Hiển thị các bài đăng có nhãn Con đường của dân tộc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Con đường của dân tộc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 11 tháng 11, 2025

Từ ngôn từ ra thế giới: Trí năng không gian, tuyến tiền tiêu tiếp theo của AI

 LÝ PHI PHI

TRUNG TÂM AI HƯỚNG CON NGƯỜI, ĐẠI HỌC STANFORD

10 THÁNG 11, 2025

 NGƯỜI DỊCH: NGUYỄN ÁI VIỆT, VIỆN IGNITE

LỜI GIỚI THIỆU CỦA NGƯỜI DỊCH 

Sáng ch nht 9/11/2025, tôi đã có cuc nói chuyn liên quan ti trí năng hin thân (embodied intelligence) trong cơ th người. Đây là đề tài tôi quan tâm thứ ba trong những năm gần đây sau Ý thức, Trí năng nhân tạo. Tôi nghiêng theo hướng suy nghĩ rằng chúng ta nhận thức thế giới, hình thành tư duy với sự kết hợp tâm và thân.  Sáng nay tình cờ có một bạn trẻ gửi cho tôi bài báo này của một nữ khoa học gia lừng danh Lý Phi Phi mà tôi vốn vô cùng ngưỡng mộ.
Phải nói hơn 40 năm nay, kể từ khi đọc các công trình của Edward Witten, tôi mới lại có sự phấn khích như vậy khi đọc một bài báo khoa học. Không phải là nội dung khoa học và công nghệ có gì đặc sắc mà tầm nhìn, cách định hướng và hoạch định sự phát triển cho cả một ngành với sự thông thái, sáng suốt và nhân văn làm tôi vừa cảm phục vừa phấn khích.

Lý Phi Phi là Giáo sư khoa học máy tính của Đại học Stanford, là Giám đốc Trung tâm AI hướng con người. Bà là một nhân vật có hạng trong lĩnh vực AI và đã đạt được mọi thành công cần thiết. Tuy nhiên, bà đã thành lập Phòng Thí nghiệm thế giới để ra khỏi vùng an toàn, dấn thân vào một cuộc phiêu lưu mới đó là Trí năng không gian. Nếu thành công, bà sẽ bước chân vào ngôi đền bất tử của Einstein và Turing là thần tượng tinh thần của bà. Không thỏa mãn với thành công quá khứ, không ngần ngại bước vào miền đất mới chưa có dấu chân người, đó là những điều tôi thán phục ở Einstein, Schrodinger, Columbus,… và tiếp theo sẽ là Lý Phi Phi.

Tôi vẫn nghĩ đơn giản rằng trào lưu khai thác AI vật lý hiện nay chỉ là việc gắn AI tạo sinh hiện tại dựa trên mô hình ngôn ngữ lớn (LLM) vào các vật dụng, robot. Nhiều đồng nghiệp của tôi mà tôi đã trao đổi cũng nghĩ thế. Tuy nhiên bài báo của Lý Phi Phi mở ra trước mắt tôi một chân trời vô tận, trong đó việc tôi quan tâm tới Trí năng hiện thân (embodied intelligence) của người đột nhiên lại trở thành trung tâm. Ở đó không những vật lý, khoa học thần kinh, tâm sinh lý người sẽ giao hòa trong một tương lai rực rỡ của AI, một thứ AI mới, nhân bản hơn và thay đổi tới căn cội cuộc sống của chúng ta.

Với niềm phấn khích đó, tôi đã miệt mài liên tục hơn 8 tiếng đồng hồ để hoàn thành bản dịch này, với hy vọng chia sẻ niềm hân hoan này với mọi người. Điều kỳ lạ là AI dịch bài này vô cùng kém cỏi và sai lạc một cách bất thường. Có thể vì tầm nghĩ của Lý Phi Phi vượt quá xa cách nghĩ thông thường mà AI có thể xử lý.  Do không thể chờ đợi và phải hoàn thành nhanh, hơn nữa bài báo có quá nhiều tư tưởng, tầm nhìn sâu sắc mà tôi cần thêm thời gian để lĩnh hội,  chắc chắn bản dịch có nhiều sai sót, tôi để song ngữ để bạn đọc có thể đối chiếu và phủ phê cho. Xin trân trọng cám ơn.

Năm 1950, khi tính toán hầu như chưa hơn gì công cụ tính toán tự động và logic đơn giản, Alan Turing đã đặt ra một câu hỏi vẫn còn vang vọng đến ngày nay: “Liệu máy móc có thể suy nghĩ được không?” Để nhìn thấy điều ông đã thấy khi đó đòi hỏi một trí tưởng tượng phi thường: rằng một ngày nào đó trí thông minh có thể được xây dựng chứ không chỉ sinh ra. Tư tưởng đó sau này đã khởi nguồn cho một cuộc truy tìm khoa học bền bỉ mang tên Trí năng Nhân tạo (AI). Hai mươi lăm năm trong sự nghiệp AI của mình, tôi vẫn thấy mình được truyền cảm hứng bởi tầm nhìn của Turing. Nhưng, chúng ta đã đến gần bao nhiêu với điều đó? Câu trả lời không hề đơn giản.

Ngày nay, các công nghệ AI hàng đầu như mô hình ngôn ngữ lớn (LLM) đã bắt đầu thay đổi cách chúng ta tiếp cận và làm việc với tri thức trừu tượng. Tuy nhiên, chúng vẫn chỉ là những “người thợ chữ trong bóng tối”: hùng biện nhưng thiếu kinh nghiệm, uyên bác nhưng không có nền tảng. Trí năng không gian (Spatial Intelligence) sẽ thay đổi cách ta sáng tạo và tương tác với thế giới thực và ảo, sẽ cách mạng hóa việc kể chuyện, sáng tạo, ngành robot, khám phá khoa học và hơn thế nữa. Đây chính là tiền tiêu tiếp theo của AI.

Việc theo đuổi trí năng thị giác và không gian đã là ngôi sao Bắc Đẩu dẫn đường cho tôi từ khi bước chân vào lĩnh vực này. Đó là lý do tôi dành nhiều năm xây dựng ImageNet, bộ dữ liệu học thị giác và đánh giá chuẩn quy mô lớn đầu tiên, và là một trong ba yếu tố then chốt làm nên sự ra đời của AI hiện đại, bên cạnh các thuật toán mạng nơ-ron và năng lực tính toán hiện đại như GPU. Cũng vì thế mà phòng thí nghiệm học thuật của tôi tại Stanford đã dành suốt thập kỷ qua để kết hợp thị giác máy tính với học robot. Và đó là lý do hơn một năm trước đây, tôi cùng các đồng sáng lập Justin Johnson, Christoph Lassner và Ben Mildenhall lập ra World Labs: để lần đầu tiên hiện thực hóa trọn vẹn khả năng này.
Trong bài viết này, tôi sẽ giải thích trí năng không gian là gì, vì sao nó quan trọng, và chúng tôi đang xây dựng các mô hình thế giới để mở khóa nó như thế nào, cùng với những tác động sẽ tái định hình sự sáng tạo, trí năng hiện thân và tiến bộ của con người.

Bottom of Form

Trí năng không gian – Giàn giáo nhận thức con người

AI chưa bao giờ thú vị đến thế. Các mô hình sinh tạo như LLM đã ra khỏi phòng thí nghiệm bước vào đời sống hành ngày, trở thành công cụ sáng tạo, năng suất và giao tiếp cho hàng tỷ người. Chúng đã chứng tỏ những năng lực mà một thời người ta nghĩ là không thể, tạo sinh ra văn bản mạch lạc, hàng núi mã nguồn, những tranh ảnh thật như in, và thậm chỉ cả những video ngắn dễ dàng. Không còn nghi ngờ gì về việc liệu AI sẽ thay đổi thế giới. Nó đã làm điều đó theo bất cứ định nghĩa hợp lý nào.

Nhưng vẫn còn nhiều thứ nằm ngoài tầm với của chúng ta. Viễn kiến về robot tự chủ thật lôi cuốn nhưng vẫn chỉ là viễn tưởng, những đồ gia dụng mà các nhà tương lai học hứa hẹn từ lâu còn xa mới tới. Giấc mơ về các nghiên cứu tăng tốc lớn trong các lĩnh vực như chữa bệnh, phát hiện vật liệu mới và vật lý hạt phần lớn vẫn chưa thành hiện thực. Và lời hứa hẹn của AI về  thật sự hiểu và trao quyền sáng thế cho con người, cho dù từ các sinh viên học các khái niệm rắc rối của hóa phân tử, các nhà kiến trúc đang hiển thị các không gian, đến các nhà làm phim đang tạo những thế giới ảo hoặc bất cứ ai đang tìm kiếm các trải nghiệm nhập vai ảo – đều vẫn ngoài tầm với.

Để hiểu vì sao những năng lực này vẫn còn xa vời, chúng ta cần xem xét trí năng không gian đã tiến hóa như thế nào, và nó định hình cách chúng ta hiểu thế giới ra sao.

Thị giác từ lâu đã là nền tảng của trí năng con người, nhưng sức mạnh của nó bắt nguồn từ một điều còn căn bản hơn thế nữa. Từ rất lâu trước khi các loài động vật biết làm tổ, chăm sóc con nhỏ, giao tiếp bằng ngôn ngữ hay xây dựng nên các nền văn minh, hành động cảm nhận đơn giản đã lặng lẽ khơi dậy một hành trình tiến hóa hướng đến trí năng.

Năng lực tưởng như đơn lẻ để thu nhận thông tin từ thế giới bên ngoài, dù chỉ là một tia sáng le lói hay cảm giác về bề mặt vật thể,  đã tạo nên một cây cầu nối giữa tri giác và sinh tồn, ngày càng lớn mạnh và được gia công tinh vi hơn qua từng thế hệ. Từng lớp neuron hình thành từ cây cầu đó, kết nối lại thành hệ thần kinh, diễn giải thế giới và phối hợp hành động giữa các sinh thể và môi trường xung quanh. Vì vậy, nhiều nhà khoa học dự đoán rằng cảm nhận (perception) và hành động (action) chính là vòng lặp cốt lõi thúc đẩy sự tiến hóa của trí năng, và là nền tảng tự nhiên tạo nên loài người chúng ta — sinh vật tối hậu thể hiện trọn vẹn khả năng cảm nhận, học hỏi, tư duy và hành động.

