trật tự theo dõi của con người tạo ra. Ở phương Tây, từ năm 46 trước Công nguyên, người ta đã dùng lịch Julian, do chính Julius Ceasar ban hành, sau khi chinh phục Ai Cập, trên cơ sở cải cách Lịch La Mã dùng trước đó. Đến nay, người ta vẫn phải lấy làm kinh ngạc về độ chính xác của Lịch Julian. Khi hiểu biết về hệ Mặt Trời và các quỹ đạo tuần hoàn của Trái Đất, Mặt Trăng còn sơ khai, làm thế nào người ta có thể soạn được một bộ lịch về cơ bản là chính xác như vậy. Điều lý thú nhất là các vòng tuần hoàn của Trái đất quanh Mặt trời, chu kỳ tự quay của Trái đất quanh trục của chính nó, và chu kỳ của Mặt trăng quay quanh Trái đất không phải là bội số nguyên của nhau mà là những số lẻ. Do đó, Con người sinh hoạt theo ngày đêm, phải đo thời gian bằng ngày, khi quan sát Mặt trời, Mặt trăng và mùa màng phải chú ý đến Năm, là chu kỳ của Trái đất đi quanh Mặt Trời. Ngày nay, một học sinh tiểu học cũng biết để điều chỉnh phần số lẻ này, người ta dùng năm nhuận, cứ 4 năm một lần có một ngày 29/2, tức là người nào sinh vào ngày 29/2, bốn năm mới được mừng sinh nhật một lần. Tuy nhiên ít người biết, việc điều chỉnh số lẻ trong Lịch học bằng năm nhuận vẫn chưa hoàn hảo, vì phần số lẻ vẫn nhỏ hơn 1/4 ngày một chút. Tuy lịch Julian đã có năm nhuận, nhưng sau nhiều thế kỷ, phần số lẻ được tích lũy và làm các tiết khí hậu dịch chuyển rõ rệt.
 Dễ thấy và khách quan nhất là ngày xuân phân và ngày thu phân (equinoxes) là ngày có thời gian ban ngày bằng thời gian ban đêm. Điều đó gây khó chịu cho Giáo Hoàng Grigory XIII, khi ông thấy ngày lễ Phục Sinh ngày càng rời xa ngày xuân phân, trong khi lịch sử giáo hội đã ghi nhận lúc đầu, ngày Phục sinh rơi vào ngày xuân phân. Năm 1582, Giáo hoàng Grigory XIII ra lệnh cải cách lịch và ban hành lịch Grigorian. So với lịch Juilan, lịch Grigorian được điều chỉnh 10 ngày, ngày Phục sinh được điều chỉnh lại để rơi đúng vào tiết xuân phân.
Tuy nhiên, có một vấn đề là giữa lịch Julian và lịch Grigorian có khoảng thời gian là hơn 1600 năm. Theo kiến thức hiện nay của chúng ta về chu kỳ quay của Trái Đất  xung quanh Mặt Trời thì thời gian tích tụ từ số lẻ trong thiếu hụt hơn 1600 năm phải là hơn 13 ngày. Vậy 3 ngày còn lại đi đâu? Từ các quan sát và các nguồn thông tin khác, Heribert Illig đi đến ý tưởng cho rằng, Nhà Thờ đã ngụy tạo ra thêm gần 297 năm. Năm cải cách lịch Grigorian đúng ra là 1285, và năm Ất Mùi 2015 đúng ra mới là 1718. Heribert Illig còn đi xa hơn khi giả thiết rằng khoảng 297 năm từ 614 đến năm 911 sau Công nguyên chính là do các nhà sử học tuân lệnh Nhà Thờ bịa ra, với sự đồng lõa của các Hoàng đế Đông và Tây La Mã.
Bên cạnh đó, Heribert Illig còn tìm ra hàng loạt lý lẽ khác trong lĩnh vực kiến trúc, trong thư tịch của Hồi giáo để khẳng định kết luận của mình. Tất nhiên, cũng có rất nhiều lý lẽ phản bác Giả thuyết Thời gian Ma. Theo phong cách phương Tây, hễ đã định bàn chuyện gì là họ tìm hiểu đến nơi đến chốn, dù chống phá hay ủng hộ khác với kiểu bàn luận nhợt nhạt về lý luận, nhưng không thiếu trợn mắt, quát nạt, kết quả cứ vòng vòng như kiến bò miệng chén của Á Đông. Chẳng hạn là khi so sánh với các sự kiện trong lịch sử Trung Quốc, số liệu thiên văn học. Đáng chú ý, có một số học giả khác cũng có các giả thuyết tương tự, như Anatoly Fomenko, một nhà toán học Nga cũng đưa ra Giả thuyết về Trật tự thời gian mới (New Chronology) và còn đi xa hơn, cho rằng hơn 1000 năm bị mất tích.
