Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử -. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử -. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 18 tháng 4, 2018

Huyền sử về nhà Thục trong sử Việt

I. Nước Âu Lạc hay An Dương?
      Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, một tác phẩm viết vào thế kỷ 15, phần ngoại sử thì Âu Lạc là của Thục Phán, một hậu duệ của nhà Thục bên Trung Quốc thành lập, sau khi diệt Văn Lang của Hùng Vương, lúc đầu đóng đô ở Phong Khê, sau dời về Cổ Loa (Đông Anh). 
      Theo quan điểm của các sử gia Việt hiện đại hơn, có phần hơi bị định kiến bởi tinh thần dân tộc thô sơ thì "trước họa xâm lăng của phương Bắc, hai bộ tộc Âu và Lạc đã hợp nhất (tất nhiên có người tự nguyện có người phải dùng roi quất bắt buộc hợp nhất) (và cũng tất nhiên là ông đứng ra hợp nhất lại chạy từ Tứ Xuyên về). 
       Khoan hãy nói Hùng Vương và Văn Lang có thực hay không. Trước hết hãy xem Âu Lạc là ai từ các nguồn gốc. 
Về việc nước Thục bị diệt, sách Hoa Dương Quốc Chí- thiênThục Chí cho biết: Nước Thục cổ, được nhà Chu phong cho dòng họ Khai Minh. Tới thời Chu Noãn Vương bị các tướng Tần là Trương Nghi, Tư Mã Thác công phá. Thục Vương thân ra cửa Hà Manh cự địch nhưng thất trận, chạy tới Vũ Dương thì bị giết. Thái tử chạy tới Bạch Lộc Sơn cũng bị giết. 
Như vậy Thục bị diệt vào năm 316 trước công nguyên. Một số sử gia như Ngô Thì Sĩ nghi ngờ việc Thục Phán là hậu duệ của nước Thục, nói là Việt Nam quá xa, và không thể đi từ Thục sang để chinh phục. Liệu điều đó có phải là lập luận chứng minh có thể phủ nhận sự liên hệ của nhà Thục với nước Thục cổ hay không?
       Có 2 điểm cần xác định:
       1. Hoa Dương Quốc Chí Do Thường Cừ soạn vào thời Tây Tấn chắc có dựa trên sử liệu thời Ngụy Hán. Được xem là bộ sách về địa lý lịch sử lớn nhất về ba tỉnh Vân Nam Quý Châu và Tứ Xuyên, có thêm Cam Túc Thiểm Tây và Hồ Bắc. Chắc chắn Đại Việt Sử Ký Toàn Thư cũng lấy lại sử liệu từ đây hoặc các nguồn dẫn từ sách này.
        2. Hơi đánh ngờ một chút, vì Vũ Dương nay là huyện Bành Sơn, thuộc Tứ Xuyên, có địa danh Bạch Lộc Sơn nay thuộc Hắc Long Giang. Thời bấy giờ không thuộc đất Tần. Có thể có Bạch Lộc Sơn khác ở  trong đất Thục chăng? Có thể thấy từ Vũ Dương, các tôn thân nhà Thục có hai hướng chạy. Một về Đông qua Giang Nam (đường Thục sang Ngô thời Tam Quốc). Một chạy về Nam qua Vân Nam Quý Châu. 

        Vân Quý khi đó thuộc Sở là kẻ thù của Tần. Như vậy, tàn quân Thục có thể được dung nạp và có thời gian để nghỉ ngơi. Nhưng chẳng bao lâu Tần diệt Sở, con cháu nhà Thục lại phải chạy tiếp, có thể đem theo cả người Sở không chịu theo Tần. Làn sóng tỵ nạn Thục-Sở này vượt hồ Điền Trì (Côn Minh) tìm đến thượng nguồn sông Lô và tiến vào Việt Nam và Quảng Tây, lúc đó đang là đất của Lạc Việt. Khi đó Khai Minh Chế (Thục Chế) được liên minh tị nạn bầu lên làm lãnh đạo. Trên đường đi ông thu phục các bộ lạc của Tây Âu rồi các bộ lạc của Lạc Việt. Lạc Việt khi đó còn trong một trạng thái kém phát triển. Do đó các tù trưởng dễ dàng tôn Thục Chế có binh lực lớn, tổ chức tốt và mang đến văn minh làm vua. Cũng có thể có một vài phản kháng, nhưng dễ dàng bị bẻ gãy. 
