Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 5 tháng 10, 2025

Từ Thứ và đại chiến Đương Dương-Tràng Bản-Giang Hạ

Từ Thứ tự Nguyên Trực. Khi còn trẻ chuộng sức mạnh, muốn làm nên sự nghiệp như Hoắc Khứ Bệnh, Vệ Thanh, bèn theo nghề cung kiếm. Thứ thường sử cặp song kiếm, nhiếp hồn đối phương trong nháy mắt, rồi vỗ vai khẳng khái kết bạn. Thường tự cho rằng mình là quân tử kiếm, không cầu thắng làm thiên hạ vô địch, mà chỉ bảo vệ lẽ phải.
Một ngày nọ, bạn thân của Thứ có xích mích với cường hào rồi ép chết. Người nhà đến khóc lóc, kể khổ với Thứ. Thứ ngửa mặt lên trời than: Tiếc thay cho đôi song kiếm của ta lại phải ra tay với bọn chuột nhắt, nhưng thù bạn không báo sao đáng gọi là quân tử kiếm. Bèn một mình xách song kiếm, đang đêm vượt tường vào nhà cường hào lấy mạng kẻ thù, rồi cao chạy xa bay. Quan phủ cáo thị khắp nơi truy nã Thứ. Có người biết hành tung của Thứ nhưng sợ thủ đoạn của Thứ, nên không dám báo quan.
Thứ cùng đường, có người giới thiệu, bèn nhập bọn với lũ lục lâm dư đảng Khăn Vàng, ngày chẹn đường lữ khách kiếm tiền mãi lộ. Một hôm, nhìn đồng bọn tranh giành, chia chác đồ cướp được, tủn mủn từng li bạc, thấy ngán ngẩm, bất giác lòng nguội lạnh như băng. Thứ ngẩng đầu trông trời thở dài: Một thân võ nghệ siêu quần, chí lớn trùm đời, mà tới bước phải làm tên cướp đường nhỏ mọn thế này đúng là trời định. Có lẽ đó là số kiếp cho nghề cung kiếm của ta. Bèn chôn đôi kiếm bên sông, thề với trời đất cả đời sẽ không động tới đao kiếm. Đoạn dứt áo ra đi, quyết chí lập nghiệp từ đầu bằng sách vở.
Thứ có hai người bạn cũ là Thạch Thao và Thôi Quân, nghe nói Thứ sử Kinh Châu là Lưu Biểu có hùng chí, văn tài lại đang thu nạp hào kiệt, bèn cùng nhau nhằm phương Nam mà đi. Đến vùng Long Trung, Dĩnh Châu đất đai màu mỡ bèn ở lại làm nghề nông. Bấy giờ, Dĩnh Châu là nơi tụ hội nhân tài. Tư Mã Ý, Quách Gia, Trình Dục đều trưởng thành ở nơi này. Thứ, Thao và Quân theo học Bàng Đức Công, cùng với bọn Tư Mã Huy, Gia Cát Lượng và Bàng Thống. Trong đó Huy lớn tuổi hơn cả được tôn làm anh. Thứ ngày đêm chuyên cần đọc sách, trong vài năm ôm hết kinh luân thiên hạ, chuyên về lược thao binh pháp, cùng Bàng Thống bàn luận rất tương đắc. Thứ còn chuyên cần cày cấy, có được sản nghiệp khá khá, bèn đón mẹ về ở cùng, thờ mẹ rất hiếu.
Một ngày kia, nghe tin Lưu Bị đóng ở Tân Dã là Tả Tướng quân nhà Hán là người có hùng tâm tráng chí, Thứ buông sách ngẩng đầu lên trời mừng rỡ "nay ta gặp được chân chúa cũng là cơ hội ngàn năm có một". Bèn cưỡi lừa, đeo túi vải, đến cửa huyện xin ra mắt và tự tiến cử. Bị gặp Thứ, tâm đầu ý hợp, bèn dùng làm quân sư, kính trọng như khách. Thứ nói: Tôi xin tiến cử với chúa công hai người, một có tài lược thao, chinh phạt mở rộng bờ cõi, bình thiên hạ, người kia giỏi cai trị, ngoại giao. Bị hỏi là ai. Thứ thưa: Người thứ nhất là Bàng Thống, hiệu Phụng Sồ, có mưu lược, dùng binh như thần, có thể coi như Hàn Tín đời nay. Người thứ hai là Gia Cát Lượng, hiệu Phục Long, có tài năng cai trị, có mưu trí, lại giỏi biện bác, ngoại giao, có thể coi như Trương Lương của ngài. Bị mừng lắm: Danh của Phụng Sồ-Phục Long ta đã từng nghe Tư Mã Huy nói tới. Thứ nói: Hai người này nếu chúa công muốn mời phải mang lễ trọng để sau này chúng tướng sợ phục thì mới mưu sự được. Bị bèn sắm lễ trọng thân đi mời Lượng và Thống. Chỉ tiếc rằng, Thống bấy giờ đã sang Giang Nam làm việc dưới trướng Lỗ Túc. Bị, Lượng và Thứ, ngày đêm bàn bạc việc dân và binh. Từ đó mới có Long Trung Sách, mưu đồ chia ba thiên hạ thành thế chân vạc. Sách đó do Lượng là tay thủ bút, Bị là người có tầm nhìn, Thứ là người thêm màu sắc, đường nét và sách lược quân sự vậy. Có người cho rằng Long Trung Sách là do Lượng viết sẵn khi còn ngủ vùi ở Ngọa Long Cương, thật quá sai lầm.
Chẳng bao lâu, Tào Tháo diệt xong nhà Viên, đem quân trăm vạn nam hạ quyết dẹp yên các sứ quân Kinh Châu và Giang Đông. Lưu Biểu chết đúng lúc Kinh Châu trong cảnh cơm sôi lửa bỏng đó. Con trai thứ của Biểu là Lưu Tông, nghe lời bọn Khoái Việt, đem 9 quận Kinh Tương đầu hàng Tào Tháo. Bị cùng Thứ, Lượng dẫn bọn tướng võ là Quan Vũ, Trương Phi, Triệu Vân kịch chiến với quân Tào tại Tân Dã và thất lợi.
Thứ bèn bày mưu "Nếu ta cố đánh nhau với Tào bây giờ chẳng khác trứng chọi đá. Nếu vừa đánh vừa lui sớm muộn cũng bị Tào Tháo bắt. Chi bằng, chúa công cho Quan Vũ đem quân bản bộ chạy gấp về Giang Hạ, cướp lấy quân thủy bộ của Lưu Kỳ, đang không theo hiệu lệnh của Tông, lập sẵn phòng tuyến thứ hai. Tháo tuy có trăm vạn quân nhưng đến đó đã như cây cung căng hết sức bật, dễ dầu gì nuốt sống được ta." Bị nói "Ý kiến của quân sư rất cao. Nhưng nay đang cần có quân để chống Tào. Để Vũ đi là sinh lực của quân ta chỉ còn một nửa." Thứ nói "Cũng ví như để dành giống cho mùa sau trong nghề nông vậy. Nếu cùng ở đây, kéo dài được thêm vài ngày rồi cũng mất cả. Có điều đây là canh bạc mạo hiểm, những người ở lại phải đủ sức và can trường giữ được chân quân Tào ít nhất 10 ngày để Vũ có thời gian chuẩn bị." Bị nói " Trương Phi và Triệu Tử Long theo ta đã lâu, như thủ túc, là các tướng tài thời này, lại rất trung thành. Lưu Phong, My Phương cũng là những dũng tướng, có tài trí, thao lược đều là người thân cận trong nhà. Giản Ung, My Chúc đều có thể cầm quân. Nhưng làm thế nào để giữ cho được 10 ngày?".
Thứ đáp "Thủy quân Giang Hạ thiện chiến khét tiếng thiên hạ. Năm xưa, Tôn Kiên oai dũng mà cũng phải mất mạng dưới tay Hoàng Tổ và Tô Phi trong thủy chiến. Nay Tháo không giỏi thủy chiến, chỉ cậy vào quân bộ, ắt sẽ phải tụ trăm vạn quân ở Nam Quận, Công An, Xích Bích lâu dài. Như vậy, cả xứ Giang Nam sẽ sợ mất mật mà chấn động, Ngô Hầu thế nào cũng sinh lòng nghi ngờ Tào Tháo. Khi đó ta có thể sai Lượng uốn ba tấc lưỡi thuyết Đông Ngô cùng liên minh chống Tào. Ta có 5 vạn quân thủy bộ, cùng với 7 vạn quân Ngô, dựa vào thế hiểm của Trường Giang, lại thêm lòng dân và sĩ tử Kinh Sở, Ngô Việt không thích lệ thuộc Trung Nguyên, đủ đối chọi với quân Tào".
Lượng nói "Tôi có quen Lỗ Tử Kính đại tướng Đông Ngô, có thể nhờ ông ấy tiến dẫn với Ngô hầu. Tôi tin chắc rằng Ngô sẽ không muốn để Tào nuốt được bên ta. Nếu ta thất bại sẽ đến lượt họ phải đơn độc chống Tào. Vì thế, nếu khéo léo, ta hoàn toàn có thể thuyết phục được Đông Ngô liên minh chống Tào. Vả lại, nay ta mới thua trận, Tào Tháo ắt cho ta không còn thực lực mà sẽ tập trung đánh Ngô mạnh trước. Khi Ngô và Tào đại chiến, chúng ta sẽ nhân cơ hội thu thập các quận ở Kinh Châu. Tuy vậy, việc cầm chân quân Tào phải nhờ thêm sức trăm họ đó". Thứ nói: "Nếu dốc sức mà đánh và giữ, có giữ được 10 ngày hay không rất khó nói. Tôi xin bày thế trận liên hoàn, không có đụng độ lớn, nhưng quân Tào phải gặp nhiều trận nhỏ, không biết tập trung đại quân ở đâu. Nhưng để chắc chắn phải cần đến đảm và lược của hai tướng Triệu và Trương."
Bị nghe lời, bèn phái Vũ đem 2000 quân kỵ bản bộ ngày đêm chạy trước tới Giang Hạ. Nhân Lưu Kỳ không phòng bị, Vũ xuất kỳ bất ý đoạt binh phù, có được thêm ngay 2 vạn quân thủy và 1 vạn quân bộ, tích súc lương thực, cắm cờ quạt, chông chà tua tủa, san sát dọc theo mặt sông, lập thành phòng tuyến theo thế ỷ đốc chờ sẵn để đón quân Lưu Bị.
Hôm sau, Lượng cho dán cáo thị khắp nơi "Ai không muốn ở lại với Tào thì theo Lưu Sứ quân về Kinh Châu". Trăm họ, phần đông không biết mô tê phải trái gì, nghe trăm vạn quân Tào đến thì sợ mất mật, gồng gánh theo Bị khá đông. Quân tuyển phong bên Tào là cặp dũng tướng mưu trí Trương Liêu-Từ Hoảng đang tiến đánh như bay, vấp ngay phải một đoàn người trẻ con, cụ già, đàn bà, gồng gánh lôi thôi, lếch thếch, eo xèo. Liêu-Hoảng đều đã nhận quân lệnh rất nghiêm của Thừa Tướng không được quấy động nhân dân, rút cục không biết phải ứng phó thế nào. Hai tướng bèn dừng ngựa hạ trại đợi đại quân tới, để xin chỉ thị mới. Tháo nghe tin thám mã hồi báo cũng không biết được sự thể, chỉ thấy tình huống này chưa từng thấy trong binh pháp, tạm thời không ra được quyết sách. Bèn sai đại quân tiến gấp, sau 5 ngày mới tập kết được toàn quân và đồ truy trọng tới Đương Dương.