Việc kiểm tra các giả thuyết này, dù là lý thú, nhưng đối với Việt Nam là quá xa xôi và không có nhiều ích lợi cụ thể. Tuy vậy, Lịch sử Việt Nam cũng có một khoảng Thời gian Ma trong triều đại của 18 vua Hùng, khi đối chiếu với Lịch sử Trung Quốc, kéo dài từ trước thời Tam Hoàng đến tận thời Tần-Hán kéo dài trên 2600 năm. Sự tồn tại của Thời gian Ma trong thời đại Hùng Vương không chỉ là một giả thuyết, mà có bằng chứng chắc chắn. Tuy nhiên, khác biệt ở chỗ không có nhiều quan tâm của giới học giả để giải đáp câu hỏi này. Lý do có thể ở chỗ ngay cả sự tồn tại của thời đại Hùng Vương cũng không hề có cơ sở rõ ràng. Có lẽ cần đặt câu hỏi câu chuyện về Thời đại Hùng Vương bắt đầu từ bao giờ? Có người cho rằng Sư Vạn Hạnh đã sáng tạo ra câu chuyện này để làm cơ sở pháp lý và ý thức hệ cho Đại Việt, khi Lý Thái Tổ lên ngôi. Gần đây có những thuyết mới về Hồng Bàng Thị thấm đẫm các học thuyết âm mưu và chủ nghĩa dân tộc. Các nghiên cứu mới nhất về ngôn ngữ Việt cổ còn lại trong các thư tịch cổ Trung Hoa gần đây cho thấy rằng các đoạn văn tự này phần lớn liên hệ tới ngôn ngữ Thái. Đó cũng là một cảnh tỉnh đối với cách nghĩ dân tộc chủ nghĩa Viet-centric. Chắc chắn vào thời Hùng Vương, việc có một nhà nước tập quyền phong kiến với triều đình gồm hai ban văn võ Lạc hầu, Lạc tướng trong một vương quốc được  tổ chức hành chính chặt chẽ với 15 bộ chỉ là tác phẩm của trí tưởng tượng. Tuy nhiên, có thể giả thiết rằng, sư Vạn Hạnh đã sáng tạo ra một thời kỳ dựa trên những câu chuyện thần thoại, huyền sử rải rác trong dân gian và còn lưu lại một chút ký ức về thời hoang sơ, khi mà khái niệm người Việt còn chưa thành hình. Dù thế nào đi nữa, có lẽ ví dụ về Thời gian Ma cũng điển hình cho cách tư duy người Việt, cảm tính, sốt ruột, coi thường mọi lý luận nhưng lại hay lý sự.

Thứ Bảy, 12 tháng 7, 2014

Hội chứng ký ức giả tạo của Trung quốc

Cả một dân tộc đã bị giáo dục sai lầm rằng người Trung quốc đã phát hiện và đặt tên cho các đảo của Biển Nam Trung Hoa.
Bill Hayton / 10 Tháng Bảy, 2014    Người dịch: Lệnh Lỗi Dương


“Chìa khóa đến tương lai hòa bình ở Châu Á nằm ở việc xem lại quá khứ một cách trung thực và có tính phê phán.”
Biển Nam Trung Hoa là nơi những tham vọng của Trung Quốc gặp phải lo ngại của toàn thể Châu Á và sức mạnh của Mỹ. Trên lãnh hải của mình Trung Quốc đã vứt bỏ trò vờ vĩnh về “sự vùng lên hòa bình” để theo đuổi chính sách ngoại giao pháo hạm. Những con tàu tuần bờ biển của Trung Quốc được vũ trang đã đâm húc vào các đối thủ Việt Nam, phong tỏa các điểm tiền tiêu của Philippine, ngăn cảnh các cuộc khảo sát về dầu khí của Malaysia và đe dọa các tàu của Indonesia đang bảo vệ ngành đánh cá của nước này.  Để đáp lại, tất các nước này đang mua nhiều vũ khí hơn và cải thiện các quan hệ quân sự với các chính phủ khác đang lo ngại về sự quả quyết ngày càng tăng của Trung Quốc— trước hết là Mỹ và còn có cả Nhật, Hàn Quốc, Ấn Độ và Úc.
Căn nguyên của khó khăn này là việc Bắc Kinh đưa ra “yêu sách lịch sử không thể tranh cãi” của mình tới 80 phần trăm của Biển Nam Trung Hoa: suốt từ cảng Hồng Kông đến tận gần bờ biển Borneo, cách xa tới 1500km. Vấn đề với cái yêu sách này là không có bằng chứng tin cậy nào ủng hộ cho nó.  Và cái hư cấu lịch sử này sẽ đe dọa hòa bình và an ninh Á Châu và sẽ trở thành sàn đấu cho cuộc tranh đấu giữa Trung Quốc và Mỹ với các hệ quả mang tính toàn cầu. Dường như khó mà tin được việc đối đầu tiềm tàng một cơn chấn động toàn cầu, về căn nguyên, lại là việc tranh giành những vệt đất hầu như hoàn toàn không có người ở.
