1. Hỏi kiểu Triết học tức là sẽ không có câu trả lời, vì một câu trả lời sẽ lại sinh ra nhiều câu hỏi khác. Hôm nay chúng ta hỏi đáp về Ngã theo kiểu triết học, là vấn đề tri thức của nhân loại chưa thể trả lời. Tôi không nói là sẽ không bao giờ có thể trả lời vì chưa biết con người có khả năng nghĩ ra những điều gì, khi họ trở lại quan tâm tới bản thân mình nhiều hơn. Bây giờ bàn về Ngã thì chỉ có thể giới hạn vấn đề kiểu như Ngã không phải là mắm tôm hay nước hoa Độc dược. 2. Ngã chính là Cái Tôi. Vậy thì ... Cái Tôi là cái gì? Sao hỏi lẩn thẩn thế? Ờ thì buồn hỏi chơi cho vui. Nếu bạn đặt câu hỏi này hoặc quan tâm đến câu trả lời tức là bạn có xu hướng trở thành triết gia. Bởi vì triết học là nghệ thuật đặt những câu hỏi lẩn thẩn nhất. Mà không có câu hỏi nào lẩn thẩn bằng câu hỏi này. Nó lẩn thẩn ở chỗ câu hỏi này liên quan đến mọi thứ, nhưng không có câu trả lời cuối cùng. Tôi cũng không hiểu tại sao triết có nghĩa là khôn ngoan, mà lại viển vông như thế.
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhàn đàm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhàn đàm. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Năm, 1 tháng 10, 2026
Câu hỏi triết học về Ngã
2. Đưa ra một định nghĩa về Ngã, để mọi người kể cả các nhà tu hành, triết gia, nhà kinh doanh, phụ nữ cùng có thể chấp nhận là một việc không thể. Nhưng tôi có thể đưa ra một vài dấu hiệu của Ngã. Nếu có ham muốn, suy nghĩ, cảm xúc tức là Ngã đã tồn tại, như là chủ ngữ của các hành động tham-sân-si. Tại thời điểm xảy ra các hành động này sẽ tồn tại chủ thể của hành động, đó là Ngã. Ai muốn, ai nghĩ, ai cảm? Đó chính là Cái Tôi của ai đó. Ngã có thể chính là Tham Sân Si hay rộng hơn, chứa đựng Tham Sân Si. Đó là một câu hỏi hợp thể thức (valid) hay không? Tôi không biết. Ví dụ các dân tộc khác nói "mưa" hay "nó mưa" mà chẳng cần biết nó là ai, chúng ta nói "trời mưa", gán ngay cho hành động một chủ thể là ông trời. Ông trời có tồn tại không, đến bây giờ vẫn cãi nhau. Schrodinger nói là có liên quan đến Ngã.
3. Nói một cách khác vì chúng ta chưa thể định nghĩa Ngã, rồi sau đó coi Tham Sân Si là hệ quả của chủ thể đó như khoa học, triết học và đa số tôn giáo đã làm. Do đó chúng ta sẽ định nghĩa từng mảnh của Ngã dựa trên "dấu tích" bằng hành động của nó. Chúng ta sẽ cố gắng suy nghĩ trung lập không bị ảnh hưởng bởi định kiến tôn giáo, triết học hay khoa học nào, trước khi có lý do bắt buộc phải chấp nhận một điều gì đó và sẽ nói rõ ra.
4. Nếu Ngã được định nghĩa tại thời điểm xảy ra hành động Tham Sân Si, thì liệu sự tồn tại của Ngã có chấm dứt sau khi các hành động Tham Sân Si kết thúc? Hay nói cách khác, nếu định nghĩa Ngã bằng hành động Tham Sân Si, thì nếu có hai hành động Tham Sân Si ở thời điểm xa nhau chẳng hạn từ vài năm đến mấy chục năm, khi cường độ ảnh hưởng của mọi hành động đã phai nhạt so với vô số ảnh hưởng khác thì liệu chủ thể của các hành động Tham Sân Si là của 2 Ngã hay của một Ngã. Nghe thì có vẻ viển vông mơ hồ, nhưng bắt đầu triết lý rất thâm sâu, ứng dụng rộng rãi trong đời sống đấy nhé.
