Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn nghệ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn nghệ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 6 tháng 12, 2021

NỬA TIẾNG CHUÔNG CHÙA

  Mấy năm trước, nửa đêm tỉnh dậy nhìn sông Hồng, cao hứng dịch bài Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế:

Sương giăng quạ gọi trăng tàn

Lửa chài cây bến miên man nỗi sầu

Cô tô thành cũ còn đâu

Đêm buông nửa tiếng chuông rầu thuyền ai

Phong Kiều Dạ Bạc, là một trong những bài thơ Đường hay nhất. Nửa đêm nhìn sông, chút ánh đèn le lói, trời mù sương, chợt nhớ thơ Trương Kế.
Người bình thường đọc thơ thường dịch với ngắt câu
Dạ bán | chung thanh | đáo | khách thuyền
Nửa đêm | tiếng chuông | đến | thuyền khách
Không hiểu sao trong đầu tôi khi đọc câu này lại tự động ngắt
Dạ | bán chung thanh | đáo | khách thuyền
Đang đêm | nửa tiếng chuông | đến | thuyền khách
Nghe tứ thơ hiện đại mà thi vị hơn hẳn. "Nửa tiếng chuông" nghe không sáo mòn như "tiếng chuông".
Nhân tiện tra luôn ý nghĩa của Phong Kiều xem tên của bài thơ
Phong Kiều là địa danh ở ngoài cửa Xương Môn thành phố Tô Châu. Người ta thường nói "Trên trời có thiên đàng, hạ giới có Tô Hàng" ý nói phong cảnh tuyệt đẹp. Tôi mới qua Tô Châu một lần chưa thấy hết cái đẹp, nhưng rất mê Hàng Châu. Tô Châu thời cổ chính là Cô Tô của nước Ngô, nơi Ngô Vương Phù Sai ngắm trăng với người đẹp Tây Thi để Ngũ Tử Tư phẫn hận lo cho nước mà chết. Rồi Phạm Lãi đem thuyền đón nàng đi chơi Ngũ Hồ. Đợi hoài trên bến mà đâu có thấy người, lòng nhớ buồn cô quạnh.
Biết thêm một điều lý thú Phong Kiều vốn là 枫桥 Cây cao có lá, sau bài thơ của Trương Kế mới đổi thành 封桥 Cây phong cao.
Không biết Trương Kế nghe hiểu lầm chữ Phong mà đề thơ hay ông muốn chơi chữ. Vì trong bài thơ có cây phong trên sông.
Đọc lại cả bài cho vui.
楓橋夜泊
月落烏啼霜滿天
江楓魚火對愁眠
姑蘇城外寒山寺
夜半鐘聲到客船

Phong Kiều dạ bạc
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền

Bản dịch của Nguyễn Hàm Ninh
Trăng tà chiếc quạ kêu sương
Lửa chài cây bến sầu vương giấc hồ
Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San

Bản dịch của Tản Đà hơi phá cách nghe không mượt bằng
Quạ kêu, trăng lặn, sương rơi
Lửa chài, cây bãi, đối người nằm co
Con thuyền đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San
Các cao thủ đều dịch là nửa đêm. Tuy nhiên, nửa đêm chữ Hán người ta thường nói là "bán dạ" mới đúng.

Thứ Năm, 26 tháng 8, 2021

MONG MANH TRÍ THỨC VIỆT

Không phải ông nào không biết làm gì ngoài đọc sách, hoặc có bằng cấp đều đã là trí thức theo nghĩa mà tôi hiểu. Khi một người bắt đầu suy nghĩ về ý nghĩa thực sự đằng sau kiến thức trong sách vở, tìm cách kết nối chúng lại với nhau và với sự tồn tại của chính bản thân mình, khi đó hắn mới có thể được gọi là trí thức, khác với đám thợ chữ trộn bê tông chữ, xây trát chữ để mưu sinh. Nước Nga có nhiều nhà khoa học, Viện sĩ lỗi lạc, nhưng điển hình trí thức là Perelman không hề có danh hiệu gì. Tính cách Perelman càng nhiều thì độ trí thức sẽ càng cao. Lăng xăng quan quyền lắm danh hiệu như Lysenko, Sedov, Mitchourin hay Fadeev không thể gọi là trí thức. Tuy rằng hành động tự sát của Fadeev cũng có chút phảng phất hơi hướng trí thức Nga theo kiểu Yesenin.