Có hai tập hợp “các đảo” chính ở Biển Nam Trung Hoa. (Chỉ có rất ít đảo thực, đa số chỉ là các bãi san hô, dải cát hay đá). Ở phía bắc, quần đảo Paracel đang bị tranh chấp giữa Trung Quốc và Việt Nam. Về phía Nam, quần đảo Spratly rộng lớn hơn rất nhiều đang bị Trung Quốc, Việt Nam, Malaysia, Brunei và Philippine đòi hỏi chủ quyền. Hầu hết những địa điểm cách biệt này đều mang tên tiếng Anh,  thường được đặt bởi các tàu và thủy thủ đoàn đã vẽ chúng trên bản đồ. Richard Spratly là một thuyền trưởng săn cá voi đã xác định vị trí hòn đảo mang tên ông vào năm 1843, Chiến hạm hoàng gia Iroquois đã đặt tên cho bãi san hô Iroquois trong công tác khảo sát vào năm 1920, và vân vân.
Khi một ủy ban chính phủ của Trung Quốc lần đầu đặt tên tiếng Trung Quốc cho các hòn đảo này vào năm 1935 họ chỉ làm mỗi một việc là dịch hoặc phiên âm các tên Anh đã có. Ở quần đảo Paracels, ví dụ,  bãi san hô Antelope trở thành Linh Dương (từ tiếng Trung quốc của antelope) và ở quần đảo Spratlys, bãi san hộ North Danger trở thành Bắc Hiểm (tiếng Trung Quốc cho “mối nguy hiểm phương bắc”),  đảo Spratly trở thành Si-ba-la-tuo (phiên âm tiếng Trung Quốc của tên tiếng Anh).  Ủy ban Trung Quốc đã đơn giản sao chép các bản đồ của Anh, và kể cả các lỗi. Các tên đó sau này được sửa chữa hai lần. Bãi ngầm Scarborough, được mang tên một con tàu Anh vào năm 1748, ban đầu được phiên âm là Si ge ba luo vào năm 1935, được gọi là bãi san hô Dân Chủ bởi Trung Hoa Dân Quốc vào năm 1947 và sau này được đặt một cái tên bớt nhạy cảm chính trị là Hoàng Nham (Đá vàng) bởi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa vào năm 1983.
“Chưa hề có bằng chứng khảo cổ nào được tìm thấy về việc có bất cứ con tàu Trung quốc nào đã đi qua vùng biển này trước thế kỷ 10”
Ngày nay, có vẻ như các nhà chức trách Trung Quốc hoàn toàn không biết gì về điều này. Lý lẽ bảo vệ chính thức được chuẩn hóa về chủ quyền “không thể tranh cãi” của Trung  Quốc trên Biển Nam Trung Hoa bắt đầu  với cụm từ, “người Trung Quốc là người đầu tiên phát hiện và đặt tên cho quần đảo  Nam Sa.” Trong thực tế, “người Trung Quốc” đã sao chép các tên từ người Anh. Thậm chí từ “Nam Sa” (có nghĩa “cát phía nam”) đã di chuyển lòng vòng trong các bản đồ Trung Quốc. Vào năm 1935 tên này được dùng để mô tả vùng biển nước nông gọi bằng tiếng Anh là “Bờ Macclesfield” (vâng, cũng lại mang tên một con tàu Anh khác). Vào năm 1947 cái tên Nam Sa đã bị di chuyển về phía Nam trên các bản đồ Trung Quốc để chỉ quần đảo Spratly.

Việc khảo sát đầy đủ mỗi chứng cớ mà phía Trung Quốc đưa ra có thể cần rất nhiều trang giấy, nhưng đã đủ để nói rằng không hề có chứng cứ nào đã được tìm thấy về việc có bất cứ con tàu Trung Quốc nào đã đi qua vùng biển này trước thế kỷ 10. Cho đến lúc đó mọi việc giao thương và thám hiểm đều được thực hiện bởi các con tàu Malay, Ấn Độ và Ả Rập. Chúng có thể, thỉnh thoảng, đã mang theo hành khách Trung Quốc. Những chuyến đi được bàn đến rất nhiều về các “đô đốc thái giám” Trung Quốc bao gồm cả Trịnh Hòa, chỉ kéo dài tổng cộng khoảng 30 năm, cho đến những năm 1430. Sau đó, mặc dù các thương nhân và các ngư đoàn đã đi lại khá nhộn nhịp trên những vùng biển này, quốc gia Trung Hoa không bao giờ lai vãng đến vùng nước sâu này lần nữa cho đến khi chính phủ dân quốc được Mỹ và Anh tặng các tàu vào cuối Chiến tranh Thế giới thứ hai.
