(*Nguyên văn: Khoa học ở ngã tư đường) Terzin Gyatso (Dalai Lama 14)
Nguyễn Ái Việt dịch từ nguyên bản tiếng Anh
LĨNH VỰC
- Công nghệ Việt Nam
- Kỹ năng sống
- Lịch sử - Địa chính trị
- Ngôn ngữ
- Nhàn phiếm
- Tư duy về thế giới
- Văn nghệ
Thứ Hai, 2 tháng 12, 2024
KHOA HỌC Ở NƠI GẶP GỠ PHẬT HỌC (*)
Thứ Sáu, 15 tháng 11, 2024
Trung bình và trung dung
1. Nếu ai hỏi tôi khái niệm Toán học nào sâu sắc và vĩ đại nhất, tôi sẽ chọn khái niệm “trung bình”. Tại sao không chọn khái niệm số, đơn vị hay số không như các nhà toán học hay nói? Số là một khái niệm tự nhiên, hình thành từ cuộc sống. Khi Con người quyết định đứng thẳng lên thì cũng là lúc số tự đến với Con người, không cần đến sự sâu sắc và vĩ đại, vì đó chính là Cuộc sống. 2. Số 1 đương nhiên tồn tại như một số, nhưng phát hiện con số này là đơn vị lại là một phát minh vĩ đại cần đến một trí tuệ Toán học chín muồi. Số 0 vốn không phải là một số, phát hiện ra nó là sự vượt trội về kỹ năng dùng số của Con người, do đó có thể nói đó là một sáng chế kỹ thuật ghi số vĩ đại. Tuy vậy, đơn vị 1 và con số 0 đều mang tính kỹ thuật, toán học vị toán học, sinh ra để làm Toán, không có tính nhân văn có thể so sánh với phép lấy trung bình.
3. Tôi cho rằng, với một mô hình ngôn ngữ lớn không có các thuật ngữ đơn vị hoặc số 0, AI vẫn có thể tạo ra các khái niệm đó trong một tương lai không xa. Tuy nhiên, tôi không chắc AI hiện tại có thể làm điều đó với phép tính trung bình. Nói một cách khác, phép tính trung bình có tính người hơn các phát kiến toán học vĩ đại khác. Sự vĩ đại có tính người sẽ nhân văn hơn nhưng cũng mang theo cả những thói hư tật xấu của con người.
Thứ Bảy, 3 tháng 9, 2022
Dân chủ đa nghĩa
1. THEO ĐA SỐ CÓ PHẢI LÀ DÂN CHỦ
Chủ Nhật, 28 tháng 4, 2019
PHỦ ĐỊNH VẦ TƯ DUY
Quy trình dạy cách đặt câu hỏi tại sao cho trẻ em nói chung và cho người lớn bị liệt chức năng này như sau: 1) Luyện cách đặt các mệnh đề phán đoán. 2) Phát biểu một cặp mệnh đề có thể có liên quan. 3) Đặt câu hỏi tại sao. 4) Đặt câu nhân quả: vì.... nên.... 5) Mở rộng: nếu... thì....
Tuy vậy, tôi đoán rằng nếu bước 1) luyện không kỹ, tức là năng lực phán đoán không tốt, chưa ổn định, lập luận nhân quả sẽ lung tung. Đối với trẻ nhỏ thì việc xoá bỏ đi hoàn toàn để luyện lại rất dễ. Đối với người lớn tuổi bằng cấp chức tước càng cao sửa càng không dễ. Bản thân tôi thấy nhiều GS, TS, BT, CT lập luận mà thấy phải sửng sốt, phán đoán họ là nguồn cảm hứng vĩ đại của Mao Chủ Tịch khi Người nhận định về trí thức. Với những người cao cấp hơn không phải không có chuyện đó, nhưng tạm thời chúng ta sẽ không nói tới, thông cảm cho họ đã mất công vất vả leo trèo đến đó. Vả lại cũng không mấy bổ ích hay tác dụng.
Chỉ tóm gọn là có những lập luận của các bậc được xã hội kính trọng nhưng như ... shit. Dùng tạm tiếng Anh cho nhã. Thực ra, lập luận của họ thế nào không đáng làm ta quan tâm. Điều quan trọng là ta có thể rút ra kết luận có ích cho xã hội là khi năng lực phán đoán không vững lập luận sẽ như shit. Nói cách khác, không biết phải trái thị phi thì dù có là ông nọ bà kia cũng sẽ chẳng nên cơm cháo gì.
Phán đoán tức là phải có phủ định. Đừng lo chân lý bị phủ định. Chân lý luôn có thể phủ định bởi ai đó. Chân lý được phủ định mới thành chân lý. Đã là chân lý thì không bao giờ tàn lụi chỉ vì bị phủ định. Một đứa trẻ thích phủ định và biết phủ định, chưa biết đúng sai thế nào là đã hơn cả những người lớn không bao giờ thử phủ định các chân lý tưởng như bất di bất dịch.
Thứ Tư, 20 tháng 2, 2019
Thế nào là phản biện
Thực ra trả lời mấy chuyện lặt vặt này tôi rất ngại vì sẽ mang tiếng và có thể thực tế phải đôi co không bổ ích gì. Nếu không trả lời e sẽ mang tiếng chảnh, mà giữa tôi và người phản biện có quan hệ cố giao trên 40 năm. Mặt khác, một số thân hữu lại hiểu nhầm là tôi đuối lý. Mà bài viết này lại không nhằm vào mục đích chữ nghĩa vớ vẩn là thứ tôi tiện tay phiếm bút để nói những chuyện quan trọng hơn.
Việc "có đôi nhời" cũng đả động đến một vấn đề về tư duy tranh luận (không nên nhầm với văn hóa, vì người đối thoại là người có gia phong nền nếp, học hành đến nơi đến chốn và kiến văn trác tuyệt). Nếu không đúng protocol rất dễ thành "ông nói gà bà nói vịt", thảo luận như nước đổ lá khoai, không bên nào nghe bên nào, chỉ biết nói mà không tiếp thụ. Nay tôi xin thuật lại để chư vị tường lãm. Đúng sai thế nào đã có công luận. Mong rằng mọi người không coi đây là một vụ cãi vã hay chẹt xe cán chó. Ý muốn nói phần lớn nằm ở ngôn ngoại. Suy ngẫm sẽ có bổ ích, hiếu kỳ thì không.
