Hiển thị các bài đăng có nhãn LỊCH SỬ NỀN VĂN MINH. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn LỊCH SỬ NỀN VĂN MINH. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 11 tháng 3, 2016

Nước Việt cổ có phải là Việt Thường

Gần đây có một phong trào tìm hiểu về gốc tích của nước Việt thời tiền sử. Cũng là một việc đáng khen và đáng cổ vũ. Tuy nhiên, cái đáng nói là một phong cách nghiên cứu tùy tiện, theo mong muốn và cảm hứng nhiều hơn. Thiết nghĩ việc tìm về cội cần có một thái độ nghiêm cẩn hơn chứ không thể tùy tiện cẩu thả như thế được. Đã đành khoa học là phải cởi mở, mọi việc trước khi kết luận đều bình đẳng. Nhưng "các công trình khoa học" như thế lại lan truyền trên khắp các phương tiện thông tin đại chúng, dùng những khẳng định chắc như đinh đóng cột, đao to búa lớn, tạo nên những định kiến cho đại chúng, trong tương lai sẽ là những ảo giác xã hội có hại.

Do đó, có lẽ phải bàn kỹ một lần. Thứ nhất, việc nghiên cứu dòng di cư của các nhóm người cổ dựa trên các nghiên cứu về gien, cho thấy có sự di chuyển của các nhóm người từ phía nam lên phía Bắc không có nghĩa là dân Trung Quốc phía Nam sông Dương tử đều là người Việt cổ. Thực ra, khi đó chưa có khái niệm người Việt. Nhóm người di cư từ phía Tây qua (Giả thiết là đã qua vùng Lưỡng Hà, Ấn Độ cũng chỉ là giả thuyết thôi, chứ chưa phải là chân lý khoa học), đã mắc lại vùng Himalaya rất nhiều thiên niên kỳ trước khi tràn xuống Miến Điện, Vân Nam. Từ đó có các nhánh di cư lên phía bắc và có nhóm tràn xuống Đông Nam Á. Phải xác định rõ, việc nghiên cứu này cũng có những hạn chế về quy mô thống kê và kết luận cũng không thể như đinh đóng cột. Việc kiến giải các kết quả này cũng cần phải có một nghiên cứu kỹ lưỡng về cơ sở của phương pháp ADN để thấy được ý nghĩa cũng như phạm vi của nó để khỏi suy luận quá xa và tùy tiện như một số tác giả đã làm. 

Điểm thứ hai, khái niệm người Việt cổ cũng cần bàn. Nhiều người Việt Nam đọc sách và cho rằng Việt là chỉ Việt Nam. Điều đó không đúng. Người Thái, người Miêu, đều là Việt. Gần đây có một số tác giả phương Tây đã giải mã Việt nữ ca trong sách Thiết uyển, cho thấy đó là tiếng Thái. Các nhà "nghiên cứu" tay ngang Việt Nam rất ngại nói tới chuyện này. Điều đáng nói hơn, chúng ta cần làm rõ các khái niệm khi dùng. Tránh việc dùng các khái niệm mờ để rút ra các kết luận sau đó lại gán cho chúng các khái niệm tường minh. Thực ra đây là một phép ngụy biện giả khoa học sơ đẳng. Trước tiên chúng ta phải nói rõ với nhau thế nào là người Việt cổ và mối liên quan của họ với người Việt Nam hiện đại, với Hùng Vương hoặc với các tộc người sống tại đồng bằng sông Hồng vào thời Đường trở về sau.

Điểm thứ ba cũng là điểm quái lạ nhất là cách đọc sách tùy tiện. Căn cứ vào sách của Trung Quốc, sau đó lại dùng để vặn lại sách Trung Quốc hoàn toàn không phân tích mà dựa trên một số kết luận theo mong muốn có sẵn.  Ví dụ điển hình là bài gần đây [1], nói chung chung mơ hồ "cổ sử Trung Quốc" nói có nước Việt Thường đến dâng rùa cho vua Nghiêu. Thực ra chằng có sử nào của Trung Quốc ghi điều đó mà chính bộ sử của Việt Nam là ĐVSKTT mới đặt ra giả thuyết Việt Thường là nước ta. Việc dâng lịch rùa được ghi trong một sách cổ nhất là Thượng Truyện được Phục Thắng soạn vào đầu đời Hán, có nghĩa là khoảng 3000 năm sau sự kiện nước Việt Thường dâng rùa cho vua Nghiêu. Sau Thượng Truyện phải đến đời Tống, cách đây chưa tới 1000 năm mới có sách Thông Chí của Trịnh Tiều ghi lại việc này. Nếu người viết không "dấu nhẹm" các chi tiết như thế để cho người đọc quyết định xem "cứ liệu lịch sử" đó khả tín như thế nào thì có lẽ không có gì đáng nói.  Sau đó có một số sách soạn vào khoảng thế kỷ 10 hoặc muộn hơn võ đoán không có căn cứ về Việt Thường là Lâm Ấp hoặc vùng Hà Tĩnh ngày nay. Đến khi soạn ĐVSKTT, các sử gia Việt Nam tùy tiện đặt Việt Thường là tên một bộ ở vùng Cửu Chân, với cứ liệu là các sách Trung Quốc nói trên, chứ hoàn toàn không có một nguồn độc lập. Một điểm có cơ sở thực tiễn là thời Hán có đặt địa danh Việt Thường tại vùng Cửu Chân nhưng gần như chắc chắn không phải theo tên một quốc gia cổ đã tồn tại từ trước ở đó.