Trí năng không gian giữ vai trò nền tảng trong cách con người tương tác với thế giới vật lý. Mỗi ngày, chúng ta dựa vào nó để thực hiện những hành động tưởng như bình thường nhất: đỗ xe bằng cách tưởng tượng khoảng cách đang thu hẹp giữa cản xe và mép vỉa hè; bắt lấy chùm chìa khóa được ném từ bên kia phòng; đi giữa đám đông mà không va chạm; hay rót cà phê vào cốc trong trạng thái ngái ngủ mà chẳng cần nhìn.

Trong những tình huống khắc nghiệt hơn, những người lính cứu hỏa phải đi lại trong tòa nhà đang sụp đổ, xuyên qua làn khói thay đổi liên tục, đưa ra quyết định trong tích tắc về sự ổn định và sống sót, giao tiếp với nhau bằng cử chỉ, ngôn ngữ cơ thể cùng bản năng nghề nghiệp chung, điều mà không một ngôn ngữ nào có thể thay thế. Còn trẻ em, sử dụng hoàn toàn những tháng năm chưa biết nói, để học về thế giới bằng những tương tác chơi đùa với môi trường xung quanh. Mọi điều này diễn ra một cách trực giác, tự động — một sự trôi chảy  mà máy móc vẫn chưa thể đạt tới.

Trí năng không gian cũng là nền tảng của trí tưởng tượng và sức sáng tạo của chúng ta. Những người kể chuyện tạo ra những thế giới phong phú độc đáo trong tâm trí của mình và sử dụng các hình thức truyền đạt thị giác khác nhau để đem đến cho người khác,  từ tranh vẽ trong hang động thời tiền sử, đến điện ảnh hiện đại, hay trò chơi điện tử nhập vai sống động. Dù đó là trẻ em đang xây lâu đài cát trên bãi biển hay chơi Minecraft trên máy tính, thì trí tưởng tượng có nền tảng không gian vẫn là cơ sở cho mọi trải nghiệm tương tác, trong cả thế giới thực lẫn thế giới ảo. Trong nhiều ứng dụng công nghiệp, các mô phỏng vật thể, cảnh quan và môi trường tương tác động đang tạo động lực cho vô số ứng dụng quan trọng, từ thiết kế công nghiệp, đến mô hình song sinh số (digital twin) đến huấn luyện robot.

Lịch sử nhân loại tràn ngập những thời khắc định hình nền văn minh, nơi trí năng không gian đã từng đóng vai trò trung tâm. Ở thời Hy Lạp cổ đại, Eratosthenes đã biến bóng nắng thành hình học, ông đo được góc 7 độ tại Alexandria, đúng thời điểm mặt trời không tạo bóng ở Syene, để từ đó tính ra chu vi Trái Đất. Hargreaves, với phát minh “Jenny xoay tít”, đã cách mạng hóa ngành dệt nhờ một trực giác không gian: bằng cách xếp nhiều trục quay song song trong cùng một khung, một công nhân có thể se nhiều sợi chỉ cùng một lúc, làm năng suất tăng lên gấp tám lần. Watson và Crick khám phá cấu trúc ADN bằng cách dựng những mô hình phân tử 3D vật lý,  ghép nối các tấm kim loại và sợi dây cho đến khi cấu trúc không gian của các cặp base khớp lại hoàn hảo. Trong tất cả những trường hợp ấy, trí năng không gian là động lực thúc đẩy văn minh tiến lên, bởi các nhà khoa học và nhà phát minh đều phải thao tác với vật thể, hình dung các cấu trúc, và suy luận về các không gian vật lý,  những điều ngôn từ đơn thuần không bao giờ diễn đạt hết.

Trí năng không gian là bộ giàn giáo mà trên đó toàn bộ nhận thức của chúng ta được xây dựng lên. Nó hoạt động cả khi ta quan sát thụ động lẫn khi ta chủ động sáng tạo. Nó dẫn dắt việc suy luận và lập kế hoạch, ngay cả trong những chủ đề trừu tượng nhất. Và nó là thiết yếu trong cách chúng ta tương tác – dù là bằng lời nói hay hành động, với đối tác hay với môi trường xung quanh.

Dẫu hầu hết chúng ta không thường xuyên khám phá ra những chân lý mới vĩ đại như Eratosthenes, nhưng ta vẫn bất giác tư duy theo cùng một cách thức: hiểu thế giới phức tạp bằng cách cảm nhận nó qua các giác quan, rồi dựa vào trực giác không gian để suy ra cách thức nó vận hành theo nghĩa không gian, vật lý.

Đáng tiếc là, AI ngày nay vẫn chưa thể tư duy theo cách đó.

Trong vài năm qua, những bước tiến vượt bậc thực sự đã được đạt tới. Các mô hình ngôn ngữ lớn đa phương thức (Multimodal LLMs – MLLMs), được huấn luyện không chỉ bằng dữ liệu văn bản mà còn bằng lượng lớn dữ liệu đa phương tiện, đã bắt đầu hình thành những năng lực nhận thức không gian cơ bản, và ngày nay, AI đã có thể phân tích hình ảnh, trả lời các câu hỏi liên quan đến chúng, và tạo ra hình ảnh hoặc video ngắn siêu chân thực. Đồng thời, nhờ những đột phá trong công nghệ cảm biến và xúc giác (haptics), các robot tiên tiến nhất của chúng ta đã bắt đầu có khả năng thao tác với các đối tượng và công cụ trong những môi trường bị ràng buộc chặt chẽ.

Tuy nhiên, sự thật thẳng thắn là: khả năng không gian của AI vẫn còn cách rất xa so với con người. Và những giới hạn ấy bộc lộ rất nhanh. Các mô hình MLLM tiên tiến nhất hiện nay hiếm khi đạt kết quả tốt hơn mức ngẫu nhiên khi ước lượng khoảng cách, hướng hoặc kích thước — hay khi cố gắng “xoay vật thể trong đầu” bằng cách tái tạo chúng từ các góc nhìn khác nhau. Chúng không thể tự định hướng trong mê cung, nhận biết lối đi tắt, hay dự đoán các quy luật vật lý cơ bản. Các video do AI tạo ra – dù còn non trẻ và đúng là rất ấn tượng – thường mất tính mạch lạc chỉ sau vài giây.

Mặc dù các hệ thống AI tiên tiến nhất hiện nay có thể xuất sắc trong việc đọc, viết, nghiên cứu và nhận dạng mẫu trong dữ liệu, cũng các mô hình đó vẫn còn mang trong mình những giới hạn căn bản khi phải biểu diễn hoặc tương tác với thế giới vật lý. Cách chúng ta nhìn thế giới là toàn thể – không chỉ là những gì ta đang nhìn, mà còn là cách mọi thứ liên hệ với nhau trong không gian, ý nghĩa của điều đó, và vì sao nó quan trọng. Hiểu được những mối liên hệ ấy thông qua trí tưởng tượng, lý luận, sáng tạo và tương tác – chứ không chỉ qua mô tả bằng lời – chính là sức mạnh của trí năng không gian. Không có năng lực ấy, AI bị tách rời khỏi thực tại vật lý mà nó muốn hiểu. Nó không thể lái xe một cách hiệu quả, không thể hướng dẫn robot trong nhà hay trong bệnh viện, không thể tạo ra những hình thức trải nghiệm nhập vai và tương tác hoàn toàn mới cho học tập và giải trí, hoặc cũng không thể đẩy nhanh hơn quá trình khám phá khoa vật liệu hay nghiên cứu y học.

Nhà triết học Wittgenstein từng viết rằng: “Giới hạn ngôn ngữ của tôi cũng là giới hạn của thế giới trong tôi.” Tôi không phải là một triết gia, nhưng tôi biết ít nhất là đối với AI, thế giới không chỉ được tạo nên từ ngôn từ. Trí năng không gian chính là biên giới vượt ra ngoài ngôn ngữ — năng lực kết nối giữa trí tưởng tượng, tri giác và hành động, và mở ra khả năng để máy móc thật sự nâng cao đời sống con người — từ y tế đến sáng tạo, từ khám phá khoa học đến hỗ trợ đời sống hằng ngày.

Thập niên tới của AI: Xây dựng những cỗ máy thực sự có Trí năng không gian

Vậy làm thế nào để chúng ta xây dựng được AI có Trí năng không gian? Đâu là con đường dẫn tới những mô hình có thể suy luận với tầm nhìn của Eratosthenes, thiết kế kỹ thuật với độ chính xác của một nhà thiết kế công nghiệp, sáng tạo với trí tưởng tượng của một người kể chuyện, và tương tác với môi trường xung quanh với sự thuần thục của một nhân viên cứu hộ?

Xây dựng AI có trí năng không gian đòi hỏi điều gì đó tham vọng hơn cả các mô hình ngôn ngữ lớn (LLM): đó là mô hình thế giới (world model) – một loại mô hình tạo sinh mới, có khả năng hiểu, suy luận, tạo sinh và tương tác với những thế giới phức tạp về ngữ nghĩa, vật lý, hình học và động học, dù là ảo hay thực, vượt xa tầm với của các LLM hiện nay. Lĩnh vực này vẫn đang ở giai đoạn sơ khai, với các phương pháp hiện tại trải rộng từ mô hình suy luận trừu tượng đến hệ thống sinh tạo video. World Labs được thành lập vào đầu năm 2024 dựa trên niềm tin ấy: rằng những cách tiếp cận nền tảng vẫn đang được thiết lập, làm cho điều này trở thành thách thức mang tính quyết định của thập niên tới.