Câu chuyện là tôi giải thích cụm chữ "lang bạt kỳ hồ". Cụm chữ này xuất hiện sớm nhất trong bài Mân phong của Kinh Thi, mô tả một con sói tiến tới thì dẫm phải yếm ngực, lui thì dẫm phải đuôi, đằng nào cũng khổ. Đoạn này mô tả tường minh, không có bóng bẩy gì, có lẽ không ai tranh luận về ý nghĩa. Có lẽ từ đây (ít ra sách vở của Trung Quốc đều thống nhất như vậy) xuất hiện thành ngữ "lang bạt kỳ hồ" nói tới tình trạng "mắc kẹt", "tiến thoái lưỡng nan". Trong tiếng Việt cũng có cụm thành ngữ "lang bạt kỳ hồ", được dùng với một nghĩa "lang thang" khác hẳn. Thành ngữ "lang bạt kỳ hồ" trong Hán ngữ được rút gọn thành từ "lang bạt". Tình cờ tiếng Việt cũng có từ "lang bạt" có nghĩa là "lang bang xiêu dạt" bị "bạt" đi. Trong khi đó "lang bạt" trong Hán ngữ vẫn giữ nghĩa như "lang bạt kỳ hồ" mô tả tình huống mắc kẹt. Tôi trích hai câu văn cổ. Một câu từ sách Tam Quốc chí của Trần Thọ đời Tấn, một câu đời Đường có dùng chữ "lang bạt", và phân tích để thấy rõ không hề có nghĩa lang thang như trong tiếng Việt. Do "lang bạt kỳ hồ" tiếng Việt gốc Hán rõ ràng, có thể là ban đầu không đến nỗi sai, nhưng dốt chữ, dịch ẩu nên dùng sai dần, thành thử không đúng với nghĩa gốc.
Người viết bài "phản biện" lại đưa ra một câu tiếp theo trong bài Mân phong nói về người giàu sang, quan lại đi đứng đàng hoàng. Sau khi phân tích giảng giải ý nghĩa của bài Mân phong (thực tế là không ăn nhập gì và không có gì để "phản phản biện"), anh làm một quantum leap logic (lập luận nhảy lượng tử) là chữ lang bạt, lang thang "có thể" là vì con sói sống lang thang và có ý phủ nhận ý học ẩu, ếch ngồi đáy giếng (thế ra là người Việt thông minh sáng tạo mới đúng).
Vấn đề là ở chỗ tôi xuất phát từ việc phân tích cụm từ "lang bạt kỳ hồ". Ngay trong bài Mân phong đọc kỹ cả hai câu cũng không có gì chứng tỏ nghĩa là lang thang. Người nghèo thì mắc kẹt, lúng túng khổ sở, tiến thoái lưỡng nan, người sang thì áo mũ xênh xang, đĩnh đạc hiên ngang. Nói thực ra, các từ "lang bạt" hay thành ngữ "lang bạt kỳ hồ" tôi đã cẩn thận tra kỹ trong chữ Hán chính thức không có nghĩa gì lang thang (biết đâu cũng có anh Hán dùng lung tung).
Điều đáng nói không phải chữ nghĩa lặt vặt. Ở đây là cách đọc và học của người Việt vô cùng ẩu tả, làm tiếng Việt thành một mớ hổ lốn, nhiều khi làm cách tư duy suy luận thêm lộn xộn, vì xuất phát điểm từ các sau lầm. Không nói các cụ ngày xưa chữ Hán sát vách mà vẫn hiểu sai lệch. Ngày nay chúng ta dùng từ dịch tiếng Anh cũng tùy tiện như thể chế, thiết chế, định chế mỗi người một phách, rao giảng, rồi cãi nhau suốt ngày, làm đám đông không hiểu ra sao. Chữ nghĩa lộn xộn thì tư duy lộn xộn không ai biết làm chủ tập thể, kiến tạo chính phủ hay cách mạng công nghiệp 4.0 thế nào, nhưng ai cũng nói cũng làm.
Và ít quan trọng hơn nghĩa của từ "phản biện" cũng cần xem lại. Khi phản biện cần bám sát vào logic của người ta, sai ở chỗ nào, xuất phát điểm từ đâu, sử dụng lập luận nào không đúng, bằng chứng nào không thuyết phục. Không phải nói chệch sang chuyện khác, giảng giải lằng nhằng (ý nói là các anh không biết bằng tôi) chẳng liên quan, bỏ qua các bằng chứng không thể bác bỏ thì gọi là "phản biện". Chữ nghĩa chỉ là cái vỏ logic mới là ý chính. Ta và Tàu đều không biết logic là gì cho đến khi Âu hóa, cho nên coi trọng làm xiếc với chữ nghĩa, ngụy biện lòe bịp là nhiều. Chính đại văn hào Trung Quốc Lỗ Tấn cũng đã nói nhiều về chuyện này.
Thứ Hai, 26 tháng 3, 2018
Sách Chu bễ có phải là ngụy thư?
Đặc biệt mô hình vũ trụ của Chu bễ hoàn toàn khác biệt với Thiên văn học dòng chủ lưu của Trung Quốc với thuyết Cái thiên như sau "Thiên viên như trương cái, địa phương như kỳ cục" (Trời tròn như cái lọng, đất vuông như bàn cờ). (Cái là cái lọng do đó thành tên chủ thuyết). Chủ thuyết này là bất di bất dịch trong quan niệm chủ lưu của Trung Quốc cho đến cuối đời Minh, khi Thang Nhược Vọng (giáo sĩ người Đức) đưa ra Tân thuyết giải thích bốn mùa, năm đới khí hậu, gây ra ầm ĩ và phản đối trong giới sĩ phu. Tuy nhiên, trong sách Chu bễ đã nói về việc tại Bắc Cực đến hè băng cũng không tan. Chu Bễ cũng nói mặt đất hình tròn, bầu trời cũng hình tròn, song song với mặt đất cách mặt đất 8 vạn dặm. Cần nói rõ Chu Bễ không hề nói Trái Đất hình cầu, mà chỉ nói bề mặt Trái Đất cong, có thể là một phần của mặt cầu và vì thế cũng không hề biết có Nam Cực.
Điều đáng chú ý là mô hình vũ trụ của Chu Bễ hoàn toàn giống hệt như mô hình có trong sách cổ của Ấn Độ là Puranas (Vãng thế thư), ước ra đời TK10 trước CN. Nhiều học giả Trung Quốc cũng cho rằng, tuy ý tưởng giống nhau có thể sinh ra tại nhiều nơi, nhưng việc trùng đến mức quái dị từ đại thể đến tiểu tiết giữa Chu Bễ và Puranas, khó lòng không cho chúng là từ một gốc. Chính học giả Trung Quốc nói rằng cho rằng "Ngẫu nhiên xảo hợp" là cách giải thích vô cùng miễn cưỡng.
Ở điểm này, các học giả TQ có hai cách nhìn nhận khác nhau. Một cho rằng Puranas chép từ Chu Bễ, rồi từ đó truyền sang Lưỡng Hà, Hy Lạp, La Mã. Quan điểm khác cho rằng, Chu Bễ nhắc tới Chu Công (TK10 trước CN) và Trần Tử (TK1 trước CN, tức là thời Hán Vũ Đế), như vậy không thể ra đời trước Puranas. Lại có người cho rằng Chu Bễ được soạn một lần thời Chu Công và lần sau thời Trần Tử. So sánh văn phong với sách Hoài Nam Tử, người ta có thế thấy phần Trần Tử có văn phong đồng thời với Hoài Nam Tử. Từ đó suy ra Chu Bễ có thể có niên đại như TK1, nếu bản Hoài Nam Tử mà chúng ta có hiện nay đích xác là nguyên bản của Lưu An. Tuy nhiên, các chi tiết của phần có Trần Tử cũng giống Puranas. Mặt khác, thời cổ không có Internet, thời gian để một cuốn sách do Chu Công phổ biến ra xã hội đã lâu, để lan truyền ra ngoại vực không thể trong vòng vài năm.