Đặc biệt các học giả Việt nam từ Đào Duy Anh và một số nhà nghiên cứu thế hệ sau cũng đã khẳng định Việt Thường không phải là địa danh trên lãnh thổ Việt Nam. Điều đó có thể đúng do đồng bằng sông Hồng lúc đó mới hình thành, không thể có một quốc gia với mật độ dân cư đáng kể. Một số người khẳng định Việt Thường ở Trung Quốc đại thể dựa trên lý luận là với khoảng cách như vậy mới có thể giao thương với Trung Quốc cổ [2].

Các nghiên cứu mới nhất của các tác giả phương Tây, ngoài Trung Quốc cũng như của Trung Quốc cũng cho thấy Việt Thường là một từ phiếm chỉ một quốc gia ở phía Nam. Như vậy, các nước Việt Thường dâng chim trĩ trắng vào thời Chu và dâng rùa vào thời Nghiêu có thể không phải là một nước. Các văn tự về sau chỉ Việt Thường được định hình là chỉ một quốc gia có địa vực từ bắc Miến Điện tới đông bắc Ấn Độ là Assam.  Các sách Hậu Hán Thư-thiên Tây Vực ký và Tân Đường Thư- thiên Địa Lý Chí, cũng là các sách cổ Trung Quốc thậm chí xác định rõ Việt Thường nằm vào khoảng Bangladesh, Miến Điện cho đến Thượng Lào ngày nay.     

[1] http://chuvietcolacviet.vn/cosu/detail/van-minh-viet-co-%E2%80%9Cbi-danh-cap%E2%80%9D-nhu-the-nao-271.html
[2] http://www.chungta.com/nd/tu-lieu-tra-cuu/viet-thuong-thi-o-dau.html