Lần đầu tiên có bất cứ quan chức chính phủ Trung Quốc nào đặt chân lên bất cứ đảo nào trong quần đảo Spratly là vào 12 Tháng Mười Hai năm 1946, vào lúc mà các đế quốc Anh và Pháp đã đưa ra các tuyên ngôn vể chủ quyền trên vùng biển này. Một phái đoàn cấp tỉnh của Trung Quốc đã đến được quần đảo Paracels vài thập kỷ trước đó, vào mùng 6 Tháng Sáu năm 1909, hình như thực hiện một chuyến dã ngoại trong một ngày, được dẫn đường bởi các thuyền trưởng người Đức mượn từ hãng buôn Carlowitz. Những đụng độ ở tầm quốc tế đang dựa trên các tuyên bố yếu ớt như vậy.
Bức tranh lịch sử này được hình thành từ các nghiên cứu độc lập tốt nhất. Nhưng nếu nói điều này với bất cứ người Trung Quốc nào, họ sẽ phản ứng với sự ngờ vực. Từ phòng học tới các pháp đình ngoại giao một ký ức chính thức về chủ quyền của Trung Quốc trên vùng biển này đã trở thành một sự thực được xác lập. Làm thế nào một cảm xúc dân tộc về chủ quyền đối với Biển Nam Trung Hoa phát triển mạnh mẽ từ những nền tảng quặt quẹo thế này?
Câu chuyện có thể bắt đầu từ Chiến tranh Nha phiến lần đầu vào năm 1840 và cái mà người Trung Quốc bây giờ gọi là “thế kỷ nhục nhã của dân tộc”  tiếp theo đó. Trung Quốc rõ ràng đã phải rên xiết đau thương dưới bàn tay của các đế quốc phương Tây và Nhật: hàng ngàn người bị giết, các thành phố bị biến thành thuộc địa và chính phủ trở thành con nợ của các ngân hàng quốc tế.
Nhà địa lý William Callahan và những người khác đã vạch rõ bằng cách nào, như là một bộ phận của cuộc đấu tranh chống áp bức của ngoại bang, những người quốc dân đảng và cộng sản đã vun đắp cho một cảm giác bị vi phạm lãnh thổ để vận động nhân dân. Từ những năm 1900 trở đi, các nhà địa lý Trung Quốc như Bạch Mi Sơ, một trong những người sáng lập ra Hội Địa lý Trung Quốc, đã bắt đầu vẽ những bản đồ để cho dân chúng thấy có bao nhiêu lãnh thổ bị xé khỏi Trung Quốc bởi bọn đế quốc.
“Những bản đồ quốc sỉ” này đã giả định rằng lãnh thổ hợp pháp của Trung Quốc bao gồm mọi chư hầu đã từng cống nạp cho hoàng đế Trung Hoa. Chúng bao gồm bán đảo Triều Tiên, phần lớn nước Nga, Trung Á, Himalayas và nhiều phần của Đông Nam Á. Các đường đã được vẽ ra trên các bản đồ này để làm tương phản các vùng rộng lớn của các đế chế trước đây với tình trạng bị thu hẹp của đất nước. Kết quả tất yếu là, sau khi ủy ban hữu quan của Trung Quốc đã đặt tên mới cho các quần đảo ở Biển Nam Trung Hoa vào năm 1935, một trong những đường này được vẽ ra vòng quanh vùng biển này. Đây chính là cái mà bây giờ được gọi là đường “ hình chữ U” hoặc “9-đoạn” thâu tóm  80 phần trăm của vùng biển này và tất cả các quần đảo trong đó. Một sự cố về công tác bản đồ, dựa trên việc đọc sai lịch sử Đông Nam Á, chính là cơ sở cho tuyên bố chủ quyền lãnh thổ hiện nay của Trung Quốc.
Trung Quốc rõ ràng đã bị cưỡng đoạt dưới tay của người ngoại quốc áp bức nhưng trạng thái hiện tại xuất hiện từ đống đổ nát của nhà Thanh và các cuộc nội chiến sau đó đã tìm được sự an ủi ở các ký ức giả tạo có rất ít quan hệ với những gì đã xảy ra trong thực tế. Như bất cứ khách tham quan nào đến triển lãm “Con đường sống sót” mới đây ở Bảo tàng Dân Tộc Trung Quốc tại quảng trường Thiên An Môn nào đều có thể nhận thấy, hội chứng ký ức giả này là một thành phần quan trọng trong huyền thoại của Đảng Cộng Sản để hợp pháp hóa vị thế:  chính Đảng đã cứu đất nước khỏi nỗi ô nhục.