Đáng chú ý trong Hán Thư của Ban Cố (TK1) trong Nghệ Văn Chí có nhắc đến hai tác phẩm toán học là Hứa Thương Toán Thuật và Đỗ Trung Toán Thuật, không hề có Chu Bễ Toán Kinh. Do đó có khả năng là Chu Bễ Toán Kinh thời đó vẫn chưa có.
Và còn một số lý do khác mà tôi sẽ không thảo luận ở đây, đa số học giả thừa nhận, thời gian ra đời sớm nhất có thể có của Chu Bễ là vào đời Hán Vũ Đế (TK1 trước CN). Nên nhớ rằng thời gian này là thời gian thuyết Cái thiên của Trương Hành đang là chủ lưu. Nội dung của Chu Bễ mâu thuẫn hoàn toàn với các thuyết chủ lưu, khó lòng có thể chen chân vào học giới. Cách học của người Trung Quốc lại rất câu nệ sách vở giáo điều, không bao giờ tham khảo các quan điểm dị biệt, cho là tà thuyết.
C. Cullen cho rằng Chu Bễ không phải một người viết, mà đại thể có thể chia thành nội thiên và ngoại thiên. Nội thiên lấy Trần Tử làm trung tâm, có thể được soạn vào thế kỷ 1. Tuy nhiên ngoại thiên không thể soạn muộn hơn thế kỷ 2. Lại có học giả Nhật Bản căn cứ vào nội dung của Chu Bễ có xác định vị trí của sao Bắc Cực luận đoán ra, người viết quan sát thiên tượng của TK6-TK7 trước CN. Tuy nhiên cách lập luận này đã bị phê phán rất nhiều.
Hiện nay đa số học giả thống nhất được là Chu Bễ không do một người trước tác do nội dung và văn phong đều bất đồng. Các tác giả cũng ở nhiều thời kỳ khác nhau, và có những quan điểm bất đồng. Trong lịch sử Trung Hoa, việc san định, chú giải sách khá tùy tiện, như sách Tam Quốc của Trần Thọ nhưng lượng đóng góp của Bùi Tùng Chi rất lớn, và không loại trừ việc sửa cả văn gốc. Hoặc Tôn Tử Binh Pháp có thêm rất nhiều đóng góp của Tào Tháo đời Hán và Lý Tĩnh đời Đường cách rất xa về niên đại. Nếu thừa nhận Chu Bễ có nhiều tác giả và nhiều quan niệm khác nhau, cần phải xác định ý tưởng nào thuộc về thời kỳ nào thông qua nội dung và so sánh với chủ lưu chứ không thể gán ghép toàn bộ nội dung cho một thời kỳ để ra những kết luận không có cơ sở, như một năm dài 365.25 ngày (nếu có) có trong Chu Bễ được gán ghép cho thời Chu hoặc Xuân Thu, Chiến Quốc. Như vậy những lời được cho là của Thương Cao, Chu Công, Trần Tử đều là hư cấu của người sau.
Các học giả Trung Quốc cũng đặt vấn đề "Tri thức về thời tiết nóng lạnh và 5 đới khí hậu từ đâu đến". Tri thức thiên văn chủ lưu của người Trung Quốc không cho phép giải thích thời tiết khí hậu. Do đó có thể nói đến thế kỷ 17, Thang Nhược Vọng mới mang tri thức này vào Trung Quốc. Tuy nhiên Chu Bễ Toán Kinh lại có manh nha loại tri thức này, là một điểm kỳ lạ và đứt đoạn.
Tôi tạm dịch một số đoạn nhận định sau
比较合理的解释似乎只能是 ∶ 这些知识不是中国传统天文学体系中的组成部分, 所以对于当时大部分中国天文学家来说, 这些知识是新奇的, 与旧有知识背景格格不入的, 因而也是难以置信的.
So sánh giải thích hợp lý tựa hồ chỉ có một khả năng là∶ những tri thức này không phải là bộ phận trong hệ thống thiên văn học truyền thống của Trung Quốc, vì lẽ đó đối với đại bộ phận các nhà thiên văn học Trung Quốc thời đó mà nói, những tri thức này là mới mẻ, không ăn nhập gì với các tri thức cũ mà họ cho, vì thế rất khó chấp nhận.
其次, 在古代中国居传统地位的天文学说 ---- 浑天说中, 由于没有正确的地球概念, 是不可能提出寒暑五带之类的问题来的.
Hơn nữa, trong thuyết Hỗn thiên, thuyết thiên văn có địa vị (trung tâm) trong truyền thống cổ đại Trung Quốc, do không có khái niệm địa cầu chính xác, không thể có năng lực đề xuất các loại vấn đề liên quan tới thời tiết, khí hậu.
Để kết luận, tôi xin bày tỏ quan điểm cá nhân, người đọc tùy ý lựa chọn tin tưởng hay không: Khả năng Chu Bễ Toán Kinh là ngụy tạo dần dần từng chi tiết hoặc toàn bộ không phải là không có. Việc ngụy tạo sách vở cổ thư của Trung Quốc không phải là chuyện hiếm. Việc các tri thức về vũ trụ của Chu Bễ gần như bê nguyên xi từ Puranas là hiển nhiên. Khả năng trùng hợp (xảo hợp) rất hiếm hoi như lạc đà chui qua lỗ kim, tuy theo thuyết lượng tử không phải là không có tý xác suất nào. Tin ở những điều may rủi vu vơ như vậy, trong khi có quá nhiều điều hay và chắc chắn hơn, phụ thuộc bạn có quá nhiều thời gian không biết dùng làm gì hay không. Cuối cùng, dù là ngụy thư, tự phát minh hay sao chép, các kiến thức có giá trị trong Chu Bễ cũng nằm ngoài kiến thức chủ lưu của Trung Quốc trong suốt lịch sử cho đến Trung hoa Dân Quốc. Do đó không thể coi là tri thức thiên văn học Trung Quốc. Mặt khác các kiến thức này đều có ở Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ trước Chu Bễ rất nhiều. Những điều tôi nói đây không phải là suy đoán cá nhân, hay ý kiến của học giả phương Tây mà của các học giả Trung Quốc có lý trí và công bằng.
Tôi sẽ trở lại lịch tứ phân và việc người Trung Quốc biết một năm có 365.25 ngày từ khi nào sau vào một dịp khác.