         Hán thư chép: Khi đó Tây Âu Lạc Việt còn ở tình trạng bán khai, ở trần, che thân bằng vỏ cây, chưa biết đến quần áo. Có lẽ là còn đóng khố. Do đó An Trị Vương (Thục Chế) vốn ở nơi văn minh tới rất nhanh được các đầu mục bộ lạc suy tôn làm quân trưởng. Có lẽ đánh nhau không nhiều nên thời gian vừa đi vừa chính phục mới nhanh đến thế. Sách cũng chép người Lạc Việt tự xưng là người Lão (Lạo, Lào, Liêu???) nghĩa là răng sói, ý nói rất cường ngạnh hung dữ. (Đoạn này so sánh với người Âu Việt rất hiền lành). Sách Động khê tiêm chí của Lục Thứ Vân chép "Lão nhân xử vu lĩnh biểu hải ngoại, xạ sinh vi hoạt, thôn phệ côn trùng" Người Lão ở ngoài lĩnh biểu, săn bắn mà sống, ăn cả côn trùng". Nghe rất giống thói quen của người Lào, người Thái ăn các loại côn trùng, tuy dân Việt ta ngày nay vẫn ăn bọ xít, châu chấu, dế, nhộng, ong... đúng là "thôn phệ côn trùng" (dịch ăn là rất lịch sự, thực chất là ngốn, nuốt). Thời đó ăn côn trùng không có nghĩa là khoa học bổ dưỡng vi chất hay nghệ thuật ẩm thực đa dạng. Đơn giản không có gì ăn đành chén côn trùng.
          Đọc tiếp: Vì thế người Thục muốn tiếp tục Nam tiến về đồng bằng Bắc Bộ nơi có nhiều thức ăn ngon lành hơn. An Trị Vương Khai minh Chế mất năm 95 tuổi. Con là Khai Minh Phán mới 10 tuổi lên thay, người trong họ là Khai Minh Mô làm nhiếp chính. Các tù trưởng bộ lạc nghe tin bèn bao vây kinh đô, bức Thục Mô từ chức. Các tù trưởng sau đó bãi binh nhưng hình thành việc cát cứ. Thục Phán chỉ nắm được một khu trong 10 khu của vua cha đã chinh phục được, còn lại chỉ có tiếng hão, không có thực quyền. Điều này cũng gần giống việc Ngô Xương Ngập, Ngô Xương Xí sau này, không kiểm soát được tình hình tự nguyện (hay buộc phải) trở thành một sứ quân. Thục Phán bèn thách đố các đầu mục thi (chắc khi này cậu bé đã đủ lớn) và thắng trong 10 môn. Từ đó thống nhất  lấy lại được đại quyền như cha. Câu chuyện này gọi là "Thập hạng toàn năng tái" được sách Tàu ghi lại. Như thế cụ An Dương Vương nhà mình, tài năng không phải tay vừa. 
           Đánh thắng Hùng Vương: Sách Tàu không ghi lại các chi tiết về Hùng Vương mà Đại Việt Sử Ký Toàn Thư ghi điều này đầy tiên. Có thể  tồn tại huyền sử truyền miệng Hùng Vương là vua của nước Văn Lang. Nhưng sách Tàu có ghi việc Thục Phán chinh phục Hùng Vương hay Lạc Vương (chưa thể xác định rõ Hùng Vương ghi trong sử Tàu người Tráng hay người Việt). Theo đó, Hùng Vương là nhân vật có sức khỏe tuyệt luân, nhiều lần đánh bại quân Thục, nên chủ quan, uống rượu, chơi gái. Thục Phán mang quân đến còn chưa tỉnh rượu, rồi cuống quýt lao đầu xuống giếng chết. ( Chỉ hơi khác một chút so với Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, do đó có thể các sử gia ta dựa vào đây mà cải biên). 