Trong làng khoa bảng Việt Nam, tỷ lệ trí thức khá thấp. Nếu chọn điển hình thời phong kiến có thể lấy Chu Văn An và Nguyễn Bỉnh Khiêm, thời Pháp thuộc có thể lấy Nguyễn Khuyến, thời xã hội chủ nghĩa có thể lấy Nguyễn Tuân. Đó là các hình tượng mà giới sĩ phu cùng thời tôn sùng nhất. Tính cách bao trùm các vị này là yếm thế và không có hành động cụ thể. Liên hệ những chuyện các cụ nói với nhau đã khó, vì các cụ không có học thuyết gì cụ thể, chỉ lập ngôn vụn vặt. Liên hệ những gì các cụ nói với bản thân các cụ còn xa xỉ hơn vì các cụ hầu như không hành động gì. Hành động đối với hệ thống đánh giá của dân ta đều là ty bỉ. Vì thế khối người lăn lưng ra làm đều bị dè bỉu không được sùng bái. Các cụ cứ ngự trong mây mà hé lộ tý râu, tý vuốt, tý vảy để được sùng bái. Còn sau mây là gì chúng ta chịu không có bằng chứng để suy đoán.
Cụ Chu Văn An, không thấy nghe nói làm gì cụ thể ngoài việc dâng sớ chém 7 người bị gọi là gian thần. Nhưng cụ thể không biết là ai, tên tuổi thế nào, tội trạng gì. Riêng về mặt pháp lý điều đó không ổn tý nào. Nếu là vua, tôi sẽ không bao giờ chém người, cho dù tôi không ưa đến mấy, theo đề nghị trái quy trình và đạo lý như thế. Khái niệm về gian thần của sĩ phu Bắc Hà cũng rất cảm tính, công thức và theo chủ nghĩa lý lịch: các hoạn quan Lương Đăng, Đinh Thắng, Đinh Phúc bị Nguyễn Trãi chỉ măt là gian thần hại nước, đều có những lời bàn hữu lý về cải cách lễ nhạc và có khí tiết, thậm chí bênh Nguyễn Trãi khi ông bị hàm oan. Về mặt chính trị, nếu quả cụ An muốn chém ai đó thật, hoặc việc chém đó có ích nước lợi dân thật, cụ tất phải bày mưu tính kế với Lê Quát, Phạm Sư Mạnh đều là bậc tể tướng, học trò cụ, nghe cụ răm rắp. Sắp đặt dày công, gài bẫy cho cá kình vào lưới sắt, chém dễ như bỡn. Nhưng xây dựng một chương trình thực hiện cụ thể mất thời gian không phải là mặt mạnh của trí thức ta. Các cụ trí thức tỏ ra thanh cao không làm việc cụ thể như thế. Vì thế mà có truyện tiếu lâm: thầy ngoại khoa cắt xong đuôi mũi tên phủi tay xong việc, nói còn lại là việc của thày nội khoa. Thực ra, mục tiêu của cụ An chỉ là làm truyền thông, mượn 7 tên đặt ra chuyện chém để tạo dư luận xã hội mà thôi. Có lẽ từ "chém gió" nên lấy chuyện Chu Văn An làm điển tích từ nguyên. Thơ phú trước tác của cụ An để lạị cũng không thấy gì thật xuất chúng.