Thứ Tư, 15 tháng 7, 2015
Chuyển động có gia tốc có gì lạ - Trích "Khối lượng là gì? Nghệ thuật đặt các câu hỏi"
Chuyển động quay đều cũng là chuyển động có gia tốc, tuy độ lớn của vận tốc không thay đổi, nhưng hướng của vận tốc luôn thay đổi. Chính vì thế luôn có một gia tốc hướng tâm giữ vật quay trên quỹ đạo tròn. Tất nhiên, chỉ các vật có khối lượng mới cảm thấy được lực hướng tâm tác động lên nó. Ngoài ra còn có thể có câu hỏi gì hay ho ở đây được nhỉ?
Muốn đi đến câu hỏi bạn hãy bắt đầu bằng một câu hỏi bình thường. Câu hỏi đó có thể hơi ngây ngô. Nhưng bạn có còn nhớ bí quyết mà tôi đã nói: hãy trả lời câu hỏi bằng cách đặt ra các câu hỏi khác. Trong một loạt câu hỏi tiếp sau bạn sẽ có được một số câu hỏi hay. Nhớ đừng quên kinh nghiệm và quan sát của bạn khi đặt câu hỏi. Đó là sự khác biệt mà bạn mang lại cho cuộc sống. Hãy tin tôi đi, sự khác biệt của bạn là vô giá vì nó là duy nhất.
Đừng ao ước bạn trở thành một bản sao giống hệt như Ngô Bảo Châu, hay thậm chí như Albert Einstein hoặc Henri Poincaré. Hãy tin rằng thêm một Einstein sẽ là thừa. Nhưng nếu phải thiếu đi các suy nghĩ khác biệt của bạn, thế giới này sẽ buồn biết mấy. Tôi rất yêu các trí tuệ trác tuyệt, nhưng không bao giờ thần tượng hóa bằng cách cố gắng trở thành bản sao của họ. Sao chép rập khuôn bao giờ cũng là một sự chế nhạo lố bịch đối với nguyên bản.
Cần phải phân biệt việc dũng cảm đặt niềm tin vào suy luận của chính mình với bệnh vĩ cuồng vô căn cứ. Đơn giản chỉ vì tôi và bạn đều sinh ra với một sứ mệnh nhất định. Chúng ta không có thời gian để làm những việc thừa thãi, cho dù vì những danh vọng hão nào đó. Tôi đã học điều đó từ cậu con trai, hồi cậu 7 tuổi. Khi đó tôi đã hỏi cậu có muốn trở thành một người như Andrew Wiles để giải được một bài toán mà nhân loại hàng trăm năm không giải được hay không. Cậu ta hỏi tôi Wiles đã mất bao lâu để làm điều đó. Khi được biết Wiles đã mất 10 năm để giải bài toán Fermat, cậu nói với tôi: Con bận lắm, không có thời gian chỉ làm một bài toán đâu. Tôi cố thuyết phục: Nhưng đây là một bài toán không ai giải được trong hàng trăm năm. Cậu con trai tôi nhún vai: Cũng vậy thôi, con không thể bỏ thời gian vào việc như thế. Thế đấy! Chúng ta có thể bỏ cả cuộc đời theo đuổi một câu hỏi dành cho mình, chứ không tội gì phí thời gian chỉ để được giống bất cứ nhân vật nào, dù đáng kính đến đâu.
Câu hỏi tôi đặt ra ở phần này như sau: Giữa các hệ quy chiếu chuyển động có gia tốc so với nhau, có một nguyên lý tương đối như giữa các hệ quy chiếu chuyển động thẳng đều so với nhau không? Chắc bạn còn nhớ những con tàu chuyển động trên sân ga. Con tàu bên cạnh bạn tăng tốc, nhưng bạn có cảm giác con tàu của bạn đang lùi lại.
Nếu lý luận một cách hình thức theo logic toán học thì dường như phải có nguyên lý tương đối vì một vật chuyển động có gia tốc đối với một nhà quan sát bất kỳ sẽ thấy nhà quan sát chuyển động với cùng một gia tốc theo chiều ngược lại.
Cho đến khi trở thành thầy giáo, bước lên bục giảng ở một trường đại học ở Âu Châu, tôi vẫn còn tin ở thứ lý luận đơn giản như thế và không bao giờ nghĩ rằng mình chẳng hiểu gì về các định luật Newton. Chính vì thế, thời còn sinh viên, tôi đã đọc lướt qua các định luật Newton, nghĩ chúng là hiển nhiên. Tôi đã trả bài như một con vẹt, giải các bài toán khó nhất như một cỗ máy và nhận điểm cao nhất khóa, nhưng kiến thức đó hoàn toàn vô dụng. Được điểm cao, bằng cấp không hề đảm bảo bạn có thể hiểu sâu sắc và đúng đắn những thứ cần học. Sau đó 20 năm, đọc lại các định luật của Newton tôi mới chợt nhận ra mình đúng là "ếch ngồi đáy giếng". Chính việc ngộ nhận vội vã do lười suy nghĩ đã làm tôi đã bỏ qua những điều tinh túy nhất của Isac Newton đã để lại cho nhân loại.
Thực ra, giữa các hệ quy chiếu chuyển động có gia tốc, còn gọi là hệ quy chiếu phi quán tính, không có sự bình đẳng như giữa các hệ quy chiếu quán tính. Điểm khác biệt giữa hai hệ quy chiếu chuyến động có gia tốc so với nhau ở chỗ luôn có một phản lực ngược chiều với gia tốc tác động lên những người quan sát chuyển động cùng với hệ quy chiếu đó. Trong các hệ quy chiếu mà định luật quán tính của Newton là đúng sẽ không có một lực nào tác động lên người quan sát. Khối lượng chính là nguyên nhân của sự khác biệt đó. Những vật không có khối lượng sẽ không cảm thấy được bất cứ sự khác biệt nào giữa các hệ quy chiếu phi quán tính.
Chính vì vật chất có khối lượng mà Newton đã phải giả thiết có hệ quy chiếu quán tính, trong đó một vật không có ngoại lực tác dụng sẽ đứng yên hoặc chuyển động thẳng đều.
Đó cũng là lý do vì sao chúng ta cảm thấy động đất, xe hơi đổi hướng ở chỗ ngoặt và không thể tự mình quay tròn và nói rằng cả thế giới đang quay xung quanh mình. Trong khi đó, chúng ta hầu như không cảm thấy mình đang chuyển động trên một chiếc xe thật êm, chạy thẳng với vận tốc gần như không đổi, hoặc không hề cảm thấy Trái Đất đang chuyển động với vận tốc siêu thanh xung quanh Mặt Trời.
Cũng vì thế, việc Trái Đất xoay quanh Mặt Trời và quanh trục của chính mình không hề tương đương với việc Mặt Trời và cả thế giới quay quanh Trái Đất. Chính điều đó đã làm Copernicus trở nên vĩ đại. Chúng ta cảm nhận được điều đó nhờ có khối lượng. Đối với những vật không có khối lượng, gia tốc sẽ không có ý nghĩa gì.
