Hôm qua tình cờ mới đọc được bài báo này nhan đề là "phản biện" một bài trên blog này của tôi ở đây mà báo Văn hóa Nghệ An cũng đăng lại.
Thực ra trả lời mấy chuyện lặt vặt này tôi rất ngại vì sẽ mang tiếng và có thể thực tế phải đôi co không bổ ích gì. Nếu không trả lời e sẽ mang tiếng chảnh, mà giữa tôi và người phản biện có quan hệ cố giao trên 40 năm. Mặt khác, một số thân hữu lại hiểu nhầm là tôi đuối lý. Mà bài viết này lại không nhằm vào mục đích chữ nghĩa vớ vẩn là thứ tôi tiện tay phiếm bút để nói những chuyện quan trọng hơn.
Việc "có đôi nhời" cũng đả động đến một vấn đề về tư duy tranh luận (không nên nhầm với văn hóa, vì người đối thoại là người có gia phong nền nếp, học hành đến nơi đến chốn và kiến văn trác tuyệt). Nếu không đúng protocol rất dễ thành "ông nói gà bà nói vịt", thảo luận như nước đổ lá khoai, không bên nào nghe bên nào, chỉ biết nói mà không tiếp thụ. Nay tôi xin thuật lại để chư vị tường lãm. Đúng sai thế nào đã có công luận. Mong rằng mọi người không coi đây là một vụ cãi vã hay chẹt xe cán chó. Ý muốn nói phần lớn nằm ở ngôn ngoại. Suy ngẫm sẽ có bổ ích, hiếu kỳ thì không.
Câu chuyện là tôi giải thích cụm chữ "lang bạt kỳ hồ". Cụm chữ này xuất hiện sớm nhất trong bài Mân phong của Kinh Thi, mô tả một con sói tiến tới thì dẫm phải yếm ngực, lui thì dẫm phải đuôi, đằng nào cũng khổ. Đoạn này mô tả tường minh, không có bóng bẩy gì, có lẽ không ai tranh luận về ý nghĩa. Có lẽ từ đây (ít ra sách vở của Trung Quốc đều thống nhất như vậy) xuất hiện thành ngữ "lang bạt kỳ hồ" nói tới tình trạng "mắc kẹt", "tiến thoái lưỡng nan". Trong tiếng Việt cũng có cụm thành ngữ "lang bạt kỳ hồ", được dùng với một nghĩa "lang thang" khác hẳn. Thành ngữ "lang bạt kỳ hồ" trong Hán ngữ được rút gọn thành từ "lang bạt". Tình cờ tiếng Việt cũng có từ "lang bạt" có nghĩa là "lang bang xiêu dạt" bị "bạt" đi. Trong khi đó "lang bạt" trong Hán ngữ vẫn giữ nghĩa như "lang bạt kỳ hồ" mô tả tình huống mắc kẹt. Tôi trích hai câu văn cổ. Một câu từ sách Tam Quốc chí của Trần Thọ đời Tấn, một câu đời Đường có dùng chữ "lang bạt", và phân tích để thấy rõ không hề có nghĩa lang thang như trong tiếng Việt. Do "lang bạt kỳ hồ" tiếng Việt gốc Hán rõ ràng, có thể là ban đầu không đến nỗi sai, nhưng dốt chữ, dịch ẩu nên dùng sai dần, thành thử không đúng với nghĩa gốc.
Người viết bài "phản biện" lại đưa ra một câu tiếp theo trong bài Mân phong nói về người giàu sang, quan lại đi đứng đàng hoàng. Sau khi phân tích giảng giải ý nghĩa của bài Mân phong (thực tế là không ăn nhập gì và không có gì để "phản phản biện"), anh làm một quantum leap logic (lập luận nhảy lượng tử) là chữ lang bạt, lang thang "có thể" là vì con sói sống lang thang và có ý phủ nhận ý học ẩu, ếch ngồi đáy giếng (thế ra là người Việt thông minh sáng tạo mới đúng).
Vấn đề là ở chỗ tôi xuất phát từ việc phân tích cụm từ "lang bạt kỳ hồ". Ngay trong bài Mân phong đọc kỹ cả hai câu cũng không có gì chứng tỏ nghĩa là lang thang. Người nghèo thì mắc kẹt, lúng túng khổ sở, tiến thoái lưỡng nan, người sang thì áo mũ xênh xang, đĩnh đạc hiên ngang. Nói thực ra, các từ "lang bạt" hay thành ngữ "lang bạt kỳ hồ" tôi đã cẩn thận tra kỹ trong chữ Hán chính thức không có nghĩa gì lang thang (biết đâu cũng có anh Hán dùng lung tung).
Điều đáng nói không phải chữ nghĩa lặt vặt. Ở đây là cách đọc và học của người Việt vô cùng ẩu tả, làm tiếng Việt thành một mớ hổ lốn, nhiều khi làm cách tư duy suy luận thêm lộn xộn, vì xuất phát điểm từ các sau lầm. Không nói các cụ ngày xưa chữ Hán sát vách mà vẫn hiểu sai lệch. Ngày nay chúng ta dùng từ dịch tiếng Anh cũng tùy tiện như thể chế, thiết chế, định chế mỗi người một phách, rao giảng, rồi cãi nhau suốt ngày, làm đám đông không hiểu ra sao. Chữ nghĩa lộn xộn thì tư duy lộn xộn không ai biết làm chủ tập thể, kiến tạo chính phủ hay cách mạng công nghiệp 4.0 thế nào, nhưng ai cũng nói cũng làm.
Và ít quan trọng hơn nghĩa của từ "phản biện" cũng cần xem lại. Khi phản biện cần bám sát vào logic của người ta, sai ở chỗ nào, xuất phát điểm từ đâu, sử dụng lập luận nào không đúng, bằng chứng nào không thuyết phục. Không phải nói chệch sang chuyện khác, giảng giải lằng nhằng (ý nói là các anh không biết bằng tôi) chẳng liên quan, bỏ qua các bằng chứng không thể bác bỏ thì gọi là "phản biện". Chữ nghĩa chỉ là cái vỏ logic mới là ý chính. Ta và Tàu đều không biết logic là gì cho đến khi Âu hóa, cho nên coi trọng làm xiếc với chữ nghĩa, ngụy biện lòe bịp là nhiều. Chính đại văn hào Trung Quốc Lỗ Tấn cũng đã nói nhiều về chuyện này.
LĨNH VỰC
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ngôn ngữ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ngôn ngữ. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Tư, 20 tháng 2, 2019
Thứ Năm, 20 tháng 8, 2015
Dùng chữ nghĩa và cách suy nghĩ: nhìn và chiêm nghiệm
Người Việt có thói quen nói theo quán tính. Phun ra cả cụm từ thậm chí nhiều cụm từ có ý nghĩa khác nhau mà không hề đắn đo về ý nghĩa của nó. Người ta vẫn nói thế, tôi nói thế là an toàn, cùng lắm là ngang tầm với người nói trước. Lâu ngày thành một đường mòn. Cứ nói như vẹt, tưởng đó là ý tường của mình.
Ví dụ đơn giản: "ngôi nhà đẹp", "Cô gái xinh" là vừa đủ trọn nghĩa. Nhưng nói ra lại có vẻ hơi "tây" nếu không nói "ngôi nhà rất đẹp", "cô gái xinh quá". Nếu như vậy trong tiếng Việt không có chỗ cho "rất đẹp", "rất xinh" nữa. Nói một cách khác, một vấn đề tưởng vô nghĩa, nhưng thành thói quen sẽ làm một dân tộc mù về cấp độ. Không nhận thức được về cấp độ, tất nhiên sẽ khiếm khuyết về suy nghĩ.
Bài này sẽ thảo luận về nhóm các chữ "khía cạnh", "viễn cảnh", "triển vọng", "nhìn lại", "vỡ lẽ",... mà người Việt dùng khá lộn xộn. Đặc biệt khi thông dịch hoặc nói chuyện với người nước ngoài, các khái niệm này dùng sai một cách hồn nhiên. Khi đầu tôi nghĩ rằng đó là do yếu về ngoại ngữ hay từ vựng, nhưng gần đây quan sát một số trí thức đáng kính, tôi mới chợt nhận ra rằng phương pháp suy nghĩ của người Việt chưa thực sự phát triển. Giữa việc dùng từ cho chính xác và phát triển phương pháp tư duy có quan hệ tương hỗ. Dùng từ không chỉnh, méo mó sẽ làm méo mó phương pháp. Phương pháp suy nghĩ chưa phát triển đến một mức độ tinh vi, cách dùng từ sẽ sơ sài cầu thả, không sense được sự khác biệt, theo lối mòn.
Trong tiếng Anh có các từ "aspect", "prospect", "perspective" nghĩa khác nhau. Người Việt dùng rất lung tung "khía cạnh", "triển vọng", "viễn cảnh",... Trước hết chúng ta hãy nói về ý nghĩa về mặt phương pháp khi dùng các từ này. Thực ra có rất nhiều người hay dùng các từ này không thực sự có ý niệm nào về phương pháp. Trước hết "aspect" và "perspective" đều liên quan tới cách nhìn chủ quan của một người về một sự vật. Người Việt vẫn có thói quen buộc tội, đánh giá hay dán nhãn cho nhau về "cách nhìn sai", "cách nhìn đúng",... Thực ra, có nhiều mệnh đề, khẳng định, đánh giá,... chỉ có nghĩa sau khi chọn một cách nhìn. Cũng như hướng dẫn "quán ăn ở bên phải khách sạn" là hoàn toàn vô giá trị. Có lần tôi đã phỏng vấn học viên cao học "tài năng" về một thuật toán tìm kiếm "tìm bên phải trước hay bên trái trước". Học viên được giới thiệu là rất giỏi và chuẩn bị học tiến sĩ, chịu cứng không trả lời được. Tôi sẽ không đánh giá hay trách móc anh bạn trẻ này. Tuy nhiên, phương pháp suy nghĩ của người Việt thực sự chưa phát triển đến mức vào vô thức, mà cách tốt nhất là được nhúng vào ngôn ngữ. Tôi chưa thấy sinh viên nước ngoài mắc vào vấn đề "phải trái", "tốt xấu", có lẽ vì họ ít đánh giá như đinh đóng cột, và góc nhìn luôn gắn chặt với cách suy nghĩ. Chính vì vậy mà người nước ngoài hiểu về "aspect", "perspective" hơn. Trừ những chân lý hình thức, vô hồn, phần lớn các chân lý đều mang dấu ấn cá nhân, gắn chặt với một cách nhìn, chính vì thế mà chúng mới bổ ích và có thể đi vào đời sống. Tính chặt chẽ khách quan thường nằm trong retrospect nhiều hơn. Phát kiến khoa học cũng như phát kiến ra châu Mỹ, Hải Vương tinh hay hạt Higgs đều dựa trên một niềm tin, một góc nhìn mang đậm dấu ấn cá nhân. Sự phát triển thường là do cá nhân dám gánh trách nhiệm, thậm chí dám áp đặt quan điểm. Đợi mọi việc rõ ràng rồi mới quyết định thì mọi việc đã trễ. Người Việt không hề có viễn kiến, coi thường trực quan, chà đạp cá nhân làm sao có thể hiều được sâu sắc các từ như "aspect", "perspective".
Cùng liên quan tới cách nhìn chủ quan, nhưng có vẻ "aspect" chỉ chủ quan trong việc lựa chọn cách mô tả, nhìn tương đối cụ thể, gần và mô tả khách quan sự vật trong cách nhìn đó. Tiếng Việt chọn "aspect" là "khía cạnh", "phương diện", có lẽ là gần đúng hơn cả. Tuy có một số điểm chưa hoàn toàn chính xác, nhưng khi đem sử dụng NHẤT QUÁN và THÀNH THỤC, các từ này sẽ tự thu góp những ý niệm mới và tự hoàn thiện. Nội hàm chính xác sẽ dần được hoàn thiện. "Perspective" là một cách nhìn từ xa. Nhiều người nhầm rằng perspective chỉ nói về tương lai, vì thế từ tiếng Việt "viễn cảnh" cũng hiểu là "tương lai xa". Thực ra, tuy rất hiếm khi dùng, nhưng người ta có thể nói về perspective về quá khứ như một cách nhìn phóng chiếu về quá khứ. Perspective có tính chủ quan hơn nhiều, cũng như người nhìn có thể chọn góc nhìn, cự ly, tiêu điểm. Perspective có thể bao gồm cả việc kiến giải, sử dụng những khái niệm quen thuộc, không nhất thiết có nghĩa khi ở trong một điều kiện hoàn toàn khác. Có thể tạm dùng chữ "viễn cảnh" cho perspective với ý thức rằng "viễn cảnh" có thể bao gồm cả quá khứ. Để tránh quán tính trong việc dùng chữ nghĩa đã mòn vẹt, có thể dùng chữ "tầm nhìn xa". Nhưng tuyệt đối không dùng "triển vọng" như trong từ điển hoặc trong thực tế đang dùng khá phổ biến.
"Triển vọng" là "kỳ vọng tiến triển", nói về tương lai, thích hợp với chữ "prospect". Mặc dù "prospect" trong từ điển Anh Việt đều có cả hai chữ Việt tương ứng "triển vọng" và "viễn cảnh". Nhưng đó là do sự lười biếng, cẩu thả hoặc bệnh mù cấp độ của người Việt. Prospect là một cách nhìn tương lai về sự vật của người nói, tất nhiên vẫn mang một phần yếu tố chủ quan.