5. Chắng hạn, nếu Tôi uống rượu, hút xách, gái gú hôm nay, nếu chưa bị trừng phạt ngay, mà phải nhiều năm sau mới chịu hậu quả. Nếu là Cái Tôi khác, thì can cớ gì tôi phải quan tâm, cứ nhậu nhẹt cho đã đời đã, thằng khác chịu, cứ biết hôm nay tôi hưởng thụ chẳng ai phạt. Tuy không nói ra, nhưng rất nhiều người sống theo cách này, cũng là chọn một trường phái triết học Vô Ngã đỉnh cao gọi là Chủ nghĩa Khoái lạc.
6. Nếu Ngã phù du như vậy, sẽ không có chuyện học tập, tu tập cho thằng khác hưởng cho dù có được là Einstein hay Gautama. Ấy nhưng tất cả những cái Ngã dựa trên các hành động khoảnh khắc đó được kết nối lại thành một cái Ngã chung cho cả một kiếp sống. Nghĩa là thằng bé lếu láo trốn học không vào Đoàn cách đây mấy chục năm cũng chính là Tôi, và lão già sau đây mấy chục năm suốt ngày rên rỉ đau xương cốt cũng chính là Tôi. Tôi hôm nay sẽ phải gánh hậu quả do thằng bé đó để lại và phải lo cho xương cốt của lão già tương lai, bởi vì chúng tôi cùng chia sẻ một Ngã chung. Phiền toái ngứa tiết thế không biết.
7. Cũng phải thật thà ra mà nói, tôi vẫn nhớ những gì tôi làm năm 3 tuổi, kể cả những điều bậy bạ nhất như ăn rỉ mũi. Vì vậy ký ức là gian tế bắt tôi chịu hậu quả của thằng bé ăn rỉ mũi, nếu có pháp luật quy định hình sự cho hành vi ăn rỉ mũi đáng xấu hổ.
8. Tuy vậy, ký ức khó mà đem ra để minh định cho cái Ngã. Tôi có cô bạn thân hồi lớp 1, đến khi gặp lại nhau năm 30 tuổi, cô ta không nhớ tôi là ai. Vậy thì có phải chính cô ta nắm tay tôi đi qua vườn hoa ngày xưa hay không? Cố nhiên chúng ta không thể vin vào trách nhiệm của thể xác, vì sau ngần đó năm, tuyệt đại đa số các tế bào và tất cả các phân tử trong cơ thể đã thay sạch.
9. Nhà Phật, tuy chủ trương không có Cái Tôi, đã cung cấp một giải pháp tinh tế, là mỗi hành động của chúng ta đều để lại "dấu tích" hay Nghiệp. Dấu tích đó có thể lưu trong bộ nhớ như tôi, nhưng cô bạn tôi cũng không thể trốn trách nhiệm, mà đều lưu trong một bộ nhớ gọi là Tư Thức (Hay Mạt Na thức).
10. Tâm lý học của Tây, gọi là tiềm thức, tức là hành vi nắm tay vẫn còn đâu đó, người quên chỉ không truy cập lại được thôi. Theo Freud, tiềm thức chính là các ký ức bị đè nén đến mức ý thức không còn nhớ đến nó, nhưng nó vẫn tác quái khi ta hàng động, quyết định.
11. Tôi có bà chị rất thân, khi chơi với nhau, gặp nhau hàng ngày không nhớ ra, nhưng sau mấy chục năm mới "chợt nhớ" là đã biết nhau từ trước, còn nhớ cả hình ảnh cụ thể khi tôi còn là một chú nhóc 7 tuổi ngồi bệt ở cầu thang nhà chị ấy. Không biết có cảm tình riêng gì với cậu bé ấy không mà nhớ được.