Chúng ta cùng chuyển động với Trái Đất. Nếu bạn ném một quả bóng lên theo phương thẳng đứng, nó sẽ rơi trở lại chỗ cũ. Một chiếc máy bay bay từ San Francisco sang Hà Nội hết 12 giờ, nếu bay theo chiều ngược lại từ Hà Nội sang Francisco cũng mất 12 giờ bay. Đôi khi người ta nói chiều bay này sẽ lợi được về thời gian, chiều kia thiệt về thời gian. Nhưng đó chỉ là do chênh lệch giờ địa phương.
Người ta có thể sử dụng hiệu ứng Coriolis để phát hiện một hệ quy chiếu đang quay. Nội dung cua hiệu ứng này như sau: Cực Nam và cực Bắc của một vật đang quay thường được quy ước xác định bằng quy tắc bàn tay phải như trong hình sau
Khi đó, một vật có khối lượng chuyển động thẳng trên bán cầu Bắc của vật đang quay sẽ chịu tác động của một lực gọi là lực Coriolis làm chệch hướng chuyển động sang tay phải. Đối với vật chuyển động trên bán cầu Nam, quỹ đạo chuyển động sẽ bị lực Coriolis làm chệch sang tay trái.
Có rất nhiều cách quan sát được tác động của lực Coriolis trên Trái Đất. Chẳng hạn, dưới tác động của lực Coriolis, các xoáy lốc trên bán cầu Bắc sẽ xoáy ngược chiều kim đồng hồ, còn các xoáy lốc trên bán cầu Nam sẽ xoáy theo chiều kim đồng hồ. Bạn hãy xem xoáy lốc trong hình dưới đây xảy ra ở bán cầu Bắc hay bán cầu Nam.
Đúng vậy, đây là xoáy lốc ở bán cầu Bắc, xảy ra ngày 4 tháng 9 năm 2003 ở Iceland, gần nước Anh. Dựa trên điều này, các nhà văn viết truyện trinh thám đã hư cấu ra những câu chuyện người bị bắt cóc quan sát xoáy nước trong nhà vệ sinh để phát hiện ra mình ở bán cầu Bắc hay bán cầu Nam. Thực ra, trong trường hợp đó, lực Coriolis không đủ tạo ra quy luật về chiều của xoáy nước.
Bằng chứng về Trái Đất tự xoay quanh trục của mình còn quan sát được ở quỹ đạo của tên lửa tầm xa không có điều khiển và đạn đại bác tầm xa sẽ bị lệch đi khác nhau ở bán cầu Bắc và bán cầu Nam.
Hiệu ứng Eotvos gắn liền với tên tuổi của nhà vật lý Hungari Eotvos Lorand mà chúng ta đã nhắc tới cũng là bằng chứng về Trái Đất quay. Eotvos Lorand phát hiện ra hiệu ứng này khi phân tích các dữ liệu đo trọng lực Trái Đất do một nhóm nghiên cứu thực hiện trên một số tàu biển trên Ấn Độ Dương, Đại Tây Dương và Thái Bình Dương. Eotvos nhận thấy dữ liệu có xu hướng dịch chuyển lệch về giá trị thấp hơn khi tàu chuyển động về phía đông, và về giá trị cao hơn khi tàu chuyển động về phía Tây. Eotvos đã giải thích được các sai lệch đó là do lực Coriolis gây ra.
Thứ Tư, 13 tháng 5, 2015
Thống nhất không gian và thời gian không phải là một việc hòa bình
Thứ Tư, 4 tháng 3, 2015
Thảm họa điểm lùi và tình thế "lang bạt kỳ hồ"
Trong Toán học có một mô hình rất đơn giản để phân tích tình huống này gọi là Thảm họa điểm lùi (Cusp Catastrophe), rất giống hình tượng "lang bạt kỳ hồ" mà tôi đã phân tích một lần: Con cáo già tiến lên thì dẫm phải yếm ngực, lùi thì dẫm phải đuôi, tình hình kẹt cứng. Thảm họa điểm lùi được nhà toán học Zeeman đề xuất năm 1976, để mô tả trạng thái tâm lý, sau đó được nhiều người giải thích về sự phát triển của doanh nghiệp, xã hội và nhiều lĩnh vực khác.
Cơ sở của Thảm họa Điểm lùi là một nhánh rất phức tạp trong lý thuyết tô pô, với rất nhiều khái niệm phức tạp, tuy nhiên có một mô hình cụ thể rất dễ hiểu đối với mọi người có kiến thức phổ thông về toán như trong hình sau đây:
Giả sử một hệ thống (có thể là một con người, tổ chức hay một xã hội) được đặc trưng bằng 2 tham số năng lực nội tại trên mặt phẳng ở dưới đáy của hình vẽ trên. Chỉ số giá trị khách quan về hệ thống đó nằm trên trục vuông góc với mặt phẳng đó. Và có một mặt gấp khúc như trong hình vẽ. Hệ thống đó xuất phát từ điểm thấp nhất và bắt đầu tiến lên, bằng cách phát triển năng lực của mình. Những hệ thống húc đầu vào nhánh dưới của mặt gấp khúc, cuối cùng sẽ tiến đến những điểm "lang bạt kỳ hồ" không tiến lên được nữa.
Một số người có thể so sánh năng lực nội tại của mình với những người thành công hơn nhiều và thấy mình không hề thua kém, có thể còn vượt trội hơn, nhưng cuối cùng giữa hai loại người vẫn là sự khác biệt lớn lao. Nói nghe có vẻ quá khích, nhưng thực tế có những kẻ dở hơi, cám hấp hay điên khùng, có những tố chất không khác gì thiên tài. Các hệ thống khác như tổ chức, doanh nghiệp, xã hội hay quốc gia cũng đều có thể vấp phải tình thế "lang bạt kỳ hồ" như vậy. Khi đó mọi nỗ lực tiến về phía trước đều vô nghĩa. Người ta có thể than thân trách phận, trách đời bất công, hoặc các thế lực bên ngoài chống phá. Thực ra vấn đề chính là nằm ở hệ thống đó. Không phải chỉ có năng lực là quan trọng mà con đường phát triển năng lực để đi lên cũng là quan trọng trong tình huống này. Một con đường khác sẽ dẫn tới nhánh trên của của diện Zeeman sẽ không có cản trở nào và có thể tiếp tục tiến lên dễ dàng và mãi mãi. Con đường đó đã tránh được nếp gấp trên diện Zeeman là nguyên nhân của "lang bạt kỳ hồ" khổ sở này.
Vấn đề là ở chỗ, người ta hay một xã hội không chọn trước được cho mình được đường đi mà hay bị dẫn dắt bởi các động cơ sáng tạo hoặc cảm tính, thấy tiện là đi. Điều đó cho thấy rằng những người chuyển động theo "second mover", giống như những người leo núi bám sát người đi trước có một chiến lược an toàn hơn so với những người tìm một con đường "đi tắt đón đầu" hay "sáng tạo trong hoàn cảnh" để húc đầu vào tình thế "lang bạt kỳ hồ". Vấn đề có lẽ quan trọng hơn là những người, tổ chức đã mắc vào trạng thái "lang bạt kỳ hồ" cần phải làm gì? Muốn tiến lên lâu dài chắc chắn phải lùi lại. Chắc chắn là đau buồn, tiếc nuối nhưng không có cách nào khác. Nếu có sức nâng được đuôi lên thì tốt, nếu không cũng đành phải cắt đuôi, hoặc ngồi ở đó cả đời. Sẽ không có ai, dù là Thượng đế hay Thần may mắn, đến cứu mình được.