Cuối cùng, chúng ta sẽ bàn về chữ "retrospect". Retrospect là một thao tác của những người có tầm suy nghĩ bao quát, nhìn về những gì đã xảy ra, cố nhiên vẫn theo những perpective chủ quan nào đó, để có chiêm nghiệm và dự cảm đối với những vấn đề trước mắt. Phải nói người Việt, kể cả những trí thức ưu tú vẫn không hiểu vai trò của "retrospect" trong suy nghĩ là thế nào. Tôi đã từng ngạc nhiên khi một số trí thức vẫn được tiếng là ưu tú dè bỉu retrospect là nói những chuyện đã xảy ra không có gì mới. Thực ra, dù có đi dây đó, đọc hàng tạ sách, con người vẫn khó thoát khỏi ảnh hưởng của chuỗi dây chuyền: ngôn ngữ ảnh hưởng tới văn hóa, văn hóa ảnh hưởng tới cách suy nghĩ, suy nghĩ đẻ ra số phận. Đừng kêu ca về số phận nếu chưa nhìn lại cách suy nghĩ. Đừng than phiền về cách suy nghĩ nếu chưa mạnh dạn thay đổi văn hóa. Đừng oán trách văn hóa nếu không bắt đầu sử dụng ngôn ngữ chính xác và tinh tế. Người Việt nghĩ về quá khứ rất sơ sài, không phân biệt nổi vô hồn vô cảm với sự khách quan, vì thế hầu như không có được chiêm nghiệm gì có ích lợi cho hiện tại từ những cuộc huynh đệ tương tàn đẫm máu trong quá khứ. Có lẽ vì thế trong tiếng Việt không có từ nào thực sự thích hợp cho retrospect. Có người dịch là "nhìn lại". Thực ra "nhìn lại" chưa có một chút chiêm nghiệm nào, người nước ngoài đã có từ "review". Chiêm nghiệm còn cao hơn suy tư một bậc. Chính vì không biết chiêm nghiệm quá khứ nên người Việt cùng lắm chỉ hiểu được từ "vỡ lẽ" (hind sight) là một cách cảm nhận bài học quá khứ cụ thể, không cần chiêm nghiệm, một cái tát có lẽ sẽ làm con người "vỡ lẽ" nhanh và thấm thía hơn. Tôi nghĩ nên dịch retrospect là "chiêm nghiệm" để khuyến khích người Việt đọc sách nước ngoài chịu khó học các dân tộc khác động não, thay vì chỉ "ôn lại những trang sử vàng vẻ vang của dân tộc".
Ví dụ đơn giản: "ngôi nhà đẹp", "Cô gái xinh" là vừa đủ trọn nghĩa. Nhưng nói ra lại có vẻ hơi "tây" nếu không nói "ngôi nhà rất đẹp", "cô gái xinh quá". Nếu như vậy trong tiếng Việt không có chỗ cho "rất đẹp", "rất xinh" nữa. Nói một cách khác, một vấn đề tưởng vô nghĩa, nhưng thành thói quen sẽ làm một dân tộc mù về cấp độ. Không nhận thức được về cấp độ, tất nhiên sẽ khiếm khuyết về suy nghĩ.
Bài này sẽ thảo luận về nhóm các chữ "khía cạnh", "viễn cảnh", "triển vọng", "nhìn lại", "vỡ lẽ",... mà người Việt dùng khá lộn xộn. Đặc biệt khi thông dịch hoặc nói chuyện với người nước ngoài, các khái niệm này dùng sai một cách hồn nhiên. Khi đầu tôi nghĩ rằng đó là do yếu về ngoại ngữ hay từ vựng, nhưng gần đây quan sát một số trí thức đáng kính, tôi mới chợt nhận ra rằng phương pháp suy nghĩ của người Việt chưa thực sự phát triển. Giữa việc dùng từ cho chính xác và phát triển phương pháp tư duy có quan hệ tương hỗ. Dùng từ không chỉnh, méo mó sẽ làm méo mó phương pháp. Phương pháp suy nghĩ chưa phát triển đến một mức độ tinh vi, cách dùng từ sẽ sơ sài cầu thả, không sense được sự khác biệt, theo lối mòn.
Trong tiếng Anh có các từ "aspect", "prospect", "perspective" nghĩa khác nhau. Người Việt dùng rất lung tung "khía cạnh", "triển vọng", "viễn cảnh",... Trước hết chúng ta hãy nói về ý nghĩa về mặt phương pháp khi dùng các từ này. Thực ra có rất nhiều người hay dùng các từ này không thực sự có ý niệm nào về phương pháp. Trước hết "aspect" và "perspective" đều liên quan tới cách nhìn chủ quan của một người về một sự vật. Người Việt vẫn có thói quen buộc tội, đánh giá hay dán nhãn cho nhau về "cách nhìn sai", "cách nhìn đúng",... Thực ra, có nhiều mệnh đề, khẳng định, đánh giá,... chỉ có nghĩa sau khi chọn một cách nhìn. Cũng như hướng dẫn "quán ăn ở bên phải khách sạn" là hoàn toàn vô giá trị. Có lần tôi đã phỏng vấn học viên cao học "tài năng" về một thuật toán tìm kiếm "tìm bên phải trước hay bên trái trước". Học viên được giới thiệu là rất giỏi và chuẩn bị học tiến sĩ, chịu cứng không trả lời được. Tôi sẽ không đánh giá hay trách móc anh bạn trẻ này. Tuy nhiên, phương pháp suy nghĩ của người Việt thực sự chưa phát triển đến mức vào vô thức, mà cách tốt nhất là được nhúng vào ngôn ngữ. Tôi chưa thấy sinh viên nước ngoài mắc vào vấn đề "phải trái", "tốt xấu", có lẽ vì họ ít đánh giá như đinh đóng cột, và góc nhìn luôn gắn chặt với cách suy nghĩ. Chính vì vậy mà người nước ngoài hiểu về "aspect", "perspective" hơn. Trừ những chân lý hình thức, vô hồn, phần lớn các chân lý đều mang dấu ấn cá nhân, gắn chặt với một cách nhìn, chính vì thế mà chúng mới bổ ích và có thể đi vào đời sống. Tính chặt chẽ khách quan thường nằm trong retrospect nhiều hơn. Phát kiến khoa học cũng như phát kiến ra châu Mỹ, Hải Vương tinh hay hạt Higgs đều dựa trên một niềm tin, một góc nhìn mang đậm dấu ấn cá nhân. Sự phát triển thường là do cá nhân dám gánh trách nhiệm, thậm chí dám áp đặt quan điểm. Đợi mọi việc rõ ràng rồi mới quyết định thì mọi việc đã trễ. Người Việt không hề có viễn kiến, coi thường trực quan, chà đạp cá nhân làm sao có thể hiều được sâu sắc các từ như "aspect", "perspective".
Cùng liên quan tới cách nhìn chủ quan, nhưng có vẻ "aspect" chỉ chủ quan trong việc lựa chọn cách mô tả, nhìn tương đối cụ thể, gần và mô tả khách quan sự vật trong cách nhìn đó. Tiếng Việt chọn "aspect" là "khía cạnh", "phương diện", có lẽ là gần đúng hơn cả. Tuy có một số điểm chưa hoàn toàn chính xác, nhưng khi đem sử dụng NHẤT QUÁN và THÀNH THỤC, các từ này sẽ tự thu góp những ý niệm mới và tự hoàn thiện. Nội hàm chính xác sẽ dần được hoàn thiện. "Perspective" là một cách nhìn từ xa. Nhiều người nhầm rằng perspective chỉ nói về tương lai, vì thế từ tiếng Việt "viễn cảnh" cũng hiểu là "tương lai xa". Thực ra, tuy rất hiếm khi dùng, nhưng người ta có thể nói về perspective về quá khứ như một cách nhìn phóng chiếu về quá khứ. Perspective có tính chủ quan hơn nhiều, cũng như người nhìn có thể chọn góc nhìn, cự ly, tiêu điểm. Perspective có thể bao gồm cả việc kiến giải, sử dụng những khái niệm quen thuộc, không nhất thiết có nghĩa khi ở trong một điều kiện hoàn toàn khác. Có thể tạm dùng chữ "viễn cảnh" cho perspective với ý thức rằng "viễn cảnh" có thể bao gồm cả quá khứ. Để tránh quán tính trong việc dùng chữ nghĩa đã mòn vẹt, có thể dùng chữ "tầm nhìn xa". Nhưng tuyệt đối không dùng "triển vọng" như trong từ điển hoặc trong thực tế đang dùng khá phổ biến.
"Triển vọng" là "kỳ vọng tiến triển", nói về tương lai, thích hợp với chữ "prospect". Mặc dù "prospect" trong từ điển Anh Việt đều có cả hai chữ Việt tương ứng "triển vọng" và "viễn cảnh". Nhưng đó là do sự lười biếng, cẩu thả hoặc bệnh mù cấp độ của người Việt. Prospect là một cách nhìn tương lai về sự vật của người nói, tất nhiên vẫn mang một phần yếu tố chủ quan.
Cuối cùng, chúng ta sẽ bàn về chữ "retrospect". Retrospect là một thao tác của những người có tầm suy nghĩ bao quát, nhìn về những gì đã xảy ra, cố nhiên vẫn theo những perpective chủ quan nào đó, để có chiêm nghiệm và dự cảm đối với những vấn đề trước mắt. Phải nói người Việt, kể cả những trí thức ưu tú vẫn không hiểu vai trò của "retrospect" trong suy nghĩ là thế nào. Tôi đã từng ngạc nhiên khi một số trí thức vẫn được tiếng là ưu tú dè bỉu retrospect là nói những chuyện đã xảy ra không có gì mới. Thực ra, dù có đi dây đó, đọc hàng tạ sách, con người vẫn khó thoát khỏi ảnh hưởng của chuỗi dây chuyền: ngôn ngữ ảnh hưởng tới văn hóa, văn hóa ảnh hưởng tới cách suy nghĩ, suy nghĩ đẻ ra số phận. Đừng kêu ca về số phận nếu chưa nhìn lại cách suy nghĩ. Đừng than phiền về cách suy nghĩ nếu chưa mạnh dạn thay đổi văn hóa. Đừng oán trách văn hóa nếu không bắt đầu sử dụng ngôn ngữ chính xác và tinh tế. Người Việt nghĩ về quá khứ rất sơ sài, không phân biệt nổi vô hồn vô cảm với sự khách quan, vì thế hầu như không có được chiêm nghiệm gì có ích lợi cho hiện tại từ những cuộc huynh đệ tương tàn đẫm máu trong quá khứ. Có lẽ vì thế trong tiếng Việt không có từ nào thực sự thích hợp cho retrospect. Có người dịch là "nhìn lại". Thực ra "nhìn lại" chưa có một chút chiêm nghiệm nào, người nước ngoài đã có từ "review". Chiêm nghiệm còn cao hơn suy tư một bậc. Chính vì không biết chiêm nghiệm quá khứ nên người Việt cùng lắm chỉ hiểu được từ "vỡ lẽ" (hind sight) là một cách cảm nhận bài học quá khứ cụ thể, không cần chiêm nghiệm, một cái tát có lẽ sẽ làm con người "vỡ lẽ" nhanh và thấm thía hơn. Tôi nghĩ nên dịch retrospect là "chiêm nghiệm" để khuyến khích người Việt đọc sách nước ngoài chịu khó học các dân tộc khác động não, thay vì chỉ "ôn lại những trang sử vàng vẻ vang của dân tộc".
Thứ Hai, 24 tháng 11, 2014
Lỗi chính tả
Có người nhờ tôi quét lỗi chính tả
http://giadinh.net.vn/song-khoe/hoa-qua-xuat-xu-trung-quoc-da-duoc-tam-thuoc-doc-nhu-the-nao-20141124081908021.htm
Dưới đây là kết quả, lỗi màu đỏ. Bên cạnh đó rất nhiều lỗi văn phong.
Hoa quả xuất xứ Trung Quốc đã được “tẩm
Đã có một thời gian rất daì, các phương tiện truyền thông trong nước đã rầm rồ loan tin rằng hoa quả Trung Tuốc đang trực tiếp đe dọa đến sức khoẻ người dân, Thậm chí là chính báo chí Trung Quốc cũng em ngại, cũng phát hoảng vì những chất độc trong hoa quả không được kiểm soát.
Biết thế, nhưng rồi thì sao? Tất cả những hoa quả xuất xứ Trung Quốc vẫn được người ta tuồn về Việt Nam để đầu đầu người tiêu dùng.thuốc độc” như thế nào?
Hễ nói đến cam Tàu thi ai cũng ngán ngại, ai cũng biết nó có độc. Nhưng quả cam xuất xứ từ Trung Quốc có hình thù thế nào, phân biệt ra sao thì không phải ai cũng biết. Cũng phải thôi, khi cam Tàu đã chỗm chễ nằm trên quầy với cái mác cam Việt thì người tiêu dùng có thông thái đến mấy chũng chịu bó tay. Đó là thủ thuật của gian thương người Việt khi "hô biến" một các hết sức tài tình.
Cam mua ở Trung Quốc có giá rất rẻ. Nếu cam trong nước giá 30 ngàn đồng/1kg thì cam Trung Quốc chỉ bằng một phần ba hoặc cao thì chỉ bằng nửa giá ấy. Giá rẻ đánh trúng tâm lý tiêu dùng của người Việt nên cam giá rẻ tất nhiên được nhiều người lựa chọn. Nhưng có câu "của rẻ là của tôi", trong trường hợp này rất chính xác.
Vì sao cam Tàu có độc? Đó là độc gì? Chính người viết bài có một thời gian đã lần theo dấu chân của thương nhân Trung Quốc nhằm trả lời câu hỏi của độc giả về chuyện họ mua con đỉa Việt Nam để làm gì. May mắn thay, trong thời gian này tôi cũng vô tình tìm được câu trả lời cho chất độc và cách "tẩm độc" của nông dân Trung Quốc vào trái cam như thế nào.
Nhìn bề ngoài vỏ trái cam Trung Quốc rất bóng dù vỏ xanh hay vỏ vàng. Nhưng khi bổ trái cam ra thì bên trong lại bị thối rữa. Mùi trái cam không đặc trung mà có mùi rất hắc, tanh. Sự thực thì trái cam đó đã qua ít nhất 3 lần "thẩm mỹ" để có một hình hài bắt mắt nhưng bên trong lại ngắm ngầm tồn tại một chất độc chết người.
Đất nước Trung Hoa rộng lớn, những vùng giáp ranh với biên giới Việt Nam và cả sâu trong nội địa đều hình thành những vùng chuyên canh cây ăn quả như cam, táo, nho rộng hàng ngàn hecta ở Quảng Tây, Hồ Nam, Trùng Khánh. Một số lượng hoa quả rất lớn dùng để xuất khẩu sang các nước và phục vụ thị trường nội địa. Với những sản phẩm đóng gó xuất khẩu đi các nước phương Tây, Châu Phi và thị trường nội địa được kiểm tra ngặt nghèo, Nhưng những thứ tuồn sang Việt Nam thì khác, nó hoàn toàn khác so với những gì trong đầu chúng ta hình dung.
Ngoại ô TP. Phúc Châu, Trung Quốc vốn đã sớm hình thành nhiều trang trại lưu giữ hoa quả. Ở đây, có những nông trường chứa hàng triệu tấn hoa quảm trong đó có cam. Sau khi được chọn lọc, những trái cam đẹp nhất được đóng gói chuyển đi tiêu thụ. Có hàng chục tấn quả bị thối, bị mốc sẽ tiếp tục được đưa vào quy trình "tái chế" hết sức kinh hoàng. "Không có bất cứ thứ gì bị vứt bỏ đi ở đây", đó là khẳng định của một công nhân trong nông trường rộng lớn.
