Chủ Nhật, 5 tháng 10, 2025
Từ Thứ và đại chiến Đương Dương-Tràng Bản-Giang Hạ
Thứ Sáu, 15 tháng 11, 2024
Trung bình và trung dung
1. Nếu ai hỏi tôi khái niệm Toán học nào sâu sắc và vĩ đại nhất, tôi sẽ chọn khái niệm “trung bình”. Tại sao không chọn khái niệm số, đơn vị hay số không như các nhà toán học hay nói? Số là một khái niệm tự nhiên, hình thành từ cuộc sống. Khi Con người quyết định đứng thẳng lên thì cũng là lúc số tự đến với Con người, không cần đến sự sâu sắc và vĩ đại, vì đó chính là Cuộc sống. 2. Số 1 đương nhiên tồn tại như một số, nhưng phát hiện con số này là đơn vị lại là một phát minh vĩ đại cần đến một trí tuệ Toán học chín muồi. Số 0 vốn không phải là một số, phát hiện ra nó là sự vượt trội về kỹ năng dùng số của Con người, do đó có thể nói đó là một sáng chế kỹ thuật ghi số vĩ đại. Tuy vậy, đơn vị 1 và con số 0 đều mang tính kỹ thuật, toán học vị toán học, sinh ra để làm Toán, không có tính nhân văn có thể so sánh với phép lấy trung bình.
3. Tôi cho rằng, với một mô hình ngôn ngữ lớn không có các thuật ngữ đơn vị hoặc số 0, AI vẫn có thể tạo ra các khái niệm đó trong một tương lai không xa. Tuy nhiên, tôi không chắc AI hiện tại có thể làm điều đó với phép tính trung bình. Nói một cách khác, phép tính trung bình có tính người hơn các phát kiến toán học vĩ đại khác. Sự vĩ đại có tính người sẽ nhân văn hơn nhưng cũng mang theo cả những thói hư tật xấu của con người.
Thứ Sáu, 10 tháng 6, 2022
Lịch sử và căn tính dân tộc,
1. Chúng ta thường có một niềm tin ngây thơ rằng nếu cố gắng tìm chân lý, thoát khỏi mọi định kiến tôn giáo, ý thức hệ, lịch sử sẽ trở thành một khoa học khách quan.
Thứ Năm, 11 tháng 11, 2021
[Sử Việt] Danh tướng Nguyễn Đa Phương
Nguyễn Đa Phương là con danh tướng Nguyễn Nạp Hòa còn gọi là Sư Tề, do ông là thầy dạy võ nổi tiếng. Nạp Hòa chỉ huy vệ Thần Võ, được phong làm Bình Man Đại tướng Quân. Trong chiến dịch đánh Chiêm Thành, ông làm phó chỉ huy cho Đại tướng Đỗ Lễ. Quân ta kéo sâu vào hiểm địa, quân Chiêm đã phục sẵn, vua Duệ Tông không nghe lời can của Đỗ Lễ mang quân vào hiểm địa, mắc phục binh, toàn quân bị tiêu diệt. Các đại tướng Đỗ Lễ, Nguyễn Nạp Hòa, Phạm Huyền Lệnh đều bảo vệ vua đến phút cuối và tử nạn cùng với vua. Nguyễn Đa Phương là cha của danh tướng Nguyễn Cảnh Chân nhà Hậu Trần, chính là ông tổ của dòng họ Nguyễn Cảnh.
Trần Nguyên Đán
Ông là dòng dõi Thượng tướng quân, Chiêu Minh đại vương Trần Quang Khải. Là quan đầu triều đời vua Nghệ Tông nhà Trần. Được tiếng nho nhã, để lại nhiều thơ nhàn tản vào thời loạn, được nhiều kẻ sĩ cho là thanh cao, nhưng không hề có công tích hay mưu kế gì ích quốc lợi dân.
Thứ Tư, 18 tháng 4, 2018
Huyền sử về nhà Thục trong sử Việt
Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, một tác phẩm viết vào thế kỷ 15, phần ngoại sử thì Âu Lạc là của Thục Phán, một hậu duệ của nhà Thục bên Trung Quốc thành lập, sau khi diệt Văn Lang của Hùng Vương, lúc đầu đóng đô ở Phong Khê, sau dời về Cổ Loa (Đông Anh).