Trong lĩnh vực mới nổi này, điều quan trọng nhất là xác lập những nguyên lý định hướng cho sự phát triển. Đối với Trí năng không gian, tôi định nghĩa mô hình thế giới thông qua ba năng lực cốt lõi:

1. Mô hình thế giới có thể tạo sinh các thế giới với sự phù hợp nhận thức, hình học và vật lý

Các mô hình thế giới có thể mở khóa khả năng hiểu và suy luận không gian cũng cần phải có năng lực tự sinh ra các thế giới mô phỏng của riêng mình. Chúng phải có khả năng tạo ra vô số thế giới mô phỏng đa dạng và phong phú, dựa trên chỉ dẫn ngữ nghĩa hoặc cảm nhận, đồng thời vẫn duy trì được tính nhất quán về hình học, vật lý và động lực học — dù đó là các không gian thực hay ảo. Giới nghiên cứu hiện đang tích cực tìm hiểu liệu những thế giới này nên được biểu diễn ngầm (implicitly) hay hiển thị rõ ràng (explicitly) theo cấu trúc hình học vốn có của chúng. Bên cạnh các dạng biểu diễn tiềm ẩn mạnh mẽ (latent representations), tôi tin rằng đầu ra của một mô hình thế giới phổ quát cũng cần cho phép tạo ra các trạng thái cụ thể, có thể quan sát được của những thế giới ấy — phục vụ nhiều mục đích khác nhau. Đặc biệt, sự hiểu biết của mô hình về hiện tại phải được gắn kết chặt chẽ với quá khứ — với những trạng thái của thế giới trước đó đã dẫn tới trạng thái hiện nay.

2. Tính đa phương thức: Mô hình thế giới được thiết kế đa phương thức ngay từ bản chất

Cũng như động vật và con người, một mô hình thế giới cần có khả năng xử lý các đầu vào - trong lĩnh vực AI sinh tạo thường được gọi là “prompt” – dưới nhiều dạng khác nhau. Khi chỉ có thông tin không đầy đủ — dù là hình ảnh, video, bản đồ độ sâu, hướng dẫn bằng văn bản, cử chỉ hay hành động — mô hình thế giới vẫn phải có thể dự đoán hoặc sinh ra trạng thái thế giới hoàn chỉnh nhất có thể. Điều đó đòi hỏi phải xử lý tín hiệu thị giác với độ trung thực tương đương thị giác thật, đồng thời hiểu và diễn giải được các chỉ dẫn ngữ nghĩa với mức độ linh hoạt tương tự. Nhờ vậy, cả các tác nhân AI (agents) lẫn con người đều có thể giao tiếp với mô hình thông qua nhiều loại đầu vào khác nhau, và tiếp nhận các đầu ra đa dạng tương ứng.

3. Tính tương tác: Mô hình thế giới có thể sinh ra trạng thái tiếp theo của thế giới dựa trên hành động đầu vào

Cuối cùng, khi các hành động và/hoặc mục tiêu là một phần của tín hiệu đầu vào (prompt) gửi đến mô hình thế giới, thì đầu ra của mô hình phải bao gồm trạng thái kế tiếp của thế giới, được biểu diễn dưới dạng ngầm định (implicit) hoặc hiện rõ (explicit). Khi mô hình chỉ nhận được một hành động – có hoặc không có trạng thái mục tiêu đi kèm – nó phải sinh ra đầu ra nhất quán với trạng thái trước đó của thế giới, với mục tiêu dự định (nếu có), đồng thời tuân thủ các quy luật ngữ nghĩa, quy luật vật lý và hành vi động học của thế giới đó. Khi các mô hình thế giới có trí năng không gian ngày càng trở nên mạnh mẽ và vững chắc hơn trong khả năng suy luận và tạo sinh, có thể hình dung rằng trong trường hợp có một mục tiêu cụ thể, chính mô hình thế giới sẽ không chỉ dự đoán được trạng thái kế tiếp của thế giới, mà còn dự đoán được cả những hành động kế tiếp dựa trên trạng thái mới vừa được sinh ra.

Quy mô của thách thức này vượt xa bất kỳ điều gì mà AI từng đối mặt.

Nếu ngôn ngữ chỉ là hiện tượng tạo sinh thuần túy của nhận thức con người, thì “thế giới” lại vận hành theo những quy luật phức tạp hơn rất nhiều. Ngay ở trên Trái Đất này, ví dụ, hấp dẫn chi phối chuyển động, cấu trúc nguyên tử quyết định ánh sáng tạo ra màu sắc và độ sáng như thế nào, và vô số quy luật vật lý khác ràng buộc mọi tương tác. Ngay cả những thế giới giàu tưởng tượng nhất, nhiều tính sáng tạo đến đâu, cũng được cấu thành từ các vật thể và tác nhân có tính không gian, vốn vẫn phải tuân theo những quy luật vật lý và hành vi động học xác định nên chúng. Để hợp nhất tất cả những yếu tố ấy một cách nhất quán — từ ngữ nghĩa, hình học, đến động lực học và vật lý — đòi hỏi các phương pháp hoàn toàn mới. Không gian biểu diễn của một “thế giới” phức tạp hơn rất nhiều so với tín hiệu một chiều và tuần tự như ngôn ngữ. Để đạt được những mô hình thế giới có thể mang lại năng lực phổ quát như con người đang có, chúng ta phải vượt qua hàng loạt rào cản kỹ thuật to lớn. Tại World Labs, các nhóm nghiên cứu của chúng tôi đang tập trung vào những bước tiến nền tảng nhằm tiến gần hơn đến mục tiêu đó.

Sau đây là một số ví dụ về các đề tài nghiên cứu hiện tại của chúng tôi

·        Một chức năng nhiệm vụ huấn luyện mang tính phổ quát mới: Việc xác định một hàm nhiệm vụ thống nhất, đơn giản và thanh nhã như bài toán dự đoán token kế tiếp trong các mô hình ngôn ngữ lớn (LLM), từ lâu đã là mục tiêu trung tâm của nghiên cứu về mô hình thế giới. Tuy nhiên, độ phức tạp của cả không gian đầu vào và đầu ra khiến cho việc xây dựng một hàm như vậy trở nên khó khăn hơn về bản chất. Dù vẫn còn rất nhiều điều cần khám phá, hàm mục tiêu này cùng với các biểu diễn tương ứng của nó phải phản ánh được các quy luật của hình học và vật lý, thể hiện đúng bản chất nền tảng của mô hình thế giới — như một dạng biểu diễn có căn cứ trong cả tưởng tượng lẫn hiện thực.

·        Dữ liệu huấn luyện quy mô lớn: Việc huấn luyện các mô hình thế giới đòi hỏi loại dữ liệu phức tạp hơn nhiều so với dữ liệu văn bản thông thường. Tin tốt là các nguồn dữ liệu khổng lồ đã sẵn có: các kho hình ảnh và video ở quy mô Internet cung cấp nguồn dữ liệu dồi dào và dễ tiếp cận cho quá trình huấn luyện. Thách thức nằm ở chỗ phát triển các thuật toán có thể trích xuất thông tin không gian sâu hơn từ các tín hiệu hai chiều như hình ảnh hoặc khung hình video (RGB). Các nghiên cứu trong thập kỷ qua đã chứng minh sức mạnh của các quy luật mở rộng, cho thấy mối liên hệ giữa khối lượng dữ liệu và kích thước mô hình trong các mô hình ngôn ngữ. Chìa khóa mở ra cho mô hình thế giới nằm ở việc xây dựng những kiến trúc có thể tận dụng dữ liệu hình ảnh sẵn có ở cùng quy mô đó. Ngoài ra, tôi không xem nhẹ giá trị của dữ liệu tổng hợp chất lượng cao cùng với các dạng dữ liệu bổ sung khác, như bản đồ độ sâu hay thông tin xúc giác (tactile data). Chúng bổ trợ cho dữ liệu ở quy mô Internet trong những giai đoạn then chốt của quá trình huấn luyện. Tuy nhiên, con đường phía trước vẫn phụ thuộc vào việc phát triển các hệ thống cảm biến tốt hơn, thuật toán trích xuất tín hiệu mạnh mẽ hơn, và các phương pháp mô phỏng thần kinh (neural simulation) vượt trội hơn nhiều so với hiện nay.

·        Kiến trúc mô hình mới và học biểu diễn: Nghiên cứu về mô hình thế giới chắc chắn sẽ thúc đẩy các bước tiến trong kiến trúc mô hình và thuật toán học, đặc biệt là vượt ra ngoài những khuôn khổ MLLM và mô hình khuếch tán video (video diffusion) hiện nay. Cả hai hướng tiếp cận hiện tại này đều mã hóa dữ liệu thành chuỗi 1 chiều hoặc 2 chiều, khiến cho những nhiệm vụ không gian đơn giản trở nên khó khăn một cách không cần thiết,  chẳng hạn như đếm số chiếc ghế khác nhau trong một đoạn video ngắn, hoặc ghi nhớ hình dạng căn phòng cách đó một giờ. Những kiến trúc thay thế có thể mang lại giải pháp, chẳng hạn các phương pháp nhận thức 3D hoặc 4D trong mã hóa (tokenization), ngữ cảnh (context) và trí nhớ (memory). Chẳng hạn, tại World Labs, công trình gần đây của chúng tôi về mô hình tạo sinh theo khung hình thời gian thực mang tên RTFM (Real-Time Frame-based Model) đã cho thấy sự chuyển dịch quan trọng này: mô hình sử dụng các khung hình gắn với không gian (spatially-grounded frames) như một dạng trí nhớ không gian, cho phép sinh tạo thời gian thực một cách hiệu quả, đồng thời duy trì được tính liên tục và nhất quán trong thế giới được tạo ra.

Rõ ràng, chúng ta vẫn đang đối mặt với những thách thức to lớn trước khi có thể hoàn toàn khai mở trí năng không gian thông qua mô hình thế giới. Công trình nghiên cứu này không chỉ là một bài tập lý thuyết, mà còn là động cơ cốt lõi cho một thế hệ mới các công cụ sáng tạo và năng suất. Những tiến triển tại World Labs đến nay rất đáng khích lệ. Gần đây, chúng tôi đã chia sẻ với một nhóm người dùng giới hạn bản trình diễn đầu tiên của Marble, mô hình thế giới đầu tiên có thể được điều khiển bằng các đầu vào đa phương thức để tạo ra và duy trì các môi trường 3D nhất quán cho người dùng và các nhà kể chuyện có thể khám phá, tương tác và tiếp tục xây dựng trong tiến trình sáng tạo của họ.
Và chúng tôi đang nỗ lực để sớm đưa Marble ra công chúng!