Một chiếc bồn chứa hàng tấn cam luôn luôn trong tình trạng đầy ắp những quả cam hỏng, cam mốc. Những công nhân của nông trường sẽ đổ vào bồn đó một thứ dung dịch dạng lỏng. Đồng thời, họ dùng một lọ thuốc bột màu đỏ đổ vào dung dịch trên, sau đó khuấy đều để điều chỉnh màu. Sau khi cam được tắm bằng dung dịch này tất cả những nấm mốc sẽ biến mất, ngược lại quả cam có màu sáp bóng rất đẹp.
Ngay cả những quả cam hỏng, nát được công nhân bóc múi và ngâm trong dung dịch để làm nguyên liệu chế biến nước cam tươi. Người ta sẽ thắc mắc, chai bột màu đỏ và dung dịch loãng ấy là gì? Đó chính là dầu hoả và phẩm màu. Những độc tố ngấm qua vỏ cam sẽ là hung thủ gây ra vô số bệnh tật và báo trước cái chết trong tương lai không xa khi chúng ta ăn phải những sản phẩm này.
Ngay cả ở vùng Vân Nam, Quảng Tây nơi mà cam được nhập lậu vào nước
ta với số lượng lớn không qua kiểm tra đều được làm bằng cách tương tự
như vậy. Triệu chứng đầu tiên khi ăn phải thứ chất độc trong những trái
cam này là đau bụng, buồn nôn, đi ngoài. Và khi việc tích tụ độc tố tăng
dần thì những căn bệnh nguy hiểm như ung thư sẽ là kết quả mà chúng ta
gánh lấy
Sự thật hãi hùng về "công thức" biến đào chua thành đào ngọtCách đây không lâu, nếu ai đi qua trục đường quốc lộ 6A thuộc địa phận Mai Châu (tỉnh Hoà Bình) hoặc tỉnh Sơn La thấy xuất hiện rất nhiều đào bán la liệt. Ai ngang qua cũng đáp xe mua một ít làm quà, người ta ngỡ ngàng đó chính là đào mà bà con dân tộc nơi đây trồng sâu trong hẻm núi. Thế nhưng, ít ai biết, số lượng đào được trực tiếp tròng và bán ở đây không nhiều. Phần lớn đào được đem từ nơi khác đến rồi khoác vào "cái áo" đào ta, đào sạch.
Khi hỏi một người nông dân rằng chúng tôi có thể vào thăm tận vườn đào không? Chị dân tộc Mường lắc đầu nguây nguẩy: "Không được đâu mà. Xa lắm mà". Hỏi: "Thế đây là đào nhà chị trồng được à?". Chị thành thật "Đào nhà mình trồng bán hết rồi. Mình mua lại bán kiếm lời thôi". Chúng tôi hỏi tiếp: "Chị mua lại của ai?". "Nó ở dưới xuôi, chở cả ô tô to lắm lên đây. Nó bán lại cho dân bản địa, rồi dân bản địa bán lại cho người đi đường", chị nông dân cho biết. Chúng tôi thắc mắc: "Sao ai cũng bảo đào nhà trồng được?". Chị ta tủm tỉm: "Nói thế để bán được nhiều mà".
Đào Trung Quốc trồng ở khu vực biên giới giáp với các tỉnh phía Tây Bắc nước ta không có gì khác so với đào Sơn La hay Hòa Bình. Hơn thế, trái đào còn có mẫu mã đẹp hơn, ăn giòn, ngon hơn. Nhưng để có được trái đào như thế người Trung Quốc đã làm gì? Một công thức phá chế dung dịch rồi "tẩm" vào trái đào được thương lái người Việt trực tiếp chứng kiến đã tiết lộ khiến chúng tôi choáng váng. Đào bán sớm thường được giá nên người Trung Quốc thường thu hoạch ngay khi trái đào còn xanh và ăn rất chua. Nhưng họ đã "phù phép" vào nó một thứ dung dịch và không phải ăn vào miệng ai cũng nhận ra.
Đào xanh sau khi được thu hoạch sẽ tập trung vào từng cái thùng lớn chứa đầy nước để ngâm trong vài tiếng đồng hồ. Nếu hỏi, người nông dân Trung Quốc sẽ nói đó chỉ là nước để rửa đào cho sạch lông rặm bên ngoài. Thế nhưng, họ đã cho những gì vào đó? Nó bao gồm phèn chua, mì chính, rượu và nước. Những thứ này được trộn lẫn nhau thành một hỗn hợp có thể biến đào xanh thành đào chín, đào chua thành đào ngọt và trọng lượng có thể tăng gấp đôi. Nếu không tin độc giả có thể thí nghiệm bằng phương pháp hết sức đơn giản này và theo dõi sự biến đổi đáng ngạc nhiên của nó.
Và như chúng ta đã biết thì phèn chua có chứa nhôm vô cùng độc hại và nó ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển trí thông minh của trẻ em. Những trái đào Trung Quốc khi bị "tẩm độc" sẽ chỉ giữ được độ giòn trong thời gian rất ngắn sau đó thì ỉu và thối rữa phía trong ruột. Và khó có thể trách rằng, người tiêu dùng không thông thái mà chỉ bởi kẻ bất nhân đã dùng thủ thuật quá tinh vi.
Thứ Tư, 5 tháng 11, 2014
Lang bạt kỳ hồ
Các nhà dịch thuật Việt Nam còn phải đi một chặng đường dài do gánh nặng di sản để lại quá lớn. Tất nhiên những điều hiểu sai lầm để lại trong quá khứ như "dương là dê", "ngưu là trâu", "mão là mèo",...đã trở thành một phần trong văn hóa dân tộc không cần sửa đổi. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là cần cứ phải tiếp tục sai. Nhất là khi hội nhập với văn hóa phương Tây, với tư duy duy lý vô cùng chính xác. Mặt khác, chúng ta cũng cần tự hỏi đói nghèo có phải từ thói học hành, nghiên cứu và làm việc vô cùng đại khái, dịch thuật thì bịa phét, thêm thắt, miễn sao nghe quen tai, nhìn quen mắt.
Trong bài này sẽ phân tích một cụm thành ngữ, được sử dụng khá phổ biến "lang bạt kỳ hồ" để thấy các cụ ta ẩu tả trong việc tìm hiểu thế nào. "Lang bạt kỳ hồ" trong ngôn ngữ Việt Nam hiện nay được hiểu là "lang thang phiêu bạt giang hồ đến kỳ thích". Thực ra đây là một thành ngữ chữ Hán 狼跋其胡 "lang bạt kỳ hồ" nói về thế mắc kẹt không tiến thoái được.
Trong Kinh Thi có bài Mân phong có câu: "Lang bạt kỳ hồ, tái chí kỳ vĩ"狼跋其胡, 载疐其尾 . Nghĩa đen là "Con sói bước tới dẫm vào yếm lông trước cổ của mình, lui lại vấp phải cái đuôi của mình". Khi dịch cần phân tích để hiểu ý nghĩa của câu này thế nào? Trước hết "lang" không phải là "lang thang" mà đúng là con sói trong từ "sói lang", "vĩ" là đuôi, "tái" là quay lại, là những từ có nghĩa cố định trong câu. Bây giờ còn lại chữ "hồ" cần phải hiểu xem tại sao lại xuất hiện ở đây. Chữ "Hồ" cũng chỉ người rợ Hồ, cái cổ họng,... nhưng không phải chữ "hồ" trong "Tây Hồ" hoặc "giang hồ". Như vậy cần phải tìm một nghĩa "hồ" có liên quan đến "lang", "bạt" hoặc "vĩ". "Hồ" có một nghĩa là cái yếm lông trước ngực ngay dưới cổ họng con sói, cũng là một bộ phận như "vĩ" là đuôi. "Hồ" phía trước, "vĩ" phía sau, cũng như "bạt" là đi về trước, "tái" là lui về sau. Tấm yếm ngực của các con sói già thường mọc lông rất dài. Trong sách Mao truyện lại có viết:老狼有胡, 进则躐其胡, 退则跲其尾, 进退有难"Lão lang hữu hồ, tiến tắc liệp kỳ hồ, thối tắc cấp kỳ vĩ, tiến thối hữu nan." Nghĩa là: "Sói già có "hồ", tiến thì dẫm lên "hồ' của mình, thoái lụi thì dẫm phải đuôi, tiến thoái đều khó". Vậy là đủ hiểu nghĩa câu trên và thành ngữ "lang bạt kỳ hồ".
Thành ngữ này về sau có thể dùng rút gọn thành "lang bạt" (trong tiếng Việt cũng có kiểu rút gọn như thế) cũng theo nghĩa như "lang bạt kỳ hồ". Chẳng hạn trong Truyện Pháp Chính, sách Tam Quốc Chí của Trần Thọ có đoạn viết về Thục chủ có đoạn "Chủ công chi tại công an dã, bắc úy tào công chi cường, đông đạn tôn quyền chi bức, cận tắc cụ tôn phu nhân sinh biến ô trửu dịch chi hạ; đương tư chi thời, tiến thối lang bạt" Tạm dịch: "Chúa công khi còn tại Công An, phía Bắc phải kiêng dè Tào Công mạnh, phía Đông e ngại Tôn Quyền bức hiếp, gần thì phải phòng bị Tôn Phu nhân sinh biến ở sát nách, vào lúc đó, tiến thoái "lang bạt"" Như vậy, "lang bạt" là thế mắc kẹt, khó xử, không biết làm sao. Lấy thêm một ví dụ nữa trong Luận về Hán Chiêu Đế của Lý Đức Dụ đời Đường: "Thành vương văn quản thái lưu ngôn, quan triệu công bất duyệt, toại sứ chu công lang bạt nhi đông, chi thi tác hĩ". Câu này không tìm hiểu kỹ và đặc biệt không nắm được nghĩa của "lang bạt", dễ bị các cụ dù rất giỏi chữ Hán, dịch thành "Thành Vương nghe Quản Thái dèm pha, thấy Thiệu Công không vui, bèn sai Chu Công đi lang thang phiêu bạt về phía đông, rồi làm thơ". Thực ra câu này nghĩa là "Thành Vương nghe Quản Thái dèm pha, xem ra Thiệu Công không vui, khiến Chu Công phải mắc kẹt ở phía Đông, mà soạn Kinh Thi". (Quản Thúc và Thái Thúc là hai người em của Thành Vương, nổi tiếng gian tà nịnh hót. Sau này bị Chu Công và Thiệu Công đuổi. Chu Công là chư hầu nước Lỗ, nằm ở phía Đông, là nơi trung tâm của văn hóa, phồn thịnh, vui vẻ, không có gì phải lang thang phiêu bạt cả. Tuy vậy, Chu Công vừa kiêm chức khanh sĩ của vua nhà Chu, thường là phải ở kinh đô nắm quyền tể tướng. Nhưng vì Quản Thái xúc xiểm nên không được vua triệu vào kinh đô, do đó phải ở nước Lỗ, muốn về triều thì không được vua cho phép và ở lại thì lại lo việc triều chính, vì vậy phải tiêu thời gian để san định Kinh Thi.
Như vậy, có thể có một số kết luận như sau: Thứ nhất, thành ngữ tiếng Việt có gốc thành ngữ chữ Hán không nhất thiết có nghĩa giống như nghĩa gốc. Thứ hai, các cụ ta thiếu sách vở nên phải sử dụng quá nhiều trí tuệ và năng lực suy luận, thông minh sáng tạo không có nghĩa là tốt, không sai lầm. Thứ ba, việc dịch thuật phải tra cứu sâu xa, đối chiếu từ nhiều nguồn, theo một phương pháp khoa học, chứ không nên sáng tạo kiểu "thủy tạ là thủy tọa, là nhà ngồi trên nước". Thứ tư, việc tạo thành thói quen nghiên cứu sâu, học hỏi kỹ khi dịch thuật, có thêm cái lợi nữa là biết được nhiều điều rất thú vị. Chẳng hạn cái câu về Lưu Bị trong truyện Pháp Chính hoàn toàn mâu thuẫn với hình ảnh Tôn Phu Nhân tiết liệt yêu kính chồng trong Tam Quốc diễn nghĩa của La Quán Trung làm tôi cứ phân vân, hay là mình chưa hiểu đoạn văn. Tìm hiểu ra mới biết là Tôn Phu Nhân đúng là phải đề phòng, vì thực chất đây là hôn nhân chính trị, hoàn toàn không có màn Ngô Quốc Thái chọn rể, Kiều Công khen Lưu Bị và cũng chẳng có màn Tôn Phu Nhân tự vẫn sau khi Lưu Bị thua trận ở Hào Đình.
Có lẽ nước Việt chưa có tầng lớp trí thức, chưa có công nghiệp, chưa có kinh tế sản xuất hàng hóa, chính vì thói quen ẩu tả, đại khái, nhờ cậy quá nhiều vào trí thông minh, và thói quen làm khoa học kiểu ếch ngồi đáy giếng. Tất cả phải bắt đầu bằng một đạo đức đọc hiểu viết nói và dịch cho chuẩn. Như thế thì truy tìm nghĩa "lang bạt kỳ hồ" không phải là chuyện nhỏ.
Trong bài này sẽ phân tích một cụm thành ngữ, được sử dụng khá phổ biến "lang bạt kỳ hồ" để thấy các cụ ta ẩu tả trong việc tìm hiểu thế nào. "Lang bạt kỳ hồ" trong ngôn ngữ Việt Nam hiện nay được hiểu là "lang thang phiêu bạt giang hồ đến kỳ thích". Thực ra đây là một thành ngữ chữ Hán 狼跋其胡 "lang bạt kỳ hồ" nói về thế mắc kẹt không tiến thoái được.