          Như vậy Thục Phán lên ngôi kiêm tính toàn Âu Lạc lập ra nước Âu Lạc tự xưng là An Dương Vương, đóng đô ở Phong Khê rồi dời về Cổ Loa. Quân Thục rất giỏi làm cung nỏ, đã có tiếng ở Trung Quốc thời cổ. Khi sang Việt Nam có thể đã phát minh thêm công nghệ bịt mũi tên bằng đồng để có sức công phá và sát thương mạnh hơn. Việc Âu Lạc bị Triệu Đà thôn tính được ghi tường tận trong sử sách Trung Quốc do đó sự tồn tại của An Dương Vương là chắc chắn hơn Hùng Vương.
         Kết luận:
        1. An Dương Vương và Âu Lạc có thể có thật vì có trong các sách sử xuất hiện khá sớm.
        2. Việc An Dương Vương dòng dõi nhà Thục cũng là khả thi, do quá trình di dân từ Thục từ kéo dài hơn 100 năm từ khi nhà Thục bị diệt năm 316 TCN đến khi An Dương Vương diệt xong Hùng Vương lập nước Âu Lạc 207 TCN.
        3. Chưa rõ Hùng Vương bị Thục Phán diệt có phải là ở Phú Thọ và có nước Văn Lang hay không. Hay đó là một Hùng Vương nào đó người Tráng.

II. An Dương Vương Thục Phán có gốc Hán Tạng?
    Trong phần I, chúng ta đã nói về Thục Phán (An Dương Vương) là con của Thục Chế (AnTrí Vương) là hậu duệ của họ Khai Minh vua nước Thục cổ.
    Đây có thể là 1 trong 5 thành phần sắc tộc chính để hình thành nên dân tộc Việt vào thế kỷ 10-15 bao gồm:
      1.  Nam Á (Khmer, Mường, Lê Lợi)
      2. Nam Đảo (Một phần của Chiêm Thành, phần kia của Chiêm Thành là người Thủy xuất phát từ Hải Nam, châu Đạm châu Nhĩ).
      3. Thai-Kadai (Lạc Việt-Tráng, Hùng Vương)
      4. Hán (Triệu Đà, Lý Bôn, Lý Công Uẩn, Trần Cảnh, Hồ Quý Ly)
      5. Hán- Tạng.
     Ngày nay, phân tích gien đã cho thấy các thành phần như vậy. Câu hỏi đặt ra là thành phần Hán Tạng có gốc gác cụ thể thế nào và hòa huyết vào đại gia đình dân tộc Việt từ bao giờ. Rất có thể An Dương Vương là làn sóng hòa huyết lần thứ nhất của người Hán-Tạng.
    Theo một số lý lẽ phản bác thuyết Thục Phán có gốc Hán Tạng bắt đầu là Ngô Sĩ Liên cho rằng nước Thục mất trước khi An Dương Vương xây thành Cổ Loa gần 100 năm. Do đó, Thục Phán không thể là hậu duệ của nước Thục thời cổ đại ở bình nguyên Quảng Hán, Thành Đô ở Tứ Xuyên. Các lý lẽ tiếp nối cho rằng Thục Phán là thủ lĩnh của Âu Việt, một bộ lạc ở sẵn trong vùng Quý Châu, Quảng Tây, Vân Nam, khi lớn mạnh bèn thu phục Lạc Việt (mà các nhà sử học Việt Nam đồng nhất với Văn Lang) lập nhà nước Âu Lạc.