Marble mới chỉ là bước đầu tiên của chúng tôi trong hành trình xây dựng một mô hình thế giới thật sự sở hữu Trí năng không gian. Khi tiến độ nghiên cứu ngày càng được đẩy nhanh, các nhà khoa học, kỹ sư, người dùng và cả các nhà lãnh đạo doanh nghiệp đều bắt đầu nhận ra tiềm năng phi thường của công nghệ này. Thế hệ tiếp theo của các mô hình thế giới sẽ cho phép máy móc đạt tới Trí năng không gian ở một cấp độ hoàn toàn mới — một thành tựu sẽ mở khóa những năng lực cốt lõi mà các hệ thống AI hiện nay vẫn còn thiếu vắng.

Sử dụng mô hình thế giới để xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn cho con người

Điều thúc đẩy sự phát triển của AI có ý nghĩa quan trọng. Với tư cách là một trong những nhà khoa học đã góp phần mở ra kỷ nguyên AI hiện đại, động lực của tôi luôn rõ ràng: AI phải tăng cường năng lực của con người, chứ không thay thế con người. Trong nhiều năm, tôi đã làm việc để hướng việc phát triển, triển khai và quản trị AI tới nhu cầu của con người. Ngày nay, ta nghe quá nhiều câu chuyện cực đoan, từ thiên đường đến tận thế công nghệ, nhưng tôi vẫn tiếp tục giữ quan điểm thực tế hơn: AI được con người tạo ra, con người sử dụng, và con người quản lý. Nó luôn phải tôn trọng quyền tự chủ và phẩm giá của con người. Sức mạnh kỳ diệu của AI nằm ở chỗ nó mở rộng khả năng của chúng ta, giúp chúng ta sáng tạo hơn, kết nối hơn, hiệu quả hơn và viên mãn hơn. Trí năng không gian chính là biểu hiện của tầm nhìn đó: AI trao quyền cho nhà sáng tạo, người chăm sóc, nhà khoa học và người mơ mộng bằng xương thịt,  để họ thực hiện được những điều từng được xem là không thể. Niềm tin ấy chính là động lực khiến tôi dấn thân vào trí năng không gian như tuyến tiền tiêu vĩ đại tiếp theo của AI.

Các ứng dụng của trí năng không gian trải dài trên nhiều mốc thời gian khác nhau. Những công cụ sáng tạo đang xuất hiện ngay lúc này — như Marble của World Labs, vốn đã đưa năng lực này trực tiếp vào tay các nhà sáng tạo và người kể chuyện. Môn robot học đại diện cho chân trời trung hạn đầy tham vọng, khi chúng ta đang tinh chỉnh vòng lặp giữa tri giác và hành động. Còn các ứng dụng khoa học mang tính chuyển hóa sâu sắc nhất sẽ mất nhiều thời gian hơn, nhưng hứa hẹn tạo ra tác động lớn lao đối với sự phát triển của con người.

Trên toàn bộ những mốc thời gian đó, có một số lĩnh vực nổi bật với tiềm năng định hình lại năng lực con người. Điều này cần có nỗ lực tập thể quy mô lớn, vượt xa khả năng của một nhóm hay một công ty đơn lẻ. Nó đòi hỏi sự tham gia của toàn bộ hệ sinh thái AI: từ các nhà nghiên cứu, nhà đổi mới, doanh nhân, doanh nghiệp, cho tới nhà hoạch định chính sách, tất cả cùng hướng về một tầm nhìn chung. Và tầm nhìn ấy xứng đáng để chúng ta theo đuổi. Dưới đây là những gì tương lai đang mở ra:

Sáng tạo: Nâng tầm kể chuyện và trải nghiệm nhập vai

Sáng tạo là trí năng của vui thú.” Đây là một trong những câu nói yêu thích của tôi, đến từ thần tượng cá nhân là Albert Einstein. Từ rất lâu trước khi ngôn ngữ viết ra đời, con người đã kể chuyện — đã vẽ chúng lên vách hang, truyền miệng qua nhiều thế hệ, và xây dựng nên cả những nền văn hóa dựa trên những câu chuyện chung. Những câu chuyện chính là cách chúng ta hiểu thế giới, kết nối vượt qua không gian và thời gian, khám phá ý nghĩa của việc làm người, và trên hết là tìm thấy ý nghĩa của cuộc sống và tình yêu trong chính bản thân mình. Ngày nay, trí năng không gian có tiềm năng thay đổi tận gốc cách chúng ta sáng tạo và trải nghiệm các câu chuyện, theo một cách vừa tôn vinh tầm quan trọng cốt lõi của chúng, vừa mở rộng ảnh hưởng từ giải trí đến giáo dục, từ thiết kế đến xây dựng.

Nền tảng Marble của World Labs sẽ đặt vào tay các nhà làm phim, nhà thiết kế trò chơi, kiến trúc sư và người kể chuyện ở mọi lĩnh vực những khả năng không gian chưa từng có cùng mức độ kiểm soát biên tập tinh vi. Nhờ đó, họ có thể nhanh chóng tạo ra và thử nghiệm liên tục những thế giới 3D có thể khám phá hoàn toàn, mà không cần gánh nặng của các phần mềm thiết kế 3D truyền thống. Hành động sáng tạo vẫn giữ nguyên tính sống động và bản chất con người của nó: các công cụ AI chỉ đơn giản là khuếch đại và tăng tốc những gì mà người sáng tạo có thể đạt được. Điều này bao gồm:

·        Trải nghiệm kể chuyện trong những chiều kích mới: Các nhà làm phim và nhà thiết kế trò chơi đang sử dụng Marble để dự báo toàn bộ các thế giới không còn bị giới hạn bởi ngân sách hay địa lý, mở rộng khả năng khám phá vô số bối cảnh và góc nhìn vốn không thể thực hiện được trong quy trình sản xuất truyền thống. Khi ranh giới giữa các loại hình truyền thông và giải trí ngày càng mờ dần, chúng ta đang tiến gần tới một hình thái trải nghiệm tương tác hoàn toàn mới, nơi nghệ thuật, mô phỏng và trò chơi hòa quyện vào nhau — tạo nên những thế giới cá nhân hóa, nơi bất kỳ ai, không chỉ các hãng phim, đều có thể tạo dựng và sống trong câu chuyện của riêng mình. Với sự xuất hiện của những công cụ mới giúp chuyển hóa ý tưởng và bản phác thảo thành trải nghiệm hoàn chỉnh nhanh hơn bao giờ hết, câu chuyện sẽ không còn bị ràng buộc trong một loại hình duy nhất — các nhà sáng tạo được tự do xây dựng những thế giới có mạch truyện xuyên suốt, trải dài qua nhiều bề mặt và nền tảng khác nhau.

·        Câu chuyện không gian qua thiết kế: Gần như mọi vật thể được chế tạo hay không gian được xây dựng đều phải được thiết kế trong không gian 3D ảo trước sáng tạo đời thực. Quy trình này thường lặp lại nhiều lần và tốn kém về cả thời gian lẫn chi phí. Với các mô hình có trí năng không gian, kiến trúc sư có thể nhanh chóng hình dung công trình trước khi bỏ ra nhiều tháng cho bản thiết kế, có thể dạo chơi trong những không gian chưa từng tồn tại -  thực chất là đang kể những câu chuyện về cách con người có thể sống, làm việc và gặp gỡ nhau. Các nhà thiết kế công nghiệp hay thời trang cũng có thể biến tưởng tượng thành hình dạng ngay lập tức, thử nghiệm cách mà các vật thể tương tác với cơ thể và không gian quanh con người.

·        Những trải nghiệm nhập vai và tương tác mới: Trải nghiệm chính là một trong những cách sâu sắc nhất mà chúng ta, với tư cách là một loài, tạo ra ý nghĩa. Suốt chiều dài lịch sử, chỉ có một thế giới 3D kỳ dị, thế giới vật lý mà chúng ta cùng chia sẻ. Chỉ trong vài thập kỷ gần đây, thông qua trò chơi điện tử và thực tế ảo (VR), chúng ta mới bắt đầu nhìn thấy ý nghĩa của việc cùng nhau chia sẻ những thế giới thay thế do chính mình sáng tạo nên. Ngày nay, Trí năng không gian, khi kết hợp với các công nghệ mới như kính thực tế ảo (VR), thực tế mở rộng (XR) và màn hình nhập vai, đang nâng tầm trải nghiệm này lên những đỉnh cao chưa từng có. Chúng ta đang tiến gần tới một tương lai nơi việc bước vào những thế giới đa chiều hoàn thiện sẽ trở nên tự nhiên như mở một cuốn sách. Trí năng không gian khiến cho việc xây dựng thế giới trở nên dễ tiếp cận hơn bao giờ hết, không chỉ dành riêng cho các hãng phim với đội ngũ sản xuất chuyên nghiệp, mà còn dành cho mọi cá nhân sáng tạo, các nhà giáo dục, hay bất kỳ ai có tầm nhìn muốn chia sẻ với thế giới.

Robot học: Trí năng nhập thể trong hành động

Mọi loại động vật, từ côn trùng cho đến con người, đều dựa vào trí năng không gian để hiểu, đi lại và tương tác với thế giới quanh mình. Robot cũng sẽ chẳng khác gì. Những cỗ máy có khả năng nhận thức không gian đã là giấc mơ của ngành robot học từ thuở ban đầu, bao gồm cả công việc của tôi sinh viên và cộng sự tại phòng thí nghiệm Stanford. Chính vì vậy, tôi cảm thấy vô cùng phấn khích trước khả năng hiện thực hóa giấc mơ ấy sử dụng những mô hình thế giới mà World Labs đang phát triển.

·        Mở rộng quy mô học tập cho robot thông qua mô hình thế giới: Tiến bộ của học robot phụ thuộc vào việc tìm ra một giải pháp có thể mở rộng quy mô với dữ liệu huấn luyện đủ khả thi. Xét đến không gian trạng thái khổng lồ mà robot phải học để hiểu, suy luận, lập kế hoạch và tương tác, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng cần kết hợp ba nguồn dữ liệu: dữ liệu từ Internet, mô phỏng tổng hợp (synthetic simulation) và dữ liệu thực tế ghi lại hành vi con người, để có thể tạo ra được các robot có khả năng khái quát hóa thực sự. Tuy nhiên, khác với các mô hình ngôn ngữ, nguồn dữ liệu huấn luyện cho robot hiện nay vẫn rất hạn chế. Các mô hình thế giới (world models) sẽ đóng vai trò quyết định trong việc thay đổi điều đó. Khi độ trung thực cảm nhận (perceptual fidelity) và hiệu suất tính toán của chúng được nâng cao, đầu ra của các mô hình thế giới có thể nhanh chóng thu hẹp khoảng cách giữa mô phỏng và thực tế. Điều này ngược lại sẽ giúp huấn luyện robot thông qua mô phỏng vô số trạng thái, tương tác và môi trường khác nhau.