Nguyễn Bỉnh Khiêm có thể nói là trí thức Việt Nam đầu tiên có uy tín quốc tế. Cụ đã thoát khỏi các vấn đề chính trị quốc nội để nghiên cứu lý số là đỉnh cao khoa học chung của các nước Tứ Đại Hoa. Cụ được được một nhà tổ sư dịch lý tán tụng "ở nước Nam có ông Trình là có biết dịch lý". Thế là ghê lắm rồi. Tuy kiểu khen này khá trịch thượng, hỗn láo, như thầy xoa đầu khen trò trung bình. Cụ được vua Mạc trọng vọng, nhưng không thấy bàn được mưu nào ích quốc lợi dân. Mưu kỳ bí nhất của cụ là bày cho Nguyễn Hoàng cát cứ Đường Trong. Mẹo mực để phân tranh đất nước không thể gọi là ích nước lợi dân. Sấm Trạng Trình thì kỳ bí, không biết có nghĩa thật như người ta tán hay không. Có lẽ nên mở rộng thành ngữ "vịt nghe sấm Trạng".
Nguyễn Khuyến, đỗ đầu liền ba kỳ thi Hương Hội Đình, có thể coi là có giấy thông hành trí thức. Tuy nhiên, người thi rớt nhiều lần cùng thời như Trần Tế Xương không thể gọi là không trí thức. Về công tích của cụ toàn bộ đều là thái độ phân vân, thấy nói ngang, móc máy, xỏ xiên nhiều chứ không có quan điểm gì tường minh để dân tình có thể lấy làm chủ thuyết mà theo hay xả thân vì lợi ích cộng đồng. Thậm chí, thái độ sống của một biểu tượng được tôn sùng như thế còn làm cho các nỗ lực của các chí sĩ như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thượng Hiền thành trò công cốc, đáng cười. Thơ của cụ tinh những chữ, cầu kỳ nhưng không thấy ý nào cho cứng cỏi, nguyên khôi. Cái gì cũng tí tẻo tèo teo. Việc cụ trở thành thần tượng một thời của sĩ phu Bắc Hà cũng cho thấy trí thức của ta mong manh thế nào. Có lẽ cụ Yên Đổ đáng là biểu tượng của "trí thức trùm chăn".
Nguyễn Tuân được nhiều người gần đây tôn sùng, do tính cách lập dị và cầu kỳ. Văn ông đọc cũng thích nhưng đọc một vài bài thì chán vì không thấy ý tưởng nào tích cực, lặp đi lặp lại na ná như nhau. Văn của ông thấy mường tượng giống như có một ông thánh ngồi trong nhà phán về thời sự quốc tế. Có vài công thức mẫu thì phán chuyện gì cũng được, nhưng nó cứ meo méo không thật thế nào đó.Tư tưởng của ông cũng không được sắc bén như Nam Cao. Cái tinh tế của ông quay đi quay lại thấy là Phở, Trà. Nghe nói, ăn uống của ông cũng cầu kỳ, giò lụa phải mua ở chợ Hàng Da. Thấy nói ông "ngẳng" với các quan văn nghệ như Tố Hữu, Hà Xuân Trường, nhưng thái độ ông không rõ ràng và chưa thấy bao giờ bênh vực đàn em, bạn hữu được như các "đại ca" Nguyễn Huy Tưởng, Tô Ngọc Vân. Tâm huyết với nghệ thuật của cụ thì không được như Văn Cao, Nguyễn Sáng. Công tích với xã hội không thể so với Nguyễn Hữu Đang, Nguyễn Văn Tố. Việc ông trở thành biểu tượng vượt bậc với những người kia cũng cho thấy cái gọi là trí thức Việt thật mong manh. Cụ Tuân đáng gọi là "trí thức giả điếc cầu an".
Như vậy, có thể tạm khắc họa hình tượng trí thức Việt xuyên thời đại là "chém gió, phán sấm, trùm chăn và giả điếc cầu an". Ôi mong manh.