Theo quan điểm của các sử gia Việt hiện đại hơn, có phần hơi bị định kiến bởi tinh thần dân tộc thô sơ thì "trước họa xâm lăng của phương Bắc, hai bộ tộc Âu và Lạc đã hợp nhất (tất nhiên có người tự nguyện có người phải dùng roi quất bắt buộc hợp nhất) (và cũng tất nhiên là ông đứng ra hợp nhất lại chạy từ Tứ Xuyên về).
Khoan hãy nói Hùng Vương và Văn Lang có thực hay không. Trước hết hãy xem Âu Lạc là ai từ các nguồn gốc.
Về việc nước Thục bị diệt, sách Hoa Dương Quốc Chí- thiênThục Chí cho biết: Nước Thục cổ, được nhà Chu phong cho dòng họ Khai Minh. Tới thời Chu Noãn Vương bị các tướng Tần là Trương Nghi, Tư Mã Thác công phá. Thục Vương thân ra cửa Hà Manh cự địch nhưng thất trận, chạy tới Vũ Dương thì bị giết. Thái tử chạy tới Bạch Lộc Sơn cũng bị giết.
Như vậy Thục bị diệt vào năm 316 trước công nguyên. Một số sử gia như Ngô Thì Sĩ nghi ngờ việc Thục Phán là hậu duệ của nước Thục, nói là Việt Nam quá xa, và không thể đi từ Thục sang để chinh phục. Liệu điều đó có phải là lập luận chứng minh có thể phủ nhận sự liên hệ của nhà Thục với nước Thục cổ hay không?
Có 2 điểm cần xác định:
1. Hoa Dương Quốc Chí Do Thường Cừ soạn vào thời Tây Tấn chắc có dựa trên sử liệu thời Ngụy Hán. Được xem là bộ sách về địa lý lịch sử lớn nhất về ba tỉnh Vân Nam Quý Châu và Tứ Xuyên, có thêm Cam Túc Thiểm Tây và Hồ Bắc. Chắc chắn Đại Việt Sử Ký Toàn Thư cũng lấy lại sử liệu từ đây hoặc các nguồn dẫn từ sách này.
2. Hơi đánh ngờ một chút, vì Vũ Dương nay là huyện Bành Sơn, thuộc Tứ Xuyên, có địa danh Bạch Lộc Sơn nay thuộc Hắc Long Giang. Thời bấy giờ không thuộc đất Tần. Có thể có Bạch Lộc Sơn khác ở trong đất Thục chăng? Có thể thấy từ Vũ Dương, các tôn thân nhà Thục có hai hướng chạy. Một về Đông qua Giang Nam (đường Thục sang Ngô thời Tam Quốc). Một chạy về Nam qua Vân Nam Quý Châu.
Vân Quý khi đó thuộc Sở là kẻ thù của Tần. Như vậy, tàn quân Thục có thể được dung nạp và có thời gian để nghỉ ngơi. Nhưng chẳng bao lâu Tần diệt Sở, con cháu nhà Thục lại phải chạy tiếp, có thể đem theo cả người Sở không chịu theo Tần. Làn sóng tỵ nạn Thục-Sở này vượt hồ Điền Trì (Côn Minh) tìm đến thượng nguồn sông Lô và tiến vào Việt Nam và Quảng Tây, lúc đó đang là đất của Lạc Việt. Khi đó Khai Minh Chế (Thục Chế) được liên minh tị nạn bầu lên làm lãnh đạo. Trên đường đi ông thu phục các bộ lạc của Tây Âu rồi các bộ lạc của Lạc Việt. Lạc Việt khi đó còn trong một trạng thái kém phát triển. Do đó các tù trưởng dễ dàng tôn Thục Chế có binh lực lớn, tổ chức tốt và mang đến văn minh làm vua. Cũng có thể có một vài phản kháng, nhưng dễ dàng bị bẻ gãy.