 

·        Bạn đồng hành và cộng sự: Robot với tư cách là những cộng tác viên của người, dù là hỗ trợ các nhà khoa học trong phòng thí nghiệm, hay giúp đỡ người cao tuổi sống một mình, có thể mở rộng phần lực lượng lao động trong những lĩnh vực đang thiếu nhân công và năng suất. Tuy nhiên, để làm được điều đó, robot cần có trí năng không gian,  giúp chúng nhận biết, suy luận, lập kế hoạch và hành động, đồng thời — và đây là điều quan trọng nhất — phải duy trì được sự đồng cảm và hòa hợp với mục tiêu cũng như hành vi của con người. Ví dụ, một robot trong phòng thí nghiệm có thể xử lý các dụng cụ để nhà khoa học tập trung vào những công việc đòi hỏi sự khéo léo hoặc tư duy, trong khi một trợ lý gia đình có thể giúp người cao tuổi nấu ăn mà không làm giảm niềm vui hay sự tự chủ của họ. Những mô hình thế giới thật sự có trí năng không gian, có khả năng dự đoán trạng thái tiếp theo của thế giới, thậm chí dự đoán được hành động phù hợp với ngữ cảnh và kỳ vọng của con người sẽ có vai trò quyết định để đạt được mục đích này.

·        Mở rộng các hình thái hiện thân: Robot hình người chắc chắn có vai trò trong thế giới mà con người đã kiến tạo cho chính mình. Tuy nhiên, lợi ích trọn vẹn của đổi mới công nghệ sẽ đến từ các kiểu thiết kế đa dạng hơn nhiều: từ nano robot có thể vận chuyển thuốc trong cơ thể, đến robot mềm (soft robots) có khả năng di chuyển qua các không gian chật hẹp và cả những cỗ máy được chế tạo để hoạt động trong đại dương sâu thẳm hay ngoài vũ trụ. Dù mang hình dạng nào, các mô hình trí năng không gian trong tương lai phải kết hợp được cả môi trường mà robot tồn tại lẫn khả năng cảm nhận và vận động của chính bản thân chúng. Tuy nhiên, một thách thức then chốt trong việc phát triển những loại robot này là thiếu dữ liệu huấn luyện cho sự đa dạng khổng lồ của các dạng hình thể và cấu trúc hiện thân. Các mô hình thế giới (world models) sẽ đóng vai trò trọng yếu trong việc tạo dữ liệu mô phỏng, xây dựng môi trường huấn luyện, và đặt ra các bài kiểm định chuẩn (benchmark) cho những nỗ lực này.

Tầm nhìn dài hạn: Khoa học, Y tế và Giáo dục

Bên cạnh các ứng dụng sáng tạo và robot học, tác động sâu rộng của trí năng không gian sẽ còn vươn tới những lĩnh vực nơi AI có thể nâng cao năng lực con người theo các cách thức để cứu sống sinh mạng và tăng tốc khám phá khoa học. Dưới đây, tôi xin nhấn mạnh ba lĩnh vực ứng dụng có thể mang tính chuyển hóa sâu sắc, mặc dù thực tế là phạm vi ứng dụng của trí năng không gian còn rộng lớn hơn rất nhiều, bao trùm nhiều ngành công nghiệp khác.

Trong nghiên cứu khoa học, các hệ thống sở hữu Trí năng không gian có thể mô phỏng thí nghiệm, kiểm định nhiều giả thuyết song song, và khám phá những môi trường con người không thể tiếp cận được — từ đại dương sâu thẳm cho tới các hành tinh xa xôi. Công nghệ này có khả năng cách mạng hóa mô hình tính toán khoa học, đặc biệt trong nghiên cứu khí hậu và vật liệu học. Bằng cách kết hợp mô phỏng đa chiều với dữ liệu thu thập từ thế giới thực, những công cụ ấy có thể giảm rào cản tính toán và mở rộng tầm quan sát lẫn hiểu biết của mọi phòng thí nghiệm.

Trong lĩnh vực y tế, trí năng không gian sẽ tái định hình toàn bộ hệ thống,
từ phòng thí nghiệm cho đến giường bệnh. Tại Stanford, các sinh viên và cộng sự của tôi đã dành nhiều năm hợp tác với các bệnh viện, cơ sở chăm sóc người cao tuổi, và cả bệnh nhân tại nhà. Những trải nghiệm ấy đã thuyết phục tôi sâu sắc về tiềm năng chuyển hóa to lớn của trí năng không gian trong y học. AI có thể đẩy nhanh quá trình phát hiện thuốc mới bằng cách mô hình hóa các tương tác phân tử trong đa chiều, nâng cao khả năng chẩn đoán bằng cách hỗ trợ bác sĩ X-quang phát hiện các mẫu hình ẩn trong các hình ảnh y khoa, và cho phép các hệ thống giám sát môi trường thông minh hỗ trợ bệnh nhân và người chăm sóc mà không thay thế kết nối con người, mà quá trình chữa lành đòi hỏi, chưa kể, tiềm năng của các robot trong việc hỗ trợ nhân viên y tế và bệnh nhân trong nhiều tình huống khác nhau.

Trong giáo dục, trí năng không gian có thể mang lại hình thức học tập nhập vai, giúp các khái niệm trừu tượng hoặc phức tạp trở nên cụ thể, và tạo ra các trải nghiệm lặp lại, vốn rất cần thiết cho cách não bộ và cơ thể chúng ta đã được cấu trúc để học hỏi. Trong kỷ nguyên AI, nhu cầu học tập và đào tạo lại nhanh chóng, hiệu quả trở nên đặc biệt quan trọng đối với cả trẻ em trong độ tuổi đi học và người lớn. Học sinh có thể khám phá cấu trúc của tế bào hoặc bước đi qua các sự kiện lịch sử trong không gian đa chiều. Giáo viên có được các công cụ giúp cá nhân hóa việc giảng dạy thông qua những môi trường tương tác. Các chuyên gia — từ bác sĩ phẫu thuật đến kỹ sư — có thể thực hành các kỹ năng phức tạp một cách an toàn trong những mô phỏng chân thực.

Trong tất cả các lĩnh vực này, khả năng ứng dụng là vô hạn, nhưng mục tiêu vẫn không thay đổi: AI có thể tăng cường năng lực chuyên môn của con người, đẩy nhanh khám phá của con người, và tăng cường khả năng chăm sóc con người —chứ không thay thế sự phán đoán, sáng tạo và lòng cảm thông, là những yếu tố cốt lõi đối với bản chất của con người.

Kết luận

Mười năm qua đã chứng kiến AI trở thành một hiện tượng toàn cầu, một bước ngoặt trong công nghệ, kinh tế, và thậm chí cả địa chính trị. Nhưng với tôi — một nhà nghiên cứu, nhà giáo dục, và nay là doanh nhân — nguồn cảm hứng lớn nhất vẫn là tinh thần ẩn sau câu hỏi mà Turing đã đặt ra cách đây 75 năm. Tôi vẫn chia sẻ với ông niềm kinh ngạc và tò mò ấy. Chính thách thức của trí năng không gian là điều truyền năng lượng cho tôi mỗi ngày.

Lần đầu tiên trong lịch sử, chúng ta đang ở ngưỡng cửa xây dựng được những cỗ máy hòa nhịp hoàn toàn với thế giới vật lý, đến mức con người có thể tin tưởng vào chúng như những đối tác thực sự trong những thách thức lớn lao nhất mà chúng ta sẽ đối mặt. Dù là đẩy nhanh cách chúng ta hiểu biết về bệnh tật trong phòng thí nghiệm, cách mạng hóa nghệ thuật kể chuyện, hay hỗ trợ con người trong những khoảnh khắc yếu đuối nhất vì bệnh tật, chấn thương hoặc tuổi già, chúng ta đang tiến rất gần tới những công nghệ có thể nâng tầm những giá trị của cuộc sống mà con người trân quý nhất. Đây chính là một tầm nhìn về cuộc sống sâu sắc hơn, phong phú hơn, và trao quyền nhiều hơn cho con người.

Gần nửa tỷ năm sau khi tự nhiên khơi dậy những tia sáng đầu tiên của trí năng không gian trong các loài động vật tổ tiên, chúng ta thật may mắn khi được sinh ra trong thế hệ những người làm công nghệ — những người có thể sớm ban cho máy móc cùng năng lực ấy, có đủ đặc quyền sử dụng năng lực đó để phục vụ lợi ích của toàn nhân loại. Giấc mơ về những cỗ máy thật sự thông minh sẽ không bao giờ trọn vẹn nếu thiếu trí năng không gian.

Thứ Sáu, 15 tháng 11, 2024

Trung bình và trung dung

        1. Nếu ai hỏi tôi khái niệm Toán học nào sâu sắc và vĩ đại nhất, tôi sẽ chọn khái niệm “trung bình”. Tại sao không chọn khái niệm số, đơn vị hay số không như các nhà toán học hay nói? Số là một khái niệm tự nhiên, hình thành từ cuộc sống. Khi Con người quyết định đứng thẳng lên thì cũng là lúc số tự đến với Con người, không cần đến sự sâu sắc và vĩ đại, vì đó chính là Cuộc sống. 2. Số 1 đương nhiên tồn tại như một số, nhưng phát hiện con số này là đơn vị lại là một phát minh vĩ đại cần đến một trí tuệ Toán học chín muồi. Số 0 vốn không phải là một số, phát hiện ra nó là sự vượt trội về kỹ năng dùng số của Con người, do đó có thể nói đó là một sáng chế kỹ thuật ghi số vĩ đại. Tuy vậy, đơn vị 1 và con số 0 đều mang tính kỹ thuật, toán học vị toán học, sinh ra để làm Toán, không có tính nhân văn có thể so sánh với phép lấy trung bình.