Trong nhiều tình huống thực tế diện Zeeman có thể khác chút ít. Có thể từ xuất phát điểm hướng ngay về các điểm Thảm họa Điểm lùi sẽ tạo sự tăng trưởng nhanh hơn, trong khi theo hướng lên có thể tăng trưởng chậm hơn thậm chí có thể đi xuống. Mô hình này cho thấy với phát triển lâu dài, chọn con đường là quan trọng chứ không phải ở việc thể hiện các năng lực và đánh giá trước mắt.
Số phận của một dân tộc cũng vậy, có thể thỏa mãn, tự hào với những năng lực mình đang có, nhưng con đường đến được với những năng lực đó, thể hiện ở nền văn hóa, hệ thống giá trị cũng rất quan trọng. Theo một cách hiểu nào đó, văn hóa, hệ thống giá trị là những thứ mà một dân tộc nhặt nhạnh, tích lũy trên con đường đến hôm nay. Cố nhiên đã mang nặng đẻ đau sẽ có lòng yêu thương quyến luyến. Nhưng đôi khi cũng phải dứt bỏ để có thể tiến lên, đặc biệt khi đã ở trong tình huống Thảm họa Điểm lùi.
Có lẽ câu hỏi quan trọng hơn cả của mỗi người, tổ chức, xã hội hay quốc gia, là khó khăn trước mắt đã phải là "lang bạt kỳ hồ" hay chưa. Tôi xin để dành câu hỏi này cho mọi người cùng suy nghĩ.
Thứ Bảy, 27 tháng 12, 2014
Nhớ thời kỳ Phục Hưng Việt Nam
Ấu trĩ là một điều tha thứ được với một đứa trẻ, nhưng sẽ đem lại một số phận bất hạnh với một người lớn. Khi lớn lên, với những năng lực tự chủ mạnh mẽ, con người ấu trĩ sẽ đủ sức tàn phá xã hội một cách vô thức, ngu xuẩn như một con King Kong. Làm thế nào để đánh thức một con King Kong đang say máu tàn phá? Có lẽ không còn cách nào khác phải dùng sức mạnh đánh quỵ nó, để nó thấy được rằng sức mạnh của nó chỉ là một trò cười so với thế giới này. Dù sao đi nữa, những kẻ ỷ vào sức mạnh luôn khiếp sợ sức mạnh khác hơn mình. Sau đó, phải thức tỉnh con King Kong ra khỏi thế giới ảo giác của nó. Hứng khởi tinh thần của con King Kong bắt nguồn từ men say trong máu, khiến con King Kong nhìn thế giới như một kẻ nghiện ngập, vừa bướng bỉnh vừa nhát nhúa không dám trở lại với thế giới thực. Bước tiếp sau, phải áp đặt một hệ thống giá trị cho con King Kong, để nó biết hành xử phù hợp với thế giới văn minh, cho dù phải trải qua một cuộc hành xác, tẩy não khổ đau. Cuối cùng, mới có thể giải phóng các sức mạnh đặc biệt của King Kong phục vụ cho thế giới văn minh và mang đến hạnh phúc cho chính nó.
Phục Hưng là một phong trào văn hóa bắt nguồn ở Ý rồi lan rộng khắp châu Âu từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 17. Động lực của Phục Hưng có lẽ là các phát minh công nghệ làm giấy và in typo đã thay đổi đến gốc rễ ngành công nghiệp xuất bản. Nhờ đó các ý tưởng mới được giao lưu, tích lũy và lắng đọng thành nền tảng của một hệ thống giá trị mới, có sức phát triển tới tương lai, khai phá các giá trị cổ điển đồng thời cũng phá dỡ hệ thống tư biện nhiều tầng lớp của thời Trung cổ.
Một sự trùng hợp có vẻ như ngẫu nhiên là Phục Hưng bắt đầu sau khi Thành Constantinople thất thủ. Đó là một thất bại đau đớn nhưng rất cần thiết với con King Kong châu Âu, khi sức mạnh bị đè bẹp bởi một sức mạnh khác. Sự ưu việt của hệ thống phòng thủ thành Constantinople dựa trên hệ thống khoa học kinh điển của châu Âu bị đánh sập bởi những kẻ mọi rợ vốn không cần biết các nguyên lý khoa học là gì, nhưng biết sử dụng một ứng dụng tinh tế của chính tri thức khoa học Âu châu là đường khương tuyến. Sức mạnh về công nghệ, sự thiện chiến của các chiến binh thành chiến từ Ý, tinh thần Thiên chúa giáo, đã trở thành trò cười trước đạn đại bác xoay tròn theo thiết kế của một sĩ quan công binh vô danh người Hungari nào đó. Có lẽ quan trọng nhất là niềm tin trực giác, bướng bỉnh và không có một cơ sở nào là Chúa luôn ở cạnh để phù hộ cho con chiên của mình, đã tan nát. Con King Kong bị đánh quỵ trở nên khiếp sợ lần đầu tiên thấy được sức mạnh của mình chỉ là trò cười trong thế giới mới. Không biết do cơ may hay do tính ưu việt, nền châu Âu đã biết sống lại và làm bá chủ thế giới, bắt đầu từ Phục Hưng. Những nhà bác học Hy Lạp tinh hoa nhất, đã rời bỏ Constantinople quy tụ ở Ý và đem lại cho Ý những tư tưởng mới mẻ. Trên nền tảng đó đã sinh ra những nhà bách khoa khổng lồ như Leonardo da Vinci hay Michelangelo. Đã có một cuộc tranh luận giữa việc coi Phục hưng là một bước tiến về văn hóa từ thời Trung cổ hay nên coi đó là một giai đoạn buồn đau, yếm thế, hồi tưởng dĩ vãng của Âu Châu. Tuy nhiên, thất bại, buồn đau là cần thiết để tiến lên, nếu như biết giữ những giá trị thực sự và dám từ bỏ những ảo tưởng, thiết nghĩ cuộc tranh luận đó không cần thiết. Vả lại, sau Phục Hưng, sự phát triển của châu Âu không còn là một bước đi ngẫu nhiên mà đã dẫn đầu toàn thế giới cho đến tận ngày nay.