Tại Đương Dương, Từ Thứ lại quyết định chia đôi quân, bố trí 2000 quân bộ của Trương Phi lui về lập phòng tuyến thứ hai cách đó nửa ngày đường tại sườn dốc Tràng Bản. Tràng Bản có địa thế hiểm, đường độc đạo, lại có sông che chắn, toàn quân không thể dàn hàng ngang cậy số đông đi qua, là nơi lý tưởng để cố thủ. Cánh quân của Triệu Vân sẽ có nhiệm vụ tử thủ bảo vệ trận địa Đương Dương để đại quân của Bị rút lui nếu đại chiến có hướng bất lợi.
Theo kế hoạch của Thứ, tại Đương Dương quân nhà Lưu chỉ cần duy trì được 3 ngày. Ngày đầu tiên, Bị cho treo miễn chiến bài, với dòng chữ "quân đi xa mỏi mệt, không chiến" ở dưới ký "Nhân nghĩa quân". Tào Tháo nghe thám tử hồi báo, vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ cười lớn: "Huyền Đức muốn dựng cờ nhân nghĩa như Tống Tương Công ngày xưa ư. Cung kính không gì bằng theo ý." Bèn ra lệnh trong quân cho cắm trại nghỉ ngơi hai ngày để lấy sức. Trình Dục nói: "Thưa chúa công, tuy quân ta đi đường xa mỏi mệt, nhưng chưa đến nỗi kiệt sức. Cũng ví như gân đang săn, khí đang hăng, cố gắng đánh ngay vẫn có thể bắt Lưu Bị. Tôi e rằng cho nghỉ 2 ngày lòng quân sẽ trễ nải." Tháo cười "Ta đánh trận cả đời lẽ nào không biết điều ngươi nói. Phải cho nghỉ ngơi 5 ngày, lòng quân mới trễ nải. Quân ta đã đi bộ hàng trăm dặm, nghỉ 2 ngày dưỡng sức rất có lợi, sức mạnh tăng lên hàng chục lần. Có điều ta chưa hiểu tại sao Huyền Đức lại tốt bụng như thế? Hay vì hắn chưa hiểu phép dĩ dật đãi lao trong binh pháp?"
Hai hôm sau, Tào -Lưu đại chiến tại Đương Dương. Dân chúng bất đắc dĩ phải chứng kiến cảnh đâm chém máu chảy thành sông, khóc như ri, kêu gọi nhau dậy đất, tạo nên một chiến trường rối loạn chưa từng có, dân binh trộn lẫn lộn nhào, chiến xa lẫn với trâu bò gà qué. Thật khó biết phải đánh vào đâu và đánh kiểu gì, xung xa hay trường trận, thật không có bài vở nào có. Quân Lưu lẩn trốn trong các đám dân, bất đồ xông ra tập kích rồi lại biến mất. Quân Tào đang chiếm ưu thế áp đảo nên cũng không vội vã, tránh thương vong vô ích cho dân và cho quân mình. Khi trời sập tối, toàn bộ đại quân của Lưu Bị với các chiến tướng Lưu Phong, My Chúc, My Phương, Giản Ung đã rút khỏi chiến trường di chuyển về phía sau phòng tuyến dựng sẵn ở Tràng Bản. Trên chiến trường chỉ còn lại quân bản bộ của Triệu Vân gồm 500 người và các nhóm nạn dân. Vân cho đốt hàng ngàn đống lửa. Tháo quan sát từ xa tưởng đại quân Lưu Bị hạ trại bèn cho khua chiêng thu quân và gửi khoái mã đem thư miễn chiến sang quân Lưu hẹn giờ Mão hôm sau đối trận quyết định thắng thua.
Trình Dục vào trình với Tháo "Tôi đã bắt được mẹ Từ Thứ trong đám nạn dân. Xin đem vào yết kiến Thừa Tướng." Tháo cho mời vào, đối đáp rất lễ phép và trọng hậu. Tháo nói "Ta là Thừa tướng Đại Hán, muốn thống nhất thiên hạ để xã tắc khỏi phân tranh. Ta chỉ muốn dẹp yên những kẻ phân tranh chống đối để quốc gia được yên bình. Mong lão mẫu nhìn vào đại cuộc hiểu cho. Lệnh lang là nhân tài thời nay, trót theo phản loạn, ta sẽ khoan hồng và trọng dụng." Từ Mẫu nói "Trước kia tôi chưa được gặp ngài, chỉ nghe thiên hạ đồn đại nửa tin nửa ngờ. Nay mới biết ngài quang minh chính đại như vậy. Xin tình nguyện viết thư khuyên con về hàng nhà Hán." Tháo rất mừng lại khoản đãi Từ Mẫu càng trọng hậu hơn.
Sáng hôm sau, giờ Mùi, quân Tháo tiến lên chỉ gặp quân bản bộ của Triệu Vân. Vân ra sức đánh. Đến giờ Ngọ chỉ còn lại vài chục tên tướng tâm phúc, Vân theo hẹn với Thứ, bèn cho tướng sĩ, mở đường máu thoát ra khỏi chiến trường. Trên đường rút chạy, Vân bắt gặp một chiếc xe. Trong đó chỉ có một đứa trẻ đang nằm khóc, nhìn ra chính là Lưu Thiện, con trai của Bị bị thất lạc. Người nhũ mẫu đã bị giết nằm chết lạnh bên cạnh. Vân bèn buộc Thiện vào người, cùng vài chục quân cưỡi ngựa chạy về Tràng Bản.
Chiều hôm đó, đại quân Tào hơn 10 mũi truy đuổi tới dốc Tràng Bản, gặp quân Trương Phi đang trấn giữ ở đó. Quân Tào, cờ xí rợp trời, trống chiêng inh ỏi, quân đi đầy đồng, thế dời non lật biển. Trương Phi trắng trẻo, tuấn tú, cao lớn, thong dong cưỡi ngựa trông vô cùng nhàn nhã, dẫn quân lập trận ngăn lại. Tháo từ xa nhìn Phi, bất giác thấy kính phục, nhớ lại hồi luận võ nghệ ở Hứa Đô, Quan Vũ có nói Trương Phi võ nghệ sức mạnh còn cao siêu hơn Vũ vài phần. Bèn cho quân hạ trại, hẹn sáng mai quyết một trận tử chiến.
Sáng hôm sau, Tháo cho cánh quân tiên phong của Tào Nhân, Nhạc Tiến xuất trận. Trương Phi dựa vào thế hiểm của sườn dốc Tràng Bản cầm cự được từ sáng đến tối, Qua ngày thứ hai, Tháo cho toàn quân xuất chiến, đại tấn công, Bị cũng đem quân chủ lực tới trợ chiến cho Phi. Tới chiều, quân của Bị đại bại, từng tốp một trốn chạy khỏi chiến trường. Tháo cho thu quân ăn mừng chiến thắng, hẹn ngày mai sẽ tận diệt tàn quân của Bị. Điều Tháo không ngờ là trong đêm đó, Bị và Thứ cũng đang ăn mừng chiến thắng của chiến dịch Tân Dã-Phàn Thành-Đương Dương-Tràng Bản. Có lẽ từ đây, mà Á Đông ta có tục lệ hai phe tham chiến đều mừng chiến thắng.
Đến nửa đêm, các quân kỵ bộ của Phi cũng nhổ trại bỏ chạy nốt về Giang Hạ để tập hợp với quân của Bị và Vũ. Kiểm điểm lại các quân tản mát lần lượt chạy về, số quân thủy bộ bên Lưu lên tới gần 6 vạn. Thứ lại sai người phao tin đồn ầm lên chuyện Lưu Tông đầu hàng Tào, được phong hầu nhưng bị Tháo cho người giết trên đường về Hứa Đô. Tin đó truyền sang Đông Ngô làm Tôn Quyền hoảng sợ, không dám chủ hòa. Trước đó, Thứ cũng đã viết thư cho Bàng Thống nhờ thuyết phục Lỗ Túc khuyên Quyền liên minh với Lưu Bị. Túc nhận mật lệnh của Quyền tới gần Tràng Bản, thì biết là Bị đã chạy về Giang Hạ, bèn tới Giang Hạ ra mắt Bị, nói về việc Quyền đồng ý liên minh chống Tào.
Tại Giang Hạ, Bị cho mở tiệc ăn mừng và khoản đãi thượng khách Đông Ngô là Lỗ Túc. Khi bình công, công đầu thuộc về Từ Thứ. Rượu đang vui, Từ Thứ bỗng ôm mặt khóc. Bị kinh ngạc hỏi duyên cớ. Thứ nói "Chẳng may mẹ tôi đã bị Tào bắt được. Người đã gửi thư khuyên tôi hàng Hán. Vì vậy tiệc hôm nay là lần cuối của tôi với chúa công."
Bị khẳng khái nghe lời "Ta rất tiếc, nhưng mẫu tử tình thâm, Nguyên Trực hãy về lo cho lão mẫu." Thứ nói "Chúa công đã có Khổng Minh giúp tôi cũng yên tâm phần nào. Việc quân sau này, tôi đã lập kế để tiến cử Bàng Sĩ Nguyên, tài còn gấp 10 tôi. Việc lớn lo gì không thành"
Lượng nói "Các nước đánh nhau, không bức bách mẹ cha của nhau. Ngày xưa Hạng Vũ còn không giết Thái Công. Chắc Tào Tháo không hại mẹ tiên sinh đâu. Tôi cho rằng Trung nguyên kẻ sĩ nhiều, tiên sinh về đó cũng chỉ mai một tên tuổi. Theo Lưu Sứ Quân, chúng ta sẽ là Trương Lương, Hàn Tín của nhà Hán"
Tuy vậy, vì mẹ, Thứ vẫn quyết ý ra đi. Bị lưu luyến nhưng không dám ép.
Trước khi sang bên quân Tào, Thứ ghé qua nhà Bàng Thống khẩn khoản nhờ Thống giúp Bị. Thống giận nói "người coi ta là món đồ thay thế để cúng tế như hình nhân thế mạng chăng". Bèn không nhận lời. Tuy vậy, sau này, Thứ đã có kế phản gián, khiến Lỗ Túc nhiều lần tiến cử nhưng Tôn Quyền và Chu Du không dùng Thống. Rốt cuộc Thống phải theo Bị, rồi giúp Bị lấy Tây Xuyên. Sau này, Lượng làm đến Thừa tướng nhà Thục, nghe tin bọn Từ Thứ, Thạch Thao, Thôi Quân làm quan bên Tào chức chỉ tới trung lang tướng, bèn ngậm ngùi than thở tiếc cho tài của các bạn.
Lại nói Tào Tháo, sau khi thắng lớn ở Đương Dương-Tràng Bản bèn cho quân thu thập Kinh Châu, Nam Quận, Tràng Sa vỗ yên dư đảng của Lưu Biểu. Trong vòng một tháng, đè nén kẻ phản kháng, lấy lòng kẻ thức thời, cắt đặt cai trị chu đáo. Lại thu thập được bọn nhân tài Khoái Việt, Sái Mạo. Phong cho Lưu Tông một chức quan cao nhàn tản ở kinh đô. Hai tháng sau Tháo mới mang quân sang Đông. Khi đó liên minh Lưu-Tôn đã hình thành xong.