Thứ Bảy, 27 tháng 12, 2014

Nhớ thời kỳ Phục Hưng Việt Nam

     Trên đường đi đến đích, người ta có thể trì hoãn việc rẽ ngang, nhưng sớm muộn vẫn sẽ phải rẽ một số lần nhất định, nếu con đường của họ đòi hỏi phải như thế. Tôi thường nghĩ về một thời đại Phục Hưng cho Việt Nam với hình ảnh liên tưởng này. Con người sẽ mãi mãi không trở thành người lớn và mãi sẽ sống với những thói ấu trĩ, cho dù được nhồi nhét tri thức uyên thâm đến mấy, nếu không trải qua thời kỳ dậy thì và trưởng thành. Nếu không có thời kỳ Phục Hưng, loài người chúng ta mãi phải sống với những thói ấu trĩ đó dù có làm ra bom nguyên tử hay phát minh ra máy tính. Phục Hưng là thời kỳ dậy thì để trưởng thành của nhân loại, khi chúng ta dám phủ nhận những tín điều phức tạp để trở lại với những chân lý đơn sơ như nền dân chủ Hy Lạp, luật La Mã và tính người.
     Tâm thức Việt Nam giống như một đứa trẻ, không thiếu điều tốt đẹp, nhưng đầy bản năng và thiếu duy lý. Chúng ta đã sa vào những cuộc tranh luận bất tận trên những khái niệm không có ranh giới hình thành dựa trên trực giác, những thói hoang dã bướng bỉnh khó thay đổi nếu không dùng tới sức mạnh của roi vọt hay gói quà Tết, những xét đoán không gắn với một hệ thống giá trị ổn định nào, không lối thoát từ nhiều thế hệ. Tranh luận bằng trực giác, bướng bỉnh hoang dã và không có giá trị ổn định chính là các phản ánh của sự ấu trĩ.
     Ấu trĩ là một điều tha thứ được với một đứa trẻ, nhưng sẽ đem lại một số phận bất hạnh với một người lớn. Khi lớn lên, với những năng lực tự chủ mạnh mẽ, con người ấu trĩ sẽ đủ sức tàn phá xã hội một cách vô thức, ngu xuẩn như một con King Kong. Làm thế nào để đánh thức một con King Kong đang say máu tàn phá? Có lẽ không còn cách nào khác phải dùng sức mạnh đánh quỵ nó, để nó thấy được rằng sức mạnh của nó chỉ là một trò cười so với thế giới này. Dù sao đi nữa, những kẻ ỷ vào sức mạnh luôn khiếp sợ sức mạnh khác hơn mình. Sau đó, phải thức tỉnh con King Kong ra khỏi thế giới ảo giác của nó. Hứng khởi tinh thần của con King Kong bắt nguồn từ men say trong máu, khiến con King Kong nhìn thế giới như một kẻ nghiện ngập, vừa bướng bỉnh vừa nhát nhúa không dám trở lại với thế giới thực. Bước tiếp sau, phải áp đặt một hệ thống giá trị cho con King Kong, để nó biết hành xử phù hợp với thế giới văn minh, cho dù phải trải qua một cuộc hành xác, tẩy não khổ đau. Cuối cùng, mới có thể giải phóng các sức mạnh đặc biệt của King Kong phục vụ cho thế giới văn minh và mang đến hạnh phúc cho chính nó.
    Phục Hưng là một phong trào văn hóa bắt nguồn ở Ý rồi lan rộng khắp châu Âu từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 17. Động lực của Phục Hưng có lẽ là các phát minh công nghệ làm giấy và in typo đã thay đổi đến gốc rễ ngành công nghiệp xuất bản. Nhờ đó các ý tưởng mới được giao lưu, tích lũy và lắng đọng thành nền tảng của một hệ thống giá trị mới, có sức phát triển tới tương lai, khai phá các giá trị cổ điển đồng thời cũng phá dỡ hệ thống tư biện nhiều tầng lớp của thời Trung cổ.