Trong Kinh Thi có bài Mân phong có câu: "Lang bạt kỳ hồ, tái chí kỳ vĩ"狼跋其胡, 载疐其尾 . Nghĩa đen là "Con sói bước tới dẫm vào yếm lông trước cổ của mình, lui lại vấp phải cái đuôi của mình". Khi dịch cần phân tích để hiểu ý nghĩa của câu này thế nào? Trước hết "lang" không phải là "lang thang" mà đúng là con sói trong từ "sói lang", "vĩ" là đuôi, "tái" là quay lại, là những từ có nghĩa cố định trong câu. Bây giờ còn lại chữ "hồ" cần phải hiểu xem tại sao lại xuất hiện ở đây. Chữ "Hồ" cũng chỉ người rợ Hồ, cái cổ họng,... nhưng không phải chữ "hồ" trong "Tây Hồ" hoặc "giang hồ". Như vậy cần phải tìm một nghĩa "hồ" có liên quan đến "lang", "bạt" hoặc "vĩ". "Hồ" có một nghĩa là cái yếm lông trước ngực ngay dưới cổ họng con sói, cũng là một bộ phận như "vĩ" là đuôi. "Hồ" phía trước, "vĩ" phía sau, cũng như "bạt" là đi về trước, "tái" là lui về sau. Tấm yếm ngực của các con sói già thường mọc lông rất dài. Trong sách Mao truyện lại có viết:老狼有胡, 进则躐其胡, 退则跲其尾, 进退有难"Lão lang hữu hồ, tiến tắc liệp kỳ hồ, thối tắc cấp kỳ vĩ, tiến thối hữu nan." Nghĩa là: "Sói già có "hồ", tiến thì dẫm lên "hồ' của mình, thoái lụi thì dẫm phải đuôi, tiến thoái đều khó". Vậy là đủ hiểu nghĩa câu trên và thành ngữ "lang bạt kỳ hồ".
Thành ngữ này về sau có thể dùng rút gọn thành "lang bạt" (trong tiếng Việt cũng có kiểu rút gọn như thế) cũng theo nghĩa như "lang bạt kỳ hồ". Chẳng hạn trong Truyện Pháp Chính, sách Tam Quốc Chí của Trần Thọ có đoạn viết về Thục chủ có đoạn "Chủ công chi tại công an dã, bắc úy tào công chi cường, đông đạn tôn quyền chi bức, cận tắc cụ tôn phu nhân sinh biến ô trửu dịch chi hạ; đương tư chi thời, tiến thối lang bạt" Tạm dịch: "Chúa công khi còn tại Công An, phía Bắc phải kiêng dè Tào Công mạnh, phía Đông e ngại Tôn Quyền bức hiếp, gần thì phải phòng bị Tôn Phu nhân sinh biến ở sát nách, vào lúc đó, tiến thoái "lang bạt"" Như vậy, "lang bạt" là thế mắc kẹt, khó xử, không biết làm sao. Lấy thêm một ví dụ nữa trong Luận về Hán Chiêu Đế của Lý Đức Dụ đời Đường: "Thành vương văn quản thái lưu ngôn, quan triệu công bất duyệt, toại sứ chu công lang bạt nhi đông, chi thi tác hĩ". Câu này không tìm hiểu kỹ và đặc biệt không nắm được nghĩa của "lang bạt", dễ bị các cụ dù rất giỏi chữ Hán, dịch thành "Thành Vương nghe Quản Thái dèm pha, thấy Thiệu Công không vui, bèn sai Chu Công đi lang thang phiêu bạt về phía đông, rồi làm thơ". Thực ra câu này nghĩa là "Thành Vương nghe Quản Thái dèm pha, xem ra Thiệu Công không vui, khiến Chu Công phải mắc kẹt ở phía Đông, mà soạn Kinh Thi". (Quản Thúc và Thái Thúc là hai người em của Thành Vương, nổi tiếng gian tà nịnh hót. Sau này bị Chu Công và Thiệu Công đuổi. Chu Công là chư hầu nước Lỗ, nằm ở phía Đông, là nơi trung tâm của văn hóa, phồn thịnh, vui vẻ, không có gì phải lang thang phiêu bạt cả. Tuy vậy, Chu Công vừa kiêm chức khanh sĩ của vua nhà Chu, thường là phải ở kinh đô nắm quyền tể tướng. Nhưng vì Quản Thái xúc xiểm nên không được vua triệu vào kinh đô, do đó phải ở nước Lỗ, muốn về triều thì không được vua cho phép và ở lại thì lại lo việc triều chính, vì vậy phải tiêu thời gian để san định Kinh Thi.
Như vậy, có thể có một số kết luận như sau: Thứ nhất, thành ngữ tiếng Việt có gốc thành ngữ chữ Hán không nhất thiết có nghĩa giống như nghĩa gốc. Thứ hai, các cụ ta thiếu sách vở nên phải sử dụng quá nhiều trí tuệ và năng lực suy luận, thông minh sáng tạo không có nghĩa là tốt, không sai lầm. Thứ ba, việc dịch thuật phải tra cứu sâu xa, đối chiếu từ nhiều nguồn, theo một phương pháp khoa học, chứ không nên sáng tạo kiểu "thủy tạ là thủy tọa, là nhà ngồi trên nước". Thứ tư, việc tạo thành thói quen nghiên cứu sâu, học hỏi kỹ khi dịch thuật, có thêm cái lợi nữa là biết được nhiều điều rất thú vị. Chẳng hạn cái câu về Lưu Bị trong truyện Pháp Chính hoàn toàn mâu thuẫn với hình ảnh Tôn Phu Nhân tiết liệt yêu kính chồng trong Tam Quốc diễn nghĩa của La Quán Trung làm tôi cứ phân vân, hay là mình chưa hiểu đoạn văn. Tìm hiểu ra mới biết là Tôn Phu Nhân đúng là phải đề phòng, vì thực chất đây là hôn nhân chính trị, hoàn toàn không có màn Ngô Quốc Thái chọn rể, Kiều Công khen Lưu Bị và cũng chẳng có màn Tôn Phu Nhân tự vẫn sau khi Lưu Bị thua trận ở Hào Đình.
Có lẽ nước Việt chưa có tầng lớp trí thức, chưa có công nghiệp, chưa có kinh tế sản xuất hàng hóa, chính vì thói quen ẩu tả, đại khái, nhờ cậy quá nhiều vào trí thông minh, và thói quen làm khoa học kiểu ếch ngồi đáy giếng. Tất cả phải bắt đầu bằng một đạo đức đọc hiểu viết nói và dịch cho chuẩn. Như thế thì truy tìm nghĩa "lang bạt kỳ hồ" không phải là chuyện nhỏ.
Thứ Ba, 4 tháng 11, 2014
Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt - Phạm Văn Đồng
Giữ gìn sự trong sáng của một ngôn ngữ, chuẩn hóa nó, phát triển nó - đây là một chủ đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn, cho nên trước hết cần thiết phải có cái nhìn rộng và sâu về vai trò của ngôn ngữ đối với xã hội, đối với con người, đối với sự phát triển của các dân tộc theo hướng đi lên.
I. Tầm quan trọng của ngôn ngữ đối với lịch sử loài người và lịch sử các dân tộc.Nhìn vào quá trình phát triển lịch sử của loài người, chúng ta thấy rất rõ vai trò và tác dụng của ngôn ngữ. Trước hết là lao động, sau đó đồng thời với lao động và ngôn ngữ - đó là hai động lực chủ yếu trong sự phát triển của loài người nguyên thủy. Cùng với sự phát triển của tư duy, của ý thức, ngôn ngữ đã góp phần hoàn thiện con người, phân biệt con người với con vật. Dần dần, loài người xây dựng nên các cộng đồng chung về ngôn ngữ từ thấp lên cao về mặt tổ chức xã hội như thị tộc, bộ lạc, dân tộc. Về sau này, khi đã xuất hiện quốc gia, thì ý thức về một quốc gia thống nhất bao giờ cũng gắn bó với ý thức về một ngôn ngữ quốc gia chung. Lịch sử dân tộc Việt Nam ta, kể từ thời dựng nước được thế giới biết đến qua nền văn hóa Đông Sơn rực rỡ với hiện vật tiêu biểu trống đồng, trải qua hàng năm cho đến ngày nay, nếu xét riêng về mặt ngôi ngữ thì có thể nói rằng đó là lịch sử người Việt Nam, cùng nhau xây dựng, thống nhất và phổ biến tiếng Việt trong cương vị ngôn ngữ dùng chung trên toàn lãnh thổ đất nước ta.
Khi nhận diện một dân tộc, ngôn ngữ thường được coi là một trong những tiêu chuẩn chính (bên cạnh các tiêu chuẩn khác như tính cộng đồng lãnh thổ, ý thức tự giác dân tộc, các đặc điểm chung về tâm lý, văn hóa, kinh tế...) Ngôn ngữ góp phần làm nên bản sắc của một dân tộc, phân biệt dân tộc này với dân tộc khác. Trong suốt lịch sử lâu dài đấu tranh vì chủ quyền dân tộc, vì độc lập tự do của đất nước, chúng ta có thể hình dung dân tộc Việt Nam ta đã phấn đấu gian khổ như thế nào để thoát được hiểm họa diệt chủng về ngôn ngữ và văn hóa, để bảo vệ và phát triển được tiếng Việt, như Bác Hồ nói, "Thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc".
Trong các mặt đời sống của một dân tộc, của một đất nước thì ngôn ngữ gắn bó mật thiết hơn cả với văn hóa. Ngôn ngữ là một trong những nhân tố hợp thành quan trọng, góp phần làm nên cái nền tảng về giá trị, bản sắc, tinh hoa của nền văn hóa dân tộc; bởi lẽ nó liên quan đến ý thức xã hội, ứng xử và giao tiếp xã hội, cũng như các kết quả hoạt động vật chất và tinh thần của con người trong xã hội. Chính tiếng Việt, ở mặt nội dung ý nghĩa của nó, là nơi ghi lại, nơi phản ánh chủ yếu những tri thức, kinh nghiệm, những suy nghĩ, quan niệm v.v... từ ngàn đời của cha ông ta về mọi mặt của đời sống dân tộc, về tự nhiên và xã hội, về vũ trụ và con người. Cùng với quá trình hình thành và phát triển nền văn hóa Việt Nam, tiếng Việt cũng hình thành và phát triển, ngày nay đã trở thành một ngôn ngữ giàu và đẹp, phong phú và độc đáo; đó là một công cụ rất có hiệu lực trong việc xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Điều quan trọng nhất là mỗi chúng ta có ý thức sâu sắc về sự giàu đẹp của tiếng Việt, có tình cảm của người Việt Nam ta biết yêu và quý tiếng nói của dân tộc, nói rộng ra thì đó là ý thức và tình cảm đối với văn hóa dân tộc mình, đối với đất nước mình, nhân dân mình.
Ngôn ngữ nào cũng có hai chức năng chủ yếu, là phương tiện quan trọng nhất trong sự giao thiệp giữa người với người và là phương tiện, là công cụ của tư duy. Trên thế giới, có nhà ngôn ngữ học đã ví ngôn ngữ như là một thứ chất kết dính hết sức đặc biệt, hết sức quan trọng, vì ở đâu cũng thấy có mặt nó, trong kinh tế, trong văn hóa, trong xã hội, trong mọi mặt vật chất, tinh thần của cuộc sống con người, bình thường và quen thuộc như nước ta uống, như không khí ta thở vậy. Vì thế, muốn xây dựng và phát triển con người, xây dựng và phát triển xã hội, xây dựng và phát triển đất nước, chúng ta không thể không phát triển tiếng Việt, công cụ giao tiếp, công cụ tư duy, công cụ phát triển của con người Việt Nam, đất nước Việt Nam. Tại Hội nghị khoa học "Gìn giữ sự trong sáng của tiếng Việt về mặt từ ngữ" họp ngày 29-10-1979 ở Hà Nội, tôi đã nhấn mạnh vai trò và tác dụng của công việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt và chuẩn hóa nó, để phục vụ sự phát triển trí tuệ con người Việt Nam, sự phát triển sự nghiệp xã hội chủ nghĩa trên đất nước ta. Tôi nghĩ rằng đó chính là lý do sâu xa vì sao chúng ta cần phải có sự quan tâm đầy đủ đến tiếng Việt, đặc biệt là hiện nay, ở thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.
Tôi dừng lại ở đây là chỗ thích hợp nhất để trình bày một quan điểm rất quan trọng về quan hệ giữa tư duy và ngôn ngữ. Chúng ta còn nhớ Các Mác và Ph.Ăng-ghen, sau khi phác họa học thuyết vĩ đại của mình là duy vật lịch sử và duy vật biện chứng, đã có một câu nói mà tôi cần trích nguyên văn: "Khi hiện thực đã được trình bày như đích thực nó như vậy (bởi các khoa học, và các khoa học ấy chứng minh duy vật biện chứng lịch sử), thì triết học không còn chỗ nào để tồn tại nữa". Ăng-ghen nói rõ thêm: "Khi khoa học tự nhiên và khoa học lịch sử đã thấm nhuần biện chứng thì tất cả các món hàng triết học cũ trở thành đồ thừa, trừ lý luận về tư duy (tức là duy vật biện chứng lịch sử - P.V.Đ)".
Ở đây chúng ta phải thấy một cách sâu sắc nhất và phong phú nhất sự liên quan mật thiết giữa ngôn ngữ và tư duy hoặc ngược lại giữa tư duy và ngôn ngữ, bởi cái này là nhân tố của cái kia hoặc ngược lại. Đó là hai cái đòn xeo quý báu không ngừng nâng cao hiểu biết của con người trong quá trình đi lên giải quyết các vấn đề của cuộc sống trên mọi lĩnh vực, từ gần đến xa, từ thấp đến cao, từ đời này đến đời khác. Trong thời đại ngày nay, thời đại của sự phát triển như vũ bão của các ngành khoa học: khoa học kỹ thuật và khoa học xã hội, sự phát triển tư duy có liên quan đến sự phát triển của toàn cầu hóa cuộc sống mọi con người, mọi dân tộc, thì chúng ta càng thấy tầm quan trọng của ngôn ngữ và tư duy. Chỉ có đặt vấn đề như vậy thì đề tài của bàI viết này mới có đầy đủ tầm vóc, chiều sâu và chiều rộng của nó, xứng đáng với giá trị của nó. ở đây tôi chỉ gợi mở quan điểm để mở rộng chân trời của vấn đề, từ đó có thể có sự nhận thức mới, gắn liền với tìm tòi mới, hiểu biết mới của biết bao người trong lĩnh vực ngôn ngữ và tư duy của Việt Nam.
II. Ý nghĩa và nội dung của công việc giữ gìn sự trong sáng tiếng Việt.
Ngôn ngữ phát sinh và phát triển cùng với xã hội loài người, nhưng không phải theo một con đường thẳng tuột, mà trải qua những khúc khuỷu, quanh co. Sự phát triển của các ngôn ngữ trên thế giới đều có tính quy luật chung là từ từ, liên tục, không bùng nổ, không nhảy vọt. Những biến đổi của ngôn ngữ thường diễn ra khi nhanh khi chậm và không đều ở các mặt ngữ âm, từ vựng - ngữ nghĩa, ngữ pháp, trong đó năng động, mạnh mẽ nhất là bộ phận từ ngữ. Ngày nay công nghệ tin học có khả năng xử lý văn bản, dịch máy, phân tích và tổng hợp lời nói, nhận dạng tiếng nói và chữ viết... càng góp phần thúc đẩy ngôn ngữ phát triển.