     Trong phần I chúng tôi cho rằng nếu thái tử nhà Thục chạy về nước Sở với một binh lực còn khá lớn, các lực lượng Thục cũng dần dần tụ họp lại ở phía Nam nước Sở, trong một thế hệ. Khi nước Sở mất, họ lại di chuyển tiếp về phía Nam, thống nhất các bộ tộc người Việt ở đây và trở thành thủ lĩnh liên minh bộ lạc, đã đánh bại quân Tần là Đồ Thư trong địa phận Quý Châu, Quảng Tây. (Thục Chế, Thục Phán). Sau đó Thục Phán diệt nước Văn Lang (nếu có), chứ không phải là liên minh.
      Ta thử xem tiếp nguồn gốc Hán-Tạng của Thục Phán theo giả thuyết này. Nước Thục hình thành từ hai nhánh: tộc Khương và tộc Nhiễm. Khương tộc chính là người Tạng ngày nay và nhiều phần đã bị Hán hóa. Nhiễm tộc đứng đầu trong các dân tộc Đê. Theo Sử Ký thì các tộc phía Tây có Lục Di, Thất Khương, Cửu Đê. Các bộ lạc của hai tộc Khương và Nhiễm đã xuất hiện tại bình nguyên Tứ Xuyên khá sớm, chắc chắn là vào thời Hạ-Thương. Nhưng có thể trước đó hàng trăm năm, từ thời Tam Hoàng-Ngũ Đế. Họ đã hòa huyết và hình thành nhà nước thị tộc nô lệ từ sớm và xưng vương đầu tiên bên cạnh vua nhà Hạ và nhà Thương. Họ đã phát minh ra nghề nuôi tằm dệt lụa, do đó vua Thục tự gọi họ là Tàm Tùng (Tàm là con tằm).
      Sử Tàu ghi khi nhà Chu diệt Trụ Vương, Thục Vương đã cử binh giúp đỡ và là binh lực trọng yếu. Thục nổi tiếng về cung nỏ cho đến tận sau này tại Cổ Loa vẫn có nhiều mũi tên đồng. Điều đó giải nghĩa lợi thế của Thục Phán khi diệt Văn Lang và chống lại xâm lăng Nam Việt của Triệu Đà nhờ cung nỏ. Vào đời Chu, chính quyền của nhà Thục đã chuyển qua tập đoàn người Khương, họ Khai Minh. Các sách còn ghi lại truyền thuyết vua Thục  Đỗ Vũ truyền ngôi (buộc phải truyền ngôi???) cho thừa tướng là Miết Linh, chết hóa thành chim đỗ quyên hay con chim cuốc, suốt ngày kêu mất nước.
      Họ Khai Minh từ Miết Linh truyền được 12 đời hơn 720 năm (từ Chu Vũ Vương đến khi bị Tần diệt vào thời Chiến Quốc). Đoạn này bốc phét hơi giống 18 vua Hùng của ta. Như vậy, thành phần Hán Tạng của dân tộc Việt có từ An Dương Vương (nếu đúng) là từ tộc Khương và Nhiễm (Đê) chứ không liên quan tới người Miêu (Mèo-Hmong) như trong một số thuyết đã nói.
     Tiện thể tra cứu tiếp xem nước Âu Việt có liên hệ với tộc người nào.
Âu Việt gồm Đông Âu, ở vào vùng Phúc Kiến, Cối Kê là nước Việt của Câu Tiễn. Tây Âu ở bắc Quảng Tây, có sông Quế, sông Tầm. Sách Cựu Đường Thư, Địa lý chí nói "Thời Tần là Quế Lâm, thời Hán là Uất Lâm. Ấy là nơi cư trú của Tây Âu, Lạc Việt cổ". Có thuyết cho rằng Tây Âu và Lạc Việt cũng là một, chỉ các bộ lạc ở vùng Quảng Tây, Quý Châu (10 bộ lạc liên minh với Thục Chế).
      Kết luận:
      1. Thuyết An Dương Vương có gốc gác từ nước Thục cổ là có khả năng thực tế. Vừa có thể giải thích được thành phần Hán-Tạng trong gien người Việt.