Các học viện và ủy ban chính phủ quốc dân đảng trong nửa đầu thế kỷ 20 đã di chúc lại cho Đảng Cộng sản một “lịch sử chính thức” rõ ràng là bịa đặt. Chính điều này, chứ không phải nguy cơ của bọn côn đồ dân tộc chủ nghĩa trên đường phố đã làm cho các tranh chấp về Biển Nam Trung Hoa trở nên căng thẳng và nguy hiểm. Nhưng chấp nhận điều sai này có thể sẽ xóa bỏ một hòn đá tảng về vị thế của Đảng trong thượng tầng của xã hội Trung Quốc.
Không may, không có lựa chọn nào khác để tiếp tục tranh đoạt ở Biển Nam Trung Hoa. Chẳng có bên nào muốn khiêu khích để bùng nổ xung đột nhưng không ai muốn giảm sức ép bằng cách giảm đi các yêu sách về lãnh thổ. Một số quan chức Trung Quốc về phương diện cá nhân cũng nhận ra sự vô nghĩa về mặt pháp lý của việc duy trì yêu sách về “đường chữ U”. Nhưng cũng các quan chức đó nói rằng họ không thể điều chỉnh yêu sách này vì các nguyên nhân chính trị—do các phê phán trong nước sẽ vô cùng ghê gớm. Làm thế nào để sau đó có thể thuyết phục nhân dân Trung Quốc chấp nhận quan điểm khác về lịch sử của Biển Nam Trung Hoa?
Có lẽ một câu trả lời nằm ở phía Đài Loan. Cơ hội cho một cuộc tranh luận tự do hơn về lịch sử Trung Quốc là lớn hơn nhiều ở Đài Loan so với trong lục địa
Đã có một số học giả “lạc loài” đã suy nghĩ lại về các khía cạnh về lịch sử của thế kỷ 20. Đài Loan cũng là nơi có các lưu trữ của Trung Hoa Dân quốc, chính phủ đầu tiên đã vẽ là “đường chữ U”. Một cuộc khảo sát cởi mở và cần thận về quá trình lộn xộn mà cái đường này được vẽ ra có thể thuyết phục được những người tạo ra công luận sẽ xem xét lại một huyền thoại quốc dân đảng mà họ đã tuyên bố là chân lý kinh thánh.
Có lẽ lý lẽ mạnh nhất cho việc bắt đầu ở Đài Loan là các quan chức ở Bắc Kinh đang sợ rằng nếu họ có chấp nhận bất cứ thỏa hiệp nào đều sẽ bị phê phán ầm ĩ ở Đài Bắc. Nếu các quan chức này xuống thang với các xung đột lịch sử địa lý ở Biển Nam Trung Hoa, sẽ dễ dàng hơn cho chính quyền Bắc Kinh làm việc giống như vậy. Chìa khóa của tương lai hòa bình ở Á Châu nằm ở việc xem xét lại quá khứ một cách trung thực và có tính phê phán.

Thứ Bảy, 12 tháng 4, 2014

Về hành trình di cư và định cư của tổ tiên người Việt

ÔNG CHA TA TỪ ĐÂU ĐẾN? Theo các sách sử cũ thì người Việt vốn là một bộ phận của người Bách Việt sống ở miền Nam sông Dương Tử. Sau đó lại có các đợt sóng người Hán vào Việt Nam vào thời Đông Hán, Ngũ Đại Tùy Đường Tống hòa huyết mà thành. Tất nhiên, việc giao lưu, hòa huyết giữa các dân tộc láng giềng, luôn luôn có. Nhưng, các bằng chứng khoa học về gien, các bộ nhiễm sắc thể đã chứng minh rằng vào khoảng 80 nghìn năm trước đây (tức là khoảng 20 lần lâu hơn toàn bộ lịch sử nước Việt mà chúng ta có thể tưởng tượng ra được), có một đàn người tiền sử (loại người có trí thông minh) đã xuất phát từ bờ Tây của Hồng Hải, bán đảo Sừng Phi, bao gồm Etiopi và Somalia. Một bộ phận ở lại vùng Vịnh Ba Tư, bộ phận khác tiếp tục Đông tiến đến vùng Đông Á. Trong một thời gian dài họ bị cái lạnh khắc nghiệt và những dãy núi cao (có thể là Himalaya) cản lại, nhưng sau đó họ đã tràn xuống phía nam qua vùng Miến Điện-Vân Nam. Bộ phận đi lên phía bắc chia tay nhau ở lưu vực sông Dương Tử. Một bộ phận tiếp tục Bắc tiến vào châu thổ Hoàng Hà, Hồ Nam, Thiểm Tây để thành người Hán cổ. Những người này sẽ hòa huyết với các chủng Hung Nô, Mông Cổ để thành người Hán sau này. Một bộ phận khác là người Miêu-Dao đã lạc nhau tại lưu vực sông Dương Tử. Trong đó, một bộ phận xuôi dòng về hạ lưu di cư vào một địa bàn trải dài từ Thượng Hải đến Quảng Đông, chính là ngành phát tích chính của Bách Việt. Bộ phận đi về phía Nam tràn vào lãnh thổ Thái Lan, Việt Nam, Lào, Campuchia và dọc theo biên giới Việt Trung. Một nhóm chiếm lĩnh châu thổ sông Hồng. Nhóm này lại tiếp tục tách ra thành các nhóm nhỏ. Một nhóm lại Bắc tiến dọc theo bờ biển đi mãi đến tận Phúc Kiến, Thượng Hải lại hòa vào Bách Việt. Như vậy Bách Việt bao gồm nhóm Miêu-Dao, nhóm đi vòng qua phía Nam và có cả những người Hoa Hạ đến sau hòa huyết.