Trong quá trình phát triển lâu dài, không có một ngôn ngữ nào trên thế giới lại không có sự tiếp xúc, vay mượn với ngôn ngữ khác, cho dù đó là những ngôn ngữ rất lâu đời, rất phát triển như những thứ tiếng của các nước lớn ở châu Âu, châu á, châu Mỹ và khi vay mượn thì bên cạnh cái đúng, cái cần thiết, không tránh khỏi có những cái không hợp lý, thiếu cân nhắc, đôi khi sống sượng... Vì thế, mọi ngôn ngữ đều cần có sự tác động tích cực của con người, của xã hội, của Nhà nước, để bảo vệ và phát huy sự trong sáng vốn có cũa ngôn ngữ đó, trước những hiện tượng vay mượn ồ ạt ngôn ngữ nước ngoài. Tiếng Việt cũng không nằm ngoài quy luật chung ấy.
Khi nói đến việc gìn giữ sự trong sáng của tiếng Việt thì trước hết cần thấy rằng đó là một công việc bình thường, tự nhiên và thường xuyên, lâu dài trong suốt cả quá trình phát triển của tiếng Việt từ trước tới nay và từ nay về sau, nhằm bảo vệ và phát huy cái bản sắc, cái tinh hoa của tiếng Việt, không để cho mất đi một cái gì vô cùng quý báu khiến cho tiếng Việt là tiếng Việt.
Kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới cho thấy ngôn ngữ nào cũng trải qua những thời kỳ nổi bật lên nhiệm vụ giữ gìn sự trong sáng của nó. Như ở Nga, sau Cách mạng Tháng mười vĩ đại, Lê-nin đã kêu gọi mọi người không được "làm hỏng tiếng Nga", "tuyên chiến với việc dùng những từ nước ngoài không cần thiết".
ở ta, từ những năm 50, trong cuốn Sửa đổi lối làm việc, Bác Hồ đã nói đến các thứ "bệnh" ngôn ngữ mà chúng ta thường hay nhắc như: bệnh "sáo", nghĩa là nói và viết theo một cái khuôn mẫu hoàn toàn như nhau bất kể về việc gì, ở cấp nào, cơ quan nào; bệnh "ba hoa", "nói dài, nói dại, nói dai", còn nội dung thì rỗng tuyếch, "ba voi không được bát nước xáo"; bệnh "vẽ rắn thêm chân"; bệnh "nói chữ". Sau này Bác cũng nhiều lần nhấn mạnh "Khuyết điểm nặng nhất là dùng chữ nước ngoài quá nhiều, và nhiều khi dùng không đúng". Bác thường xuyên nhắc nhở "Tiếng nào sẵn có thì dùng tiếng ta" và đồng thời chỉ rõ "Có những chữ ta không sẵn có và khó dịch đúng thì cần phải mượn chữ nước ngoài".
Năm 1966, tại cuộc họp mặt về vấn đề giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt (ngày 7 và 10.2), tôi đã nêu ra ba khâu cần phải làm để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, giữ gìn sự giàu đẹp của nó, và hơn thế nữa làm cho nó ngày càng thêm giàu và đẹp. Đó là: giữ gìn và phát triển vốn chữ của tiếng ta; nói và viết đúng phép tắc của tiếng ta; giữ gìn bản sắc, phong cách của tiếng ta trong mọi thể văn (văn học, chính trị, khoa học, kỹ thuật...); đồng thời phải có những đổi mới, phát triển, làm cho tiếng ta ngày thêm giàu trên cơ sở vốn cũ của tiếng ta.
Nếu giữ gìn sự trong sáng của một ngôn ngữ là một yêu cầu lâu dài, thì từng giai đoạn lại có yêu cầu phải chuẩn hóa nó, tức là xác định cái đúng và những quy tắc vồ phát âm, chính tả, dùng từ, đặt câu v.v... của ngôn ngữ đó, được xã hội chấp nhận.
Hiện nay, tiếng Việt của chúng ta đang ở giai đoạn phát triển mạnh mẽ, phản ánh những thay đổi to lớn của đất nước trong sự nghiệp đổi mới mọi mặt kinh tế, văn hóa, xã hội, nhất là về phượng diện khoa học và công nghệ; vì thế chuẩn hóa nó là một nhiệm vụ quan trọng và bức xúc để tiếng Việt có thể phục vụ tốt hơn nữa công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Sự phát triển không ngừng của ngôn ngữ là phức tạp; một mặt, đời sống của nó gắn với xã hội, nhưng mặt khác, nó cũng sống đời sống bên trong riêng của nó.
Một ngôn ngữ được đánh giá là phát triển khi mà càng ngày có càng mở rộng và phân biệt các phong cách ngôn ngữ khác nhau (như phong cách khoa học, phong cách chính luận, phong cách hành chính sự vụ, phong cách nghệ thuật v.v...) cũng như các chức năng giao tiếp khác nhau trong các phạm vi sử dụng như: trong gia đình, làng xóm; trong các hoạt động sản xuất, thương mại, dịch vụ; trong hệ thống giáo dục; trên các phương tiện thông tin đại chúng; trong hành chính Nhà nước; trong quan hệ ngoại giao v.v... Đặc biệt là ngày nay, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin đã tạo điều kiện để ngôn ngữ có bước phát triển mới về chất và làm cho ngôn ngữ có những năng lực mới chưa từng có trước đây.
Một ngôn ngữ được đánh giá là phát triển khi nó ngày càng có tính chất trí tuệ hóa và quốc tế hóa. Điều này rất quan trọng khi ta đặt tiếng Việt trong bối cảnh thời đại ngày nay: thời đại của thông tin, của trí tuệ; thời đại của hội nhập khu vực, hội nhập toàn cầu, và do đó, tiếng Việt phải có những chuẩn bị, những thay đổi, để có đủ thế và lực giao lưu, tiếp xúc với các ngôn ngữ khác trên thế giới mà khưng sợ bị tổn thương đến giá trị, bản sắc, đến sự giàu đẹp của nó.
Chính là trong tinh thần đó mà tôi đã nhiều lần chỉ ra sự cần thiết phải nhìn thấy khả năng phát triển phong phú của tiếng Việt, nhấn mạnh yêu cầu giữ gìn sự trong sáng và cả yêu cầu phát triển, nhìn về tương lai. Cho nên, ở thời điểm hiện nay, trước thềm thế kỷ XXI, cần có nhận thức phù hợp về nội dung của công việc gìn giữ sự trong sáng của tiếng Việt là: giữ gìn cho tiếng Việt luôn luôn trong sáng trong quá trình phát triển mạnh mẽ của nó.
III. Thực trạng hiện nay và những giải pháp
Thực tế hơn nửa thế kỷ qua, từ 1945 đến nay, đã cho thấy, về cơ bản, sự phát triển của tiếng Việt là lành mạnh, đúng hướng, phù hợp với những biến đổi của đời sống chính trị, kinh tế-xã hội và văn hóa của đất nước.
Những năm gần đây, đặc biệt từ sau 1975, trong tiếng Việt, bên cạnh những điều mới mẻ và tốt đẹp, có thể thấy không ít những hiện tượng thiếu trong sáng, thiếu chuẩn mực, biểu hiện tập trung ở những mặt sau đây:
a. Trong nhà trường, học sinh, sinh viên nói, viết tiếng Việt còn sai nhiều về chính tả, về cách dùng từ ngữ, về ngữ pháp. Đây là một điều mà chúng ta không thể chấp nhận được, bởi vì việc giữ gìn sự trong sáng tiếng Việt của chúng ta cốt yếu là nhằm vào trường học, phải làm sao cho học sinh, sinh viên nói tốt và viết tốt tiếng Việt. Tôi muốn lưu ý rằng không phải chỉ có con em người Việt (Kinh), mà cả con em đồng bào các dân tộc thiểu số cũng phải được dạy và học tiếng Việt một cách nghiêm chỉnh để các em có thể nói, viết tiếng Việt cho đúng chuẩn của nó.
b. Trong đời sống xã hội, có thể nhận định chung rằng: một mặt, khá phổ biến là tình trạng chính tả chữ viết (như viết "i" ngắn "y" dài, viết hoa các danh từ riêng) không thống nhất, cách dùng từ ngữ sai. Mặt khác, đáng lo ngại hơn là tình trạng sử dụng từ ngữ nước ngoài pha vào tiếng Việt hiện nay rất tùy tiện và lạm dụng đến mức báo động. Tôi muốn nhấn mạnh đây là một thói hư, tật xấu đang ngang nhiên lan tràn ở nước ta, đã thành một xu thế dùng tiếng nước ngoài, nhất là tiếng Anh, thay cho tiếng Việt, gây biết bao chê trách mà ai nấy đều phê phán lúc nói chuyện hay lúc viết trên báo chí về nguy cơ này. Một điều tôi cần nói ở đây là: báo chí tuy đã có người viết bài không tiếc những lời phẫn nộ đích đáng đối với xu thế hư hỏng này, nhưng sau đó có người viết bài khác lại theo ngay cái vết mòn hầu như dễ làm cho người ta sa ngã ấy. Cũng cần phải lên án một cách nghiêm khắc hiện tượng xấu ở các thành phố lớn như thủ đô Hà Nội, bộ mặt của cả nước, cho phép các loại quảng cáo, các biển hiệu cửa hàng, công ty, khách sạn... bằng chữ nước ngoài, thậm chí không cần chữ Việt. Phải chăng là không có ai làm chủ để chăm lo cho bộ mặt cực kỳ quan trọng của thành phố; hay là do ý thức, do trách nhiệm, do trình độ của những người quản lý nó?
Bây giờ tôi nói mấy điểm về biện pháp để bảo vệ và phát triển tiếng Việt. Trước khi nói đến biện pháp, tôi nghĩ phải thấy được nguyên nhân từ phía chúng ta, vì nói đến giữ gìn sự trong sáng của ngôn ngữ, chuẩn hóa nó, phát triển nó - là nói đến tác động tích cực của con người vào quá trình phát triển của ngôn ngữ.
Nói đến con người ở đây, trước hết là mỗi người Việt Nam chúng ta, những người dùng tiếng Việt; các nhà giáo, các nhà văn, nhà báo, các nhà ngôn ngữ học, và rất quan trọng là vai trò lãnh đạo, hoạch định các chính sách về ngôn ngữ của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Trong tiếng Việt bây giờ có những biểu hiện không tốt, thiếu trong sáng, sai chuẩn mực, trước hết là do chúng đã coi nhẹ, thậm chí buông lỏng, thả nổi công việc quan trọng này. Chúng ta đã không đầu tư thích đáng trí tuệ, công sức và tiền của để nghiên cứu lý luận và điều tra thực tế về những vấn đề liên quan đến việc bảo vệ và phát huy bản sắc, tinh hoa của tiếng Việt. Việc tổ chức thực hiện nhìn chung cũng chưa tốt. Nhưng ở đây quan trọng nhất vẫn là nhận thức, là tình yêu, là lòng quý trọng và thái độ đối với tiếng mẹ đẻ của chúng ta. Mỗi người chúng ta phải có nghĩa vụ và trách nhiệm bảo vệ và phát huy sự trong sáng của nó, không thể tùy tiện, càng không thể để mất gốc, để tiếng Việt bị hoen ố, ô nhiễm.
Về biện pháp thì hiện nay có hai phạm vi quan trọng nhất là nhà trường và xã hội. ở đây cần có những biện pháp đồng bộ, thiết thực. Cụ thể là cần phải:
Chấn chỉnh việc dạy và học tiếng Việt ở nhà trường phổ thông và đại học; cũng như việc sử dụng tiếng Việt trên sách báo, truyền thanh, truyền hình, thông tin điện tử;
Tăng cường việc biên soạn các sách công cụ về tiếng Việt, nhất là sách Ngữ pháp và Từ điển;
Đẩy mạnh nghiên cứu lý luận về chuẩn hóa, về phát triển ngôn ngữ;
Tập trung điều tra khảo sát đời sống ngôn ngữ tiếng Việt hiện nay, nhất là chiều hướng phát triển từ 1975 đến nay.
Riêng đối với Nhà nước thì cần có càng sớm càng tốt một Hội đồng quốc gia về ngôn ngữ, để chăm lo về tiếngViệt, các tiếng dân tộc thiểu số, cũng như về công việc giảng dạy và sử dụng tiếng nước ngoài trên đất nước ta.
Trên đây, tôi đã nêu ra một số suy nghĩ về những vấn đề theo tôi là quan trọng, cần được chú trọng công việc giữ gìn sự trong sáng và phát triển tiếng Việt. Để kết thúc một cách có ý nghĩa bài viết "Trở lại vấn đề: Vì sự trong sáng và phát triển của tiếngViệt", tôi muốn liên hệ nó với tình hình hiện nay của nước ta. Tiếng Việt của chúng ta có hai đặc tính rất quý là giàu và đẹp, tự bản thân nó là trong sáng; tiếng Việt sẽ gàu và đẹp hơn nữa nếu chúng ta cố gắng làm tốt việc giữ gìn nó, sử dụng nó và phát triển nó. Với giá trị bản sắc, tinh hoa của nó, tiếng Việt sẽ góp phần đáng kể vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, tiến lên xây dựng từng bước chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, chính công cuộc đổi mới toàn diện mà chúng ta đang tiến hành, nói rộng ra là toàn bộ sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa của chúng ta, sẽ tác động trở lại, làm cho tiếng Việt ngày càng phát triển hơn, vậy nghĩa là có mối quan hệ rất khăng khít giữa sự trong sáng của tiếng việt, giữa vai trò và tác dụng của nó trong đời sống xã hội với sự tiến lên của đất nước ta trong thế kỷ tới. Chúng ta cần thấy rõ điều đó để phấn đấu thực hiện cho được một nhiệm vụ cao quý và thiêng liêng là bảo vệ sự trong sáng và phát triển tiếng nói của dân tộc Việt Nam ta.
1. Về các từ "đế chế" và "đế quốc"
Có người dùng những từ ngữ "nước đế quốc", "Chủ nghĩa đế quốc" thay cho từ "đế chế La Mã"; Thí dụ: "Đế quốc La Mã" thay cho từ "đế chế La Mã". Tất nhiên, những từ này đều có chung gốc ngôn ngữ là chữ "đế", nhưng nếu đi sâu vào tìm hiểu về thời điểm lịch sử của chúng, về sự hình thành của chúng, về tính chất và tác dụng của chúng. Thì rất dễ thấy những khác nhau cực kỳ to lớn và sâu xa, không thể nhầm lẫn được. Phải nói là: "đế chế Lã Mã", "đế chế ốttôman", "đế chế Nga", "đế chế Trung Hoa". Có nước như nước Anh vừa là đế chế, vừa là đế quốc.