12. Chúng ta sẽ gọi cái Ngã xuyên suốt qua kiếp sống đó là Sinh Ngã, mặc dù nhà Phật cho đó là giả Ngã với một ý đồ rõ ràng để giải nguy cho giáo lý. Suy cho cùng giả hay thật cũng là danh pháp đặt tên để phục vụ ý đồ triết học khác mà thôi, không có gì quan trọng. Anh gọi là giả tôi có thể gọi là thật, người Nga có thể "nhét nhe", người Mỹ có "nỏ",.... Sinh Ngã cùng có thể mở rộng thành Linh hồn, được kết nối xuyên qua nhiều kiếp sống. Cho dù nhà Phật chủ trương Vô Ngã, nhưng vẫn nói có kiếp sau lên Niết bàn, đọa địa ngục, hay luân hồi thành người hoặc cái gì đó. Vậy thì cái gì luân hồi? Thằng cha bị đọa địa ngục hay lên Niết bàn có liên quan gì đến tôi? Nếu tôi quan niệm chết là hết chuyện, thì lo gì chuyện bao đồng của cái thằng chẳng nhớ tôi là ai, cũng như tôi chẳng nhớ thằng nào gây nghiệp để kiếp này tôi không được như Ronaldo.
13. Đạo Phật lại phải cố phát minh ra một cơ chế để lấp vào chỗ này (không phải Gautama nhé). Mỗi lần chúng ta làm bậy hay làm tốt không những chúng ta tạo Nghiệp trong Tư Thức mà còn gieo một mầm Nghiệp vào một bộ nhớ gọi là Tàng Thức (hay A Lại Da). Chính Tàng thức sẽ chuyển các mầm nghiệp này cho các kiếp sau và kết nối Sinh Ngã của các kiếp cho dù có nhớ về nhau trực tiếp hay không.
14. Đó chính là Linh hồn, là kết nối các kiếp, và tồn tại tiếp tục hành trình sau khi chết. Tôi nghĩ rằng nếu chúng ta đã có thể kết nối các Ngã khoảnh khắc thành một Sinh Ngã cho một kiếp người thì cớ sao không thể kết nối các kiếp. Sự khác biệt chính là ký ức dù dưới dạng ý thức hay tiềm thức. Tuy nhiên, biết đâu chẳng có một siêu tiềm thức, tiếp tục chôn các ẩn ức vào một nơi nào đó để tiếp tục ảnh hưởng đến hành vi, số phận của các kiếp sau.
15. Như vậy, Đạo Phật dù nói không có Linh hồn mà vẫn công nhận một cơ chế mà chúng ta vẫn gọi là Linh hồn. Tất nhiên, Linh hồn có ích lợi là chúng ta không thể làm bậy phi tang, và nếu kiếp này không trả thì mầm nghiệp không quên, sẽ được gieo vào Tư thức của Sinh Ngã trong kiếp sau. Tôi cho rằng khái niệm Linh hồn đó vừa thú vị về nhận thức, vừa có ích giữ ổn định xã hội. Tất nhiên, chúng ta có thể chọn triết lý phủ nhận sự liên quan tới kiếp sau và kiếp trước của mình như những người duy vật. Tôi nghĩ chẳng có gì trí tuệ hay đạo đức gì ở đây, chỉ là lựa chọn thôi. Thậm chí lựa chọn kiểu cơ hội: khi thì duy vật khi thì duy tâm khi thì duy linh cũng chẳng sao.
16. Niềm tin ở sự tồn tại của Linh hồn chính là Tâm Linh. Tất cả các tôn giáo đều tin ở Linh hồn hoặc ở một cái gì đó mà ta có thể gọi là Linh hồn như Đạo Phật. Tôi thích cách các triết gia Hy Lạp đi đến Linh hồn: Linh hồn chính là tinh chất, bản thể của Con người, đứng đằng sau thể xác vật chất. Plato cho rằng Linh hồn mới là thực tại trong một thế giới của các Dạng thức. Chúng ta từ đó tới và trở về đó. Những gì chúng ta thấy ngày hôm nay đều là bóng hình của thực tại thật, mà chúng ta chỉ có thể nhận thức đến thế thôi, vì chúng ta giống như những tên tù bị xiềng xích bởi nhận thức hạn hẹp trong hầm giam.