Thứ Sáu, 15 tháng 11, 2024

Trung bình và trung dung

        1. Nếu ai hỏi tôi khái niệm Toán học nào sâu sắc và vĩ đại nhất, tôi sẽ chọn khái niệm “trung bình”. Tại sao không chọn khái niệm số, đơn vị hay số không như các nhà toán học hay nói? Số là một khái niệm tự nhiên, hình thành từ cuộc sống. Khi Con người quyết định đứng thẳng lên thì cũng là lúc số tự đến với Con người, không cần đến sự sâu sắc và vĩ đại, vì đó chính là Cuộc sống. 2. Số 1 đương nhiên tồn tại như một số, nhưng phát hiện con số này là đơn vị lại là một phát minh vĩ đại cần đến một trí tuệ Toán học chín muồi. Số 0 vốn không phải là một số, phát hiện ra nó là sự vượt trội về kỹ năng dùng số của Con người, do đó có thể nói đó là một sáng chế kỹ thuật ghi số vĩ đại. Tuy vậy, đơn vị 1 và con số 0 đều mang tính kỹ thuật, toán học vị toán học, sinh ra để làm Toán, không có tính nhân văn có thể so sánh với phép lấy trung bình.

3. Tôi cho rằng, với một mô hình ngôn ngữ lớn không có các thuật ngữ đơn vị hoặc số 0, AI vẫn có thể tạo ra các khái niệm đó trong một tương lai không xa. Tuy nhiên, tôi không chắc AI hiện tại có thể làm điều đó với phép tính trung bình. Nói một cách khác, phép tính trung bình có tính người hơn các phát kiến toán học vĩ đại khác. Sự vĩ đại có tính người sẽ nhân văn hơn nhưng cũng mang theo cả những thói hư tật xấu của con người.