Hán thư chép: Khi đó Tây Âu Lạc Việt còn ở tình trạng bán khai, ở trần, che thân bằng vỏ cây, chưa biết đến quần áo. Có lẽ là còn đóng khố. Do đó An Trị Vương (Thục Chế) vốn ở nơi văn minh tới rất nhanh được các đầu mục bộ lạc suy tôn làm quân trưởng. Có lẽ đánh nhau không nhiều nên thời gian vừa đi vừa chính phục mới nhanh đến thế. Sách cũng chép người Lạc Việt tự xưng là người Lão (Lạo, Lào, Liêu???) nghĩa là răng sói, ý nói rất cường ngạnh hung dữ. (Đoạn này so sánh với người Âu Việt rất hiền lành). Sách Động khê tiêm chí của Lục Thứ Vân chép "Lão nhân xử vu lĩnh biểu hải ngoại, xạ sinh vi hoạt, thôn phệ côn trùng" Người Lão ở ngoài lĩnh biểu, săn bắn mà sống, ăn cả côn trùng". Nghe rất giống thói quen của người Lào, người Thái ăn các loại côn trùng, tuy dân Việt ta ngày nay vẫn ăn bọ xít, châu chấu, dế, nhộng, ong... đúng là "thôn phệ côn trùng" (dịch ăn là rất lịch sự, thực chất là ngốn, nuốt). Thời đó ăn côn trùng không có nghĩa là khoa học bổ dưỡng vi chất hay nghệ thuật ẩm thực đa dạng. Đơn giản không có gì ăn đành chén côn trùng.
Đọc tiếp: Vì thế người Thục muốn tiếp tục Nam tiến về đồng bằng Bắc Bộ nơi có nhiều thức ăn ngon lành hơn. An Trị Vương Khai minh Chế mất năm 95 tuổi. Con là Khai Minh Phán mới 10 tuổi lên thay, người trong họ là Khai Minh Mô làm nhiếp chính. Các tù trưởng bộ lạc nghe tin bèn bao vây kinh đô, bức Thục Mô từ chức. Các tù trưởng sau đó bãi binh nhưng hình thành việc cát cứ. Thục Phán chỉ nắm được một khu trong 10 khu của vua cha đã chinh phục được, còn lại chỉ có tiếng hão, không có thực quyền. Điều này cũng gần giống việc Ngô Xương Ngập, Ngô Xương Xí sau này, không kiểm soát được tình hình tự nguyện (hay buộc phải) trở thành một sứ quân. Thục Phán bèn thách đố các đầu mục thi (chắc khi này cậu bé đã đủ lớn) và thắng trong 10 môn. Từ đó thống nhất lấy lại được đại quyền như cha. Câu chuyện này gọi là "Thập hạng toàn năng tái" được sách Tàu ghi lại. Như thế cụ An Dương Vương nhà mình, tài năng không phải tay vừa.
Đánh thắng Hùng Vương: Sách Tàu không ghi lại các chi tiết về Hùng Vương mà Đại Việt Sử Ký Toàn Thư ghi điều này đầy tiên. Có thể tồn tại huyền sử truyền miệng Hùng Vương là vua của nước Văn Lang. Nhưng sách Tàu có ghi việc Thục Phán chinh phục Hùng Vương hay Lạc Vương (chưa thể xác định rõ Hùng Vương ghi trong sử Tàu người Tráng hay người Việt). Theo đó, Hùng Vương là nhân vật có sức khỏe tuyệt luân, nhiều lần đánh bại quân Thục, nên chủ quan, uống rượu, chơi gái. Thục Phán mang quân đến còn chưa tỉnh rượu, rồi cuống quýt lao đầu xuống giếng chết. ( Chỉ hơi khác một chút so với Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, do đó có thể các sử gia ta dựa vào đây mà cải biên).
Như vậy Thục Phán lên ngôi kiêm tính toàn Âu Lạc lập ra nước Âu Lạc tự xưng là An Dương Vương, đóng đô ở Phong Khê rồi dời về Cổ Loa. Quân Thục rất giỏi làm cung nỏ, đã có tiếng ở Trung Quốc thời cổ. Khi sang Việt Nam có thể đã phát minh thêm công nghệ bịt mũi tên bằng đồng để có sức công phá và sát thương mạnh hơn. Việc Âu Lạc bị Triệu Đà thôn tính được ghi tường tận trong sử sách Trung Quốc do đó sự tồn tại của An Dương Vương là chắc chắn hơn Hùng Vương.