     2.  Có sự trùng hợp giữa việc giỏi sử dụng cung nỏ của nước Thục cổ và nhà Thục trong sử Việt.

Thứ Sáu, 28 tháng 2, 2014

Lịch sử nền văn minh 2

February 27, 2014 at 1:28pm


 Tôi tạm dịch nhanh một chương với sự giúp đỡ của phần mềm dịch. Riêng trong chương 1, các khái niệm văn minh, văn hóa, chủng tộc, giống nòi, sự ra đời, tồn tại, phát triển và diệt vong của nền văn minh đều được bàn tới một cách hệ thống và sâu sắc. Có nhiều vấn đề các sĩ phu Bắc Hà tranh cãi không thôi vì chưa bao giờ tìm hiểu đến nơi đến chốn.
Tôi rất thích cách dùng từ ngữ, hình ảnh và phương pháp trình bày ý tưởng nhiều tầng của Durant. Đọc Durant, sẽ thấy bất cứ một câu nào cũng có nhiều tầng và tạo cảm hứng cho suy nghĩ sâu hơn. Đặc biệt, nói về chuyện lịch sử lý luận, nhưng Durant gợi mở rất nhiều cho suy nghĩ về các vấn đề hiện đại.

   Chẳng hạn câu "Khi nỗi sợ hãi được trấn an, tính tò mò và xây dựng được tự do, và con người được động lực tự nhiên thôi thúc hướng tới việc hiểu biết và tô điểm cuộc sống." làm tôi vỡ lẽ tính tò mò và xây dựng không thể được tự do hoàn toàn, nếu vấn còn những sợ hãi vô hình hoặc hữu hình.
     Câu "Cái nóng nực của những vùng nhiệt đới, với vô số ký sinh trùng quấy phá, là thù địch với nền văn minh; trạng thái mệt lả và bệnh tật, sự chín rục và thối rữa quá nhanh, làm chệch hướng các nguồn năng lượng dư thừa của sự sống đã tạo ra văn minh, và nuốt chửng chúng trong đói khát và sinh đẻ; chẳng còn lại gì cho trò chơi nghệ thuật và trí tuệ." có lẽ sẽ làm nhiều học giả Việt Nam phẫn nộ. Tôi chợt nhớ có lần hầu chuyện với nhà thơ Xuân Diệu. Ông nói với tôi "Ở xứ mình rất khó làm thơ và nghiên cứu triết học. Nóng và ẩm chỉ thúc giục mọi loài giao hợp mà không tích lũy, lắng đọng".
   Hay câu "nếu sự tồn tại của họ còn phụ thuộc vào những bấp bênh ngắn hạn của việc đuổi bắt, dân tộc đó sẽ không bao giờ vượt qua được thời man rợ để đến với nền văn minh" làm tôi nghĩ đến việc làm khoa học, văn học nghệ thuật, trong bầu không khí toàn dân kiếm ăn ngắn hạn như hiện nay.
    Tôi tưởng tượng mỗi câu của Durant như một chùm lưỡi câu, mà mỗi lưỡi đều có thể có những thành quả thu hoạch.
    Nhưng thôi, hãy để mọi người tự thưởng thức và đánh giá, trước khi bình luận vào chi tiết. (Người dịch - NAV)




MỞ ĐẦU: SỰ HÌNH THÀNH CỦA NỀN VĂN MINH
-
"Tôi muốn biết những bước gì mà con người đã trải qua từ man rợ để đến với nền văn minh."-VOLTAIRE.