Chủ Nhật, 14 tháng 6, 2020

HAI BÀI ĐIẾU VĂN GIÁO SƯ NGUYỄN HUY NHU  
 Do sinh viên đại học Sư Phạm Huế đọc tại lễ an táng cố Giáo Sư Nguyễn Huy Nhu (Sưu tầm trong Đại học Sư phạm Huế, Tập 1, Dòng Việt (1999))    Được biết Dòng Việt số 10 sẽ nói về Đại học Sư Phạm Huế. Để hưởng ứng lời kêu gọi của Ban Chủ biên Dòng Việt, tôi xin gửi hai bài điếu văn sau đây của sinh viên Ban Việt Hán 1961 trường Đại học Sư phạm Huế đọc trong lễ an táng cố Giáo Sư Nguyễn Huy Nhu.
   Giáo sư Nguyễn Huy Nhu sinh năm 1886, người xã Vạn Lộc, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, Cử nhân Khoa Kỷ Dậu (1909), Tiến Sĩ khoa Bính Thìn (1916), sung chức giáo thụ và suốt đời ở trong ngành giáo (Nguyễn Ái Việt: Chi tiết này chưa hoàn toàn đầy đủ. Ông tôi từng làm Giáo thụ Quảng Ninh, Quảng Binh. Tri phủ Nga Sơn, Hòa Đa, rồi về làm Lang Trung, Tá lý Bộ Lễ, trước khi cáo quan về khai rẫy ở Quảng Bình. Ngày nay ở thành phố Đồng Hới còn địa danh "Rẫy cụ Tá". Sau này ông tôi trở lại Huế, lập hội Hán học, giữ chức Giáo Sư Hán học tại Đại học Sư phạm Huế đến khi mất năm 1961).
    Vốn dòng khoa bảng-Thân sinh là cụ Nguyễn Huy Đào, Cử nhân khoa Mậu Tý (1888), tằng tổ là cụ Nguyễn Huy Triêm, Cử nhân khoa Kỷ Mão (1919), Thầy cùng với cha Thích (Nguyễn Ái Việt: Linh mục Sảng Đình Nguyễn Hy Thích)  là hai vị giáo sư Hán Nôm đầu tiên của Trường Đại học Sư Phạm Huế. Sinh viên Ban Việt Hán trong những niên khóa này, không những được thụ những kiến thức uyên thâm Hán học của thầy mình, mà còn học hỏi được những nét sống kinh nghiệm ưu việt của thầy minh nữa.
  Vào trung tuần tháng 12-1961, khi lên dốc Nam Giao thăm Thầy, lúc ấy tuy Thầy chỉ có uống mà không ăn được nữa, nhưng đứng ngồi còn vững, tinh thần còn sáng suốt. Tuy nhiên, chỉ chừng mươi hôm sau, thì đột nhiên nghe Thầy không còn nữa!
   Thầy mất hôm 20 tháng 11 năm Tân Sửu tức ngày thứ Tư 27-12-1961, hưởng thọ 75 tuổi. Đám đưa vào ngày Chủ Nhật 31-12-1961. Hôm đó trời mưa nhẹ hạt, cả một rừng đối trướng đưa tiễn Thầy trên dốc Nam Giao đến nơi an nghỉ cuối cùng (Nguyễn Ái Việt: Ông tôi được an táng tại vườn cụ Phan Bội Châu dành cho những người yêu nước, nay là Nghĩa trang Phan Bội Châu, số 5 đường Thanh Hải, Huế) . Riêng kẻ sao lục hai bài điếu văn sau đây, nhớ lại bức trướng mấy anh em khóc thầy lúc đó, mang bốn chữ khiêm tốn
Phong Phạm Do Lưu mà lòng trí lúc nào cũng như nhìn thấy thầy trước mắt.      

Đoàn Khoách sưu lục 

BÀI THỨ NHẤT 

(DO ANH LÊ QUANG TẤN SINH VIÊN VIỆT HÁN NĂM THỨ HAI ĐỨNG CHỦ TẾ)