2. Về các từ "đảng viên" và "quần chúng"
Trước đây khá thông thường bây giờ có ít hơn nhưng vẫn còn nhiều người nói và viết như sau: A là đảng viên; còn B, C, Đ là quần chúng, ý muốn nói rằng người nào không phải đảng viên thì là quần chúng. Tuy nhiên nói như thế có nghĩa là coi quần chúng là dưới đảng viên, hạ thấp vị trí chính trị, ý nghĩa và tác dụng của quần chúng là đông người, nói một người là quần chúng thì không đúng. Phải nói: A là đảng viên; còn B, C, Đ là người ngoài Đảng.
3. Về từ "tên"
Trước đây nhiều người hay dùng, nay có ít hơn, nhưng vẫn còn người dùng từ này với ý nghĩa miệt thị, đặt trước tên riêng của các nhân vật phản động, đối tượng của cách mạng hay những kẻ làm việc xấu xa; thí dụ: tên Hitle. Đáng lẽ chỉ nên gọi Hitle là "Hitle", mà như thế nó vẫn cứ là Hitle với tất cả tội ác của nó trong lịch sử nước Đức và lịch sử của loài người. Lúc tôi viết những cuốn sách đầu tiên về Chủ tịch Hồ Chí Minh, tối viết tên Bác mà không kèm theo chức danh cao quý gì (cũng như chúng ta từ lâu đã quen dùng cách xưng gọi "Các Mác", "Ăng-ghen", "Lê-nin") thì có những đồng chí bày tỏ với tôi tâm trạng nghẹn ngào, khó chịu. Đến ngày nay, nếu nói: Hồ Chí Minh là một vĩ nhân trong lịch sử nước ta và lịch sử thế giới, thì cũng còn có người chưa yên tâm, chưa thoải mái lắm.
4. Về từ "chính xác"
Về từ này người ta không nói và viết một cách không hợp lý, không biết đâu là chuẩn mực, hằng ngày ở đâu cũng nghe từ này với ý nghĩa cơ bản là "đúng", "trúng"... Vừa qua, nhân sinh nhật bác sĩ Phạm Ngọc Thạch do Bộ Y tế tổ chức, trong bài viết của mình tôi có kể lại lối tiếp xúc người bệnh của Phạm Ngọc Thạch. Khi vào Viện lao khám bệnh, Phạm Ngọc Thạch áp tai mình vào ngực người bệnh để nghe chứ không dùng ống nghe, và tôi có viết rằng Phạm Ngọc Thạch làm như vậy để nghe được "thực" hơn. ở đây chữ "thực" tôi dùng có ý nghĩa là trong trường hợp nào đó và trong chừng mực nào đó thì máy móc không "thực" bằng tai của người thầy thuốc. Đối với người thầy thuốc thì "thực" là quan trọng. Nhưng sau đó người ta sửa từ "thực" thay bằng từ "chính xác". Tôi có biết điều này, tuy nhiên tôi không đề nghị đổi lại, mà để hôm nay mới nói; tôi nghĩ viết và nói cho đúng, cho sáng không phải chuyện dễ dàng.
5. Về các từ "lớn" và "vĩ đại"
Nhiều người nói và viết một cách lẫn lộn, không có sự phân biệt hai từ này. Người ta có thể nói và viết: "nhà văn lớn", "nhà khoa học lớn"; bởi lẽ những người đó có trình độ và có cống hiến quan trọng trong nghề nghiệp của mình. Nhưng ở đây nếu dùng từ "vĩ đại" để đánh giá thì không đúng, không phù hợp, vì từ "vĩ đại" chỉ dùng cho một số ít người có cuộc đời và đức độ rất cao đẹp, có trí tuệ, tài năng và những cống hiến có giá trị và tầm cỡ to lớn, đáng kính phục.
6. Về cách ghép từ
Đây là một hướng làm giàu cho vốn từ tiếng Việt mà theo ý tôi nó rất thú vị như: "nuôi trồng", "xây lắp", "truy quét", "sao chụp"... Tuy nhiên không thể tùy tiện muốn ghép thế nào cũng được. Ví dụ: tiếng ta có các từ ngữ "y sĩ", "bác sĩ", "khám bệnh", "chữa bệnh"; nhưng có người lại muốn gán ghép thành: "y, bác sĩ", "khám, chữa bệnh" (hoặc trong các lĩnh vực khác như "chiến thuật", "kỹ thuật"), "kỹ thuật" thành "chiến, kỹ thuật". Mọi người có thể kể ra nhiều ví dụ khác về cách nói, cách viết rất sai như thế. điều này thường gây khó khăn cho người nước ngoài học tiếng Việt; lúc gặp những từ ngữ ghép lại như vừa nói họ phải tra từ điển, nhưng không có cuốn từ điển nào về tiếng Việt có những từ ngữ như vậy.
Tóm lại, ở đây tôi muốn đề cập một vấn đề chung là từ ngữ, hoặc một số từ ngữ nào đó có cách dùng thông thường của nó, cách dùng đúng chuẩn của nó, gắn với lịch sử của nó, với bối cảnh xã hội của nó, không thể tùy tiện vượt qua theo ý riêng của mình.
Thứ Hai, 6 tháng 10, 2014
Báo cáo về tình hình chính tả trong văn bản tiếng Việt (2010)
Tác giả: Nguyễn Ái Việt và Nguyễn Tấn Tôn Thất Đỗ Vũ
Tạm gửi phần đầu. Bạn nào cần toàn văn xin cho địa chỉ Email, tôi sẽ gửi trực tiếp
CHƯƠNG 1: VẤN NẠN CHÍNH TẢ TIẾNG VIỆT
Đầu thế kỷ XX, chữ Quốc ngữ đã trở nên phổ biến để ghi tiếng Việt bằng các ký tự La tinh. Đây là một điều may mắn lớn giúp tiếng Việt phát triển, trở thành một ngôn ngữ có khả năng chuyển tải các tư tưởng mới, có sức phổ cập, có thể đánh vần theo ký âm, dễ học và dễ đọc. Tiếng Việt thừa hưởng được các cách dùng chữ viết hoa để phân biệt danh từ riêng, dấu ngắt câu và các dấu biểu lộ tình thái do ký âm La tinh đem lại.
Là một ngôn ngữ đơn âm vị, tiếng Việt đòi hỏi xử lý phức tạp hơn so với tiếng Anh hoặc các ngôn ngữ đa âm vị khác. Để quyết định một âm vị hay một từ sai chính tả, phải xét chúng trong tương quan văn cảnh. Chẳng hạn, “trưa” và “phải” đều là các âm vị có trong từ điển, nhưng tổ hợp “trưa phải” lại là một lỗi chính tả tiềm năng. Tuy nhiên, câu “Anh làm đến trưa phải không?” lại không có lỗi chính tả. Nói một cách khác, trong tiếng Việt, giữa lỗi chính tả và lỗi ngữ pháp không có một ranh giới rõ ràng được đánh dấu bằng dấu cách (ký tự trắng) như trong tiếng Anh.
Phần lớn lỗi chính tả tiếng Việt bắt nguồn từ việc thiếu hệ thống chuẩn hóa cách ký âm và phát âm. Đến nay, các cách hài dấu, sử dụng “i” hay “y”, “d” hay “gi”, phiên âm địa danh, tên người vẫn là đề tài tranh cãi và chưa đạt được sự đồng thuận. Có lẽ không có quốc gia nào trên thế giới có nhiều cách phát âm vùng miền nhiều như Việt nam. Mỗi vùng miền đều mang vào tiếng Việt những lỗi chính tả đặc trưng của mình như “l-n”, “ch-tr”, “s-x” ở miền Bắc, “t-c”, “n-ng” ở miền Nam, nhầm lẫn về các dấu “sắc” và “huyền” ở miền Trung. Từ đó mà có những chuyện tiếu lâm về “lờ thấp lờ cao”, “xờ bướm sờ chim” hay “cá có cuống cà có đuôi”. Các lỗi chính tả khó sửa nhất xuất hiện còn do thói suy luận mò trên cơ sở một âm vị sai ngẫu nhiên trùng nghĩa như “soi mói”, “cọ sát”, “thăm quan”… Trong văn bản được soạn thảo trên máy tính, lỗi chính tả còn xuất hiện do việc gõ sai chệch sang ký tự bên cạnh, đảo lộn thứ tự ký tự, dính từ do bỏ quên ký tự trắng hoặc sự xuất hiện các ký tự “w”, “s”, “j” không đúng chỗ.
Vào những năm 60-70 của thế kỷ trước, mục Dọn vườn của Báo Văn nghệ là chuyên mục giúp ích nhiều cho chính tả tiếng Việt. Cũng trong thời gian đó, các ấn phẩm ít lỗi chính tả và sử dụng chữ nghĩa của công chức cũng có trách nhiệm hơn nhiều so với ngày nay. Rồi bẵng đi một dạo, vườn văn Việt không có ai chăm lo, lỗi chính tả đã nảy sinh nhiều như sâu bệnh mùa lụt trên sách vở, phương tiện thông tin đại chúng và nơi công cộng. Biểu ngữ “bánh trưng” ở lễ hội vua Hùng, hay “đất nớc” bên cạnh Ủy ban nhân dân thành phố Hà nội chỉ làm được dư luận xôn xao vài ngày đã trở thành chuyện “biết rồi khổ lắm nói mãi”. Lỗi chính tả nhiều đến mức chữa không xuể, trám được chỗ này lại bục ở chỗ kia, làm nản chí ngay cả các thức giả.
Sẽ sai lầm vô cùng nếu nghĩ rằng chính tả là chuyện nhỏ hay quá cao xa. Chính tả có tầm quan trọng đặc biệt trong đời sống văn hóa xã hội. Văn bản pháp luật sai chính tả sẽ ảnh hưởng tới lòng tin của công dân đối với các cơ quan công quyền. Báo chí sách vở sai chính tả sẽ làm méo mó thông tin, để lại mầm độc vào ngôn ngữ và tư duy của thế hệ trẻ. Có lẽ vì lỗi chính tả quá nhiều, chúng ta đã trở nên chai lì với chúng đến mức thờ ơ. Hãy nhớ rằng quan tâm tới chính tả cũng còn là quan tâm đến quyền lợi thiết thực của mỗi người. Đơn thư sai chính tả có thể ảnh hưởng tới con đường tiến thân và chế độ lương bổng của người lao động. Chào hàng, giới thiệu sản phẩm sai chính tả sẽ làm tổn hại tới hình ảnh và doanh thu của doanh nghiệp.
Nhiều tờ báo lớn trên thế giới yêu cầu tỷ lệ lỗi chính tả tiêu chuẩn là dưới mức 0.1%. Với tình trạng lỗi chính tả trầm trọng như ở nước ta hiện nay, nhiều chuyên gia cho rằng lỗi chính tả cũng phải ở mức dưới 1%. Tuy vậy, kết quả khảo sát của chúng tôi cho thấy có rất ít tổ chức đạt được mức này. Thậm chí còn có những tổ chức có tỷ lệ sai lỗi chính tả tới mức 30-40% là ranh giới giữa sai và đúng đã bị xóa nhòa và mọi từ điển đều trở nên vô dụng.
Khi việc đảo lộn sai đúng và thiếu trách nhiệm với chất lượng công việc trở thành một thái độ sống, chúng ta sẽ phải đối mặt với một vấn nạn xã hội còn lớn hơn nhiều. Sửa lỗi chính tả cũng là bước đầu để chấn chỉnh kỷ cương quốc gia, nâng cao chất lượng công việc và tinh thần trách nhiệm của công dân.
Công nghệ thông tin có thể đem lại những sản phẩm xử lý văn bản, hỗ trợ biên dịch và máy tìm kiếm. Trong số đó, soát lỗi chính tả là nhu cầu thiết thực hàng đầu. Người dùng đòi hỏi phải có những sản phẩm đúng quy trình chất lượng và dễ mất lòng tin với các sản phẩm sơ sài. Họ thường không biết rằng trên thị trường đã có những sản phẩm có thể đáp ứng nhu cầu soát lỗi chính tả. Nhiều nhà sản xuất cho rằng thị trường cho sản phẩm soát lỗi tiếng Việt quá nhỏ hẹp, do đó đã ngừng phát triển hoặc không đầu tư hơn nữa vào nghiên cứu phát triển. Thực ra, thị trường các phần mềm nâng cao chất lượng văn bản tiếng Việt là vô tận với hơn 5 triệu máy tính dùng được để soạn thảo văn bản hàng ngày.
Công nghệ thông tin chỉ có thể đem lại các công cụ trợ giúp, việc quét sạch lỗi chính tả trong văn bản tiếng Việt phải nhờ đến một chiến dịch cộng đồng rộng lớn, trong đó báo chí, truyền thông và các trường đại học phải đi đầu. Trong chiến dịch này, trước hết các nhà ngôn ngữ, các nhà văn hóa phải lên tiếng tạo thành dư luận xã hội và thuyết phục các cơ quan nhà nước ủng hộ để sớm có được một chương trình tái thiết tiếng Việt thậm chí một đạo luật về sử dụng tiếng Việt. Các chuyên gia công nghệ thông tin sẽ phải cố gắng để có những sản phẩm thiết thực phục vụ cho công cuộc tái thiết này.
Việc xếp hạng văn bản sẽ nâng cao nhận thức xã hội về lỗi chính tả này bằng những con số, để giúp mỗi người chúng ta cảm nhận được vấn nạn này một cách cụ thể hơn để cùng nhau giữ gìn tiếng Việt
Tạm gửi phần đầu. Bạn nào cần toàn văn xin cho địa chỉ Email, tôi sẽ gửi trực tiếp
TÓM TẮT
Trong giai đoạn phát triển trước mắt, xã hội Việt nam đang phải đối diện với nhiều thách thức mới. Chính tả tiếng Việt đang bị xao lãng so với các thách thức về kinh tế xã hội khác. Bản “Báo cáo về tình hình chính tả trong văn bản tiếng Việt” này là một đánh giá nhỏ về chất lượng chính tả văn bản tiếng Việt và cũng là lời kêu gọi thiết tha “Hãy cùng chúng tôi giữ gìn tiếng Việt”. Nhóm tác giả mong mỏi rằng với một nhận thức mới mẻ, toàn thể cộng đồng người Việt nam sẽ cùng tuyên chiến với vấn nạn xã hội này.