Thứ Ba, 12 tháng 4, 2022
Chân Thiện Mỹ và quy tắc ứng xử
Chân Thiện Mỹ là nội dung chính của Triết Học, thường bị quy giản về Đạo Đức học, một phần nhỏ của Triết Học. Trong cuộc sống, chúng ta còn có cách hiểu giản lược hơn nữa: Chân là cái Đúng; Thiện là cái Tốt; Mỹ là cái Đẹp. Những khái niệm này đều tương đối, chủ quan. Ngày nay chúng đã trở nên đa dạng và phải linh hoạt trong một xã hội đa nguyên, đa văn hoá, hội nhập và nhân bản.
Chân Thiện Mỹ vẫn còn đó. Chúng ta không đa sự cần lật nhào Triết Học. Tuy vậy, các khái niệm này cần có nội hàm mới. Thay vì nhồi sọ cho trẻ em và những người xung quanh hiểu về cái Đúng của bản thân ta, thực ra nhiều khi rất mâu thuẫn và bất nhất, trong một môi trường xã hội đang vận động, Chân phải cho con người phương pháp để phân biệt Đúng-Sai, Thực Giả, Thị Phi, thay vì áp đặt quan niệm của cá nhân. Thiện sẽ là phương pháp chọn nguyên tắc phân biệt Thiện Ác trong câc hoàn cảnh khác nhau, để biết thông cảm với tính người yếu đuối, sự phi lý và bất hạnh của kiếp nhân sinh. Mỹ là việc dạy cho con người cách thưởng thức để có thể hướng tới những cái đẹp khác nhau và biết tôn trọng các tiêu chuẩn đẹp xấu ở những nền văn hoá khác.
Nhưng như vậy liệu có phức tạp quá hay không? Hay liệu việc phải nấu một nồi lẩu các giá trị trái ngược có khả thi hay có ích lợi gì không? Trước hết, cần phải nhận thức được rõ ràng cái gọi là phức tạp, cái trái ngược chỉ là các ảo giác của tư duy, gắn liền với một cách nghĩ cũ. Đối với một người già 70 vào những năm 80 của thế kỷ trước nhạc Rock quá phức tạp, lối sống hippy quá trái ngược với các tiêu chí về đạo đức. Ngày nay trò chơi Pokemon cũng quá phức tạp với một số người, các giá trị trên mạng xã hội cũng có vẻ như trái ngược.
Nói chung lớp người không chịu thay đổi thường vấp phải vấn đề và hay bức xúc với những điều được gọi là phức tạp. Họ cũng thường thấy những điểm trái ngược ở những chỗ chẳng có trái ngược gì. Nghệ thuật vị nghệ thuật và vị nhân sinh không hề có mâu thuẫn. Con gà hay quả trứng có trước là một câu hỏi vô nghĩa. Các quan điểm chính trị của những người bạn không thể là mâu thuẫn giai cấp, mà chỉ là ảo giác. Cải cách thường dễ chấp nhận với lớp trẻ, bình dân, học trò, khó khăn với người già, giới tinh hoa, các vị thầy, những người có nhiều cái để mất. Nói như vậy không có nghĩa người già, tinh hoa, vị thầy là những thứ đáng bỏ đi. Trái lại, những người lớn tuổi, tinh hoa, lương sư, cho dù hiếm hoi, nếu ủng hộ cải cách thì vô cùng quý giá, sẽ tác dụng to lớn, vĩ đại và đáng tôn trọng gấp bội.
Nhưng trong xã hội, việc thay đổi cách tiếp thụ Chân Thiện Mỹ sẽ cần phải thực hiện thế nào? Cốt lõi của vấn đề là phải chuyển từ Quy tắc đánh giá sang Quy tắc ứng xử. Thế hệ trẻ sẽ không còn nói cơm Trung Quốc ngon hơn cơm Ấn Độ để phải cãi nhau vô bổ như những người già trước đây. Họ đã biết cách ứng xử tốt hơn để chọn cơm Ấn Độ và thưởng thức nó một cách tốt nhất, mặc dù họ sinh ra trong một nền văn hoá thích cơm Trung Quốc.