Kính dâng hương hồn cố Giáo sư NGUYỄN HUY NHU
Hỡi ơi!
Núi Ngự mây mờ. Sông Hương nước vẩn.
Trời Thuận Hóa sụt sùi mưa rả. Đất Nam Giao lã chã lệ rơi.
Tủi chúng con chưa vẹn chữ thành nhân. Mà tiên sinh đã chia đường kim cổ.
Nhớ linh xưa:
Hào mại thiên tư. Khoa nhàn phong độ.
Dòng Lam Thủy chung anh. Đỉnh Hồng Sơn dục tú.
Trí tuệ quang minh, trời xanh phú bẩm vốn không cùng.
Tâm linh chính đại, đạo lớn uẩn tàng nguyên sẵn có. 
Kinh sử nước tràn miền Nghệ Tĩnh, bảng vàng sáng chói chốn thần kinh.
Những tưởng trời Nghiêu đất Thuấn, giữa Nam thiên gặp gỡ hội thanh bình.
Nào ngờ gió Á mưa Âu, trên Quế hải tưng bừng cơn giông tố.
Tiên sinh đã quyết tránh đường khủng bố, chẳng quản chi lưu lạc nước non người.
Chí tiên sinh toan bận áo chính triều, đành phải chịu lìa xa quê quán cũ.
Cuộc tao loạn vào năm Đinh Hợi, khi lên đèo, khi xuống thác, lòng trượng phu nào quản lúc chông gai (Nguyễn Ái Việt Năm Đinh Hợi (1947) có lẽ tác giả chỉ sự kiện khi đó ông tôi là Chánh án Tòa án Tỉnh Quảng Binh, bác trưởng tôi là Ng
uyễn Huy Sương, khi đó là Trưởng Ty Giáo dục, bị kẻ gian ám sát)
Cơ hàn giữa tiết đông thiên, lúc gió táp lúc mưa sa, thân quân tử chẳng nài bề khốn khó.
Đi đến nơi về đến chốn, khúc khải hoàn những ngỡ rập hoan ca.
Chí còn mạnh, tiết vẫn bền, câu tịch cốc ai ngờ nơi biến cố.
Cày mây cuốc nguyệt, cảnh điền viên chi xiết vui vầy.
Nâng ly rượu vịnh thi, rèm phong nguyệt biết bao chí thú.
Màn loan gối phụng muôn thuở sum vầy. Mụn quế chồi lan một nhà đầy đủ.
Những tưởng tháng ngày tiên sinh còn rộng rãi. Nào ngờ giây phút đệ tử hết cậy trông.
Thương thay thời vận khôn lường. Ngán nỗi đầy vơi có số.
Cảm tiên sinh:
Đền cổ học lạnh lẽo khói mây. Trường sư phạm ủ ê hoa cỏ.
Hội nọ thường phiên vẫn họp, kẻ đi về lủi thủi, nào ngờ tiên sinh âm hưởng vắng không.
Trường kia giờ học còn nguyên, người trở lại ngậm ngùi, những tưởng tiên sinh dung nghi còn đó. 
Thế là thôi
Núi Ngự cương thường chia nửa gánh, non mờ nước mịt, đoái cảnh tình lệ lại chứa chan.
Sông Hương liên tục rẽ đôi đường, én bắc nhạn nam, gẫm tâm sự lòng càng đau đớn.
Chua xót nhẽ. Chí trượng phu không định, ngời lấp đồi cao suối thẳm, xác tha hương nấm đất trơ trơ.
Đau đớn thay! Cơn số kiếp đã rồi, mơ màng đất tổ quê cha, hồn cố quốc trông chờ vò vò.
Thôi thì thôi!
Mặc kệ chiến tranh thời xung đột, bạn Di Tề cùng lên đỉnh Thủ Dương;
Kể chi danh lợi lúc xôn xao, theo Hoàng Thạch mà qua miền Lạc Thổ.
Đau lòng thay lúc chia phôi.
Hỡi ơi
Huế, trọng Đông năm Tân Sửu

BÀI SỐ HAI 
(
Do anh Hà Thúc Hoan, sinh viên Việt Hán năm thứ hai đọc trước lúc hạ huyệt)

Kính lạy Thầy
   Vẫn biết, sinh hữu hạn, tử vô kỳ, nhưng khi nghe tin Thầy mất, chúng con không khỏi ngỡ ngàng đến đau xót!
    Mới hôm nào hầu chuyện với Thầy bên giường bệnh, được thấy Thầy vẫn quắc thước như xưa, chúng con vui vẻ ra về với một niềm tin: tin rằng Thầy con sống lâu để chỉ dạy chúng con, sống để trao lại cho bao thế hệ đang lên những tư tưởng hay, những tình cảm đẹp, sống để lưu lại cho đời mới những gì là hoa gấm một thời.... Nhưng bỗng nhiên sự thực phũ phàng vẫn xảy đến, để hôm nay chúng con chỉ biết nghẹn ngào lên đây nấc lên tiếng khóc.