4. Trung bình sinh ra để mô tả quy luật phổ quát của tự nhiên, vì thế nó là một phát minh vĩ đại và sâu sắc. Sự phổ quát này quán xuyến một triết lý căn cội của xã hội mà cụ Khổng cố đơn giản hoá thành khái niệm trung dung, vừa ngạo mạn vừa nhút nhát, vừa có vẻ trí tuệ vừa lười suy nghĩ.
5. Có lẽ trung bình sinh ra từ bản chất tranh chấp của con người. Thú vật cũng có bản tính tranh chấp, nhưng chúng chỉ có thể giải quyết tranh chấp bằng bạo lực hoặc một năng lực nào đó tinh tế hơn gây thiệt hại và khó chịu cho đối phương, buộc các đối tượng này phải từ bỏ tranh chấp. Trong thế giới thú vật, hoàn toàn không có nhượng bộ. Con người nhanh chóng nhận ra rằng, tranh chấp theo luật thú sẽ dẫn đến phải tiêu diệt đồng loại hoặc bị đồng loại tiêu diệt.
6. Đối với kẻ mạnh, sự tồn tại của đối phương cũng cần thiết, có khi còn quan trọng hơn đối tượng mà chúng đang tranh đoạt. Điều đó để chúng không bị cô đơn khi chống lại những đối tượng thứ 3, đang rình rập để tiêu diệt cả hai bên tranh đoạt. Thế giới tồn sinh trong rừng thẳm có quy luật sinh tồn vô cùng khốc liệt. Do đó, khái niệm trung bình ra đời cùng với nhân tính, sự thoả hiệp và rộng lượng. Con người thắng được cái tôi bản năng để tới cái tôi cao quý chỉ sau khi phát minh ra trung bình.
7. Sau này, chúng ta bị nhồi sọ ở tiểu học định nghĩa trung bình cộng là phải có hai số cộng lại chia đôi. Rồi lớn lên chúng ta lại mặc cả theo bản năng “cưa đôi”, tham nhũng cũng cưa đôi lợi nhuận với doanh nghiệp đút lót “mới bền”, liên minh cộng sinh đó mới kéo dài. Thực ra đó là một khái niệm trung bình man rợ kiểu thô bạo máy móc dành cho loài thú đột nhiên được làm người.
8. Chúng ta đừng nghĩ người thượng cổ là thô sơ, thời gian trưởng thành của họ từ khi biết đứng thẳng so với thời gian trưởng thành của họ đến chúng ta gấp tới hàng chục lần. Phép trung bình của họ là một khoảng nào đó hợp lý ở giữa, người có nhu cầu hơn sẽ được phần hơn. Họ không so đo lắm về sự chênh lệch. Công bằng tuyệt đối không đòi hỏi độ chính xác. Tôi đồ rằng phép cưa đôi chỉ xuất hiện khi có sự tham dự của người thứ 3, manh nha cho xã hội, bắt đầu từ thế chân vạc. Về mặt Toán học, ngày nay người ta đã phát hiện rất nhiều khái niệm trung bình đều cho kết quả nằm ở giữa chừng, trung bình cộng không phải luôn là trung bình hay ho nhất.
9. Chúng ta thử nghĩ xem cái đẹp là gì? Đừng ngắn quá, đừng dài quá, đừng béo quá, đừng gầy quá, đừng đen quá, đừng trắng quá, môi đừng dày cộp hay mỏng dính, mắt đừng ti hí hay trợn trừng trợn trạc. Đó chính là trung bình. Có người đã viết một chương trình xử lý ảnh, đầu vào là hàng ngàn bức ảnh các cô gái xấu xí theo các kiểu khác nhau. Sau khi lấy trung bình tất cả các đường nét, màu sắc, máy tính cho ra một bức ảnh một cô gái đẹp mĩ mãn. Điều đó cho thấy cái đẹp là cái trung bình. Tôi sẽ không tranh luận về quan niệm cái đẹp của xã hội bị trung bình hoá nên bị định kiến quy định.
10. Cái Thiện khó nói hơn, do có nhiều góc nhìn. Tuy nhiên, trong nhiều hoàn cảnh, cái Thiện thô sơ trong rừng chỉ có 1-2 cá thể không còn khả thi. Một khái niệm trung bình, được gọi là trung dung, tuy không thể lượng hoá khách quan, có thể xem là giải pháp cho Thiện cho xã hội. Vì Thiện không thể lượng hoá, nên Trung dung là một nghệ thuật sống, cố nhiên cũng sẽ bị lợi dụng bởi bọn “ỡm ờ, ba phải không chính kiến” nhưng vô cùng tinh ranh nhắm đến những phần chia chác khác bẫm hơn. 11. Vì vậy biết phân biệt giữa Trung Đạo và Ba Phải là phản ánh chất lượng của con người. Tuy vậy nói cho cùng, Thiện là một khái niệm trung bình trừu tượng nằm giữa việc không dám giết một con kiến đến bạo tàn. Có thể vô cùng nhút nhát nhưng có thể vô cùng táo tợn. Nói tóm lại, nếu chỉ hô hào khẩu hiệu Thiện chẳng nói lên được điều gì. Chính vì thế Thiện hay bị tôn giáo hoặc ý thức hệ lợi dụng, vì họ có thể nhào nặn nó theo ý muốn, rồi nướng chiên hoặc hấp thành những cái bánh thơm phức theo khẩu vị của đám đông u mê nhưng vô cùng manh động, tuy tỏ ra bướng bỉnh nhưng vô cùng dễ kích động theo chủ đích.
12. Tương tự, có một điểm trung bình giữa Giả dối và Thô lỗ được gọi là Trung thực. Trước một người què hồn nhiên nói về nhảy cao, trước người đui chê bai việc không biết màu sắc, không thể gọi là Trung thực, mặc dù đó có thể thoả mãn định nghĩa Trung thực trong rừng rậm.
13. Trong thời đại truyền thông, tuy các ý kiến có nhiều màu sắc, những đều thăng giáng không đáng kể xung quanh một số tâm điểm hút rời rạc. Chúng ta sẽ gọi đó là các quan điểm quá khích. Phải nói sự quá khích có sức hấp dẫn ghê gớm. Một mặt, bản năng của đám đông là lười suy nghĩ. Đa số người săn thông tin trên mạng không phải để tìm cái mới, nâng cao hiểu biết. Thực tế họ đã có chủ ý sẵn, phần lớn hình thành từ quyền lợi, xuất thân, thói quen. Họ không đủ sức, nghị lực và không có nhu cầu xem xét chủ ý đó một cách duy lý. Thay vì tra cứu, đọc sách, tìm hiểu, nghiền ngẫm, đối chiếu thực tế, chiêm nghiệm, họ sẽ lên mạng lười biếng tìm những mảng vá để đắp vào chủ ý cho na ná một chính kiến. 14. Đừng tưởng họ đọc, nghe toàn bộ lập luận của người khác để học hỏi. Họ chỉ hơm hớp, đợi có chỗ nào phù hợp cắt vội lấy một mảnh để vá vào chỗ họ còn thiếu. Tôi không tin ở những cái gọi là kiến thức ăn liền được vá víu đó. Đã nói về Bandera tức là phải biết về cuộc đời, hành trạng, tư tưởng và tác phẩm của ông ta trước khi tôn ông ta làm anh hùng dân tộc. Cũng cần xem liệu khái niệm anh hùng đó có mâu thuẫn gì với hệ thống giá trị vốn có của mình hay chỉ muốn biến hệ thống đó thành một nồi cám lợn.
15. Đạo Trung Dung cũng như mọi phạm trù triết học có nhiều biến thể. Từ việc đi tìm chân lý đến việc trùm chăn, hay định kiến hủ lậu đều có thể nhân danh Trung Dung. Nhưng Trung Đạo như một sợi chỉ mong manh xuyên suốt, mọi minh triết đều mong manh, trong một biển vô minh. Nấu cám lợn hiểu theo cách của bọn phàm phu tục tử cũng là một phép lấy trung bình.

Thứ Sáu, 10 tháng 6, 2022

Lịch sử và căn tính dân tộc,

     1. Chúng ta thường có một niềm tin ngây thơ rằng nếu cố gắng tìm chân lý, thoát khỏi mọi định kiến tôn giáo, ý thức hệ, lịch sử sẽ trở thành một khoa học khách quan.