Code of conduct- Quy tắc ứng xử có hai ưu thế vượt trội so với quy tắc đánh giá. Thứ nhất, trong những hoàn cảnh hoàn toàn mới, Quy tắc đánh giá có thể sẽ có nhiều phương án mâu thuẫn. Khi đó việc lựa chọn sẽ phụ thuộc vào những yếu tố ngẫu nhiên. Như vậy, cộng đồng sẽ sinh mâu thuẫn, mất phương hướng hoặc mất thời gian tranh cãi hoặc chính trị hóa mọi vấn đề. Thứ hai, khi có nhiều phương án có cùng một giá trị, con người sẽ phải phân vân không biết chọn phương án hiệu quả, thực tế nhất, lãng phí thời gian và cơ hội. Quả thực trong thực tế, nhiều việc có thể làm ngay chúng ta lại phân vân, nhiều việc ngu xuẩn lại dễ dàng đồng thuận mà không nghĩ ngợi gì.
Quy tắc ứng xử đơn giản chỉ là đặt câu hỏi hành động có phù hợp với các quy tắc ứng xử hay không. Nếu phù hợp, con người được tự do sáng tạo để hành động không bị ràng buộc bởi đánh giá dè bỉu của người khác hay các định kiến lỗi thời ngu dốt.
Một cộng đồng tôn vinh tự do và giá trị của cá nhân, quy tắc ứng xử sẽ là hành động vì sự tự do và không làm tổn hại đến giá trị riêng của các nhóm người dù là họ yếu thế, thiểu số hoặc không may mắn.
Thứ Ba, 22 tháng 3, 2022
Đọc Thơ thế nào cho bổ ích
1. Tôi về căn bản là người thực tế và thiên về triết lý. Tôi có thú đọc thơ, không nhiều lắm đến mức si cuồng, cũng không đến mức như một chuyên gia về thơ hay người làm thơ. Tôi thấy đọc thơ thú vị và thấy có ích lợi về tư duy và cả về triết lý nếu biết cách.
2. Kể ra hướng dẫn đọc thơ với nhan đề thế này, có vẻ cũng na ná như thường thức về chiên bít tết thế nào cho ngon hay uống rượu vang thế nào để tốt cho sức khỏe, cũng hơi tầm thường hóa và xúc phạm Nàng Thơ. Nhưng quả thực Thơ là một vưu vật của Tạo hóa được Con người mặc khải, nếu không biết để thưởng thức hoặc không biết thưởng lãm đúng nghĩa thì sống hoài phí.
3. Nói cho cùng, ích lợi của đọc thơ nếu không hơn thì cũng không kém nghe nhạc, đọc sách, xem tranhm vừa sướng khoái, vừa lành mạnh, vừa rèn luyện tính thần, suy nghĩ lại kích hoạt các ý tưởng mới. Tất nhiên, tôi không có ý định bàn sâu về các ích lợi mang tính "vị nhân sinh" như làm công cụ giải trí, giao lưu ở quán bia, hay để tiếp cận các bà, các cô thích sụt sịt với tình cảm sến, hoặc làm vũ khí chiến đầu như cụ Sóng Hồng. Các ích lợi này hiển nhiên là có vì bất cứ vũ khí gì dùng để đánh được quân thù thì đối kháng với phụ nữ và bạn bè chỉ là chuyện nhỏ.