Câu hỏi đặt ra là liệu các dân tộc không có cơ may được ở trong trào lưu Phục Hưng thế kỷ 14-17, muốn tìm hạnh phúc của mình liệu có phải trải qua thời kỳ Phục Hưng của mình? Có thể lấy một ví dụ của nước Mỹ. Nước Mỹ có thời kỳ Phục Hưng của mình với danh xưng American Renaissance từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20 quy tụ được đông đảo các nhà sáng chế, nhà văn, kiến trúc sư, nghệ sĩ, chính trị gia,... tại New York với tư tưởng hình thành một hệ thống giá trị của một Đế chế mới. Kết quả, nước Mỹ sau đó trở nên cường quốc số 1 thế giới cho đến tận hôm nay. Có lẽ đó không phải là một điều ngẫu nhiên
Việt Nam có cần một phong trào Phục Hưng hay không? Dù không thể đưa ra các lý lẽ để xác quyết, nhưng từ nhiều năm tôi vẫn mong đợi điều đó. Trước hết, thói mê tín, tính áp đặt niềm tin thô bạo đang lồng lên như một con ngựa hoang của người Việt chỉ có thể trấn áp bởi một phong trào Phục Hưng, cổ võ những giá trị nguyên sơ và khuyến khích suy nghĩ độc lập. Một dân tộc loay hoay tìm chỗ đặt niềm tin của mình từ nơi này qua nơi khác mà không dám đặt vào chính mình sẽ còn phải đối diện với vô số khó khăn do chính mình tạo ra cho bản thân. Ngược lại, việc đơn giản hóa và thanh lọc các niềm tin, chính là để hình thành tính cách cá nhân, bước đầu trở trở thành một con người văn minh trưởng thành.
Năm 2014 có thể coi như một bước ngoặt lớn trong tâm thức người Việt, trong một số lĩnh vực nhận thức của người Việt có bước phát triển bằng nhiều thế hệ. Tuy nhiên, sẽ không thừa, nếu chúng ta cần cảnh giác về hướng đi, say sưa bẻ lái có thể làm người ta quay trở lại vị trí xuất phát nhiều lần. Có thể đường tới phồn vinh có nhiều lối, nhưng Phục Hưng có lẽ là một con đường chắc chắn nhất.
Thứ Tư, 5 tháng 11, 2014
Lang bạt kỳ hồ
Trong bài này sẽ phân tích một cụm thành ngữ, được sử dụng khá phổ biến "lang bạt kỳ hồ" để thấy các cụ ta ẩu tả trong việc tìm hiểu thế nào. "Lang bạt kỳ hồ" trong ngôn ngữ Việt Nam hiện nay được hiểu là "lang thang phiêu bạt giang hồ đến kỳ thích". Thực ra đây là một thành ngữ chữ Hán 狼跋其胡 "lang bạt kỳ hồ" nói về thế mắc kẹt không tiến thoái được.
Trong Kinh Thi có bài Mân phong có câu: "Lang bạt kỳ hồ, tái chí kỳ vĩ"狼跋其胡, 载疐其尾 . Nghĩa đen là "Con sói bước tới dẫm vào yếm lông trước cổ của mình, lui lại vấp phải cái đuôi của mình". Khi dịch cần phân tích để hiểu ý nghĩa của câu này thế nào? Trước hết "lang" không phải là "lang thang" mà đúng là con sói trong từ "sói lang", "vĩ" là đuôi, "tái" là quay lại, là những từ có nghĩa cố định trong câu. Bây giờ còn lại chữ "hồ" cần phải hiểu xem tại sao lại xuất hiện ở đây. Chữ "Hồ" cũng chỉ người rợ Hồ, cái cổ họng,... nhưng không phải chữ "hồ" trong "Tây Hồ" hoặc "giang hồ". Như vậy cần phải tìm một nghĩa "hồ" có liên quan đến "lang", "bạt" hoặc "vĩ". "Hồ" có một nghĩa là cái yếm lông trước ngực ngay dưới cổ họng con sói, cũng là một bộ phận như "vĩ" là đuôi. "Hồ" phía trước, "vĩ" phía sau, cũng như "bạt" là đi về trước, "tái" là lui về sau. Tấm yếm ngực của các con sói già thường mọc lông rất dài. Trong sách Mao truyện lại có viết:老狼有胡, 进则躐其胡, 退则跲其尾, 进退有难"Lão lang hữu hồ, tiến tắc liệp kỳ hồ, thối tắc cấp kỳ vĩ, tiến thối hữu nan." Nghĩa là: "Sói già có "hồ", tiến thì dẫm lên "hồ' của mình, thoái lụi thì dẫm phải đuôi, tiến thoái đều khó". Vậy là đủ hiểu nghĩa câu trên và thành ngữ "lang bạt kỳ hồ".
Thành ngữ này về sau có thể dùng rút gọn thành "lang bạt" (trong tiếng Việt cũng có kiểu rút gọn như thế) cũng theo nghĩa như "lang bạt kỳ hồ". Chẳng hạn trong Truyện Pháp Chính, sách Tam Quốc Chí của Trần Thọ có đoạn viết về Thục chủ có đoạn "Chủ công chi tại công an dã, bắc úy tào công chi cường, đông đạn tôn quyền chi bức, cận tắc cụ tôn phu nhân sinh biến ô trửu dịch chi hạ; đương tư chi thời, tiến thối lang bạt" Tạm dịch: "Chúa công khi còn tại Công An, phía Bắc phải kiêng dè Tào Công mạnh, phía Đông e ngại Tôn Quyền bức hiếp, gần thì phải phòng bị Tôn Phu nhân sinh biến ở sát nách, vào lúc đó, tiến thoái "lang bạt"" Như vậy, "lang bạt" là thế mắc kẹt, khó xử, không biết làm sao. Lấy thêm một ví dụ nữa trong Luận về Hán Chiêu Đế của Lý Đức Dụ đời Đường: "Thành vương văn quản thái lưu ngôn, quan triệu công bất duyệt, toại sứ chu công lang bạt nhi đông, chi thi tác hĩ". Câu này không tìm hiểu kỹ và đặc biệt không nắm được nghĩa của "lang bạt", dễ bị các cụ dù rất giỏi chữ Hán, dịch thành "Thành Vương nghe Quản Thái dèm pha, thấy Thiệu Công không vui, bèn sai Chu Công đi lang thang phiêu bạt về phía đông, rồi làm thơ". Thực ra câu này nghĩa là "Thành Vương nghe Quản Thái dèm pha, xem ra Thiệu Công không vui, khiến Chu Công phải mắc kẹt ở phía Đông, mà soạn Kinh Thi". (Quản Thúc và Thái Thúc là hai người em của Thành Vương, nổi tiếng gian tà nịnh hót. Sau này bị Chu Công và Thiệu Công đuổi. Chu Công là chư hầu nước Lỗ, nằm ở phía Đông, là nơi trung tâm của văn hóa, phồn thịnh, vui vẻ, không có gì phải lang thang phiêu bạt cả. Tuy vậy, Chu Công vừa kiêm chức khanh sĩ của vua nhà Chu, thường là phải ở kinh đô nắm quyền tể tướng. Nhưng vì Quản Thái xúc xiểm nên không được vua triệu vào kinh đô, do đó phải ở nước Lỗ, muốn về triều thì không được vua cho phép và ở lại thì lại lo việc triều chính, vì vậy phải tiêu thời gian để san định Kinh Thi.