2. Đã đành rằng lịch sử nên dựa trên khách quan một cách nhiều nhất có thể. Tuy nhiên, lịch sử không thể nào hoàn toàn khách quan, theo tiêu chí của khoa học tự nhiên (nói cho cùng khoa học tự nhiên cũng có rất nhiều điều mặc định).
3. Có thể tạm chia 2 phong cách viết sử: Trung Quốc và Hy-La. Sử Trung Quốc có thể chia loại Truyện-Sử ký, Toàn Thư và Thực Lục, với mức độ chân thực cao dần. Mẫu mực của Hy-La gồm 3 nhà cổ điển Heredotus, Thucidides và Tacitus với phong cách gần tương tự về độ chân thực như sử Trung Quốc. Tacitus có phong cách ghi chép tỉ mỉ chính xác gần như Thực lục. Trong khi Heredotus gần với Truyện-Sử Ký.
4. Tuy Heredotus cũng nhấn mạnh tính chân thực lịch sử, nhưng ông cũng nhận ra rằng trong lịch sử có những khoảng tối và tranh tối tranh sáng không thể nào làm rõ. Tôi nhớ một lần lái một chuyển xe tải một mình vào lúc 4 giờ sáng tới vùng biên giới ba tiểu bang New York-New Jersey-Pensylvania. Nơi đây là chân rặng núi Apalachia hùng vĩ, dọc theo những khe nước lớn, tuyệt đẹp, lúc ẩn lúc hiện, trong tranh tối tranh sáng trước bình minh. Tôi chợt nhận ra rằng lịch sử bắt đầu bằng những bút ký mà ở đó cách nhìn cá nhân có vai trò quyết định. Nếu như vậy, con người đi tìm chân lý lịch sử sẽ luôn có những cách nhìn của riêng mình.
3. Chúng ta không thể bắt các sự kiện lịch sử lặp lại như trong khoa học tự nhiên để kiểm chứng. Vì vậy, luôn cần có những giả thiết bổ sung. Các giả thiết này phụ thuộc vào nhãn quan, trực cảm của người viết và người cảm nhận lịch sử. Và cũng có những quy tắc và mỹ học của nó. Lịch sử cũng phải mở cho các khoa học khác vào để mô phỏng kiểm chứng, khi chúng ta "giải thích" xã hội, tự nhiên bằng lịch sử. Và ngược lại các ngành khoa học khác cũng đưa đến cách nhìn mới về lịch sử.
4. Chính vì thế các sử gia đương đại luôn có những phóng chiếu của mình về lịch sử vào các vấn đề đương đại. Vì vậy lịch sử sẽ là đề tài có thể khai thác mãi mãi. Người ta có quyền làm điều này vì rất nhiều sự kiện, thời kỳ lịch sử không đủ sử liệu để tái hiện một bức tranh hoàn chỉnh và có ích. Việc bổ sung vào các trực quan hoặc ý đồ khác nhau sẽ có những bức tranh khác nhau. Vấn đề của lịch sử không phải là bức tranh nào đúng hơn bức tranh nào mà là trực cảm lịch sử và liên tưởng tới các vấn đề hiện tại, hoặc các giá trị tinh thần lâu dài. Có những tiêu chuẩn mĩ học cho trực cảm lịch sử, chứ không phải là mọi lựa chọn bừa bãi là bình đẳng. Cũng như con người ta bình đẳng nhưng sẽ có vấn đề nếu coi một cách hành xử man dại ngang hàng với cách hành xử văn minh.
5. Chúng ta hãy suy nghĩ tiếp về quy luật vận động của các trực cảm lịch sử. Điều gì chi phối quy luật này? Có thể có nhiều yếu tố khác nhau, nhưng tôi muốn nhấn mạnh tới sự hình thành căn tính dân tộc, bởi có lẽ đây là động lực quan trọng và cũng đầy cạm bẫy nhất.
6. Đặc trưng quan trọng thứ hai của lịch sử là làm bệ đỡ cho căn tính của dân tộc. Các dân tộc có thể cùng phát triển đến một điểm đến, ở một nền văn minh có thể giống nhau và có thể cùng một xuất phát điểm ở châu Phi, Lưỡng Hà, hay ở chân Hy Mã Lạp Sơn, châu thổ sông Hồng hay sông Hoàng. Sự khác biệt rõ ràng không chỉ phụ thuộc vào điểm đầu hay điểm cuối mà còn phụ thuộc vào con đường nối giữa hai điểm đó. Đó chính là lịch sử và tạo ra một căn tính khác biệt. Và sự khác biệt sẽ quyết định bước đường tiếp theo. Điều đó không chỉ đúng cho một dân tộc mà còn đúng cho mỗi con người.
7. Có rất nhiều yếu tố ngẫu nhiên quyết định bước đi lịch sử của một dân tộc. Nhưng cũng có những lựa chọn tạo nên căn tính dân tộc. Lựa chọn như thế có thể tạo nên bi kịch, anh hùng ca hoặc một may mắn trường tồn. Điều trớ trêu của lịch sử là phần lớn các lựa chọn đều ngẫu nhiên. Nhưng đôi khi có những con người, có những thời điểm, có thể có các lựa chọn có tính quyết định, tạo thành sự bại vong hay vinh quang của dân tộc.
8. Lựa chọn thường phải dựa trên một hình dung về căn tính dân tộc cần hướng tới. Những dân tộc có tính cách yếu ớt, không hợp xu thế đều phải trả giá, có khi phải diệt vong. Người ta nói tính cách đẻ ra số phận chính là như thế. Sự lựa chọn này đôi khi phải quằn quại, đau khổ, rất nhiều rủi ro và hung hiểm.
9. Từ thời Lý chúng ta đã lập quốc nhờ một căn tính cơ bản nào đó và có được một bộ sử phần lớn dựa trên dã sử, có thể là sự sáng tạo của một vài người và được chấp nhận như một khế ước cộng đồng đầu tiên. Tuy nhiên vài trăm năm sau, tới tận thời Trần, Hồ, Lê, căn tính này vẫn phải tiếp tục hình thành và vẫn còn dẫn tới ngoại xâm, phân tranh để căn tính này ngày càng vững chắc hơn.
10. Căn tính dân tộc tốt là một căn tính vững chắc nhưng phải đủ mềm dẻo và linh hoạt, có độ dung sai tốt, có thể kiện toàn và thích ứng. Một căn tính dân tộc quá cứng rắn trở thành tinh thần dân tộc chủ nghĩa quá khích, trong trường hợp may mắn thì làm đất nước mãi đóng cửa lạc hậu , trường hợp xấu hơn có thể tan đàn sẻ nghé, chiến tranh địch họa liên miên.
11. Tôi không lo lắng với sự đe dọa từ ngoại bang. Những người phóng đại nguy cơ đó đều có một giáo điều gì đó muốn áp đặt cho đám đông. Chúng ta đã mệt mỏi với quá nhiều giáo điều khác nhau để có thể tập trung vào vấn đề chính. Vì sao các nước nhỏ như Lào, Sing, Thụy Sĩ,... vẫn trường tồn trong hoàn cảnh ly loạn? Một nước lớn như Việt Nam với căn tính mạnh mẽ với các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm chắc chắn không dễ dàng bị bắt nạt trong hoàn cảnh hiện tại. Điều tôi suy nghĩ nhiều hơn là bước đường phát triển của căn tính này trong tương lai. Rõ ràng dân tộc ta chưa phải là một dân tộc may mắn, hạnh phúc. Có lẽ vì căn tính này chưa ổn định, hay ở một thái cực khác: quá cứng nhắc, chưa đủ linh hoạt để phát triển. Suy cho cùng hai thái cực đó chính là hai mặt của một vấn đề. Có thể chính nó đang có rất nhiều biến tướng khác thời sự hơn mà tôi không có thời gian đi vào chi tiết.

Thứ Năm, 11 tháng 11, 2021

[Sử Việt] Danh tướng Nguyễn Đa Phương

  Nguyễn Đa Phương là con danh tướng Nguyễn Nạp Hòa còn gọi là Sư Tề, do ông là thầy dạy võ nổi tiếng. Nạp Hòa chỉ huy vệ Thần Võ, được phong làm Bình Man Đại tướng Quân. Trong chiến dịch đánh Chiêm Thành, ông làm phó chỉ huy cho Đại tướng Đỗ Lễ. Quân ta kéo sâu vào hiểm địa, quân Chiêm đã phục sẵn, vua Duệ Tông không nghe lời can của Đỗ Lễ mang quân vào hiểm địa, mắc phục binh, toàn quân bị tiêu diệt. Các đại tướng Đỗ Lễ, Nguyễn Nạp Hòa, Phạm Huyền Lệnh đều bảo vệ vua đến phút cuối và tử nạn cùng với vua. Nguyễn Đa Phương là cha của danh tướng Nguyễn Cảnh Chân nhà Hậu Trần, chính là ông tổ của dòng họ Nguyễn Cảnh.