Chương I: Các điều kiện của nền văn minh 
-
Định nghĩa - Các điều kiện địa chất - Địa lý - Kinh tế - Chủng tộc - Tâm lý - Những nguyên nhân sụp đổ của các nền văn minh
-
Văn minh là trật tự xã hội thúc đẩy việc tạo ra văn hoá. Bốn yếu tố cấu thành của nó: cung ứng kinh tế, tổ chức chính trị, truyền thống đạo đức, theo đuổi kiến thức và nghệ thuật. Nó bắt đầu khi hỗn loạn và bất an kết thúc. Khi nỗi sợ hãi được trấn an, tính tò mò và tính xây dựng được tự do, và con người được động lực tự nhiên thôi thúc hướng tới việc hiểu biết và tô điểm cuộc sống. Các yếu tố nhất định tạo điều kiện cho văn minh, và có thể khuyến khích hoặc cản trở nó. Trước tiên, các điều kiện địa chất. Nền văn minh là một khoảng thời gian xen giữa các thời kỳ băng hà: vào bất cứ lúc nào dòng băng hà có thể dâng lên trở lại, sẽ phủ lấp đi các công trình của con người với băng và đá, và sẽ dồn sự sống về mảnh hẹp nào đó của trái đất. Hoặc con quỷ động đất, mà khi vắng mặt nó chúng ta đã xây dựng các đô thị của mình, có thể vươn vai và hủy diệt chúng ta một cách lạnh lùng.
Thứ hai, các điều kiện địa lý. Cái nóng nực của những vùng nhiệt đới, với vô số ký sinh trùng quấy phá, là thù địch với nền văn minh; trạng thái mệt lả và bệnh tật, sự chín rục và thối rữa quá nhanh, làm chệch hướng các nguồn năng lượng dư thừa của sự sống đã tạo ra văn minh, và nuốt chửng chúng trong đói khát và sinh đẻ; chẳng còn lại gì cho trò chơi nghệ thuật và trí tuệ. Mưa là cần thiết; vì nước là môi trường sống, còn quan trọng hơn cả ánh mặt trời; tính tùy hứng khó hiểu của các nguyên tố hóa học có thể tuyên án tử hình cho các khu vực bị khô hạn, một thời đã từng phồn hoa với đế chế và công nghiệp, như Nineveh hoặc Babylon, hoặc có thể giúp tăng sức mạnh và sự giàu có cho những đô thị rõ ràng là cách xa tuyến đường vận tải và liên lạc chính, như Vương quốc Anh hoặc Eo biển Puget. Nếu đất đai giàu thực phẩm hay khoáng sản, nếu sông ngòi cho con đường trao đổi dễ dàng, nếu bờ biển có các hải cảng tự nhiên cho một hạm đội thương mại, nếu trên hết, quốc gia nằm trên trục đường chính của thương mại thế giới, như Athens hay Carthage, Florence hay Venice- thì mặc dù địa lý không bao giờ tạo ra được văn minh, sẽ mỉm cười với nó, và nuôi dưỡng nó. Các điều kiện kinh tế là quan trọng hơn. Một dân tộc có thể có các thể chế có trật tự, một nền luật lệ đạo đức cao quý, và thậm chí cả sự tinh tường đối với các hình thức nghệ thuật thứ yếu, như người Mỹ da đỏ; nhưng nếu họ vẫn còn ở trong giai đoạn săn bắn, nếu sự tồn tại của họ còn phụ thuộc vào những bấp bênh ngắn hạn của việc đuổi bắt, dân tộc đó sẽ không bao giờ vượt qua được thời man rợ để đến với nền văn minh. Một tộc du mục, như người Bedouin của Arabia, có thể đặc biệt thông minh và mạnh mẽ, họ có thể thể hiện chất lượng cao về tính cách như lòng dũng cảm, hào hiệp và cao thượng; nhưng nếu thiếu đi điều kiện thiết yếu đơn giản về văn hóa đó, sự liên tục về thức ăn, trí thông minh của họ sẽ bị hoang phí vào việc liều mạng săn bắn và các mẹo mực đổi chác, và chẳng còn lại thứ gì cho những băng ren và đường diềm, các nghi thức và thú vui, nghệ thuật và tiện nghi, của nền văn minh. Hình thức đầu tiên của