    Sau này Bách Việt, dưới sức ép của Hoa Hạ, Mông Cổ lại Nam tiến theo hai hướng Tây Nam và Nam.
    Năm 2008, tôi có dịp sang Etiopi, tự nhiên tôi có một giao cảm thân thiện với vùng đất này, như mình đã biết vùng đất này từ lâu. Ban đêm, tôi cũng có những giấc mơ kỳ lạ nhưng hết sức dễ chịu trong suốt thời gian ở đây. Âu cùng là một điều kỳ lạ.
     Bài này post nguyên bản tiếng Anh đã lâu. Cho đến hôm nay mới dịch, cắt bớt râu ria và viết thêm vài đoạn tóm lược cho rõ nghĩa.

Trích dịch từ bài của J.A.Edmondson, "Sức mạnh của ngôn ngữ đối với quá khứ: định cư của người Thái và ngôn ngữ Thái ở Nam Trung Hoa và Bắc Việt Nam" ("The power of language over the past: Tai settlement and Tai linguistics in southern China and northern Vietnam")
  Tóm lược ý tưởng chính: Trong khi các nghiên cứu ban đầu về gien đã đưa ra các bằng chứng về sự di cư của các chủng tộc ở Đông Nam Á và Trung Hoa, nghiên cứu về ngôn ngữ đưa ra một số thông tin bổ sung khác về quan hệ họ hàng huyết thống của các tộc dân vùng Đông Nam Á. Qua đó chúng ta hiểu rõ thêm khái niệm người Việt và người Bách Việt. Bài tiếp sau sẽ nói về các thông tin nguồn gốc chủng tộc cất dấu trong ngôn ngữ.

  Phần 1 Quá khứ xa xưa được đổi tên mới và lược bớt phần cuối tóm lược những thông tin hành trình di cư và định cư của tổ tiên người Đông Á dựa trên các bằng chứng về gien.

Về hành trình di dân và định cư của tổ tiên người Việt 
    Chúng ta đang sống trong một thời kỳ, khi kiến ​​thức về quá khứ xa xưa (hơn 40.000 năm trước) bùng nổ. Nhờ việc giải mã bộ gien người, hiện nay chúng ta đã ở vị thế để biết rõ về nguồn gốc của mình, chúng ta đến từ đâu và hành trình di cư của tổ tiên chúng ta. Như Spenser Wells đã mô tả trong cuốn Cuộc hành trình của con người: một cuộc phiêu lưu di truyền (2002) của mình đã mô tả, toàn thể nhân loại bên ngoài châu Phi đều xuất thân từ một nguồn cội duy nhất và sự mở rộng quần thể dân cư đã xuất phát từ Vùng Sừng Phi (Người dịch: Bán đảo ở Đông Bắc châu Phi, bao gồm lãnh thổ Etiopi và Somalia ngày nay) vào khoảng 80.000 năm trước đây. Giả thuyết Nguồn gốc Châu Phi này khẳng định có một giống người duy nhất xuất hiện ở Châu Phi khoảng 80.000-100.000 năm trước và bắt đầu di cư về phía đông để kiếm sống. Có những nhóm khác đã rời khỏi Châu Phi từ trước đó, nhưng họ không phải là Homo sapiens (người thông minh), mà chỉ là Homo erectus (Người đứng thẳng).
     Trong các học thuyết cũ người ta cho rằng những khác biệt về kiểu hình giữa người với người về da, tóc, mắt, vân vân là do sự phát triển các hình thức độc lập có tính khu vực của các loại người tiền sử truyền lại thành các nòi giống nhỏ khác nhau được tìm thấy ở vị trí địa lý khác nhau ngày nay. Quan điểm này có thuật ngữ là Nhiều nguồn gốc (Polygenesis) và đi ngược lại quan điểm Một nguồn gốc của Giả thuyết Nguồn gốc Châu Phi. Bằng chứng về nhiễm sắc thể, tuy nhiên, đã nghiêng cán cân về phía ủng hộ thuyết Một Nguồn gốc một cách rất rõ rệt. Trong khi đã có bằng chứng di truyền chắc chắn về Một Nguồn gốc của dân tộc Thái và các dân tộc anh em, lại có một bằng chứng quan trọng khác làm cột trụ cho Giả thuyết Nguồn gốc Châu Phi. Các mẫu hóa thạch ở Đông Á hoàn toàn khác với các mẫu tìm thấy ở Châu Âu, nơi có rất nhiều bằng chứng minh chứng cho việc định cư và phát triển của Homo erectus qua các dạng người Neanderthal.