Nạp Hòa sinh Nguyễn Công Luật và Nguyễn Đa Phương. Người anh, Luật làm cận thần cho Trần Phế Đế. Đa Phương làm tướng quân dưới trướng của Tiểu Tư Không Hồ Quý Ly, khi đó thế lực đang phát triển ngày càng mạnh. Quý Ly khi nhỏ cũng học võ và binh pháp với Sư Tề nên coi Công Luật với Đa Phương là thế huynh. Tuy vậy, Đa Phương nhỏ tuổi hơn, nên hai người kết nghĩa anh em, thề cùng sống chết.
Khi đó ở phía Nam. Chiêm Thành ngày càng lớn mạnh. Vua Chiêm là Chế Bồng Nga và tể tướng là La Khải đều là những võ tướng kiệt xuất, nhiều lần đem quân đánh Đại Việt. Đa Phương nối chí cha làm võ tướng, chống Chiêm Thành. Có lần ông đã bị bắt, nhưng dùng mưu trốn được về. Ông là người giỏi võ, có tài cầm quân, có mưu mẹo, uy dũng. Năm 1382, Chế Bồng Nga và La Khải tiến đánh Thanh Hóa, cả một vùng Thanh Nghệ rung động, dân chúng phần lớn theo giặc. Hồ Quý Ly, được giao quyền chủ soái, sai Đa Phương lĩnh quân Thần Khôi giữ cửa biển Thần Đầu, dặn trước là phải hết sức cố thủ, không được khinh địch ra đánh. Quân ta cắm cọc ở cửa biển để chắn chiến thuyền địch, đồng thời đóng quân ở phía Bắc cửa sông để ngăn quân bộ.
Quân Chiêm cả hai đạo thủy bộ cùng tiến vào Thần Đầu. Chế Bồng Nga chỉ huy thủy quân, La Khải đem quân bộ áp sát bờ phía Nam để phá hàng cọc mở đường cho quân thủy. Cả hai đạo quân từ từ ép lại, không vội vã dùng quân nhẹ làm tiên phong, muốn dùng sức nặng, số đông và thanh thế để bóp nát quân ta.
Đa Phương nói: "Quân giặc không dùng quân tiên phong và khinh binh là có ý khinh quân ta hèn yếu. Nếu để chúng áp sát, mất sĩ khí chắc chắn sẽ thua." Nói vậy rồi cử những người cảm tử lập tuyến phòng ngự chắn quân La Khải giữ hàng cọc ở phía Nam. Hạn cho phải giữ được trong vòng nửa buổi bằng mọi giá. Sau đó Đa Phương sai nhổ hàng cọc ở phía Bắc, tự mình đem các chiến thuyền ra đối địch với Chế Bồng Nga. Có người can rằng "Tư không đã ra lệnh ông phải cố thủ. Nếu trái lệnh, thua sẽ mất đầu. Nếu theo lệnh, có thua đã có trên chịu trách nhiệm". Đa Phương cười lớn "Ta làm tướng, đã biết nếu giữ tất thua, tại sao phải theo. Nay đánh mới có hy vọng thắng vài phần. Há phải so đo trách nhiệm. Các ngươi cố gắng hết sức, trách nhiệm một mình ta chịu."
Thủy quân Chiêm không tính trước bị phản kích bất ngờ nên không phòng bị, bị súng Thần cơ của thủy quân Đại Việt bắn vỡ ngay mấy chục chiếc ở tuyến đầu. Trong khi đó các chiến thuyền của Đa Phương tiến lên áp sát và tràn sang tàn sát thủy quân Chiêm đang cúi rạp tránh đạn trên khoang thuyền. Các thuyền Chiêm ở tuyến hai khiếp hãi vội vã tháo lui lại va vào các thuyền đang tiến, thành thế mắc kẹt, làm hàng ngũ rối loạn, dính cứng thành từng đám, lui tiến đều khó. Đa Phương bèn cho các súng Thần Cơ nhất loạt nã vào các mảng thuyền Chiêm dày đặc. Thủy quân Chiêm thua to, tháo chạy. Đa Phương một mặt cho quân thủy đuổi đánh vào tận Nghệ An, một mặt cho thủy quân đổ bộ lên bờ Nam, đánh vào hậu quân của La Khải. Quân bộ của ta, từ bờ Bắc dùng thuyền nhẹ vượt sông, cùng với quân cảm tử trấn giữ hàng cọc phản công. Quân bộ Chiêm tan vỡ, La Khải phải chạy vào rừng để trốn về nước. Tin Đa Phương thắng trận truyền về Kinh Thành, ông được phong làm Kim Ngộ Vệ Đại Tướng Quân. Hồ Quý Ly, là chủ soái, cũng được thăng thưởng, giao chức Phán thủ, soái lĩnh binh quyền, thế lực ngày càng mạnh.
Đa Phương trở thành đệ nhất hổ tướng đương thời của Đại Việt. Ông bày kế phòng thủ đất nước, huấn luyện binh sĩ. Mọi kế hoạch quân sự và kế hoạch lâu dài của Quý Ly đều do Đa Phương sắp đặt. Quý Ly lại thu phục được một quan văn trẻ ở Ngự sử đài, là Phạm Cự Luận tiến cử làm Đô Ngự sử. Cự Luận là người đa mưu, thiên về những biện pháp ngắn hạn, có phần hung hiểm. Có kẻ sĩ đa sự, bàn rằng "Luận ấy là Luân, hình tròn. Phương là hình vuông. Vậy Quý Ly có người giúp đỡ tính toán mọi việc vuông tròn." Vì vậy, cặp mưu sĩ này còn gọi là "phương viên tá lự".
Thấy thế lực của Quý Ly ngày càng lớn, Phế Đế bèn bàn với các cận thần và anh là Trần Ngạc "Nếu để lâu ngày ắt Quý Ly sẽ cướp ngôi và khó chế ngự" và tính giết Quý Ly. Thầy dạy vua là Vương Nhữ Mai làm tiết lộ tin này. Quý Ly lo sợ bèn bàn với Đa Phương và Cự Luận. Đa Phương nói "Ngày xưa, Khương Duy, xin làm tướng cầm quân ở ngoài để được yên. Quyền thần cầm quân ở trong thì một là sẽ bị nghi ngờ dèm pha, mà gặp họa sát thân, hai là phải chuyên quyền đến cùng. Nay ngài với Thượng hoàng là anh em họ, nhà vua sáng suốt, mạnh mẽ, chỉ có chút hiểu lầm, chưa đến mức phải và cũng chưa thể chuyên quyền. Xin ngài dâng biểu xin ra trấn thủ Đại Lại, phòng quân Chiêm. Ngài cầm quân ở ngoài, ai dám động đến. Kẻ nào dèm pha, ngài sẽ đem quân về Kinh hỏi tội dèm pha đại tướng ở mặt trận. Chỉ giết vài thằng hủ nho là trời tối lại sáng. Tôi lĩnh quân Kim Ngô, Cự Luận giữ đài Ngự sử, có quyền ăn nói can gián Thượng Hoàng. Không ai có thể chống." Cự Luận nói "Kế của Đa Phương tuy lâu dài nhưng không quyền biến. Xin ngài vào khóc với Thượng Hoàng xin được chết theo Ngự Câu Vương. Thượng Hoàng là người mềm yếu, thương yêu ngài là vì anh em họ, lại đau lòng vì quan gia đã giết Ngự Câu Vương". Nguyên trước đó Ngự Câu Vương là Trần Húc, làm trấn thủ chống quân Chiêm, đã bại trận lại còn câu kết với Chế Bồng Nga, hại nước, bị Phế Đế giết, Thượng Hoàng không thể can ngăn nhưng vẫn đau lòng và giận Phế Đế chuyên quyền, không nghĩ tình anh em.
Đa Phương can "Đó là việc can thiệp đến nội bộ hoàng gia, nếu không thành thì tất là tội chết. Nếu thành thì cũng kết oán với quan gia, hoặc để loạn hoàng thất. Ngài có đủ nhẫn tâm chăng?" Cự Luận nói "Đã đành nếu không thuyết phục được sẽ nguy. Lúc đó xin ra Đại Lại cũng không muộn. Nhưng tôi xem ra Thượng Hoàng là người nhu nhược, lại tình cảm theo kiểu đàn bà, ngài chỉ cần khóc lóc mùi mẫn, đòi chết. Tôi chắc con rể ngài sẽ lên ngôi. Thế của ngài sẽ càng mạnh." Quý Ly nghe kế của Cự Luận. Đa Phương thở dài im lặng lui ra, vẫn không cho là phải. Kết quả, Thượng Hoàng Trần Phủ, nghe Quý Ly, giết Phế Đế và Ngạc, đưa Thuận Tông, con rể Quý Ly lên ngôi vua. Nguyễn Công Luật, anh trai Đa Phương trung thành với Phế Đế nên cũng bị giết.
Năm 1389, Chế Bồng Nga lại cùng La Khải đem quân đánh Đại Việt. Thượng Hoàng sai Quý Ly đem các tướng vào Thanh Hóa chống giữ. Quân ta khi đó khá đông. Quý Ly bèn sau các tướng hai đường thủy bộ tiến đánh quân Chiêm. Đa Phương ra sức can ngăn. Quý Ly nói "Lần trước nhà ngươi ít quân còn phá được giặc. Lần này ta lĩnh gần trăm tướng, quân vài vạn, sợ gì quân địch." Đa Phương nói "Phép dùng quân mỗi lúc một khác. Lần trước giặc khinh ta, chủ quan, ta đánh bất ngờ nên thắng. Nay giặc đã có phòng bị. Ta đông quân, giữ chắc, không cần vội, đợi giặc mỏi mệt, sẽ tung ra đánh. Chắc sẽ thắng." Quý Ly không nghe, cho là Đa Phương ghen ghét, không muốn mình lập công bèn cử Đại tướng Nguyễn Chí suất lĩnh 80 viên tướng, đem đại quân thủy bộ cùng tiến đánh quân Chiêm. Chí vài 80 tướng dẫn hơn 3 vạn quân sa vào trận địa phục kích của Chế Bồng Nga và La Khải, bị vài trăm thớt voi vây chặt. Pháo của quân Chiêm cũng vượt trội. Kết quả, Nguyễn Chí cùng 3 vạn quân và 70 tướng bị chém đầu, bắn nát thây hoặc bị voi dày tại trận. Chiến thuyền bị quân Chiêm chiếm sạch. Các phòng tuyến đóng cọc đều bị chiếm mất. Quân ta chỉ còn chưa đầy 2 vạn, đạn dược đều hết, chiến tướng chỉ còn hơn 20 vị.
Quý Ly bèn giao cho Phạm Khả Vĩnh làm chánh tướng, Đa Phương làm phó tướng ở lại giữ Thanh Hóa, bản thân mình chạy về Thăng Long, xin thêm quân và chiến thuyền tiếp viện. Thượng Hoàng nghe nói Quý Ly chủ quan nướng quân bèn không phê chuyển thêm quân và thêm thuyền. Phủ nói "Nay Thăng Long chỉ còn lại chưa đầy 5 vạn quân và hơn nghìn chiến thuyến. Nếu đưa vào Thanh Hóa và mất nốt, ta sẽ không còn gì để bảo vệ Kinh Thành." Quý Ly làm mặt giận dỗi xin trao trả binh quyền. Thượng Hoàng vì yêu Quý Ly nên cũng không trách phạt.
Khả Vĩnh và Đa Phương cổ thủ Thanh Hóa, đợi viện quân, đang gặp nhiều khó khăn do lực lượng quá chênh lệch. Quân đã ít, tướng mỏng, lại mất hết tinh thần do trận thua. Phòng tuyến lại bị chọc thủng, các điểm trấn giữ quan trọng đều bị Chế Bồng Nga và La Khải lần lượt khống chế. Giữa lúc đó, quân lưu tinh từ kinh thành tới báo Quý Ly đã rời binh quyền và sẽ không có quân tăng viện. Đa Phương bàn với Khả Vĩnh "Nay Phán thủ đã không nắm binh quyền. Lại không có quân tiếp viện. Chúng ta tiếp tục giữ vô ích, sớm muộn cũng mất Thanh Hóa. Chúng ta chết không sao, nhưng còn 2 vạn quân này cũng gần 1/3 binh lực Đại Việt nếu mất nốt, sẽ không vực dậy nổi. Nay ta đem quân rút về hợp quân với Thăng Long rồi bày thế phòng thủ khác."
Khả Vĩnh nghe theo, cùng Đa Phương cắm thật nhiều cờ xí nghi bình, đem thuyền lớn tiến tới sát các hàng cọc, giả bộ như sẽ tiến đánh. Chế Bồng Nga và La Khải lo quân Đại Việt cùng đường sẽ quyết tử bèn ra sức phòng thủ. Quân Đại Việt bèn dùng thuyền nhẹ rút hết trong một đêm về Thăng Long.
Đa Phương nói " Cậy mạnh đem quân liều đánh không phải là trí. Thấy khó trả binh quyền xin lui là nhát. Nhát lại không trí cầm quân sao được." Câu đó đến tai Quý Ly, Quý Ly giận xin Thượng Hoàng rút binh quyền của Đa Phương, không cho giữ quân Kim Ngô. Thượng Hoàng nói "Tạm như vậy để nêu phép nước. Một thời gian sau sẽ dùng lại. Không tướng nào bằng Đa Phương." Đa Phương không phục nói "Nếu giao quyền cho ta thì lo gì quân giặc. Nay tước quyền ta thì lấy ai chống giặc. Sao nêu gương được người có công thì thưởng, người có tội phải phạt."
Quý Ly nghe vậy, lo lắm bèn hỏi ý Cự Luận. Cự Luận nói "Đa Phương tài gấp 10 tôi, nếu hắn lôi kéo được các quan trong triều như Nguyên Hãng, Khả Vĩnh, Nguyên Đán,... vây cánh sẽ lớn không thể trị nổi. Nếu Thượng Hoàng nghĩ lại việc ngài xui giết Phế Đế và Ngạc, sẽ dựa vào Đa Phương để hại ngài." Quý Ly nói "Nhưng ta đã kết nghĩa anh em với hắn, lẽ nào trái lời." Cự Luận nói "Ngài đã lên lưng hổ, không có lựa chọn nào khác." Quý Ly chảy nước mắt "Chính trị làm ta trở thành khốn kiếp."
Quý Ly bèn xin Thượng Hoàng trị tội Đa Phương dám lui quân ở Ngu Giang. Thượng Hoàng nói "Đa Phương là danh tướng thời nay vừa trí vừa dũng, nếu được toàn quyền đã không thua. Nay hắn rút là bảo vệ được toàn quân. Vả lại chủ tướng là Khả Vĩnh sao không trị lại trị tội phó tướng. Hãy trị tội thật nhẹ." Quý Ly nói "Đa Phương nhiều mưu lại kiêu dũng. Hắn mà trốn sang nước khác sẽ gây họa cho Đại Việt." Thượng Hoàng nghe lời bèn bắt Đa Phương tự vẫn. Đa Phương trước khi chết cười và nói "Ta có tài nên được giàu sang, nhưng tự phụ vì tài nên phải chết." và dặn Cảnh Chân nên cố đem tài phục sự đất nước, nhưng không nên tự phụ như cha. Quý Ly sau này vẫn nhớ Đa Phương mà thấy hối tiếc, nên dùng Cảnh Chân, nhưng không cho ở Kinh mà đưa vào Hóa Châu giúp việc cho Hoàng Hối Khanh, cùng Đặng Tất. Hối Khanh, Tất và Cảnh Chân đều mưu khôi phục nhà Trần. Kịp khi quân Minh chiếm nước ta, ba người đều hết sức bày mưu khôi phục nhưng không thành, ba người đều chết vì nước.
Sử thần Ngô Sĩ Liên nói "Không dùng được Đa Phương là chỗ kém của Nghệ Tông."
Sử gia Ngô Thì Sĩ hoàn toàn không có khái niệm về quân sự lại trách lầm Đa Phương là "người lui 50 bước dám buộc tội người lui 100 bước" (chỉ Quý Ly) há không phải là lẫn lộn ngọc quý với bùn đất sao?
Khả Vĩnh sau này tham gia hội thề Đốn Sơn mưu sát Quý Ly, bị giết cùng Trần Khát Chân.
Lời bình: Nạp Hòa, Công Luật, Đa Phương, Cảnh Chân, 4 người, 3 đời sát nhau đều chết bất đắc kỳ tử. Nổi tiếng nhất là Cảnh Chân, cùng Đặng Tất bày mưu phá giặc mạnh ở bến đò Bô Cô, sau chết vì chuyên quyền mà bị chủ nghi ngờ. Đa Phương theo Quý Ly cũng vì tự phụ mà bị chủ giết. Tính cách và tài năng của Đa Phương phải là chủ soái mới thể hiện được tài năng và không mang họa vào thân. Đa Phương muốn giữ mạng cho Phế Đế có thể có tình riêng là vì anh, nhưng có thể cũng vì lý tưởng như Tuân Úc muốn giữ nhà Hán. Nạp Hòa và Công Luật đều trung thành chết theo chủ, thật đáng thương. Nhưng tài năng, tư cách của họ Nguyễn Cảnh nổi tiếng sau này đều từ đó mà ra. Ngô Thì Sĩ không đánh giá đúng Đa Phương đó là chỗ kém của sử gia.