văn hóa là nông nghiệp. Chính vào lúc con người định cư lại để cày ruộng và để ra được những khoản hậu cần cho tương lai bấp bênh là khi họ tìm được thời gian và lý do để được văn minh hóa. Bên trong vòng an toàn nho nhỏ đó - một nguồn cung cấp đáng tin cậy về nước và thực phẩm - con người xây dựng những túp nhà, nhà thờ và trường học của mình; họ phát minh ra công cụ sản xuất, và thuần hóa chó, lừa, lợn, cuối cùng là chính bản thân mình. họ học cách lao động thường xuyên và có trật tự, duy trì cuộc sống dài ngày hơn, và truyền lại di sản tinh thần và đạo đức của giống nòi một cách hoàn hảo hơn trước đó. Văn hóa tạo ra nông nghiệp, nhưng văn minh tạo ra thành thị. Về một khía cạnh văn minh là thói quen lịch sự; và lịch sự là sự tinh tế mà những người dân thị thành, những người đã tạo ra từ này, nghĩ rằng chỉ có thể có được trong những thị tứ hay thành phố. * 01.005 Vì trong thành phố đã tập hợp được, dù đúng đắn hay sai lầm, của cải và trí tuệ được tạo ra ở nông thôn; trong thành phố sáng chế và công nghiệp tăng gấp bội các tiện nghi, xa hoa và việc giải trí; thành phố là nơi các thương nhân gặp gỡ, trao đổi hàng hóa và ý tưởng; trong sự phối ngẫu của những tinh thần ở những ngã đường giao thương trí thông minh được mài sắc và được kích thích thành sức sáng tạo. Trong thành phố một số người được giải phóng khỏi việc tạo ra của cải vật chất, và tạo ra khoa học và triết học, văn học và nghệ thuật. Nền văn minh bắt đầu trong túp lều của nông dân, nhưng đơm hoa trong những thành thị.
Không có những điều kiện về chủng tộc đối với nền văn minh. Nó có thể xuất hiện trên bất kỳ châu lục nào và trong bất kỳ màu da nào: tại Bắc Kinh hoặc Delhi, tại Memphis hoặc Babylon, tại Ravenna hay London, ở Peru hay Yucatan. Không phải chủng tộc lớn mới làm ra văn minh, mà chính nền văn minh lớn tạo ra dân tộc; các hoàn cảnh địa lý và kinh tế sáng tạo ra một nền văn hóa, và nền văn hóa sáng tạo ra một loại người. Người Anh không làm ra nền văn minh Anh, nền văn minh đó tạo ra họ; nếu họ mang theo nền văn minh đó đến bất cứ nơi nào, và ăn mặc chu tất cho bữa tối ở Timbuktu, không phải là họ đang sáng tạo ra nền văn minh của mình ở đó một lần nữa, mà họ thừa nhận ở đó quyền chủ nhân của nền văn minh đối với tâm hồn của mình. Với các điều kiện vật chất như nhau, một chủng tộc khác sẽ tạo ra các kết quả tương tự; Nhật Bản tái hiện trong thế kỷ hai mươi lịch sử của nước Anh trong thế kỷ mười chín. Nền văn minh có liên quan đến chủng tộc chỉ theo nghĩa là nó thường đến sau việc phối ngẫu từ từ giữa các tộc người khác nhau, và sự đồng hóa dần dần của họ để trở thành một dân tộc tương đối đồng nhất. * 01006
Những điều kiện vật lý và sinh học này chỉ là các điều kiện tiên quyết cho nền văn minh; chúng không cấu thành hoặc sinh ra nó. Các yếu tố tâm lý tinh tế cần phải vào cuộc. Phải có trật tự chính trị, ngay cả khi nó ở kề bên trạng thái hỗn loạn như ở Florence hay Rome thời Phục hưng; con người phải cảm thấy, nói chung, rằng họ không phải chọn cái chết hoặc thuế ở mỗi kỳ hạn. Phải có sự thống nhất nào đó về ngôn ngữ để làm phương tiện trao đổi tinh thần. Thông qua nhà thờ, gia đình, hoặc trường học, hay bằng cách nào