Kết luận:
1. An Dương Vương và Âu Lạc có thể có thật vì có trong các sách sử xuất hiện khá sớm.
2. Việc An Dương Vương dòng dõi nhà Thục cũng là khả thi, do quá trình di dân từ Thục từ kéo dài hơn 100 năm từ khi nhà Thục bị diệt năm 316 TCN đến khi An Dương Vương diệt xong Hùng Vương lập nước Âu Lạc 207 TCN.
3. Chưa rõ Hùng Vương bị Thục Phán diệt có phải là ở Phú Thọ và có nước Văn Lang hay không. Hay đó là một Hùng Vương nào đó người Tráng.
II. An Dương Vương Thục Phán có gốc Hán Tạng?
Đây có thể là 1 trong 5 thành phần sắc tộc chính để hình thành nên dân tộc Việt vào thế kỷ 10-15 bao gồm:
1. Nam Á (Khmer, Mường, Lê Lợi)
2. Nam Đảo (Một phần của Chiêm Thành, phần kia của Chiêm Thành là người Thủy xuất phát từ Hải Nam, châu Đạm châu Nhĩ).
3. Thai-Kadai (Lạc Việt-Tráng, Hùng Vương)
4. Hán (Triệu Đà, Lý Bôn, Lý Công Uẩn, Trần Cảnh, Hồ Quý Ly)
5. Hán- Tạng.
Ngày nay, phân tích gien đã cho thấy các thành phần như vậy. Câu hỏi đặt ra là thành phần Hán Tạng có gốc gác cụ thể thế nào và hòa huyết vào đại gia đình dân tộc Việt từ bao giờ. Rất có thể An Dương Vương là làn sóng hòa huyết lần thứ nhất của người Hán-Tạng.
Trong phần I chúng tôi cho rằng nếu thái tử nhà Thục chạy về nước Sở với một binh lực còn khá lớn, các lực lượng Thục cũng dần dần tụ họp lại ở phía Nam nước Sở, trong một thế hệ. Khi nước Sở mất, họ lại di chuyển tiếp về phía Nam, thống nhất các bộ tộc người Việt ở đây và trở thành thủ lĩnh liên minh bộ lạc, đã đánh bại quân Tần là Đồ Thư trong địa phận Quý Châu, Quảng Tây. (Thục Chế, Thục Phán). Sau đó Thục Phán diệt nước Văn Lang (nếu có), chứ không phải là liên minh.
Âu Việt gồm Đông Âu, ở vào vùng Phúc Kiến, Cối Kê là nước Việt của Câu Tiễn. Tây Âu ở bắc Quảng Tây, có sông Quế, sông Tầm. Sách Cựu Đường Thư, Địa lý chí nói "Thời Tần là Quế Lâm, thời Hán là Uất Lâm. Ấy là nơi cư trú của Tây Âu, Lạc Việt cổ". Có thuyết cho rằng Tây Âu và Lạc Việt cũng là một, chỉ các bộ lạc ở vùng Quảng Tây, Quý Châu (10 bộ lạc liên minh với Thục Chế).
1. Thuyết An Dương Vương có gốc gác từ nước Thục cổ là có khả năng thực tế. Vừa có thể giải thích được thành phần Hán-Tạng trong gien người Việt.
Thứ Hai, 26 tháng 3, 2018
Sách Chu bễ có phải là ngụy thư?
Đặc biệt mô hình vũ trụ của Chu bễ hoàn toàn khác biệt với Thiên văn học dòng chủ lưu của Trung Quốc với thuyết Cái thiên như sau "Thiên viên như trương cái, địa phương như kỳ cục" (Trời tròn như cái lọng, đất vuông như bàn cờ). (Cái là cái lọng do đó thành tên chủ thuyết). Chủ thuyết này là bất di bất dịch trong quan niệm chủ lưu của Trung Quốc cho đến cuối đời Minh, khi Thang Nhược Vọng (giáo sĩ người Đức) đưa ra Tân thuyết giải thích bốn mùa, năm đới khí hậu, gây ra ầm ĩ và phản đối trong giới sĩ phu. Tuy nhiên, trong sách Chu bễ đã nói về việc tại Bắc Cực đến hè băng cũng không tan. Chu Bễ cũng nói mặt đất hình tròn, bầu trời cũng hình tròn, song song với mặt đất cách mặt đất 8 vạn dặm. Cần nói rõ Chu Bễ không hề nói Trái Đất hình cầu, mà chỉ nói bề mặt Trái Đất cong, có thể là một phần của mặt cầu và vì thế cũng không hề biết có Nam Cực.