Trần Nguyên Đán

      Ông là dòng dõi Thượng tướng quân, Chiêu Minh đại vương Trần Quang Khải. Là quan đầu triều đời vua Nghệ Tông nhà Trần. Được tiếng nho nhã, để lại nhiều thơ nhàn tản vào thời loạn, được nhiều kẻ sĩ cho là thanh cao, nhưng không hề có công tích hay mưu kế gì ích quốc lợi dân.

Khi ông gần mất, Nghệ Tông tới thăm, hỏi về thế nước, ông khóc mà rằng "Bệ hạ kính nhà Minh như cha, coi Chiêm Thành như con, lão thần chết cũng bất hủ." Người ta cho rằng ông biết trước Hồ Quý Ly sẽ cướp ngôi nhà Trần, ông là quan đầu triều lại là người tôn thất không có mưu kế gì can ngăn mà lại đem con trưởng là Mộng Dữ gửi gắm cho Quý Ly, lại làm bài thơ Vịnh con tu hú với tâm tư băn khoăn
" Đem con gửi cho loài quạ
Chẳng biết quạ già có xót thương"
Cuối cùng Quý Ly cũng nhớ lời ước với Nguyên Đán cho cả ba người con làm quan. Sau này họ lại làm quan với nhà Minh bảo toàn phú quý khi mất nước. Vua Giản Định nổi lên chống Minh bèn đem con cái Nguyên Đán giết sạch, chỉ còn lại cháu nội là Nguyên Hãn, cháu ngoại là Nguyễn Trãi đều là công thân dựng nước của nhà Lê.
Trãi là quân sư, bày mưu kế nơi màn trướng, coi việc thư từ, bang giao của Lê Thái Tổ. Hãn là đệ nhất võ tướng thống suất quân đánh thành Xương Giang- Chi Lăng, võ công tuyệt lạ ngàn thuở ngợi khen.
Nguyên Đán danh tiếng vượt quá công tích, khả thủ nhất chỉ ở hai đứa cháu. Trộm cho rằng việc đặt tên phố là để nêu gương cho mai hậu. Nay Hà Nội có phố Trần Nguyên Đán, e rằng những người có trách nhiệm không xét kỹ càng, nêu gương lầm để hỏng cả quốc khí.
Ngô Sĩ Liên trong Đại Việt sử ký toàn thư có nhận định về ông như sau:
“ Làm rõ điều nghĩa mà không mưu lợi, làm sáng đạo lớn mà không kể công, đó là tấm lòng người quân tử. Nguyên Đán là bậc đại thần cùng họ với vua, biết họ Hồ sắp cướp ngôi, cơ nghiệp nhà Trần sắp hết, thế mà không nghĩ đến việc vững vàng vượt qua gian nan, cùng vui lo với nước, lại đem con mình gửi gắm cho họ Hồ để làm kế về sau. [Thế là] mưu lợi mà không nghĩ đến nghĩa, bỏ đạo mà chỉ tính đến công, sao gọi là người hiền được? Hơn nữa, lúc ấy tai họa người Chiêm là việc cần kíp, mà lại bảo yêu Chiêm Thành như con, thờ nước Minh như cha, thì chỉ là câu nói tầm thường chung chung về đạo thờ nước lớn, yêu nước nhỏ, có bổ ích gì cho việc nước lúc đó? Tiếc rằng học vấn kiến thức của ông biết trước được mọi điều mà lòng nhân thì không giữ được. ”
Khâm định Việt sử thông giám cương mục nhận định:
“...đó cũng chỉ là nói suông, lo hão, mà đối với nước của dòng dõi nhà mình còn hay mất, cứ bỏ mặc, không nói qua. Thế thực là người bất trung lắm đấy...”
Ngô Thì Sĩ trong sách Việt sử tiêu án nhận định:
“Nguyên Đán là tôn thất nhà Trần, gặp vận nước không may, chỉ lấy sự rút lui để toàn thân là đắc sách, biết chơi thắng cảnh ở động Thanh Hư, mà không hỏi đến xã tắc ở Thiên Trường an hay nguy; chỉ mưu tính cho anh em Mộng Dữ, mà không nhìn gì đến cha con vua Nghệ Tôn được lợi hay bị hại; đến khi vua hỏi đến hậu sự, cũng không nói rõ; không biết rằng: Quý Ly đã không che chở gì cho mình, thì sao còn đưa Mộng Dữ gửi nó? Vua đã mất nước, bầy tôi toàn một mình thế nào được? Lời răn dạy của cố nhân đúng lắm."
Bảo toàn được một thời rồi cũng không bảo toàn được con cái lại mất cả danh thế tộc, để sử sách cười chê, sao gọi là trí, sao gọi là nhân, sao gọi là dũng, sao gọi là thanh cao.