khác, phải có một bộ luật đạo đức thống nhất, các luật chơi nào đó của cuộc sống được thừa nhận bởi ngay cả những người vi phạm chúng, và việc áp đặt trật tự và luật lệ nào đó, định hướng và kích thích nào đó. Có lẽ cũng cần phải có sự thống nhất nào đó về niềm tin cơ bản, đức tin nào đó, dù là siêu nhiên hay không tưởng, để nâng tầm đạo đức từ toan tính lên mức cống hiến, và đem lại cho cuộc sống sự cao thượng và ý nghĩa mặc dù thời gian sống của chúng ta quá ngắn ngủi. Và cuối cùng là phải có kỹ thuật đào tạo, dù sơ khai thế nào, cho việc truyền tải văn hóa. Dù thông qua việc bắt chước, gợi mở hoặc hướng dẫn, dù thông qua cha mẹ, giáo viên hay linh mục, truyền thuyết và di sản của bộ tộc - ngôn ngữ và kiến thức của họ, đạo đức và cách ứng xử của họ, công nghệ và nghệ thuật của họ - phải được truyền lại cho lớp trẻ, như là công cụ giúp họ từ động vật biến thành người. Sự biến mất của các điều kiện này, đôi khi thậm chí chỉ là một điều kiện trong số đó, có thể hủy diệt cả một nền văn minh. Một thảm họa địa chất hay thay đổi khí hậu sâu sắc; một trận dịch bệnh không kiểm soát được như trận dịch đã xóa sổ một nửa dân số của đế chế La Mã dưới Antonines, hoặc Cái Chết Đen đã giúp chấm dứt thời phong kiến; đất đai cạn kiệt, hoặc nền nông nghiệp bị hủy hoại do đất nước bị vắt kiệt bởi các đô thị, dẫn đến việc phụ thuộc không chắc chắn vào các nguồn cung cấp thực phẩm của nước ngoài; sự suy sụp về nguồn tài nguyên thiên nhiên, dù là nhiên liệu hay nguyên liệu; thay đổi trong các tuyến đường thương mại, bỏ rơi một đất nước ra khỏi dòng chính của thương mại thế giới; sự mục nát về tinh thần và đạo đức do các căng thẳng, kích thích và liên hệ của cuộc sống đô thị, do các nguồn lực truyền thống về trật tự xã hội bị phá vỡ và sự bất lực trong việc thay thế các truyền thống này; việc suy yếu của một giống nòi bởi một đời sống tình dục lộn xộn, hoặc bởi một triết lý hưởng lạc, bi quan, hay ẩn dật; sự thối nát của tầng lớp lãnh đạo do không thể sinh ra người có năng lực, và sự nhỏ bé tương đối của những gia tộc có thể thừa kế đầy đủ nhất di sản văn hóa của giống nòi; tập trung của cải đến mức bệnh hoạn, dẫn đến các cuộc chiến tranh giai cấp, những cuộc cách mạng bùng phát, và sự kiệt quệ về tài chính: những điều đó là một số cách thức mà một nền văn minh có thể chết. Bởi vì nền văn minh không phải là một cái gì đó bẩm sinh hay bất diệt; nền văn minh phải được tiếp thu lại từ đầu bởi mọi thế hệ, và bất kỳ sự gián đoạn nghiêm trọng trong việc tài trợ hoặc truyền tải cho nền văn minh đều có thể đưa nó đến chỗ kết thúc. Con người khác với con thú chỉ nhờ giáo dục, được định nghĩa là kỹ thuật truyền tải văn minh.
Các nền văn minh là những thế hệ tâm hồn của giống nòi. Do việc nuôi dạy của gia đình, và sau đó là sách vở, gắn kết các thế hệ với nhau, truyền lại tri thức của người ra đi cho lớp trẻ, nên việc in ấn, thương mại và hàng ngàn cách giao tiếp có thể gắn kết các nền văn minh với nhau, và giữ lại cho những nền văn hóa tương lai tất cả những gì có giá trị đối với chúng trong nền văn hóa của chúng ta. Chúng ta hãy, trước khi từ giã cuộc sống, tập hợp lại di sản của chúng ta, và tặng lại cho con em mình.