     Những "người trong hang" đến định cư ở Châu Âu trước Homo sapiens và còn tồn tại về thời gian và địa lý chồng chéo với việc sinh sống của người Homo sapiens, phải cho đến khoảng 25.000 trước đây, khi mọi dấu vết về người Neanderthal đã biến mất. Ở châu Á tình hình rất khác; Hài cốt hóa thạch của vượn người được tìm thấy trước cả 100.000 trước đây, nhưng không còn tồn tại trong khoảng thời gian từ 100.000 đến 40.000 trước đây, cho thấy rằng Homo erectus như một loài đã bị tuyệt diệt trong thời Băng Hà khi các bằng chứng hóa thạch cho thấy một thời kỳ gián đoạn, (Xem công trình của Higham 2001: 3-5, và cũng tham khảo www.ankhoaagency.com/prehistory%20of%.htm, về quan điểm nhiều nguồn gốc trong các đoạn gọi là “ Các tổ tiên xa của người Trung Quốc").
    Những phát hiện tiếp theo sau thời kỳ Đỉnh Điểm Băng Hà 25.000 năm trước đây có thể xem như thuộc về Homo sapiens. Chúng ta biết về sự di cư của nòi giống của chúng ta vì đã có (1) đột biến di truyền ngẫu nhiên và tiếp theo là (2) những động lực và hiệu ứng trôi ngẫu nhiên có chọn lọc đã xác định được một mã DNA rõ ràng mới của một gen sau đó trở thành cố điểm định trong quần thể dân số.
   1. Như vậy, trong trường hợp này, một đột biến, có lẽ tương tự như sự khác biệt về nhóm máu, dẫn đến các đơn bội hình M168 ​​của nhiễm sắc thể Y ở nam giới có ở một nhóm người Homo sapiens Châu Phi. Chính những người mang đột biến này đã rời  bờ phía đông của Hồng Hải vào khoảng 80 thiên niên kỷ trước đây.
      Các bộ sưu tập của các đơn bội hình như thế, gọi là các nhóm đơn bội hoặc các đánh dấu đa phôi một nucleotide (SNP) đánh dấu, có thể được nghiên cứu trong các quần thể dân cư ngày nay bằng cách thu thập mẫu di truyền của các nhóm dân cư và xác định tỷ lệ phần trăm của chúng  về các nhóm đơn bội cụ thể. Sau đó, dữ liệu nhiễm sắc thể Y này có thể được sử dụng để phân tích phân bố tần suất của các đánh dấu trên khắp một khu vực địa lý và để tạo ra bản đồ đường bao, cho phép chúng ta biết về con đường và niên đại di cư của họ.
     Các nhóm đơn bội hình (đối với các nhiễm sắc thể Y) được đặt tên bắt đầu bằng các chữ cái từ A đến R trước các số được sử dụng cho các phân loại nhỏ mịn hơn. Nhóm đơn bội hình tên là M168 ​​có ý nghĩa đặc biệt, bởi vì nhiễm sắc thể Y của mọi nam giới ở ngoài Châu Phi đều sở hữu đánh dấu SNP này.
    Khoảng 35.000 năm sau đó,  nhóm đơn bội F (M89) đã xuất hiện ở Châu Phi và có thể cả Trung Đông. Nhiều người ở lại đó nhưng những người khác tiếp tục di chuyển về phía đông để kiếm sống. Nhóm này có ý nghĩa quan trọng đối với chúng ta, vì người ta tin rằng họ đại diện cho một "làn sóng phát triển thứ hai" từ Châu Phi. Do đó, một nhóm hậu duệ của những người đánh dấu bằng M89 SNP mang đánh dấu M9, xuất hiện khoảng 35.000 năm trước đây trong một người ở Iran.
    Đơn bội hình này ngày nay đã được tìm thấy trong mọi người Châu Á. Một hậu duệ sau nữa của đơn bội hình M9 là M175, chỉ tìm thấy được ở nam giới Châu Á; người mang đánh dấu di truyền này đã được sinh ra khoảng 30.000 năm trước đây. Người này đã đi cùng với với một nhóm tới Đông Á, nơi họ bị ngăn cản việc tiếp tục di chuyển bởi các dãy núi cao và nhiệt độ vẫn còn lạnh cóng.