4. Các chương trình đào tạo trí thức lớp trên (elite) cả Đông-Tây, Kim-Cổ đều có dạy về thơ. Điều đó chứng tỏ đọc-học thơ có lợi cho trí tuệ. Tuy nhiên, không phải nhồi nhét bất cứ thơ ca hò vè tục ngữ nào, và đơn thuần nuốt chửng thuộc lòng là sẽ có hiệu quả bổ trí não. Không phải cứ để xã hội nhồi cho Thơ nào thì nuốt thơ ấy như nhồi vịt vỗ béo, đều sẽ tốt cho thẩm mĩ. Trong hoàn cảnh dạy Thơ ở các trường phổ thông và tôn vinh Thơ trong xã hội từ nửa thế kỷ nay đều có vấn đề, việc thưởng thức thơ thụ động, vô cảm hoặc tạo cảm xúc vay mượn, chúng ta cần biết cách bổ khuyết. Nếu đã quá muộn thì cố gắng truyền lại kinh nghiệm thất bại cho thế hệ mai sau vậy.
5. Trước hết Thơ cũng như Nhạc, quan trọng nhất là mỹ cảm. Mỹ cảm hình thành nhờ cả ở tác phẩm và khiếu thẩm mĩ (gout) của chính bạn. Gọi là “khiếu” nhưng thực ra đây là năng lực được hình thành trong quá trình tiếp thu cái đẹp, tất nhiên phần nào cũng có chút ít tố chất, tạm coi là phúc đức. Nếu bạn có lỗ tai trâu, đương nhiên có nghe nhạc Beethoven suốt ngày, tôi ngờ vào việc bạn có thể hình thành năng lực thẩm mĩ tử tế. Tương tự, dù bạn có tai nghe của Bá Nha, nhưng mỗi khi khen bài giảng của GS Hoàng Chí Bảo, bạn được thưởng kẹo, và mỗi khi khen nhạc Chung Tử Kỳ phải lĩnh một cái tát, nếu bạn giữ được năng lực thẩm mĩ sau vài chục năm, tôi cho bạn là siêu nhân.
6. Dù bạn làm nghề gì, gout là cái quyết định tài năng của bạn. Nếu bạn dốt Toán hay tiếng Anh, bạn có thể kiên nhẫn, ai đó sẽ giúp bạn cải thiện. Nếu bạn có gout tồi, đó sẽ là tuyệt vọng, không ai muốn phí thời gian với bạn. Một GS một năm công bố hàng loạt công trình na ná nhau không thể nói là dốt, mà năng lực thẩm mĩ có vấn để. Rồi cũng sẽ chẳng đi đến đâu hay giá trị nào đáng kể cả. Not even wrong, thậm chí còn chưa được gọi là sai lầm. Cụ Khổng khuyên người đọc sách "nhật tân, nhật tân, hựu nhật tân" mỗi ngày đều phải có sự đổi mới về trí tuệ và cảm xúc.
7. Thơ rèn luyện năng lực thẩm mĩ tốt nhất NẾU ... chúng ta đọc thơ đúng cách. Thế nào là đúng cách? Chắc nhiều người sẽ nói tôi muốn áp đặt cách đọc thơ. Mỗi người một cách, chắc gì năng lực thẩm mĩ của tôi có gì hay ho, có gì hơn người. Đúng vậy, năng lực thẩm mĩ không ai giống ai và không phân định lượng hơn kém như điểm số. Tuy vậy, vẫn có những tiêu chuẩn nhất định.
8 Nghệ thuật nào cũng gắn liền với khuôn khổ. Đôi khi nghệ thuật phải phá khuôn khổ để tiến lên, nhưng nghệ thuật tồn tại nhờ sự đấu tranh giữa khuôn khổ và nội dung. Bạn tự do lựa chọn cách rèn luyện năng lực thẩm mĩ, nhưng rốt cuộc phải sinh được mĩ cảm. Và mĩ cảm đó phải phù hợp với con người thực của bạn. Xã Xệ, Lý Toét nghe nhạc giao hưởng, mặc complet không thể là mĩ cảm lành mạnh.