3. Tôi cho rằng, với một mô hình ngôn ngữ lớn không có các thuật ngữ đơn vị hoặc số 0, AI vẫn có thể tạo ra các khái niệm đó trong một tương lai không xa. Tuy nhiên, tôi không chắc AI hiện tại có thể làm điều đó với phép tính trung bình. Nói một cách khác, phép tính trung bình có tính người hơn các phát kiến toán học vĩ đại khác. Sự vĩ đại có tính người sẽ nhân văn hơn nhưng cũng mang theo cả những thói hư tật xấu của con người.

4. Trung bình sinh ra để mô tả quy luật phổ quát của tự nhiên, vì thế nó là một phát minh vĩ đại và sâu sắc. Sự phổ quát này quán xuyến một triết lý căn cội của xã hội mà cụ Khổng cố đơn giản hoá thành khái niệm trung dung, vừa ngạo mạn vừa nhút nhát, vừa có vẻ trí tuệ vừa lười suy nghĩ.
5. Có lẽ trung bình sinh ra từ bản chất tranh chấp của con người. Thú vật cũng có bản tính tranh chấp, nhưng chúng chỉ có thể giải quyết tranh chấp bằng bạo lực hoặc một năng lực nào đó tinh tế hơn gây thiệt hại và khó chịu cho đối phương, buộc các đối tượng này phải từ bỏ tranh chấp. Trong thế giới thú vật, hoàn toàn không có nhượng bộ. Con người nhanh chóng nhận ra rằng, tranh chấp theo luật thú sẽ dẫn đến phải tiêu diệt đồng loại hoặc bị đồng loại tiêu diệt.
6. Đối với kẻ mạnh, sự tồn tại của đối phương cũng cần thiết, có khi còn quan trọng hơn đối tượng mà chúng đang tranh đoạt. Điều đó để chúng không bị cô đơn khi chống lại những đối tượng thứ 3, đang rình rập để tiêu diệt cả hai bên tranh đoạt. Thế giới tồn sinh trong rừng thẳm có quy luật sinh tồn vô cùng khốc liệt. Do đó, khái niệm trung bình ra đời cùng với nhân tính, sự thoả hiệp và rộng lượng. Con người thắng được cái tôi bản năng để tới cái tôi cao quý chỉ sau khi phát minh ra trung bình.
7. Sau này, chúng ta bị nhồi sọ ở tiểu học định nghĩa trung bình cộng là phải có hai số cộng lại chia đôi. Rồi lớn lên chúng ta lại mặc cả theo bản năng “cưa đôi”, tham nhũng cũng cưa đôi lợi nhuận với doanh nghiệp đút lót “mới bền”, liên minh cộng sinh đó mới kéo dài. Thực ra đó là một khái niệm trung bình man rợ kiểu thô bạo máy móc dành cho loài thú đột nhiên được làm người.
8. Chúng ta đừng nghĩ người thượng cổ là thô sơ, thời gian trưởng thành của họ từ khi biết đứng thẳng so với thời gian trưởng thành của họ đến chúng ta gấp tới hàng chục lần. Phép trung bình của họ là một khoảng nào đó hợp lý ở giữa, người có nhu cầu hơn sẽ được phần hơn. Họ không so đo lắm về sự chênh lệch. Công bằng tuyệt đối không đòi hỏi độ chính xác. Tôi đồ rằng phép cưa đôi chỉ xuất hiện khi có sự tham dự của người thứ 3, manh nha cho xã hội, bắt đầu từ thế chân vạc. Về mặt Toán học, ngày nay người ta đã phát hiện rất nhiều khái niệm trung bình đều cho kết quả nằm ở giữa chừng, trung bình cộng không phải luôn là trung bình hay ho nhất.
9. Chúng ta thử nghĩ xem cái đẹp là gì? Đừng ngắn quá, đừng dài quá, đừng béo quá, đừng gầy quá, đừng đen quá, đừng trắng quá, môi đừng dày cộp hay mỏng dính, mắt đừng ti hí hay trợn trừng trợn trạc. Đó chính là trung bình. Có người đã viết một chương trình xử lý ảnh, đầu vào là hàng ngàn bức ảnh các cô gái xấu xí theo các kiểu khác nhau. Sau khi lấy trung bình tất cả các đường nét, màu sắc, máy tính cho ra một bức ảnh một cô gái đẹp mĩ mãn. Điều đó cho thấy cái đẹp là cái trung bình. Tôi sẽ không tranh luận về quan niệm cái đẹp của xã hội bị trung bình hoá nên bị định kiến quy định.
10. Cái Thiện khó nói hơn, do có nhiều góc nhìn. Tuy nhiên, trong nhiều hoàn cảnh, cái Thiện thô sơ trong rừng chỉ có 1-2 cá thể không còn khả thi. Một khái niệm trung bình, được gọi là trung dung, tuy không thể lượng hoá khách quan, có thể xem là giải pháp cho Thiện cho xã hội. Vì Thiện không thể lượng hoá, nên Trung dung là một nghệ thuật sống, cố nhiên cũng sẽ bị lợi dụng bởi bọn “ỡm ờ, ba phải không chính kiến” nhưng vô cùng tinh ranh nhắm đến những phần chia chác khác bẫm hơn. 11. Vì vậy biết phân biệt giữa Trung Đạo và Ba Phải là phản ánh chất lượng của con người. Tuy vậy nói cho cùng, Thiện là một khái niệm trung bình trừu tượng nằm giữa việc không dám giết một con kiến đến bạo tàn. Có thể vô cùng nhút nhát nhưng có thể vô cùng táo tợn. Nói tóm lại, nếu chỉ hô hào khẩu hiệu Thiện chẳng nói lên được điều gì. Chính vì thế Thiện hay bị tôn giáo hoặc ý thức hệ lợi dụng, vì họ có thể nhào nặn nó theo ý muốn, rồi nướng chiên hoặc hấp thành những cái bánh thơm phức theo khẩu vị của đám đông u mê nhưng vô cùng manh động, tuy tỏ ra bướng bỉnh nhưng vô cùng dễ kích động theo chủ đích.
12. Tương tự, có một điểm trung bình giữa Giả dối và Thô lỗ được gọi là Trung thực. Trước một người què hồn nhiên nói về nhảy cao, trước người đui chê bai việc không biết màu sắc, không thể gọi là Trung thực, mặc dù đó có thể thoả mãn định nghĩa Trung thực trong rừng rậm.
13. Trong thời đại truyền thông, tuy các ý kiến có nhiều màu sắc, những đều thăng giáng không đáng kể xung quanh một số tâm điểm hút rời rạc. Chúng ta sẽ gọi đó là các quan điểm quá khích. Phải nói sự quá khích có sức hấp dẫn ghê gớm. Một mặt, bản năng của đám đông là lười suy nghĩ. Đa số người săn thông tin trên mạng không phải để tìm cái mới, nâng cao hiểu biết. Thực tế họ đã có chủ ý sẵn, phần lớn hình thành từ quyền lợi, xuất thân, thói quen. Họ không đủ sức, nghị lực và không có nhu cầu xem xét chủ ý đó một cách duy lý. Thay vì tra cứu, đọc sách, tìm hiểu, nghiền ngẫm, đối chiếu thực tế, chiêm nghiệm, họ sẽ lên mạng lười biếng tìm những mảng vá để đắp vào chủ ý cho na ná một chính kiến. 14. Đừng tưởng họ đọc, nghe toàn bộ lập luận của người khác để học hỏi. Họ chỉ hơm hớp, đợi có chỗ nào phù hợp cắt vội lấy một mảnh để vá vào chỗ họ còn thiếu. Tôi không tin ở những cái gọi là kiến thức ăn liền được vá víu đó. Đã nói về Bandera tức là phải biết về cuộc đời, hành trạng, tư tưởng và tác phẩm của ông ta trước khi tôn ông ta làm anh hùng dân tộc. Cũng cần xem liệu khái niệm anh hùng đó có mâu thuẫn gì với hệ thống giá trị vốn có của mình hay chỉ muốn biến hệ thống đó thành một nồi cám lợn.
15. Đạo Trung Dung cũng như mọi phạm trù triết học có nhiều biến thể. Từ việc đi tìm chân lý đến việc trùm chăn, hay định kiến hủ lậu đều có thể nhân danh Trung Dung. Nhưng Trung Đạo như một sợi chỉ mong manh xuyên suốt, mọi minh triết đều mong manh, trong một biển vô minh. Nấu cám lợn hiểu theo cách của bọn phàm phu tục tử cũng là một phép lấy trung bình.

Thứ Sáu, 10 tháng 6, 2022

Lịch sử và căn tính dân tộc,

     1. Chúng ta thường có một niềm tin ngây thơ rằng nếu cố gắng tìm chân lý, thoát khỏi mọi định kiến tôn giáo, ý thức hệ, lịch sử sẽ trở thành một khoa học khách quan.