    Một sự trùng hợp có vẻ như ngẫu nhiên là Phục Hưng bắt đầu sau khi Thành Constantinople thất thủ. Đó là một thất bại đau đớn nhưng rất cần thiết với con King Kong châu Âu, khi sức mạnh bị đè bẹp bởi một sức mạnh khác. Sự ưu việt của hệ thống phòng thủ thành Constantinople dựa trên hệ thống khoa học kinh điển của châu Âu bị đánh sập bởi những kẻ mọi rợ vốn không cần biết các nguyên lý khoa học là gì, nhưng biết sử dụng một ứng dụng tinh tế của chính tri thức khoa học Âu châu là đường khương tuyến. Sức mạnh về công nghệ, sự thiện chiến của các chiến binh thành chiến từ Ý, tinh thần Thiên chúa giáo, đã trở thành trò cười trước đạn đại bác xoay tròn theo thiết kế của một sĩ quan công binh vô danh người Hungari nào đó. Có lẽ quan trọng nhất là niềm tin trực giác, bướng bỉnh và không có một cơ sở nào là Chúa luôn ở cạnh để phù hộ cho con chiên của mình, đã tan nát. Con King Kong bị đánh quỵ trở nên khiếp sợ lần đầu tiên thấy được sức mạnh của mình chỉ là trò cười trong thế giới mới. Không biết do cơ may hay do tính ưu việt, nền châu Âu đã biết sống lại và làm bá chủ thế giới, bắt đầu từ Phục Hưng. Những nhà bác học Hy Lạp tinh hoa nhất, đã rời bỏ Constantinople quy tụ ở Ý và đem lại cho Ý những tư tưởng mới mẻ. Trên nền tảng đó đã sinh ra những nhà bách khoa khổng lồ như Leonardo da Vinci hay Michelangelo. Đã có một cuộc tranh luận giữa việc coi Phục hưng là một bước tiến về văn hóa từ thời Trung cổ hay nên coi đó là một giai đoạn buồn đau, yếm thế, hồi tưởng dĩ vãng của Âu Châu. Tuy nhiên, thất bại, buồn đau là cần thiết để tiến lên, nếu như biết giữ những giá trị thực sự và dám từ bỏ những ảo tưởng, thiết nghĩ cuộc tranh luận đó không cần thiết. Vả lại, sau Phục Hưng, sự phát triển của châu Âu không còn là một bước đi ngẫu nhiên mà đã dẫn đầu toàn thế giới cho đến tận ngày nay.
     Câu hỏi đặt ra là liệu các dân tộc không có cơ may được ở trong trào lưu Phục Hưng thế kỷ 14-17, muốn tìm hạnh phúc của mình liệu có phải trải qua thời kỳ Phục Hưng của mình? Có thể lấy một ví dụ của nước Mỹ. Nước Mỹ có thời kỳ Phục Hưng của mình với danh xưng American Renaissance từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20 quy tụ được đông đảo các nhà sáng chế, nhà văn, kiến trúc sư, nghệ sĩ, chính trị gia,... tại New York với tư tưởng hình thành một hệ thống giá trị của một Đế chế mới. Kết quả, nước Mỹ sau đó trở nên cường quốc số 1 thế giới cho đến tận hôm nay. Có lẽ đó không phải là một điều ngẫu nhiên
    Việt Nam có cần một phong trào Phục Hưng hay không? Dù không thể đưa ra các lý lẽ để xác quyết, nhưng từ nhiều năm tôi vẫn mong đợi điều đó. Trước hết, thói mê tín, tính áp đặt niềm tin thô bạo đang lồng lên  như một con ngựa hoang của người Việt chỉ có thể trấn áp bởi một phong trào Phục Hưng, cổ võ những giá trị nguyên sơ và khuyến khích suy nghĩ độc lập. Một dân tộc loay hoay tìm chỗ đặt niềm tin của mình từ nơi này qua nơi khác mà không dám đặt vào chính mình sẽ còn phải đối diện với vô số khó khăn do chính mình tạo ra cho bản thân. Ngược lại, việc đơn giản hóa và thanh lọc các niềm tin, chính là để hình thành tính cách cá nhân, bước đầu trở trở thành một con người văn minh trưởng thành.
      Năm 2014 có thể coi như một bước ngoặt lớn trong tâm thức người Việt, trong một số lĩnh vực nhận thức của người Việt có bước phát triển bằng nhiều thế hệ. Tuy nhiên, sẽ không thừa, nếu chúng ta cần cảnh giác về hướng đi, say sưa bẻ lái có thể làm người ta quay trở lại vị trí xuất phát nhiều lần. Có thể đường tới phồn vinh có nhiều lối, nhưng Phục Hưng có lẽ là một con đường chắc chắn nhất.