Kính lạy Thầy!
   Trong những năm qua, chúng con kẻ trước người sau, nhờ duyên may vừa nhận được sự giáo huấn của Thầy. Chính trong những năm này mà ngoài việc thu nhận tư tưởng của Thánh hiền, chúng con học được ở Thầy lối xử thế lý tưởng của một nhà nho tiết tháo: trước đây trong thời Pháp thuộc vì không chịu cúi mình trước quyền thế của một nhóm người, nên trên đường mây, Thầy không được chóng thăng quan tiến chức. Rồi tiếp đến, làn sóng mới ồ ạt dâng lên, Thầy vẫn hiển nhiên sống trong cảnh thanh đạm để giữ vẹn danh tiết của mình. Chúng con tìm thấy ở Thầy thái độ khí khái của một Nhan Chúc biết khước từ tước hầu vạn hộ và cỗ thái lao của vua Tề.  Chúng con cũng tìm thấy ở Thầy nếp sống thanh cao của người ẩn sĩ ở núi Phương Sơn, luôn biết ngưng mình trong cảnh thanh bần để khí tiết khỏi bị cát bụi của cuộc đời làm vẩn đục.
    Bên cạnh hình ảnh một nhà Nho khả kính ấy, chúng con còn tìm thấy ở Thầy hình ảnh một nhà giáo tận tụy với nghề. Mặc dù vì tuổi tác và sức khỏe không cho phép, suốt những năm qua Thầy vẫn tận tình chỉ dạy chúng con. Ở vào lớp tuổi Thầy, những người khác thường lo an nghỉ để tĩnh dưỡng tuổi già, Thầy của chúng con thì trái lại: vì lo cho nền cựu học thiếu kẻ phát huy, nên Thầy thường đứng trọn một giờ để chép cho xong một áng cổ văn, rồi phải nói nhiều trong suốt một giờ tiếp, để truyền lại cho chúng con những tư tưởng thâm sâu của người đã khuất. Và trong những tháng gần đây dầu bị cơn bịnh âm ỉ dày vò, Thầy rất ít khi chịu nghỉ dạy. Cho đến một hôm, Thầy nghỉ dạy liên tiếp ba tuần, thì đây chính là lúc chúng con không bao giờ được gặp lại Thầy nữa!
    Bình sinh Thầy không muốn ai ca tụng đức độ của mình, nhưng ở đây, trong phút ly biệt cuối cùng này, chúng con xin phép nói lên một phần nào cảm nghĩ của chúng con về Thầy, may ra nguôi đi một phần nào thương tiếc.
    

Kính lạy Thầy,
    Chốc nữa đây, ba thước đất vô tình sẽ đưa Thầy và chúng con vào hai cảnh âm dương nghìn đời cách biệt. Từ đây Đại học Huế mất đi một vị Giáo Sư duy nhất có cấp bằng Tiến Sĩ Việt Nam và chúng con mất một vị Thầy uyên thâm Nho học. Và cũng từ đây khi đứng trước rừng Nhan Khổng vô hạn thâm u hay trước bể Trình Chu bao la vời vợi, chúng con còn biết nhờ ai chỉ lối đưa đường. Thầy đã theo mây ngàn hạc nội mà tìm đến một thế giới huyền bí xa xôi!
    Từ đây ai sẽ dẫn chúng con đi xem lầu Nhạc Dương, đình Khoái Tai hay trăng nước của sông Xích Bích. Ai tha thiết với nền cựu học mà không nuối tiếc khi hay tin Thầy đã qua đời? Ai lưu tâm đến nền văn hóa quốc gia mà không ngậm ngùi khi hay tin Thầy không còn nữa? Và những ai lưu luyến với những nét đẹp xưa, sẽ nghĩ thế nào khi thấy Thầy cũng như những mẫu người lý tưởng khác của một thời qua, cứ xa dần chúng con để đi vào thế giới mơ hồ của dĩ vãng!

Kính lạy Thầy!
   Vẫn biết rằng sống là chết đi từng phút, nhưng ai có nhìn đoạn bài giảng mà Thầy còn bỏ dở, ai có nhìn tập bài làm mà Thầy chấm chưa xong, mới ý thức được tính cách dở dang đến chua xót của chuyến đi vĩnh viễn này: Thầy phải ra đi trong ý hướng thiết tha ở lại, Thầy phải từ giã cuộc đời trước tấm lòng khắc khoải muốn níu lại của chúng con. Cái chết vô tình đột nhiên đến đã cướp mất Thầy của chúng con, nhưng không phải vì thế Thầy kính yêu đã chưa làm trọn thiên chức cao cả của một nhà giáo đối với cuộc đời.  Hơn hai mươi năm miệt mài nghiên bút và gần năm mươi năm tận tụy giảng sách Thánh hiền, thầy đã đào tạo cho xã hội những mẫu người biết sống làm sao cho phải đạo. Nếu người nghệ sĩ lưu lại cho đời một tác phẩm nghệ thuật sau vết chân đi, thì Thầy của chúng con đã lưu lại cho đời những tác phẩm bằng xương và thịt, những tác phẩm biết tư duy để sống cho ra người, những tác phẩm biết nghiền ngẫm những tư tưởng của thời xưa để phục vụ quốc gia và xã hội ngày nay một cách đắc lực. Thế cho nên hôm nay tuy Thầy không còn nữa với đời, nhưng hình ảnh khả kính của Thầy  vẫn còn mãi trong tâm hồn chúng con. Ngày Thầy mất đi chính là ngày Thầy bắt đầu sống trong tình kính mến và thương yêu của mọi người.