     Một số con cháu của người này vẫn còn lại ở Đông Nam Á và phát triển thành các quần thể thổ dân vẫn còn tìm thấy ở đó, ví dụ như các quần thể Austro-Asiatic, xen kẽ với các chủng "Phi" ("Negritos") đã có mặt từ trước ở Malaysia, Andamans, và Philippines, những người đã đến trong "làn sóng đầu tiên" của những người Phi đến định cư ở châu Á, có lẽ vào 80 ngàn năm trước hay hơn nữa, xem công trình của Leroi (2005).
    Nhưng trong thời gian này, những người mang M175 di chuyển về phía đông và phía bắc. Một nơi nào đó gần biên giới Vân Nam / Myanmar đã có sự chia tách ra làm hai nhóm (a) một nhóm kết hợp 华夏族 Hoa Hạ, tên được sử dụng trong thời nhà Chu cho giống người sau này gọi là người Hán 汉 hoặc 中国 人 người "dân tộc" Trung Quốc cùng với những người 藏 缅 语 族 Tạng-Miến, tiếp tục đi về phía bắc và (b) nhóm người khác là các dân tộc 苗 瑶族 Miêu-Dao,  những người này sau đó đã lạc nhau khi cả hai đến được lưu vực sông Dương Tử. Cả hai nhóm đều có đột biến M122 đặc trưng. Một số  trong những người đã đến Vân Nam đã trải qua thay đổi, có lẽ ngay cả trước khi các nhóm người mang M122, rời khỏi đó; những người này, không giống như những người di chuyển về phía bắc, đã trở thành những người mang đánh dấu SNP M119. Quay trở lại thời điểm để những người có dấu M122, những người Miêu-Dao là những người đầu tiên tách ra từ nhóm này, trong khi bộ phận còn lại tiếp tục tiến về phía bắc đến nguồn sông Hoàng Hà, nơi họ tiếp tục phân chia, một nhóm - những người Tạng-Miến ở lại đó, trong khi người Hoa Hạ xuôi xuống hạ lưu theo dòng Hoàng Hà đến các tỉnh Hà Nam và Thiểm Tây.
     Những người đã không quay về phía bắc và có dữ liệu nhiễm sắc thể Y mang đánh dấu M119, đã di chuyển về phía nam vào miền bắc Thái Lan, Lào và Việt Nam và vòng lên phía bắc qua lưu vực sông Hồng vào lãnh thổ phía bắc và phía nam của biên giới Trung-Việt và theo dọc bờ biển đến cửa sông Dương Tử gần Thượng Hải.
Those males who possessed the M119 SNP marker would later be identified by Chinese historians as the groups known as the 百越Bai Yue, who extended from Shanghai to the Sino-Vietnam border area in Yunnan Province. These peoples undoubtedly spoke different languages from place to place.
Những người nam giới sở hữu các đánh dấu SNP M119 sau này có thể được định danh bởi các nhà sử học Trung Quốc như các nhóm được gọi là người 百越 Bách Việt, trải rộng từ Thượng Hải đến khu vực biên giới Trung-Việt Nam tại tỉnh Vân Nam. Các dân tộc chắc chắn nói các ngôn ngữ khác nhau phụ thuộc vào địa điểm.
    Những con cháu của họ, những người mang các đơn bội hình M119 bao gồm tất cả những người Thái, Đồng-Thủy, Ngật Ương, và Lê vẫn còn thấy được dọc theo vùng biên giới Việt-Trung cũng như những người ở Thái Lan, Lào, Myanmar, Việt Nam, và một số các thổ dân gốc Úc Đảo (Austronesian) của Đài Loan, ví dụ như người Amis, xem http://web.wenxuecity.com/BBSView.php?SubID=memory&MsgID=56818.
    Tóm lại, bằng chứng nhiễm sắc thể Y cho rằng, kết quả của các lịch sử di cư khác nhau, các dân tộc đa dạng hơn ở xa về phía nam Trung Quốc ngày nay có một lịch sử di truyền rất khác so với các nhóm người đồng nhất hơn ở phía bắc Trung Quốc.
      Những người ở gần vùng Thượng Hải, được gọi là 老 越 Lão Việt, được hấp thụ trong thế kỷ 4 trước công nguyên, bởi những người nhập cư Hoa Hạ / Miêu-Dao di chuyển vào khu vực này. Những người Hoa Hạ đến phương nam vào một thời điểm muộn hơn đã hòa trộn với các quần thể dân cư phía nam, như các tư liệu di truyền của những người con cháu họ cho thấy. Kết quả này là khẳng định của các tài liệu lịch sử nói rằng người Hoa Hạ, và các dân tộc T-B phía bắc đã di chuyển về phía đông nam và tây nam, người Hoa Hạ vào lãnh thổ Bách Việt, có lẽ sau khi  đã hòa trộn sớm hơn với một số với quần thể dân cư Miêu-Dao của  Hồ Bắc/Hồ Nam, xem Wen và đồng sự (2004).