Thứ Sáu, 28 tháng 2, 2014

Lịch sử nền văn minh 2

February 27, 2014 at 1:28pm


 Tôi tạm dịch nhanh một chương với sự giúp đỡ của phần mềm dịch. Riêng trong chương 1, các khái niệm văn minh, văn hóa, chủng tộc, giống nòi, sự ra đời, tồn tại, phát triển và diệt vong của nền văn minh đều được bàn tới một cách hệ thống và sâu sắc. Có nhiều vấn đề các sĩ phu Bắc Hà tranh cãi không thôi vì chưa bao giờ tìm hiểu đến nơi đến chốn.
Tôi rất thích cách dùng từ ngữ, hình ảnh và phương pháp trình bày ý tưởng nhiều tầng của Durant. Đọc Durant, sẽ thấy bất cứ một câu nào cũng có nhiều tầng và tạo cảm hứng cho suy nghĩ sâu hơn. Đặc biệt, nói về chuyện lịch sử lý luận, nhưng Durant gợi mở rất nhiều cho suy nghĩ về các vấn đề hiện đại.

   Chẳng hạn câu "Khi nỗi sợ hãi được trấn an, tính tò mò và xây dựng được tự do, và con người được động lực tự nhiên thôi thúc hướng tới việc hiểu biết và tô điểm cuộc sống." làm tôi vỡ lẽ tính tò mò và xây dựng không thể được tự do hoàn toàn, nếu vấn còn những sợ hãi vô hình hoặc hữu hình.
     Câu "Cái nóng nực của những vùng nhiệt đới, với vô số ký sinh trùng quấy phá, là thù địch với nền văn minh; trạng thái mệt lả và bệnh tật, sự chín rục và thối rữa quá nhanh, làm chệch hướng các nguồn năng lượng dư thừa của sự sống đã tạo ra văn minh, và nuốt chửng chúng trong đói khát và sinh đẻ; chẳng còn lại gì cho trò chơi nghệ thuật và trí tuệ." có lẽ sẽ làm nhiều học giả Việt Nam phẫn nộ. Tôi chợt nhớ có lần hầu chuyện với nhà thơ Xuân Diệu. Ông nói với tôi "Ở xứ mình rất khó làm thơ và nghiên cứu triết học. Nóng và ẩm chỉ thúc giục mọi loài giao hợp mà không tích lũy, lắng đọng".
   Hay câu "nếu sự tồn tại của họ còn phụ thuộc vào những bấp bênh ngắn hạn của việc đuổi bắt, dân tộc đó sẽ không bao giờ vượt qua được thời man rợ để đến với nền văn minh" làm tôi nghĩ đến việc làm khoa học, văn học nghệ thuật, trong bầu không khí toàn dân kiếm ăn ngắn hạn như hiện nay.
    Tôi tưởng tượng mỗi câu của Durant như một chùm lưỡi câu, mà mỗi lưỡi đều có thể có những thành quả thu hoạch.
    Nhưng thôi, hãy để mọi người tự thưởng thức và đánh giá, trước khi bình luận vào chi tiết. (Người dịch - NAV)




MỞ ĐẦU: SỰ HÌNH THÀNH CỦA NỀN VĂN MINH
-
"Tôi muốn biết những bước gì mà con người đã trải qua từ man rợ để đến với nền văn minh."-VOLTAIRE.