Điều đáng chú ý là mô hình vũ trụ của Chu Bễ hoàn toàn giống hệt như mô hình có trong sách cổ của Ấn Độ là Puranas (Vãng thế thư), ước ra đời TK10 trước CN. Nhiều học giả Trung Quốc cũng cho rằng, tuy ý tưởng giống nhau có thể sinh ra tại nhiều nơi, nhưng việc trùng đến mức quái dị từ đại thể đến tiểu tiết giữa Chu Bễ và Puranas, khó lòng không cho chúng là từ một gốc. Chính học giả Trung Quốc nói rằng cho rằng "Ngẫu nhiên xảo hợp" là cách giải thích vô cùng miễn cưỡng.
Ở điểm này, các học giả TQ có hai cách nhìn nhận khác nhau. Một cho rằng Puranas chép từ Chu Bễ, rồi từ đó truyền sang Lưỡng Hà, Hy Lạp, La Mã. Quan điểm khác cho rằng, Chu Bễ nhắc tới Chu Công (TK10 trước CN) và Trần Tử (TK1 trước CN, tức là thời Hán Vũ Đế), như vậy không thể ra đời trước Puranas. Lại có người cho rằng Chu Bễ được soạn một lần thời Chu Công và lần sau thời Trần Tử. So sánh văn phong với sách Hoài Nam Tử, người ta có thế thấy phần Trần Tử có văn phong đồng thời với Hoài Nam Tử. Từ đó suy ra Chu Bễ có thể có niên đại như TK1, nếu bản Hoài Nam Tử mà chúng ta có hiện nay đích xác là nguyên bản của Lưu An. Tuy nhiên, các chi tiết của phần có Trần Tử cũng giống Puranas. Mặt khác, thời cổ không có Internet, thời gian để một cuốn sách do Chu Công phổ biến ra xã hội đã lâu, để lan truyền ra ngoại vực không thể trong vòng vài năm.
Đáng chú ý trong Hán Thư của Ban Cố (TK1) trong Nghệ Văn Chí có nhắc đến hai tác phẩm toán học là Hứa Thương Toán Thuật và Đỗ Trung Toán Thuật, không hề có Chu Bễ Toán Kinh. Do đó có khả năng là Chu Bễ Toán Kinh thời đó vẫn chưa có.
Và còn một số lý do khác mà tôi sẽ không thảo luận ở đây, đa số học giả thừa nhận, thời gian ra đời sớm nhất có thể có của Chu Bễ là vào đời Hán Vũ Đế (TK1 trước CN). Nên nhớ rằng thời gian này là thời gian thuyết Cái thiên của Trương Hành đang là chủ lưu. Nội dung của Chu Bễ mâu thuẫn hoàn toàn với các thuyết chủ lưu, khó lòng có thể chen chân vào học giới. Cách học của người Trung Quốc lại rất câu nệ sách vở giáo điều, không bao giờ tham khảo các quan điểm dị biệt, cho là tà thuyết.
C. Cullen cho rằng Chu Bễ không phải một người viết, mà đại thể có thể chia thành nội thiên và ngoại thiên. Nội thiên lấy Trần Tử làm trung tâm, có thể được soạn vào thế kỷ 1. Tuy nhiên ngoại thiên không thể soạn muộn hơn thế kỷ 2. Lại có học giả Nhật Bản căn cứ vào nội dung của Chu Bễ có xác định vị trí của sao Bắc Cực luận đoán ra, người viết quan sát thiên tượng của TK6-TK7 trước CN. Tuy nhiên cách lập luận này đã bị phê phán rất nhiều.