9. Để có mĩ cảm và tối thiểu là phân biệt thơ với hò vè, cần nắm được thi tứ. Và vì vậy, cố nhiên chỉ nên đọc các loại thơ thực sự có thi tứ. Do phương tiện biểu đạt của Thơ rất hạn chế nên thi tứ là một ngụ ý ẩn náu trong ngôn từ, không thể cắt nghĩa tường minh mà phụ thuộc vào vốn văn hoá và trải nghiệm về thơ của chính bạn tạo thành. Thi tứ giống như một bức tranh hoặc giống một làn điệu nhạc, diễn tả một ý tưởng, hình ảnh hoặc cảm xúc có sức gợi mở và liên tưởng. Gợi mở và liên tưởng càng đa dạng, càng lớn thì giá trị càng cao.
10. Như vậy, Thơ chuyển qua các trường phái Ấn tượng và Tượng trưng là tất yếu. Bạn chưa hiểu được thơ tượng trưng hoặc ấn tượng là chưa hiểu được đạo lý của Thơ. Khi các hình ảnh tả cảnh, tả tình của thơ Lãng mạn đã khai thác hết uy lực, trở nên sáo mòn. Bấy giờ Thơ trở nên nhàm chán như một ván bài domino, vần điệu và nội dung đều bị tất định đến mức không còn chỗ để người đọc có thể sáng tạo ra mĩ cảm. Đừng nghe mấy ông giáo sư văn học kiêm cán bộ tuyên truyền xã phán tầm bậy bảo Ấn tượng và Tượng trưng là sự bế tắc của văn học tư sản. Những nền thi ca trác tuyệt đều đã có tính tượng trưng và ấn tượng, và đó mới là giá trị cao nhất của thơ.
11. Như vậy, nếu thơ có được những ấn tượng tinh tế (không đơn giản) hoặc tổ hợp độc đáo của các biểu tượng, sức gợi mở sẽ lớn hơn nhiều. Khi đó thi tứ không phải là một mệnh đề, cho dù là một minh triết. Cần phân biệt thi tứ với đại ý là cái xác định, có thể tóm lược và không có sức gợi mở. Nói về đại ý của bài thơ thì cũng như mô tả sức cháy của một cây dương cầm khi đem đốt. Vì vậy kể lại bài thơ, dù là một bài trường ca là một việc phản thẩm mĩ.
12. Tìm thi tứ của bài thơ là một quá trình ngược với quá trình sáng tác từ ý thơ mà viết thành bài thơ, hay từ bố cục phác thảo tạo nên bức tranh. Nếu như mỗi nét phất, mỗi mảng, mỗi màu đều có chủ ý, thì mỗi từ, nhịp điệu, hình ảnh, âm điệu đều có chủ đích. Vì vậy, bên cạnh việc tương thông tức thời, bắt được “tần số” của bài thơ, việc giải mã tìm thi tứ rất quan trọng. Chính đây là lợi ích của việc đọc thơ. Đọc văn bản hoặc đọc ngôn ngữ cơ thể, có nhiều yếu tố thuận lợi hơn nhưng điểm quan trọng trong đọc thơ vẫn phải nắm bắt được ý sau câu chữ. Toàn bộ nhận thức của con người hơn kém nhau chỉ ở việc đọc. Đọc là lấy được thông tin cần thiết dựa trên dữ liệu đã có.
13.Theo nghĩa như vậy, có thể là do may mắn ngẫu nhiên, thơ Đường thực sự là ấn tượng và tượng trưng, có khả năng gợi mở nhiều nhất. Ngô Tùng Phong đã từng nói ngôn ngữ Trung là văn khiêu ý. Khiêu ý không tốt cho truyền đạt, mô tả chính xác nhưng cực hay cho Thơ. Tôi thấy đọc thơ Đường cực kỳ bổ ích. Có được cái thú đọc thơ Đường là một ân sủng trời cho. Đọc thơ Đường, sẽ thấy thơ ấn tượng và tượng trưng của Âu Mỹ có nhiều cái rất tương đồng.
14. Đọc thơ nói chung có lợi cho học từ và rèn luyện tư duy. Dạy thơ Việt hiện nay rất kém, không phải do số lượng giờ dạy hoặc số các bài thơ, mà chưa hề dạy cách đọc Thơ. Nếu đọc thơ tốt, bạn sẽ đọc kinh, sách và triết học dễ dàng.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)