Chương I: Các điều kiện của nền văn minh 
-
Định nghĩa - Các điều kiện địa chất - Địa lý - Kinh tế - Chủng tộc - Tâm lý - Những nguyên nhân sụp đổ của các nền văn minh
-
Văn minh là trật tự xã hội thúc đẩy việc tạo ra văn hoá. Bốn yếu tố cấu thành của nó: cung ứng kinh tế, tổ chức chính trị, truyền thống đạo đức, theo đuổi kiến thức và nghệ thuật. Nó bắt đầu khi hỗn loạn và bất an kết thúc. Khi nỗi sợ hãi được trấn an, tính tò mò và tính xây dựng được tự do, và con người được động lực tự nhiên thôi thúc hướng tới việc hiểu biết và tô điểm cuộc sống. Các yếu tố nhất định tạo điều kiện cho văn minh, và có thể khuyến khích hoặc cản trở nó. Trước tiên, các điều kiện địa chất. Nền văn minh là một khoảng thời gian xen giữa các thời kỳ băng hà: vào bất cứ lúc nào dòng băng hà có thể dâng lên trở lại, sẽ phủ lấp đi các công trình của con người với băng và đá, và sẽ dồn sự sống về mảnh hẹp nào đó của trái đất. Hoặc con quỷ động đất, mà khi vắng mặt nó chúng ta đã xây dựng các đô thị của mình, có thể vươn vai và hủy diệt chúng ta một cách lạnh lùng.
Thứ hai, các điều kiện địa lý. Cái nóng nực của những vùng nhiệt đới, với vô số ký sinh trùng quấy phá, là thù địch với nền văn minh; trạng thái mệt lả và bệnh tật, sự chín rục và thối rữa quá nhanh, làm chệch hướng các nguồn năng lượng dư thừa của sự sống đã tạo ra văn minh, và nuốt chửng chúng trong đói khát và sinh đẻ; chẳng còn lại gì cho trò chơi nghệ thuật và trí tuệ. Mưa là cần thiết; vì nước là môi trường sống, còn quan trọng hơn cả ánh mặt trời; tính tùy hứng khó hiểu của các nguyên tố hóa học có thể tuyên án tử hình cho các khu vực bị khô hạn, một thời đã từng phồn hoa với đế chế và công nghiệp, như Nineveh hoặc Babylon, hoặc có thể giúp tăng sức mạnh và sự giàu có cho những đô thị rõ ràng là cách xa tuyến đường vận tải và liên lạc chính, như Vương quốc Anh hoặc Eo biển Puget. Nếu đất đai giàu thực phẩm hay khoáng sản, nếu sông ngòi cho con đường trao đổi dễ dàng, nếu bờ biển có các hải cảng tự nhiên cho một hạm đội thương mại, nếu trên hết, quốc gia nằm trên trục đường chính của thương mại thế giới, như Athens hay Carthage, Florence hay Venice- thì mặc dù địa lý không bao giờ tạo ra được văn minh, sẽ mỉm cười với nó, và nuôi dưỡng nó. Các điều kiện kinh tế là quan trọng hơn. Một dân tộc có thể có các thể chế có trật tự, một nền luật lệ đạo đức cao quý, và thậm chí cả sự tinh tường đối với các hình thức nghệ thuật thứ yếu, như người Mỹ da đỏ; nhưng nếu họ vẫn còn ở trong giai đoạn săn bắn, nếu sự tồn tại của họ còn phụ thuộc vào những bấp bênh ngắn hạn của việc đuổi bắt, dân tộc đó sẽ không bao giờ vượt qua được thời man rợ để đến với nền văn minh. Một tộc du mục, như người Bedouin của Arabia, có thể đặc biệt thông minh và mạnh mẽ, họ có thể thể hiện chất lượng cao về tính cách như lòng dũng cảm, hào hiệp và cao thượng; nhưng nếu thiếu đi điều kiện thiết yếu đơn giản về văn hóa đó, sự liên tục về thức ăn, trí thông minh của họ sẽ bị hoang phí vào việc liều mạng săn bắn và các mẹo mực đổi chác, và chẳng còn lại thứ gì cho những băng ren và đường diềm, các nghi thức và thú vui, nghệ thuật và tiện nghi, của nền văn minh. Hình thức đầu tiên của văn hóa là nông nghiệp. Chính vào lúc con người định cư lại để cày ruộng và để ra được những khoản hậu cần cho tương lai bấp bênh là khi họ tìm được thời gian và lý do để được văn minh hóa. Bên trong vòng an toàn nho nhỏ đó - một nguồn cung cấp đáng tin cậy về nước và thực phẩm - con người xây dựng những túp nhà, nhà thờ và trường học của mình; họ phát minh ra công cụ sản xuất, và thuần hóa chó, lừa, lợn, cuối cùng là chính bản thân mình. họ học cách lao động thường xuyên và có trật tự, duy trì cuộc sống dài ngày hơn, và truyền lại di sản tinh thần và đạo đức của giống nòi một cách hoàn hảo hơn trước đó. Văn hóa tạo ra nông nghiệp, nhưng văn minh tạo ra thành thị. Về một khía cạnh văn minh là thói quen lịch sự; và lịch sự là sự tinh tế mà những người dân thị thành, những người đã tạo ra từ này, nghĩ rằng chỉ có thể có được trong những thị tứ hay thành phố. * 01.005 Vì trong thành phố đã tập hợp được, dù đúng đắn hay sai lầm, của cải và trí tuệ được tạo ra ở nông thôn; trong thành phố sáng chế và công nghiệp tăng gấp bội các tiện nghi, xa hoa và việc giải trí; thành phố là nơi các thương nhân gặp gỡ, trao đổi hàng hóa và ý tưởng; trong sự phối ngẫu của những tinh thần ở những ngã đường giao thương trí thông minh được mài sắc và được kích thích thành sức sáng tạo. Trong thành phố một số người được giải phóng khỏi việc tạo ra của cải vật chất, và tạo ra khoa học và triết học, văn học và nghệ thuật. Nền văn minh bắt đầu trong túp lều của nông dân, nhưng đơm hoa trong những thành thị.