Như vậy, có thể có một số kết luận như sau: Thứ nhất, thành ngữ tiếng Việt có gốc thành ngữ chữ Hán không nhất thiết có nghĩa giống như nghĩa gốc. Thứ hai, các cụ ta thiếu sách vở nên phải sử dụng quá nhiều trí tuệ và năng lực suy luận, thông minh sáng tạo không có nghĩa là tốt, không sai lầm. Thứ ba, việc dịch thuật phải tra cứu sâu xa, đối chiếu từ nhiều nguồn, theo một phương pháp khoa học, chứ không nên sáng tạo kiểu "thủy tạ là thủy tọa, là nhà ngồi trên nước". Thứ tư, việc tạo thành thói quen nghiên cứu sâu, học hỏi kỹ khi dịch thuật, có thêm cái lợi nữa là biết được nhiều điều rất thú vị. Chẳng hạn cái câu về Lưu Bị trong truyện Pháp Chính hoàn toàn mâu thuẫn với hình ảnh Tôn Phu Nhân tiết liệt yêu kính chồng trong Tam Quốc diễn nghĩa của La Quán Trung làm tôi cứ phân vân, hay là mình chưa hiểu đoạn văn. Tìm hiểu ra mới biết là Tôn Phu Nhân đúng là phải đề phòng, vì thực chất đây là hôn nhân chính trị, hoàn toàn không có màn Ngô Quốc Thái chọn rể, Kiều Công khen Lưu Bị và cũng chẳng có màn Tôn Phu Nhân tự vẫn sau khi Lưu Bị thua trận ở Hào Đình.
Có lẽ nước Việt chưa có tầng lớp trí thức, chưa có công nghiệp, chưa có kinh tế sản xuất hàng hóa, chính vì thói quen ẩu tả, đại khái, nhờ cậy quá nhiều vào trí thông minh, và thói quen làm khoa học kiểu ếch ngồi đáy giếng. Tất cả phải bắt đầu bằng một đạo đức đọc hiểu viết nói và dịch cho chuẩn. Như thế thì truy tìm nghĩa "lang bạt kỳ hồ" không phải là chuyện nhỏ.
Thứ Ba, 21 tháng 10, 2014
Hiệu ứng Mpemba
Cổ nhân nói "Học mà tin ở sách, chẳng thà đừng đọc sách".Tất nhiên có kẻ tiểu nhân sẽ cắt nghĩa thành không nên đọc sách. Cổ nhân cũng nói "Nghi ngờ là thầy của ta" (Kẻ tiểu nhân sẽ cắt nghĩa thành niềm tin không có giá trị bằng tiền bạc. Cái gì cũng có thể cắt nghĩa theo hai cách đối lập, một theo chính, khuyến khích hành động, tiến lên, một theo tà, thủ tiêu hành động, ung thối. Về mặt luận lý, nhiều khi thấy đằng nào nói cũng phải, đành phải trông cậy vào kinh nghiệm mà thôi.
Điều đó cũng như y lý Á Đông. Có kẻ suy thận, thầy thuốc bốc những vị mát ngọt, bổ thận, ích thủy. Bệnh khỏi. Thầy thuốc mở sách giảng: Thận chủ về âm, là nguồn của Thủy, nay âm suy, thủy kiệt là khi phải khai thông nguồn nước, mở âm. Cũng có kẻ suy thận dùng bài thuốc đó bệnh càng nặng, tìm thầy khác. Thẩy cho bài thuốc bổ dương. Rồi cũng mở sách giảng: Thủy khô kiệt thì hỏa thịnh. Hỏa diệm sơn cháy rừng rực đem đổ nước vào, lửa càng cháy to, nguy lắm thay.
1. Cho một cái bình cổ hẹp, để ngang. Nếu đốt một ngọn nến ở miệng bình, thì áp suất trong bình sẽ tăng hay giảm. Theo lẽ thường, không khí nóng sẽ nở ra, áp suất tăng. Theo nguyên tắc cân bằng sẽ làm áp suất trong bình tăng. Nhưng thực tế áp suất trong bình giảm. Dựa trên nguyên lý này người ta làm ra một loại bơm chân không.
2. Một người bị tai nạn, nếu không có ai, sẽ không có trợ giúp. Nếu xung quanh có người, anh ta sẽ được trợ giúp. Nếu càng nhiều người, xác suất được trợ giúp ngày càng cao, tỷ lệ với xác suất có người hảo tâm trong đám đông. Sự thực, với một đám đông, nhiều người qua lại như tại bến tàu điện ngầm, xác suất này sẽ tỷ lệ nghịch với số người chứng kiến. (Định luật này gọi là định luật Aronson).
3. Một nhà toán học nọ, sau nhiều năm chứng minh được một định lý topo, suy ra một số N hữu hạn cách lát nền nhà khả dĩ. Phát minh này được tán thưởng đến nỗi nó được trình bày lại trong một tạp chí phổ biến. Rất nhanh sau đó, một bà nội trợ tìm thêm vài cách khác với các cách do nhà toán học nọ đã tìm ra bằng đủ các lý thuyết.
Tuy nhiên, hiệu ứng Mpemba mới là ví dụ điển hình nhất mà tôi mới biết hôm qua, do trò chuyện với một anh bạn trẻ.
Anh bạn trẻ đặt ra cho tôi câu hỏi "Tại sao cùng một cốc nước, nếu đun nóng lên đặt vào tủ lạnh sẽ đóng đá nhanh hơn là cốc nước nguội".
Té ra nhân loại đã biết vấn đề này từ thời Aristotles và đã có các học giả như Francis Bacon và René Descartes đề cập tới. Tuy nhiên do vấn đề này quá dễ hiểu và hiển nhiên, người ta dùng một loại "trực giác lý thuyết" để bác bỏ và không cần bận tâm thực nghiệm thử xem. Họ thường cho vấn đề này là của các nhà lý thuyết lạc hậu, họ có thể vin vào các nhà bác học hiện đại hơn, danh tiếng cũng chẳng kém gì để dán cho vấn đề này một cái mác kinh viện, tưởng tượng, lý thuyết suông. Nếu ai có nói là đã quan sát được, họ sẽ nói "chắc có một sai lầm thực nghiệm nào đó".
Sự thực thì cho đến nay vấn đề này vẫn chưa có một lý thuyết này giải thích được và được công nhận. Sở dĩ đây gọi là hiệu ứng Mpemba là theo tên của một học sinh trung học ở châu Phi đã phát hiện ra hiện tượng này năm 1963, khi làm kem.
Gần đây có một nhóm nghiên cứu ở Mỹ đã công bố một cách giải thích hiện tượng này bằng cách sử dụng cấu trúc của phân tử nước H2O. Tuy nhiên vẫn còn sớm để nói đây là câu trả lời, bởi lẽ còn cần nhiều thực nghiệm khác để chứng minh từng luận điểm trong lý thuyết trên. Nếu không, vật lý hiện đại vẫn chẳng hơn gì y học Á Đông trong hiệu ứng Mpemba.