Trước khi đánh giá, chúng tôi đã tiến hành một cuộc điều tra nhỏ trong hai nhóm Chuyên gia ngôn ngữ và Chuyên gia CNTT. Nhóm chuyên gia ngôn ngữ yêu cầu tỷ lệ lỗi chính tả trong văn bản Việt phải là dưới 1%. Nhóm chuyên gia CNTT chấp nhận tỷ lệ này trong khoảng 2.5-5%. Hai nhóm chuyên gia đều nhất trí cho rằng báo chí truyền thông có trách nhiệm nhiều nhất đối với chính tả tiếng Việt. Tuyệt đại đa số các chuyên gia cũng cho rằng tỷ lệ 10% là ngưỡng báo động đối với các lỗi chính tả và tỷ lệ 30% là ngưỡng mà một từ đã không còn là lỗi chính tả.
Đợt xếp hạng tháng 6/2010 đã đánh giá 177 đơn vị và xếp hạng 132 đơn vị trong 7 khu vực: 1) Bộ và Văn phòng Trung ương; 2) Ủy ban nhân dân Tỉnh và Thành phố trực thuộc Trung ương; 3) Cơ quan thuộc Chính phủ và thuộc Bộ; 4) Đại học và Viện nghiên cứu; 5) Báo chí, nhà xuất bản và cơ quan truyền thông; 6) Doanh nghiệp Việt nam; 7) Tổ chức và doanh nghiệp nước ngoài tại Việt nam. Chúng tôi đã chọn phương pháp thống kê, với tập lỗi điển hình, là phương pháp phù hợp với điều kiện hạn chế về nguồn lực. Với 67 nghìn mẫu thống kê, tỷ lệ lỗi chính tả trung bình của văn bản tiếng Việt là 7.79%, cao hơn nhiều so với mức yêu cầu tối thiểu. Nhóm tác giả đã quan sát được tỷ lệ lỗi chính tả cao nhất như sau: “soi mói” 74.33%, “sáng lạn” 41.66%, “cọ sát” 28.38% và “thăm quan” 20.61%. Khu vực báo chí và truyền thông có tỷ lệ lỗi chính tả cao nhất, gần mức báo động 10%. Khu vực Đại học và Viện nghiên cứu có tỷ lệ lỗi xấp xỉ mức trung bình của xã hội, chưa phát huy được tính mẫu mực và tiên phong trong vấn đề dùng chữ nghĩa. Điều đáng nói là trong cả hai khu vực này đều có các đại diện có tỷ lệ lỗi vượt mức 30%. Khu vực các chính quyền địa phương và các cơ quan thuộc chính phủ, thuộc Bộ có tỷ lệ lỗi chính tả khá cao. Đặc biệt, có đơn vị có tỷ lệ lỗi gần 40%. Ngay cả các khu vực khá nhất là doanh nghiệp và các Bộ vẫn còn phải tiếp tục cải thiện chất lượng để có thể đạt được mức 1%. Các kết quả đánh giá chi tiết được công bố trên trang Web www.xephangvanban.com khai trương ngày 26/7/2010.
Các kết quả nói trên là một cố gắng của các tác giả để giúp toàn thể xã hội và các đơn vị đã được xếp hạng bước đầu nhận thức được về vấn đề chính tả tiếng Việt. Các đợt đánh giá tiếp sau sẽ được tiến hành 3 tháng một lần và sẽ liên tục được mở rộng về quy mô để hậu thuẫn cho một chiến dịch cộng đồng về quét lỗi chính tả.
Việc giới thiệu các sản phẩm soát lỗi chính tả tiếng Việt một cách khách quan cũng sẽ là cần thiết cho chiến dịch quét lỗi chính tả. Nhóm tác giả đã phân tích thống kê dựa trên khối liệu chủ yếu là báo chí và đã ước lượng được tỷ lệ giữa lỗi phi từ và lỗi thực từ trong tiếng Việt là 31.70%: 68.30%. Khác với quan niệm của một số chuyên gia CNTT và tình trạng trong tiếng Anh, lỗi thực từ chiếm đa số lỗi chính tả trong tiếng Việt. Điều đó có thể giải thích tại sao các sản phẩm không có khả năng quét lỗi thực từ đã không nhận được hưởng ứng mạnh mẽ từ phía người dùng.
Một kết quả đánh giá khác cho thấy, trái với nhận thức của nhiều người, hiện đã có một số sản phẩm Việt nam đạt được độ nhận biết lỗi thực từ vượt xa mức 33% của Microsoft Word 2007. Đặc biệt có sản phẩm đã đạt tỷ lệ 92.54%. Kết hợp với giải pháp hạ tầng quét lỗi cho cơ quan xí nghiệp, việc đạt tới độ nhận biết lỗi trên 99% đã là hiện thực.
Để có đánh giá khách quan, chúng tôi đề nghị sử dụng các độ đo như độ nhận biết, độ chính xác và khả năng gợi ý để đánh giá hiệu năng cho các phần mềm soát lỗi. Chúng tôi cũng đưa ra độ đo VIE độ đo cân bằng giữa các yếu tố nói trên và tỷ lệ với tần số xuất hiện các lỗi phi từ và lỗi thực từ.
Trong tương lai, các doanh nghiệp, chuyên gia và người sử dụng có thể tiếp tục giới thiệu các sản phẩm mới của mình với cộng đồng trên trang Web www.xephangvanban.com.
Nỗ lực đơn độc dù cố gắng đến đâu cũng không thể mang lại kết quả như mong muốn. Với công trình này, chúng tôi hy vọng sẽ có các nhà quản lý, chuyên gia ngôn ngữ và nhà văn hóa sẽ cùng vào cuộc để dẫn dắt cho chương trình cộng đồng này. Đồng thời, hy vọng rằng sẽ có nhiều bạn đồng nghiệp trong lĩnh vực CNTT cho ra các sản phẩm cùng giúp ích cho cộng đồng. HÃY CÙNG CHÚNG TÔI GIỮ GÌN TIẾNG VIỆT.
Trong giai đoạn phát triển trước mắt, xã hội Việt nam đang phải đối diện với nhiều thách thức mới. Chính tả tiếng Việt đang bị xao lãng so với các thách thức về kinh tế xã hội khác. Bản “Báo cáo về tình hình chính tả trong văn bản tiếng Việt” này là một đánh giá nhỏ về chất lượng chính tả văn bản tiếng Việt và cũng là lời kêu gọi thiết tha “Hãy cùng chúng tôi giữ gìn tiếng Việt”. Nhóm tác giả mong mỏi rằng với một nhận thức mới mẻ, toàn thể cộng đồng người Việt nam sẽ cùng tuyên chiến với vấn nạn xã hội này.
Trước khi đánh giá, chúng tôi đã tiến hành một cuộc điều tra nhỏ trong hai nhóm Chuyên gia ngôn ngữ và Chuyên gia CNTT. Nhóm chuyên gia ngôn ngữ yêu cầu tỷ lệ lỗi chính tả trong văn bản Việt phải là dưới 1%. Nhóm chuyên gia CNTT chấp nhận tỷ lệ này trong khoảng 2.5-5%. Hai nhóm chuyên gia đều nhất trí cho rằng báo chí truyền thông có trách nhiệm nhiều nhất đối với chính tả tiếng Việt. Tuyệt đại đa số các chuyên gia cũng cho rằng tỷ lệ 10% là ngưỡng báo động đối với các lỗi chính tả và tỷ lệ 30% là ngưỡng mà một từ đã không còn là lỗi chính tả.
Đợt xếp hạng tháng 6/2010 đã đánh giá 177 đơn vị và xếp hạng 132 đơn vị trong 7 khu vực: 1) Bộ và Văn phòng Trung ương; 2) Ủy ban nhân dân Tỉnh và Thành phố trực thuộc Trung ương; 3) Cơ quan thuộc Chính phủ và thuộc Bộ; 4) Đại học và Viện nghiên cứu; 5) Báo chí, nhà xuất bản và cơ quan truyền thông; 6) Doanh nghiệp Việt nam; 7) Tổ chức và doanh nghiệp nước ngoài tại Việt nam. Chúng tôi đã chọn phương pháp thống kê, với tập lỗi điển hình, là phương pháp phù hợp với điều kiện hạn chế về nguồn lực. Với 67 nghìn mẫu thống kê, tỷ lệ lỗi chính tả trung bình của văn bản tiếng Việt là 7.79%, cao hơn nhiều so với mức yêu cầu tối thiểu. Nhóm tác giả đã quan sát được tỷ lệ lỗi chính tả cao nhất như sau: “soi mói” 74.33%, “sáng lạn” 41.66%, “cọ sát” 28.38% và “thăm quan” 20.61%. Khu vực báo chí và truyền thông có tỷ lệ lỗi chính tả cao nhất, gần mức báo động 10%. Khu vực Đại học và Viện nghiên cứu có tỷ lệ lỗi xấp xỉ mức trung bình của xã hội, chưa phát huy được tính mẫu mực và tiên phong trong vấn đề dùng chữ nghĩa. Điều đáng nói là trong cả hai khu vực này đều có các đại diện có tỷ lệ lỗi vượt mức 30%. Khu vực các chính quyền địa phương và các cơ quan thuộc chính phủ, thuộc Bộ có tỷ lệ lỗi chính tả khá cao. Đặc biệt, có đơn vị có tỷ lệ lỗi gần 40%. Ngay cả các khu vực khá nhất là doanh nghiệp và các Bộ vẫn còn phải tiếp tục cải thiện chất lượng để có thể đạt được mức 1%. Các kết quả đánh giá chi tiết được công bố trên trang Web www.xephangvanban.com khai trương ngày 26/7/2010.
Các kết quả nói trên là một cố gắng của các tác giả để giúp toàn thể xã hội và các đơn vị đã được xếp hạng bước đầu nhận thức được về vấn đề chính tả tiếng Việt. Các đợt đánh giá tiếp sau sẽ được tiến hành 3 tháng một lần và sẽ liên tục được mở rộng về quy mô để hậu thuẫn cho một chiến dịch cộng đồng về quét lỗi chính tả.
Việc giới thiệu các sản phẩm soát lỗi chính tả tiếng Việt một cách khách quan cũng sẽ là cần thiết cho chiến dịch quét lỗi chính tả. Nhóm tác giả đã phân tích thống kê dựa trên khối liệu chủ yếu là báo chí và đã ước lượng được tỷ lệ giữa lỗi phi từ và lỗi thực từ trong tiếng Việt là 31.70%: 68.30%. Khác với quan niệm của một số chuyên gia CNTT và tình trạng trong tiếng Anh, lỗi thực từ chiếm đa số lỗi chính tả trong tiếng Việt. Điều đó có thể giải thích tại sao các sản phẩm không có khả năng quét lỗi thực từ đã không nhận được hưởng ứng mạnh mẽ từ phía người dùng.
Một kết quả đánh giá khác cho thấy, trái với nhận thức của nhiều người, hiện đã có một số sản phẩm Việt nam đạt được độ nhận biết lỗi thực từ vượt xa mức 33% của Microsoft Word 2007. Đặc biệt có sản phẩm đã đạt tỷ lệ 92.54%. Kết hợp với giải pháp hạ tầng quét lỗi cho cơ quan xí nghiệp, việc đạt tới độ nhận biết lỗi trên 99% đã là hiện thực.
Để có đánh giá khách quan, chúng tôi đề nghị sử dụng các độ đo như độ nhận biết, độ chính xác và khả năng gợi ý để đánh giá hiệu năng cho các phần mềm soát lỗi. Chúng tôi cũng đưa ra độ đo VIE độ đo cân bằng giữa các yếu tố nói trên và tỷ lệ với tần số xuất hiện các lỗi phi từ và lỗi thực từ.
Trong tương lai, các doanh nghiệp, chuyên gia và người sử dụng có thể tiếp tục giới thiệu các sản phẩm mới của mình với cộng đồng trên trang Web www.xephangvanban.com.
Nỗ lực đơn độc dù cố gắng đến đâu cũng không thể mang lại kết quả như mong muốn. Với công trình này, chúng tôi hy vọng sẽ có các nhà quản lý, chuyên gia ngôn ngữ và nhà văn hóa sẽ cùng vào cuộc để dẫn dắt cho chương trình cộng đồng này. Đồng thời, hy vọng rằng sẽ có nhiều bạn đồng nghiệp trong lĩnh vực CNTT cho ra các sản phẩm cùng giúp ích cho cộng đồng. HÃY CÙNG CHÚNG TÔI GIỮ GÌN TIẾNG VIỆT.
MỞ ĐẦU
Ngôn ngữ hình thành từ nhu cầu chia sẻ thông tin là động lực giúp con người suy nghĩ, đứng thẳng dậy trên đôi chân của mình và làm chủ thế giới. Loài người tìm ra chữ viết và dùng các văn bản để chuyển tải tri thức tới cho các thế hệ tương lai. Nhờ đó, ngày nay loài người đã có được cuộc sống tốt đẹp hơn và có thể ngẩng cao đầu để nhìn về những khoảng không cách xa hàng triệu năm ánh sáng.
Văn bản là tinh hoa tư duy của nhiều thế hệ, là nguyên khí dân tộc, quyết định sự tồn vong của quốc gia. Trong đêm đen nô lệ ngoại bang dài thăm thẳm, biết bao thế hệ người Việt đã không ngừng trút tim óc của mình lên giấy mực với niềm hy vọng bi thiết “tiếng ta còn thì nước ta còn”. Kho thư tịch tiếng Việt đã bị mai một nhiều do binh hỏa và thời gian, nhưng tiếng Việt, gia tài của cha ông để lại vẫn còn đây, để cho chúng ta được làm người Việt và có một nước Việt nam toàn vẹn. Trong những năm chiến tranh, các nhà lãnh đạo ở cả hai miền vẫn đau đáu kêu gọi “giữ gìn sự trong sáng trong tiếng Việt” và “chỉnh đốn Việt ngữ” vì một tương lai tươi sáng của dân tộc.
Ngày nay, chúng ta như quá mải miết trong những thăng trầm của cuộc sống và quên rằng bao nhiêu đế chế hùng mạnh đã lụi tàn, bao nhiêu nền văn hóa rực rỡ đã chìm vào quên lãng, bao nhiêu sinh ngữ đã trở thành tử ngữ trong những cuộc va đập khốc liệt giữa các nền văn minh. Để có nước non và tiếng nói Việt này, các thế hệ tiền nhân đã phải quên thân đền nợ nước và “dưới trăng bao thu bạc đầu mài kiếm”.