Không có những điều kiện về chủng tộc đối với nền văn minh. Nó có thể xuất hiện trên bất kỳ châu lục nào và trong bất kỳ màu da nào: tại Bắc Kinh hoặc Delhi, tại Memphis hoặc Babylon, tại Ravenna hay London, ở Peru hay Yucatan. Không phải chủng tộc lớn mới làm ra văn minh, mà chính nền văn minh lớn tạo ra dân tộc; các hoàn cảnh địa lý và kinh tế sáng tạo ra một nền văn hóa, và nền văn hóa sáng tạo ra một loại người. Người Anh không làm ra nền văn minh Anh, nền văn minh đó tạo ra họ; nếu họ mang theo nền văn minh đó đến bất cứ nơi nào, và ăn mặc chu tất cho bữa tối ở Timbuktu, không phải là họ đang sáng tạo ra nền văn minh của mình ở đó một lần nữa, mà họ thừa nhận ở đó quyền chủ nhân của nền văn minh đối với tâm hồn của mình. Với các điều kiện vật chất như nhau, một chủng tộc khác sẽ tạo ra các kết quả tương tự; Nhật Bản tái hiện trong thế kỷ hai mươi lịch sử của nước Anh trong thế kỷ mười chín. Nền văn minh có liên quan đến chủng tộc chỉ theo nghĩa là nó thường đến sau việc phối ngẫu từ từ giữa các tộc người khác nhau, và sự đồng hóa dần dần của họ để trở thành một dân tộc tương đối đồng nhất. * 01006
Những điều kiện vật lý và sinh học này chỉ là các điều kiện tiên quyết cho nền văn minh; chúng không cấu thành hoặc sinh ra nó. Các yếu tố tâm lý tinh tế cần phải vào cuộc. Phải có trật tự chính trị, ngay cả khi nó ở kề bên trạng thái hỗn loạn như ở Florence hay Rome thời Phục hưng; con người phải cảm thấy, nói chung, rằng họ không phải chọn cái chết hoặc thuế ở mỗi kỳ hạn. Phải có sự thống nhất nào đó về ngôn ngữ để làm phương tiện trao đổi tinh thần. Thông qua nhà thờ, gia đình, hoặc trường học, hay bằng cách nào khác, phải có một bộ luật đạo đức thống nhất, các luật chơi nào đó của cuộc sống được thừa nhận bởi ngay cả những người vi phạm chúng, và việc áp đặt trật tự và luật lệ nào đó, định hướng và kích thích nào đó. Có lẽ cũng cần phải có sự thống nhất nào đó về niềm tin cơ bản, đức tin nào đó, dù là siêu nhiên hay không tưởng, để nâng tầm đạo đức từ toan tính lên mức cống hiến, và đem lại cho cuộc sống sự cao thượng và ý nghĩa mặc dù thời gian sống của chúng ta quá ngắn ngủi. Và cuối cùng là phải có kỹ thuật đào tạo, dù sơ khai thế nào, cho việc truyền tải văn hóa. Dù thông qua việc bắt chước, gợi mở hoặc hướng dẫn, dù thông qua cha mẹ, giáo viên hay linh mục, truyền thuyết và di sản của bộ tộc - ngôn ngữ và kiến thức của họ, đạo đức và cách ứng xử của họ, công nghệ và nghệ thuật của họ - phải được truyền lại cho lớp trẻ, như là công cụ giúp họ từ động vật biến thành người. Sự biến mất của các điều kiện này, đôi khi thậm chí chỉ là một điều kiện trong số đó, có thể hủy diệt cả một nền văn minh. Một thảm họa địa chất hay thay đổi khí hậu sâu sắc; một trận dịch bệnh không kiểm soát được như trận dịch đã xóa sổ một nửa dân số của đế chế La Mã dưới Antonines, hoặc Cái Chết Đen đã giúp chấm dứt thời phong kiến; đất đai cạn kiệt, hoặc nền nông nghiệp bị hủy hoại do đất nước bị vắt kiệt bởi các đô thị, dẫn đến việc phụ thuộc không chắc chắn vào các nguồn cung cấp thực phẩm của nước ngoài; sự suy sụp về nguồn tài nguyên thiên nhiên, dù là nhiên liệu hay nguyên liệu; thay đổi trong các tuyến đường thương mại, bỏ rơi một đất nước ra khỏi dòng chính của thương mại thế giới; sự mục nát về tinh thần và đạo đức do các căng thẳng, kích thích và liên hệ của cuộc sống đô thị, do các nguồn lực truyền thống về trật tự xã hội bị phá vỡ và sự bất lực trong việc thay thế các truyền thống này; việc suy yếu của một giống nòi bởi một đời sống tình dục lộn xộn, hoặc bởi một triết lý hưởng lạc, bi quan, hay ẩn dật; sự thối nát của tầng lớp lãnh đạo do không thể sinh ra người có năng lực, và sự nhỏ bé tương đối của những gia tộc có thể thừa kế đầy đủ nhất di sản văn hóa của giống nòi; tập trung của cải đến mức bệnh hoạn, dẫn đến các cuộc chiến tranh giai cấp, những cuộc cách mạng bùng phát, và sự kiệt quệ về tài chính: những điều đó là một số cách thức mà một nền văn minh có thể chết. Bởi vì nền văn minh không phải là một cái gì đó bẩm sinh hay bất diệt; nền văn minh phải được tiếp thu lại từ đầu bởi mọi thế hệ, và bất kỳ sự gián đoạn nghiêm trọng trong việc tài trợ hoặc truyền tải cho nền văn minh đều có thể đưa nó đến chỗ kết thúc. Con người khác với con thú chỉ nhờ giáo dục, được định nghĩa là kỹ thuật truyền tải văn minh.
Các nền văn minh là những thế hệ tâm hồn của giống nòi. Do việc nuôi dạy của gia đình, và sau đó là sách vở, gắn kết các thế hệ với nhau, truyền lại tri thức của người ra đi cho lớp trẻ, nên việc in ấn, thương mại và hàng ngàn cách giao tiếp có thể gắn kết các nền văn minh với nhau, và giữ lại cho những nền văn hóa tương lai tất cả những gì có giá trị đối với chúng trong nền văn hóa của chúng ta. Chúng ta hãy, trước khi từ giã cuộc sống, tập hợp lại di sản của chúng ta, và tặng lại cho con em mình.