Kính lạy Thầy!
    Cuộc chia ly nào không làm nấc lòng kẻ ở người đi? Lần vĩnh biệt nào không làm xé lòng người còn trước kẻ mất? Bút mực hữu hạn làm sao diễn tả được cái vô hạn của tình người? Tiếng nói ngập ngừng của chúng con hôm nay, làm sao tát cạn được tấm lòng của những người đang thổn thức? Trước khi dứt lời, chúng con chỉ biết yên lặng, cúi đầu, kính cẩn dâng lên Thầy tất cả tấm lòng xót thương và kính mến của chúng con.      
     

Thứ Ba, 14 tháng 10, 2014

My Dear, Hanoi-Street (3) Empty road. By Phan Vũ

Interpreted by Lenh Loi Duong
CHAPTER 1:  PRELUDE
The song by Phu Quang, Singer: Bang Kieu  
1. The scent of night
2. Dating place

Forewords: 
In those days, empty roads still could be found in Hanoi. Many times, I didn't see anyone around on my way. I miss the silence, the empty roads, the whispering rain, the temple bell of my old beloved Hanoi.
 Nhớ biết mấy cái vắng lặng lãng mạn của Hà Nội ngày xưa. Tiếng kinh cầu cũng với tiếng mưa rơi xào xạc cũng trở nên trang nghiêm, len lỏi và vang vọng mãi vào sâu thẳm của hồn người. Mái nhà thờ Cửa Bắc huyền bí, uy nghi trong những vòm lá, cùng với tiếng chuông chiều trở nên xa vời vợi.  

3. Empty road
I still retain you on the empty road darkening
In ears the drizzle was whispering
From the high temple arch
The sound of holy bell ringing
The North Gate temple
 Had finished the holy ritual evening
The voice of prayers was still echoing...

3. Đường vắng*
Ta còn em con đường vắng
Rì rào cơn mưa nhỏ.
Trên vòm cao
Đổ xuống chuông hồi.
Nhà thờ Cửa Bắc
Tan chiều lễ
Kinh cầu còn mãi ngân nga...
(Given by the interpreter)

Thứ Hai, 13 tháng 10, 2014

My Dear, Hanoi-Street (2) Dating place. By Phan Vũ

Interpreted by Lenh Loi Duong
The song by Phu Quang, Singer: Bang Kieu  

CHAPTER 1. PRELUDE 
2. Dating place
I still retain you under a tree umbrage
Under a street lamp pillar
Who was waiting for the mate?
With untied hair hanging on  the soft shoulder 

I still retain you at a hurrying traffic junction.
Where a fugacious purple scarf had captured the soul
A beautiful face lusted for reunion
Suddenly stirred up the heart sorrow
Each street corner reminds a love history with hot passion.

2. Nơi hẹn*
Ta còn em một gốc cây,
Một cột đèn
Ai đó chờ ai?
Tóc cắt ngang xõa xõa bờ vai...
Ta còn em một ngã ba vội vã,
Chiếc khăn quàng tím đỏ thoáng qua,
Khuôn mặt chưa quen
Bỗng xôn xao nỗi khổ...
Mỗi góc phố một trang tình sử...
(Given by the interpreter)

Comments:
     Hanoi has changed so much. But the usual old dating places, the street lamp pillars and the trees, are still there, reminding the love stories.Where are you now?

     Hà Nội vẫn còn lại những gốc cây, cột đèn của buổi đầu tình tự. Mỗi góc phố vẫn còn phảng phất một mái tóc thề, một dáng khăn bay trong gió thu dằn vặt trái tim tương tư của những gã trai si tình. Đã bao cuộc tình đã đến rồi chìm vào quá khứ. Bóng dáng năm xưa nay lưu lạc về đâu, có còn xanh màu xưa cũ. Buồn vui, thảy đều hư ảo.