Hội nhập kinh tế văn hóa là một hành trình gian nan, đòi hỏi ngôn ngữ phải đủ chính xác để thu nhận được tri thức của nhân loại vừa đủ sức phổ cập để biến tri thức đó thành sức mạnh của cộng đồng người Việt. Tiếng Việt đáng lẽ phải được quan tâm chăm sóc, chỉnh đốn và phát triển hơn nữa. Tiếc thay, hiện nay tiếng Việt đang bị xuống cấp, lỗi chính tả tràn lan trên phương tiện thông tin đại chúng, hoành hành trong học đường, len lỏi cả vào các văn bản pháp quy và gieo mầm bệnh trong sách vở như một đại dịch. Việc sử dụng các phương tiện soạn thảo cắt dán, thư điện tử và Internet lại càng tạo điều kiện cho các loại vi rút này nảy nở sinh ra nhiều chủng loại kỳ dị khó chữa và truyền nhiễm nhanh hơn.
Một số chuyên gia ngôn ngữ cho rằng đây không còn là nguy cơ tiềm ẩn chỉ cần cảnh báo mà đã một đại nạn như cháy hay vỡ đê phải huy động sức mạnh của cả cộng đồng mới giải cứu được. Một vấn nạn xã hội lớn như vậy chỉ có thể đối phó nếu có một chiến dịch truyền thông lớn với mọi người Việt cùng vào cuộc.
Nhóm tác giả của “Báo cáo về tình hình chính tả Tiếng Việt: Đợt đánh giá Tháng 6/2010” là các chuyên gia về công nghệ xử lý tiếng Việt tâm huyết với tương lai của tiếng Việt. Chúng tôi hy vọng đây sẽ là lời tuyên chiến đầu tiên của tất cả chúng ta với vấn nạn chính tả tiếng Việt. Chúng tôi rất mong sẽ có các nhà quản lý, các chuyên gia ngôn ngữ, các nhà báo, trí thức, các doanh nghiệp và các bạn đồng nghiệp sẽ cùng tham gia để chủ trương và chỉ dẫn thêm cho đại cục. Cũng mong các đơn vị đã được xếp hạng sẽ thấy được thiện chí đó, không hiềm hơn kém để cùng chỉnh đốn lại tiếng Việt của chúng ta.
Ngôn ngữ hình thành từ nhu cầu chia sẻ thông tin là động lực giúp con người suy nghĩ, đứng thẳng dậy trên đôi chân của mình và làm chủ thế giới. Loài người tìm ra chữ viết và dùng các văn bản để chuyển tải tri thức tới cho các thế hệ tương lai. Nhờ đó, ngày nay loài người đã có được cuộc sống tốt đẹp hơn và có thể ngẩng cao đầu để nhìn về những khoảng không cách xa hàng triệu năm ánh sáng.
Văn bản là tinh hoa tư duy của nhiều thế hệ, là nguyên khí dân tộc, quyết định sự tồn vong của quốc gia. Trong đêm đen nô lệ ngoại bang dài thăm thẳm, biết bao thế hệ người Việt đã không ngừng trút tim óc của mình lên giấy mực với niềm hy vọng bi thiết “tiếng ta còn thì nước ta còn”. Kho thư tịch tiếng Việt đã bị mai một nhiều do binh hỏa và thời gian, nhưng tiếng Việt, gia tài của cha ông để lại vẫn còn đây, để cho chúng ta được làm người Việt và có một nước Việt nam toàn vẹn. Trong những năm chiến tranh, các nhà lãnh đạo ở cả hai miền vẫn đau đáu kêu gọi “giữ gìn sự trong sáng trong tiếng Việt” và “chỉnh đốn Việt ngữ” vì một tương lai tươi sáng của dân tộc.
Ngày nay, chúng ta như quá mải miết trong những thăng trầm của cuộc sống và quên rằng bao nhiêu đế chế hùng mạnh đã lụi tàn, bao nhiêu nền văn hóa rực rỡ đã chìm vào quên lãng, bao nhiêu sinh ngữ đã trở thành tử ngữ trong những cuộc va đập khốc liệt giữa các nền văn minh. Để có nước non và tiếng nói Việt này, các thế hệ tiền nhân đã phải quên thân đền nợ nước và “dưới trăng bao thu bạc đầu mài kiếm”.
Hội nhập kinh tế văn hóa là một hành trình gian nan, đòi hỏi ngôn ngữ phải đủ chính xác để thu nhận được tri thức của nhân loại vừa đủ sức phổ cập để biến tri thức đó thành sức mạnh của cộng đồng người Việt. Tiếng Việt đáng lẽ phải được quan tâm chăm sóc, chỉnh đốn và phát triển hơn nữa. Tiếc thay, hiện nay tiếng Việt đang bị xuống cấp, lỗi chính tả tràn lan trên phương tiện thông tin đại chúng, hoành hành trong học đường, len lỏi cả vào các văn bản pháp quy và gieo mầm bệnh trong sách vở như một đại dịch. Việc sử dụng các phương tiện soạn thảo cắt dán, thư điện tử và Internet lại càng tạo điều kiện cho các loại vi rút này nảy nở sinh ra nhiều chủng loại kỳ dị khó chữa và truyền nhiễm nhanh hơn.
Một số chuyên gia ngôn ngữ cho rằng đây không còn là nguy cơ tiềm ẩn chỉ cần cảnh báo mà đã một đại nạn như cháy hay vỡ đê phải huy động sức mạnh của cả cộng đồng mới giải cứu được. Một vấn nạn xã hội lớn như vậy chỉ có thể đối phó nếu có một chiến dịch truyền thông lớn với mọi người Việt cùng vào cuộc.
Nhóm tác giả của “Báo cáo về tình hình chính tả Tiếng Việt: Đợt đánh giá Tháng 6/2010” là các chuyên gia về công nghệ xử lý tiếng Việt tâm huyết với tương lai của tiếng Việt. Chúng tôi hy vọng đây sẽ là lời tuyên chiến đầu tiên của tất cả chúng ta với vấn nạn chính tả tiếng Việt. Chúng tôi rất mong sẽ có các nhà quản lý, các chuyên gia ngôn ngữ, các nhà báo, trí thức, các doanh nghiệp và các bạn đồng nghiệp sẽ cùng tham gia để chủ trương và chỉ dẫn thêm cho đại cục. Cũng mong các đơn vị đã được xếp hạng sẽ thấy được thiện chí đó, không hiềm hơn kém để cùng chỉnh đốn lại tiếng Việt của chúng ta.
CHƯƠNG 1: VẤN NẠN CHÍNH TẢ TIẾNG VIỆT
Đầu thế kỷ XX, chữ Quốc ngữ đã trở nên phổ biến để ghi tiếng Việt bằng các ký tự La tinh. Đây là một điều may mắn lớn giúp tiếng Việt phát triển, trở thành một ngôn ngữ có khả năng chuyển tải các tư tưởng mới, có sức phổ cập, có thể đánh vần theo ký âm, dễ học và dễ đọc. Tiếng Việt thừa hưởng được các cách dùng chữ viết hoa để phân biệt danh từ riêng, dấu ngắt câu và các dấu biểu lộ tình thái do ký âm La tinh đem lại.
Là một ngôn ngữ đơn âm vị, tiếng Việt đòi hỏi xử lý phức tạp hơn so với tiếng Anh hoặc các ngôn ngữ đa âm vị khác. Để quyết định một âm vị hay một từ sai chính tả, phải xét chúng trong tương quan văn cảnh. Chẳng hạn, “trưa” và “phải” đều là các âm vị có trong từ điển, nhưng tổ hợp “trưa phải” lại là một lỗi chính tả tiềm năng. Tuy nhiên, câu “Anh làm đến trưa phải không?” lại không có lỗi chính tả. Nói một cách khác, trong tiếng Việt, giữa lỗi chính tả và lỗi ngữ pháp không có một ranh giới rõ ràng được đánh dấu bằng dấu cách (ký tự trắng) như trong tiếng Anh.
Phần lớn lỗi chính tả tiếng Việt bắt nguồn từ việc thiếu hệ thống chuẩn hóa cách ký âm và phát âm. Đến nay, các cách hài dấu, sử dụng “i” hay “y”, “d” hay “gi”, phiên âm địa danh, tên người vẫn là đề tài tranh cãi và chưa đạt được sự đồng thuận. Có lẽ không có quốc gia nào trên thế giới có nhiều cách phát âm vùng miền nhiều như Việt nam. Mỗi vùng miền đều mang vào tiếng Việt những lỗi chính tả đặc trưng của mình như “l-n”, “ch-tr”, “s-x” ở miền Bắc, “t-c”, “n-ng” ở miền Nam, nhầm lẫn về các dấu “sắc” và “huyền” ở miền Trung. Từ đó mà có những chuyện tiếu lâm về “lờ thấp lờ cao”, “xờ bướm sờ chim” hay “cá có cuống cà có đuôi”. Các lỗi chính tả khó sửa nhất xuất hiện còn do thói suy luận mò trên cơ sở một âm vị sai ngẫu nhiên trùng nghĩa như “soi mói”, “cọ sát”, “thăm quan”… Trong văn bản được soạn thảo trên máy tính, lỗi chính tả còn xuất hiện do việc gõ sai chệch sang ký tự bên cạnh, đảo lộn thứ tự ký tự, dính từ do bỏ quên ký tự trắng hoặc sự xuất hiện các ký tự “w”, “s”, “j” không đúng chỗ.
Vào những năm 60-70 của thế kỷ trước, mục Dọn vườn của Báo Văn nghệ là chuyên mục giúp ích nhiều cho chính tả tiếng Việt. Cũng trong thời gian đó, các ấn phẩm ít lỗi chính tả và sử dụng chữ nghĩa của công chức cũng có trách nhiệm hơn nhiều so với ngày nay. Rồi bẵng đi một dạo, vườn văn Việt không có ai chăm lo, lỗi chính tả đã nảy sinh nhiều như sâu bệnh mùa lụt trên sách vở, phương tiện thông tin đại chúng và nơi công cộng. Biểu ngữ “bánh trưng” ở lễ hội vua Hùng, hay “đất nớc” bên cạnh Ủy ban nhân dân thành phố Hà nội chỉ làm được dư luận xôn xao vài ngày đã trở thành chuyện “biết rồi khổ lắm nói mãi”. Lỗi chính tả nhiều đến mức chữa không xuể, trám được chỗ này lại bục ở chỗ kia, làm nản chí ngay cả các thức giả.
Sẽ sai lầm vô cùng nếu nghĩ rằng chính tả là chuyện nhỏ hay quá cao xa. Chính tả có tầm quan trọng đặc biệt trong đời sống văn hóa xã hội. Văn bản pháp luật sai chính tả sẽ ảnh hưởng tới lòng tin của công dân đối với các cơ quan công quyền. Báo chí sách vở sai chính tả sẽ làm méo mó thông tin, để lại mầm độc vào ngôn ngữ và tư duy của thế hệ trẻ. Có lẽ vì lỗi chính tả quá nhiều, chúng ta đã trở nên chai lì với chúng đến mức thờ ơ. Hãy nhớ rằng quan tâm tới chính tả cũng còn là quan tâm đến quyền lợi thiết thực của mỗi người. Đơn thư sai chính tả có thể ảnh hưởng tới con đường tiến thân và chế độ lương bổng của người lao động. Chào hàng, giới thiệu sản phẩm sai chính tả sẽ làm tổn hại tới hình ảnh và doanh thu của doanh nghiệp.
Nhiều tờ báo lớn trên thế giới yêu cầu tỷ lệ lỗi chính tả tiêu chuẩn là dưới mức 0.1%. Với tình trạng lỗi chính tả trầm trọng như ở nước ta hiện nay, nhiều chuyên gia cho rằng lỗi chính tả cũng phải ở mức dưới 1%. Tuy vậy, kết quả khảo sát của chúng tôi cho thấy có rất ít tổ chức đạt được mức này. Thậm chí còn có những tổ chức có tỷ lệ sai lỗi chính tả tới mức 30-40% là ranh giới giữa sai và đúng đã bị xóa nhòa và mọi từ điển đều trở nên vô dụng.
Khi việc đảo lộn sai đúng và thiếu trách nhiệm với chất lượng công việc trở thành một thái độ sống, chúng ta sẽ phải đối mặt với một vấn nạn xã hội còn lớn hơn nhiều. Sửa lỗi chính tả cũng là bước đầu để chấn chỉnh kỷ cương quốc gia, nâng cao chất lượng công việc và tinh thần trách nhiệm của công dân.
Công nghệ thông tin có thể đem lại những sản phẩm xử lý văn bản, hỗ trợ biên dịch và máy tìm kiếm. Trong số đó, soát lỗi chính tả là nhu cầu thiết thực hàng đầu. Người dùng đòi hỏi phải có những sản phẩm đúng quy trình chất lượng và dễ mất lòng tin với các sản phẩm sơ sài. Họ thường không biết rằng trên thị trường đã có những sản phẩm có thể đáp ứng nhu cầu soát lỗi chính tả. Nhiều nhà sản xuất cho rằng thị trường cho sản phẩm soát lỗi tiếng Việt quá nhỏ hẹp, do đó đã ngừng phát triển hoặc không đầu tư hơn nữa vào nghiên cứu phát triển. Thực ra, thị trường các phần mềm nâng cao chất lượng văn bản tiếng Việt là vô tận với hơn 5 triệu máy tính dùng được để soạn thảo văn bản hàng ngày.
Công nghệ thông tin chỉ có thể đem lại các công cụ trợ giúp, việc quét sạch lỗi chính tả trong văn bản tiếng Việt phải nhờ đến một chiến dịch cộng đồng rộng lớn, trong đó báo chí, truyền thông và các trường đại học phải đi đầu. Trong chiến dịch này, trước hết các nhà ngôn ngữ, các nhà văn hóa phải lên tiếng tạo thành dư luận xã hội và thuyết phục các cơ quan nhà nước ủng hộ để sớm có được một chương trình tái thiết tiếng Việt thậm chí một đạo luật về sử dụng tiếng Việt. Các chuyên gia công nghệ thông tin sẽ phải cố gắng để có những sản phẩm thiết thực phục vụ cho công cuộc tái thiết này.
Việc xếp hạng văn bản sẽ nâng cao nhận thức xã hội về lỗi chính tả này bằng những con số, để giúp mỗi người chúng ta cảm nhận được vấn nạn này một cách cụ thể hơn để cùng nhau giữ gìn tiếng Việt
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)