Thứ Năm, 27 tháng 2, 2014

Lịch sử nền văn minh 1

Từ lâu tôi ao ước có thời gian để dịch bộ sách này ra tiếng Việt. Tôi rất thán phục kiến thức uyên thâm, kiến giải đầy tính triết lý, tầm nhìn nhân văn và văn chương của Durant.
Các bộ sử Việt Nam, tuy rất phong phú và hay, nhưng viết rất khô khan và cổ hủ. Một phần của tập một đã được Nguyễn Hiến Lê lược dịch. Tôi rất mong có nhiều bạn đam mê, góp sức dịch 11 tập sách của Durant. Tôi sẽ cung cấp phần mềm hỗ trợ dịch miễn phí.
Tôi tin rằng việc có một cách nhìn tân tiến, khoa học, triết lý, nhân văn và toàn cầu hơn về lịch sử sẽ giúp chúng ta hiểu một cách có ích hơn về những gì đã, đang và sẽ xảy ra để mưu cầu cho hạnh phúc của mỗi người và cả dân tộc chúng ta.  
Để tạo cảm hứng ban đầu, tôi sẽ giới thiệu một số đoạn để các bạn đam mê làm quen với suy nghĩ và văn phong của Durant (NAV)

LỊCH SỬ NỀN VĂN MINH

VỀ CÁC TÁC GIẢ

Will Durant sinh tại North Adams, Massachusetts, vào ngày 5 Tháng Mười Một năm 1885. Ông được đào tạo tại các trường học giáo xứ Công giáo ở đó và ở Kearny, New Jersey, và sau đó tại St. (Dòng Tên) Cao đẳng Phêrô, Jersey City, New Jersey, và Đại học Columbia, New York. Ông đã làm phóng viên tập sự cho tạp chí New York trong một mùa hè, vào năm 1907, nhưng tìm việc làm là quá căng thẳng đối với tính khí của ông, ông đến sống tại trường Seton Hall, South Orange, New Jersey, dạy các môn Latin, Pháp, Anh, và hình học (1907-1911). Ông đã vào chủng viện ở Seton Hall vào năm 1909, nhưng đã rút lui vào năm 1911 vì những lý do mà ông đã mô tả trong cuốn sách Bước chuyển của ông. Ông đã chuyển từ chủng viện yên tĩnh này đến với các nhóm cấp tiến nhất ở New York, và đã trở thành (1911-1913) thầy giáo của trường Ferrer Modern, một thử nghiệm về nền giáo dục tự do. Năm 1912 ông chu du châu Âu theo lời mời và chi phí của Alden Freeman, người đã kết bạn với ông và giờ đây đã gánh trách nhiệm mở rộng các biên giới cho ông. Trở lại trường Ferrer, ông đã yêu một trong những học sinh của mình - người đã được khai sinh là Ida Kaufman tại nước Nga vào ngày 10 tháng 5 năm 1898 - ông đã từ chức, và kết hôn với cô (1913). Trong bốn năm, ông đã theo học chương trình sau đại học tại Đại học Columbia, chuyên ngành về sinh học với Morgan và Calkins và về triết học với Woodbridge và Dewey. Ông đã nhận được học vị tiến sĩ triết học vào năm 1917, và đã giảng dạy triết học tại Đại học Columbia trong một năm. Năm 1914, tại một nhà thờ Tin Lành ở New York, ông đã bắt đầu những bài giảng về lịch sử, văn học và triết lý, hai lần một tuần kéo dài trong suốt mười ba năm, cung cấp tư liệu ban đầu cho các công trình về sau của mình. Thành công bất ngờ của bộ sách Câu chuyện Triết học (1926) đã cho phép ông thôi giảng dạy vào năm 1927. Từ đó, ngoại trừ một số bài tiểu luận ngẫu hứng, ông bà Durant đã dành gần như tất cả giờ làm việc của họ (8-14 giờ hàng ngày) cho bộ Lịch sử nền văn minh. Để chuẩn bị tốt hơn họ đã chu du châu Âu vào năm 1927, đã đi vòng quanh thế giới vào năm 1930 để nghiên cứu Ai Cập, Cận Đông, Ấn Độ, Trung Quốc và Nhật Bản, và đã chu du vòng quanh thế giới một lần nữa vào năm 1932 để thăm Nhật Bản, Mãn Châu, Siberia, Nga, và Ba Lan. Những chuyến đi này đã cung cấp nền tảng cho tập sách Di sản phương Đông của chúng ta (1935) là tập đầu tiên trong bộ Lịch sử nền văn minh. Một vài cuộc thăm viếng tiếp theo đến châu Âu đã chuẩn bị cho tập 2, Cuộc sống của Hy Lạp (1939), và Tập 3, Caesar và Chúa Kitô (1944). Năm 1948, sáu tháng ở Thổ Nhĩ Kỳ, Iraq, Iran, Ai Cập, và châu Âu đã cung cấp nhãn quan cho Tập 4, Thời đại của Niềm tin (1950). Năm 1951 ông bà Durant đã trở lại Italy để bổ sung vào kho sưu tập tư liệu cả đời cho Tập 5, Thời Phục Hưng (1953); và năm 1954 các nghiên cứu thêm tại Ý, Thụy Sĩ, Đức, Pháp, và Anh đã mở ra các viễn cảnh mới cho Tập 6, Phong trào Cải cách (1957).
Đóng góp của bà Durant trong việc soạn các tập sách này ngày càng trở nên đáng kể hơn sau mỗi năm, cho đến Tập 7, Thời đại bắt đầu của Lý trí (1961), đóng góp này đã trở nên lớn đến mức Tư pháp đã yêu cầu kết hợp hai tên trên trang tiêu đề. Và do đó nó đã được đặt trên các tập Thời đại của Louis XIV (1963), Thời đại của Voltaire (1965), và Rousseau và Cách mạng (đoạt giải thưởng Pulitzer năm 1968). Ariel Durant đã qua đời vào ngày 25 tháng 10 năm 1981, ở tuổi 83. Ariel Durant đã qua đời vào ngày 25 tháng 10 năm 1981, ở tuổi 83; Durant đã mất 13 ngày sau, vào ngày 7 tháng 11, ở độ tuổi 96. Công trình được xuất bản cuối cùng của họ là tập Tự thuật song hành (1977).