Hiện nay đa số học giả thống nhất được là Chu Bễ không do một người trước tác do nội dung và văn phong đều bất đồng. Các tác giả cũng ở nhiều thời kỳ khác nhau, và có những quan điểm bất đồng. Trong lịch sử Trung Hoa, việc san định, chú giải sách khá tùy tiện, như sách Tam Quốc của Trần Thọ nhưng lượng đóng góp của Bùi Tùng Chi rất lớn, và không loại trừ việc sửa cả văn gốc. Hoặc Tôn Tử Binh Pháp có thêm rất nhiều đóng góp của Tào Tháo đời Hán và Lý Tĩnh đời Đường cách rất xa về niên đại. Nếu thừa nhận Chu Bễ có nhiều tác giả và nhiều quan niệm khác nhau, cần phải xác định ý tưởng nào thuộc về thời kỳ nào thông qua nội dung và so sánh với chủ lưu chứ không thể gán ghép toàn bộ nội dung cho một thời kỳ để ra những kết luận không có cơ sở, như một năm dài 365.25 ngày (nếu có) có trong Chu Bễ được gán ghép cho thời Chu hoặc Xuân Thu, Chiến Quốc. Như vậy những lời được cho là của Thương Cao, Chu Công, Trần Tử đều là hư cấu của người sau.
Các học giả Trung Quốc cũng đặt vấn đề "Tri thức về thời tiết nóng lạnh và 5 đới khí hậu từ đâu đến". Tri thức thiên văn chủ lưu của người Trung Quốc không cho phép giải thích thời tiết khí hậu. Do đó có thể nói đến thế kỷ 17, Thang Nhược Vọng mới mang tri thức này vào Trung Quốc. Tuy nhiên Chu Bễ Toán Kinh lại có manh nha loại tri thức này, là một điểm kỳ lạ và đứt đoạn.
Tôi tạm dịch một số đoạn nhận định sau
比较合理的解释似乎只能是 ∶ 这些知识不是中国传统天文学体系中的组成部分, 所以对于当时大部分中国天文学家来说, 这些知识是新奇的, 与旧有知识背景格格不入的, 因而也是难以置信的.
So sánh giải thích hợp lý tựa hồ chỉ có một khả năng là∶ những tri thức này không phải là bộ phận trong hệ thống thiên văn học truyền thống của Trung Quốc, vì lẽ đó đối với đại bộ phận các nhà thiên văn học Trung Quốc thời đó mà nói, những tri thức này là mới mẻ, không ăn nhập gì với các tri thức cũ mà họ cho, vì thế rất khó chấp nhận.
其次, 在古代中国居传统地位的天文学说 ---- 浑天说中, 由于没有正确的地球概念, 是不可能提出寒暑五带之类的问题来的.
Hơn nữa, trong thuyết Hỗn thiên, thuyết thiên văn có địa vị (trung tâm) trong truyền thống cổ đại Trung Quốc, do không có khái niệm địa cầu chính xác, không thể có năng lực đề xuất các loại vấn đề liên quan tới thời tiết, khí hậu.
Để kết luận, tôi xin bày tỏ quan điểm cá nhân, người đọc tùy ý lựa chọn tin tưởng hay không: Khả năng Chu Bễ Toán Kinh là ngụy tạo dần dần từng chi tiết hoặc toàn bộ không phải là không có. Việc ngụy tạo sách vở cổ thư của Trung Quốc không phải là chuyện hiếm. Việc các tri thức về vũ trụ của Chu Bễ gần như bê nguyên xi từ Puranas là hiển nhiên. Khả năng trùng hợp (xảo hợp) rất hiếm hoi như lạc đà chui qua lỗ kim, tuy theo thuyết lượng tử không phải là không có tý xác suất nào. Tin ở những điều may rủi vu vơ như vậy, trong khi có quá nhiều điều hay và chắc chắn hơn, phụ thuộc bạn có quá nhiều thời gian không biết dùng làm gì hay không. Cuối cùng, dù là ngụy thư, tự phát minh hay sao chép, các kiến thức có giá trị trong Chu Bễ cũng nằm ngoài kiến thức chủ lưu của Trung Quốc trong suốt lịch sử cho đến Trung hoa Dân Quốc. Do đó không thể coi là tri thức thiên văn học Trung Quốc. Mặt khác các kiến thức này đều có ở Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ trước Chu Bễ rất nhiều. Những điều tôi nói đây không phải là suy đoán cá nhân, hay ý kiến của học giả phương Tây mà của các học giả Trung Quốc có lý trí và công bằng.
Tôi sẽ trở lại lịch tứ phân và việc người Trung Quốc biết một năm có 365.25 ngày từ khi nào sau vào một dịp khác.