2. Đã đành rằng lịch sử nên dựa trên khách quan một cách nhiều nhất có thể. Tuy nhiên, lịch sử không thể nào hoàn toàn khách quan, theo tiêu chí của khoa học tự nhiên (nói cho cùng khoa học tự nhiên cũng có rất nhiều điều mặc định).
3. Có thể tạm chia 2 phong cách viết sử: Trung Quốc và Hy-La. Sử Trung Quốc có thể chia loại Truyện-Sử ký, Toàn Thư và Thực Lục, với mức độ chân thực cao dần. Mẫu mực của Hy-La gồm 3 nhà cổ điển Heredotus, Thucidides và Tacitus với phong cách gần tương tự về độ chân thực như sử Trung Quốc. Tacitus có phong cách ghi chép tỉ mỉ chính xác gần như Thực lục. Trong khi Heredotus gần với Truyện-Sử Ký.
4. Tuy Heredotus cũng nhấn mạnh tính chân thực lịch sử, nhưng ông cũng nhận ra rằng trong lịch sử có những khoảng tối và tranh tối tranh sáng không thể nào làm rõ. Tôi nhớ một lần lái một chuyển xe tải một mình vào lúc 4 giờ sáng tới vùng biên giới ba tiểu bang New York-New Jersey-Pensylvania. Nơi đây là chân rặng núi Apalachia hùng vĩ, dọc theo những khe nước lớn, tuyệt đẹp, lúc ẩn lúc hiện, trong tranh tối tranh sáng trước bình minh. Tôi chợt nhận ra rằng lịch sử bắt đầu bằng những bút ký mà ở đó cách nhìn cá nhân có vai trò quyết định. Nếu như vậy, con người đi tìm chân lý lịch sử sẽ luôn có những cách nhìn của riêng mình.
3. Chúng ta không thể bắt các sự kiện lịch sử lặp lại như trong khoa học tự nhiên để kiểm chứng. Vì vậy, luôn cần có những giả thiết bổ sung. Các giả thiết này phụ thuộc vào nhãn quan, trực cảm của người viết và người cảm nhận lịch sử. Và cũng có những quy tắc và mỹ học của nó. Lịch sử cũng phải mở cho các khoa học khác vào để mô phỏng kiểm chứng, khi chúng ta "giải thích" xã hội, tự nhiên bằng lịch sử. Và ngược lại các ngành khoa học khác cũng đưa đến cách nhìn mới về lịch sử.
4. Chính vì thế các sử gia đương đại luôn có những phóng chiếu của mình về lịch sử vào các vấn đề đương đại. Vì vậy lịch sử sẽ là đề tài có thể khai thác mãi mãi. Người ta có quyền làm điều này vì rất nhiều sự kiện, thời kỳ lịch sử không đủ sử liệu để tái hiện một bức tranh hoàn chỉnh và có ích. Việc bổ sung vào các trực quan hoặc ý đồ khác nhau sẽ có những bức tranh khác nhau. Vấn đề của lịch sử không phải là bức tranh nào đúng hơn bức tranh nào mà là trực cảm lịch sử và liên tưởng tới các vấn đề hiện tại, hoặc các giá trị tinh thần lâu dài. Có những tiêu chuẩn mĩ học cho trực cảm lịch sử, chứ không phải là mọi lựa chọn bừa bãi là bình đẳng. Cũng như con người ta bình đẳng nhưng sẽ có vấn đề nếu coi một cách hành xử man dại ngang hàng với cách hành xử văn minh.
5. Chúng ta hãy suy nghĩ tiếp về quy luật vận động của các trực cảm lịch sử. Điều gì chi phối quy luật này? Có thể có nhiều yếu tố khác nhau, nhưng tôi muốn nhấn mạnh tới sự hình thành căn tính dân tộc, bởi có lẽ đây là động lực quan trọng và cũng đầy cạm bẫy nhất.
6. Đặc trưng quan trọng thứ hai của lịch sử là làm bệ đỡ cho căn tính của dân tộc. Các dân tộc có thể cùng phát triển đến một điểm đến, ở một nền văn minh có thể giống nhau và có thể cùng một xuất phát điểm ở châu Phi, Lưỡng Hà, hay ở chân Hy Mã Lạp Sơn, châu thổ sông Hồng hay sông Hoàng. Sự khác biệt rõ ràng không chỉ phụ thuộc vào điểm đầu hay điểm cuối mà còn phụ thuộc vào con đường nối giữa hai điểm đó. Đó chính là lịch sử và tạo ra một căn tính khác biệt. Và sự khác biệt sẽ quyết định bước đường tiếp theo. Điều đó không chỉ đúng cho một dân tộc mà còn đúng cho mỗi con người.
7. Có rất nhiều yếu tố ngẫu nhiên quyết định bước đi lịch sử của một dân tộc. Nhưng cũng có những lựa chọn tạo nên căn tính dân tộc. Lựa chọn như thế có thể tạo nên bi kịch, anh hùng ca hoặc một may mắn trường tồn. Điều trớ trêu của lịch sử là phần lớn các lựa chọn đều ngẫu nhiên. Nhưng đôi khi có những con người, có những thời điểm, có thể có các lựa chọn có tính quyết định, tạo thành sự bại vong hay vinh quang của dân tộc.
8. Lựa chọn thường phải dựa trên một hình dung về căn tính dân tộc cần hướng tới. Những dân tộc có tính cách yếu ớt, không hợp xu thế đều phải trả giá, có khi phải diệt vong. Người ta nói tính cách đẻ ra số phận chính là như thế. Sự lựa chọn này đôi khi phải quằn quại, đau khổ, rất nhiều rủi ro và hung hiểm.
9. Từ thời Lý chúng ta đã lập quốc nhờ một căn tính cơ bản nào đó và có được một bộ sử phần lớn dựa trên dã sử, có thể là sự sáng tạo của một vài người và được chấp nhận như một khế ước cộng đồng đầu tiên. Tuy nhiên vài trăm năm sau, tới tận thời Trần, Hồ, Lê, căn tính này vẫn phải tiếp tục hình thành và vẫn còn dẫn tới ngoại xâm, phân tranh để căn tính này ngày càng vững chắc hơn.
10. Căn tính dân tộc tốt là một căn tính vững chắc nhưng phải đủ mềm dẻo và linh hoạt, có độ dung sai tốt, có thể kiện toàn và thích ứng. Một căn tính dân tộc quá cứng rắn trở thành tinh thần dân tộc chủ nghĩa quá khích, trong trường hợp may mắn thì làm đất nước mãi đóng cửa lạc hậu , trường hợp xấu hơn có thể tan đàn sẻ nghé, chiến tranh địch họa liên miên.
11. Tôi không lo lắng với sự đe dọa từ ngoại bang. Những người phóng đại nguy cơ đó đều có một giáo điều gì đó muốn áp đặt cho đám đông. Chúng ta đã mệt mỏi với quá nhiều giáo điều khác nhau để có thể tập trung vào vấn đề chính. Vì sao các nước nhỏ như Lào, Sing, Thụy Sĩ,... vẫn trường tồn trong hoàn cảnh ly loạn? Một nước lớn như Việt Nam với căn tính mạnh mẽ với các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm chắc chắn không dễ dàng bị bắt nạt trong hoàn cảnh hiện tại. Điều tôi suy nghĩ nhiều hơn là bước đường phát triển của căn tính này trong tương lai. Rõ ràng dân tộc ta chưa phải là một dân tộc may mắn, hạnh phúc. Có lẽ vì căn tính này chưa ổn định, hay ở một thái cực khác: quá cứng nhắc, chưa đủ linh hoạt để phát triển. Suy cho cùng hai thái cực đó chính là hai mặt của một vấn đề. Có thể chính nó đang có rất nhiều biến tướng khác thời sự hơn mà tôi không có thời gian đi vào chi tiết.

Căn tính và bi kịch của một dân tộc

  1. Trong "Bi kịch của Trung Âu", Milan Kundera cho rằng bi kịch của Trung Âu là việc đi tìm căn tính Âu châu chống lại thể chế toàn trị phương Đông. Các dân tộc nhỏ ở Trung Âu phải vật lộn để xác lập căn tính đó. Ông cho rằng đế chế Áo-Hung đã từng là một giải pháp khả dĩ và bền vững để hình thành một quốc gia đa sắc tộc, mà mỗi dân tộc nhỏ sẽ đóng góp bản sắc vào quốc gia lớn mà không làm mất bản sắc của mình. Ông đúng khi cho rằng Trung Âu đã đóng góp những giá trị tốt đẹp nhất và to lớn cho Âu Châu.

2. Tuy vậy Kundera có phần cục bộ khi hạn chế ở Trung Âu, ước muốn hội nhập với châu Âu có cả ở Ukraina, Belorussia, Bulgaria và Nga, mà theo ông là "một thế giới khác". Bản chất hội nhập với Âu Châu là khát vọng tới văn minh, vươn tới những giá trị của Âu châu đã xây dựng được từ kỷ nguyên Bừng sáng, Phục hưng và thời đại của các nhà hiền triết. Về khía cạnh đó, những tư tưởng gia cấp tiến của Á châu từ Nhật Bản, Trung Quốc tới Việt Nam cũng đã từng mong ước. Âu hóa chính là con đường thay đổi số phận dân tộc chống lại tư duy mơ hồ, ý thức hệ phong kiến phương Đông.
3. Trong "Bi kịch của Ukraina", Nicolai Petro cho rằng bi kịch của Ukraina bắt nguồn từ sự chia rẽ của dân tộc này trên con đường đi tìm căn tính của dân tộc. Sự chia rẽ này đã được Samuel Huntington, tác giả của "Sự va chạm giữa các nền văn minh" mô tả như "một dân tộc đứt gãy". Chừng nào một dân tộc còn chưa thống nhất được về căn tính của mình để hình thành một quốc gia có căn tính, sự tồn tại của dân tộc đó còn nhiều rủi ro. Trong giai đoạn hình thành căn tính dân tộc đó, thường có một thế cân bằng để bảo đảm tính ổn định của cộng đồng, thể hiện bằng "tập quán" và "pháp lý".
4. Bi kịch bắt đầu từ việc các cá nhân lãnh đạo hoặc tầng lớp elite duy ý chí muốn xé bỏ các thể chế tập quán và pháp lý, và đưa quốc gia vào một trạng thái mất cân bằng, ở đó các phía đối lập không thể đối thoại để lập lại cân bằng mới, vì thế tiến tới tình trạng bất ổn. Richard Lebov, trong cuốn "Tầm nhìn chính trị bi thảm" dựa trên phân tích của sử gia Hy Lạp cổ đại Thucydides về chiến tranh huynh đệ tương tàn giữa Sparta và Athens, bắt nguồn từ ý muốn bướng bỉnh của Pericles đã làm chiến tranh không thể tránh khỏi, khi ông phá vỡ mọi cơ hội đối thoại bằng cách vi phạm các thể chế về tập quán và pháp lý. Điều đó có thể đúng phổ quát và đặc biệt cho trường hợp của Việt Nam vào thời Hồ-Hậu Trần và Ukraina hiện nay.
5. Chúng ta thường ngây thơ cho rằng ý thức dân tộc của Việt Nam đã xác lập từ thời vua Hùng, tồn tại hiển nhiên suốt nghìn năm Bắc thuộc. Việc Hai Bà Trưng, hai anh em họ Triệu, Mai Thúc Loan, Lý Bí, Triệu Quang Phục nổi dậy, không có nghĩa là dân tộc Việt đã có một căn tính. Chúng ta thường cho rằng họ Khúc, họ Ngô hay họ Đinh đã xác lập một quốc gia. Rồi đến nhà Tiền Lê, nhà Lý, nhà Trần, chúng ta cũng cho là Đại Việt đã là một dân tộc ổn định và thống nhất. Thực ra không phải vậy, động lực phân liệt vẫn còn là bản năng xuyên suốt, sau thời Ngô, lại có 12 sứ quân. Đời Đinh, Tiền Lê, các địa phương vẫn liên tục nổi dậy. Suốt thời Lý cho đến tận thời Trần, các địa phương vẫn chưa có một ý thức về một quốc gia thống nhất, vẫn còn phân biệt Kinh và Trại, với văn hóa, ý thức hệ, thiết chế cai trị riêng. Kể cả thi cử cũng phải chia Kinh và Trại. Sử ghi nhận, trong các đợt Chế Bồng Nga và Bí Cai mang quân đánh Đại Việt, dân Trại từ Thanh Hóa trở vào trong, hưởng ứng "phần đông theo giặc". Đến thời Trương Phụ, Hoàng Phúc sang xâm lấn Đại Việt, các phụ lão Bắc Hà (Kinh) ký vào tờ tâu xin nội thuộc vào bản đồ Trung Quốc, trở thành quận huyện. Vì thế nhà sử học Mỹ Keith Taylor trong cuốn "Sự hồi sinh của Việt Nam" cho rằng phải tới thời Hậu Lê mới hình thành Việt Nam như một quốc gia.
6. So sánh với Lịch sử của Hy Lạp và cách nhìn bi kịch của Lebov, chúng ta có thể thấy cải cách của Hồ Quý Ly mang tính duy ý chí, phá vỡ sự cân bằng nội tại của cộng đồng Đại Việt và mâu thuẫn Kinh và Trại đã không còn cơ hội dàn xếp. Trong khi Hoàng Hối Khanh, Đặng Tất, Nguyễn Cảnh Chân xây dựng một giải pháp liên minh với Chiêm Thành, Trần Thiêm Bình, Mạc Thúy, Mạc Viễn, Lương Nhữ Hốt dẫn đường cho quân Minh vào nước ta, cha con Hồ Quý Ly hoàn toàn bất lực và chỉ làm cho hai khối ngày càng chia rẽ.
7. Theo Petro, việc loại bỏ Tổng Thống Yanukovich là bước cuối làm mất cân bằng giữa "hai Ukraina". Sau đó dẫn tới ba quan điểm về khủng hoảng dân tộc của Ukraina. Quan điểm thứ nhất, đa số là ở miền Nam và miền Đông Ukraina, cho rằng mâu thuẫn không thể hóa giải nếu chính phủ vẫn còn cho rằng 1/3 đất nước là những kẻ gián điệp cho ngoại bang. Quan điểm thứ hai cho rằng những kẻ nổi loạn ở Donbass là phản quốc, cần phải có chiến thắng quân sự quyết định trực diện đối với Nga, là thế lực hậu thuẫn. Quan điểm thứ ba, là của phe Tổng thống Poroshenko, cũng cho rằng Nga đứng đằng sau sự rối loạn, nhưng không tin rằng có thể giải quyết bằng quân sự. Quan điểm này cho rằng, cần từng bước tăng áp lực của phương Tây để Nga phải trao trả Crimea và Donbass.
8. Điều quan trọng nhất là đối thoại, thiết lập giải pháp cân bằng và dung hòa được các xung đột. Tuy nhiên, giới lãnh đạo của Ukraina, thể hiện ở các Tổng thống và thực hiện ý chí của giới elite đã làm tất cả các biện pháp có thể để tăng xung đột đến trạng thái không thể đối thoại bằng cách xóa bỏ "tập quán" thông qua việc thay đổi các địa danh, cấm sử dụng tiếng Nga, lưu hành văn hóa Nga, và xé bỏ "pháp lý" bằng các liên tục xóa bỏ các điều khoản đã cam kết trong Thỏa thuận Minsk 1 và 2, cũng như những điều luật có tác dụng gìn giữ sự cân bằng. Bên cạnh đó việc dung dưỡng cũng như tôn vinh các giá trị dân tộc chủ nghĩa quá khích và đáng ngờ cũng như bỏ thêm dầu vào lửa.
9. Điều đó không có nghĩa là biện minh cho động cơ xâm lược của Nga hay nhà Minh. Tuy nhiên, đó là hệ quả tất yếu khi tầng lớp lãnh đạo và elite tự tay phá hủy công cuộc đi tìm căn tính cho dân tộc mình. Phân liệt thì không thế hình thành căn tính khi dân tộc như một cộng đồng thống nhất còn non nớt. Một dân tộc không có căn tính, nếu có thể sống hòa bình thì chỉ vì may mắn và phụ thuộc vào lòng tốt viển vông của láng giềng.

Thứ Ba, 12 tháng 4, 2022

Chân Thiện Mỹ và quy tắc ứng xử

    Chân Thiện Mỹ là nội dung chính của Triết Học, thường bị quy giản về Đạo Đức học, một phần nhỏ của Triết Học. Trong cuộc sống, chúng ta còn có cách hiểu giản lược hơn nữa: Chân là cái Đúng; Thiện là cái Tốt; Mỹ là cái Đẹp. Những khái niệm này đều tương đối, chủ quan. Ngày nay chúng đã trở nên đa dạng và phải linh hoạt trong một xã hội đa nguyên, đa văn hoá, hội nhập và nhân bản.

Chân Thiện Mỹ vẫn còn đó. Chúng ta không đa sự cần lật nhào Triết Học. Tuy vậy, các khái niệm này cần có nội hàm mới. Thay vì nhồi sọ cho trẻ em và những người xung quanh hiểu về cái Đúng của bản thân ta, thực ra nhiều khi rất mâu thuẫn và bất nhất, trong một môi trường xã hội đang vận động, Chân phải cho con người phương pháp để phân biệt Đúng-Sai, Thực Giả, Thị Phi, thay vì áp đặt quan niệm của cá nhân. Thiện sẽ là phương pháp chọn nguyên tắc phân biệt Thiện Ác trong câc hoàn cảnh khác nhau, để biết thông cảm với tính người yếu đuối, sự phi lý và bất hạnh của kiếp nhân sinh. Mỹ là việc dạy cho con người cách thưởng thức để có thể hướng tới những cái đẹp khác nhau và biết tôn trọng các tiêu chuẩn đẹp xấu ở những nền văn hoá khác.
Nhưng như vậy liệu có phức tạp quá hay không? Hay liệu việc phải nấu một nồi lẩu các giá trị trái ngược có khả thi hay có ích lợi gì không? Trước hết, cần phải nhận thức được rõ ràng cái gọi là phức tạp, cái trái ngược chỉ là các ảo giác của tư duy, gắn liền với một cách nghĩ cũ. Đối với một người già 70 vào những năm 80 của thế kỷ trước nhạc Rock quá phức tạp, lối sống hippy quá trái ngược với các tiêu chí về đạo đức. Ngày nay trò chơi Pokemon cũng quá phức tạp với một số người, các giá trị trên mạng xã hội cũng có vẻ như trái ngược. Nói chung lớp người không chịu thay đổi thường vấp phải vấn đề và hay bức xúc với những điều được gọi là phức tạp. Họ cũng thường thấy những điểm trái ngược ở những chỗ chẳng có trái ngược gì. Nghệ thuật vị nghệ thuật và vị nhân sinh không hề có mâu thuẫn. Con gà hay quả trứng có trước là một câu hỏi vô nghĩa. Các quan điểm chính trị của những người bạn không thể là mâu thuẫn giai cấp, mà chỉ là ảo giác. Cải cách thường dễ chấp nhận với lớp trẻ, bình dân, học trò, khó khăn với người già, giới tinh hoa, các vị thầy, những người có nhiều cái để mất. Nói như vậy không có nghĩa người già, tinh hoa, vị thầy là những thứ đáng bỏ đi. Trái lại, những người lớn tuổi, tinh hoa, lương sư, cho dù hiếm hoi, nếu ủng hộ cải cách thì vô cùng quý giá, sẽ tác dụng to lớn, vĩ đại và đáng tôn trọng gấp bội.
Nhưng trong xã hội, việc thay đổi cách tiếp thụ Chân Thiện Mỹ sẽ cần phải thực hiện thế nào? Cốt lõi của vấn đề là phải chuyển từ Quy tắc đánh giá sang Quy tắc ứng xử. Thế hệ trẻ sẽ không còn nói cơm Trung Quốc ngon hơn cơm Ấn Độ để phải cãi nhau vô bổ như những người già trước đây. Họ đã biết cách ứng xử tốt hơn để chọn cơm Ấn Độ và thưởng thức nó một cách tốt nhất, mặc dù họ sinh ra trong một nền văn hoá thích cơm Trung Quốc.
Code of conduct- Quy tắc ứng xử có hai ưu thế vượt trội so với quy tắc đánh giá. Thứ nhất, trong những hoàn cảnh hoàn toàn mới, Quy tắc đánh giá có thể sẽ có nhiều phương án mâu thuẫn. Khi đó việc lựa chọn sẽ phụ thuộc vào những yếu tố ngẫu nhiên. Như vậy, cộng đồng sẽ sinh mâu thuẫn, mất phương hướng hoặc mất thời gian tranh cãi hoặc chính trị hóa mọi vấn đề. Thứ hai, khi có nhiều phương án có cùng một giá trị, con người sẽ phải phân vân không biết chọn phương án hiệu quả, thực tế nhất, lãng phí thời gian và cơ hội. Quả thực trong thực tế, nhiều việc có thể làm ngay chúng ta lại phân vân, nhiều việc ngu xuẩn lại dễ dàng đồng thuận mà không nghĩ ngợi gì.
Quy tắc ứng xử đơn giản chỉ là đặt câu hỏi hành động có phù hợp với các quy tắc ứng xử hay không. Nếu phù hợp, con người được tự do sáng tạo để hành động không bị ràng buộc bởi đánh giá dè bỉu của người khác hay các định kiến lỗi thời ngu dốt.
Một cộng đồng tôn vinh tự do và giá trị của cá nhân, quy tắc ứng xử sẽ là hành động vì sự tự do và không làm tổn hại đến giá trị riêng của các nhóm người dù là họ yếu thế, thiểu số hoặc không may mắn.