Thứ Tư, 18 tháng 4, 2018

Huyền sử về nhà Thục trong sử Việt

I. Nước Âu Lạc hay An Dương?
      Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, một tác phẩm viết vào thế kỷ 15, phần ngoại sử thì Âu Lạc là của Thục Phán, một hậu duệ của nhà Thục bên Trung Quốc thành lập, sau khi diệt Văn Lang của Hùng Vương, lúc đầu đóng đô ở Phong Khê, sau dời về Cổ Loa (Đông Anh). 
      Theo quan điểm của các sử gia Việt hiện đại hơn, có phần hơi bị định kiến bởi tinh thần dân tộc thô sơ thì "trước họa xâm lăng của phương Bắc, hai bộ tộc Âu và Lạc đã hợp nhất (tất nhiên có người tự nguyện có người phải dùng roi quất bắt buộc hợp nhất) (và cũng tất nhiên là ông đứng ra hợp nhất lại chạy từ Tứ Xuyên về). 
       Khoan hãy nói Hùng Vương và Văn Lang có thực hay không. Trước hết hãy xem Âu Lạc là ai từ các nguồn gốc. 
Về việc nước Thục bị diệt, sách Hoa Dương Quốc Chí- thiênThục Chí cho biết: Nước Thục cổ, được nhà Chu phong cho dòng họ Khai Minh. Tới thời Chu Noãn Vương bị các tướng Tần là Trương Nghi, Tư Mã Thác công phá. Thục Vương thân ra cửa Hà Manh cự địch nhưng thất trận, chạy tới Vũ Dương thì bị giết. Thái tử chạy tới Bạch Lộc Sơn cũng bị giết. 
Như vậy Thục bị diệt vào năm 316 trước công nguyên. Một số sử gia như Ngô Thì Sĩ nghi ngờ việc Thục Phán là hậu duệ của nước Thục, nói là Việt Nam quá xa, và không thể đi từ Thục sang để chinh phục. Liệu điều đó có phải là lập luận chứng minh có thể phủ nhận sự liên hệ của nhà Thục với nước Thục cổ hay không?
       Có 2 điểm cần xác định:
       1. Hoa Dương Quốc Chí Do Thường Cừ soạn vào thời Tây Tấn chắc có dựa trên sử liệu thời Ngụy Hán. Được xem là bộ sách về địa lý lịch sử lớn nhất về ba tỉnh Vân Nam Quý Châu và Tứ Xuyên, có thêm Cam Túc Thiểm Tây và Hồ Bắc. Chắc chắn Đại Việt Sử Ký Toàn Thư cũng lấy lại sử liệu từ đây hoặc các nguồn dẫn từ sách này.
        2. Hơi đánh ngờ một chút, vì Vũ Dương nay là huyện Bành Sơn, thuộc Tứ Xuyên, có địa danh Bạch Lộc Sơn nay thuộc Hắc Long Giang. Thời bấy giờ không thuộc đất Tần. Có thể có Bạch Lộc Sơn khác ở  trong đất Thục chăng? Có thể thấy từ Vũ Dương, các tôn thân nhà Thục có hai hướng chạy. Một về Đông qua Giang Nam (đường Thục sang Ngô thời Tam Quốc). Một chạy về Nam qua Vân Nam Quý Châu. 

        Vân Quý khi đó thuộc Sở là kẻ thù của Tần. Như vậy, tàn quân Thục có thể được dung nạp và có thời gian để nghỉ ngơi. Nhưng chẳng bao lâu Tần diệt Sở, con cháu nhà Thục lại phải chạy tiếp, có thể đem theo cả người Sở không chịu theo Tần. Làn sóng tỵ nạn Thục-Sở này vượt hồ Điền Trì (Côn Minh) tìm đến thượng nguồn sông Lô và tiến vào Việt Nam và Quảng Tây, lúc đó đang là đất của Lạc Việt. Khi đó Khai Minh Chế (Thục Chế) được liên minh tị nạn bầu lên làm lãnh đạo. Trên đường đi ông thu phục các bộ lạc của Tây Âu rồi các bộ lạc của Lạc Việt. Lạc Việt khi đó còn trong một trạng thái kém phát triển. Do đó các tù trưởng dễ dàng tôn Thục Chế có binh lực lớn, tổ chức tốt và mang đến văn minh làm vua. Cũng có thể có một vài phản kháng, nhưng dễ dàng bị bẻ gãy. 
         Hán thư chép: Khi đó Tây Âu Lạc Việt còn ở tình trạng bán khai, ở trần, che thân bằng vỏ cây, chưa biết đến quần áo. Có lẽ là còn đóng khố. Do đó An Trị Vương (Thục Chế) vốn ở nơi văn minh tới rất nhanh được các đầu mục bộ lạc suy tôn làm quân trưởng. Có lẽ đánh nhau không nhiều nên thời gian vừa đi vừa chính phục mới nhanh đến thế. Sách cũng chép người Lạc Việt tự xưng là người Lão (Lạo, Lào, Liêu???) nghĩa là răng sói, ý nói rất cường ngạnh hung dữ. (Đoạn này so sánh với người Âu Việt rất hiền lành). Sách Động khê tiêm chí của Lục Thứ Vân chép "Lão nhân xử vu lĩnh biểu hải ngoại, xạ sinh vi hoạt, thôn phệ côn trùng" Người Lão ở ngoài lĩnh biểu, săn bắn mà sống, ăn cả côn trùng". Nghe rất giống thói quen của người Lào, người Thái ăn các loại côn trùng, tuy dân Việt ta ngày nay vẫn ăn bọ xít, châu chấu, dế, nhộng, ong... đúng là "thôn phệ côn trùng" (dịch ăn là rất lịch sự, thực chất là ngốn, nuốt). Thời đó ăn côn trùng không có nghĩa là khoa học bổ dưỡng vi chất hay nghệ thuật ẩm thực đa dạng. Đơn giản không có gì ăn đành chén côn trùng.
          Đọc tiếp: Vì thế người Thục muốn tiếp tục Nam tiến về đồng bằng Bắc Bộ nơi có nhiều thức ăn ngon lành hơn. An Trị Vương Khai minh Chế mất năm 95 tuổi. Con là Khai Minh Phán mới 10 tuổi lên thay, người trong họ là Khai Minh Mô làm nhiếp chính. Các tù trưởng bộ lạc nghe tin bèn bao vây kinh đô, bức Thục Mô từ chức. Các tù trưởng sau đó bãi binh nhưng hình thành việc cát cứ. Thục Phán chỉ nắm được một khu trong 10 khu của vua cha đã chinh phục được, còn lại chỉ có tiếng hão, không có thực quyền. Điều này cũng gần giống việc Ngô Xương Ngập, Ngô Xương Xí sau này, không kiểm soát được tình hình tự nguyện (hay buộc phải) trở thành một sứ quân. Thục Phán bèn thách đố các đầu mục thi (chắc khi này cậu bé đã đủ lớn) và thắng trong 10 môn. Từ đó thống nhất  lấy lại được đại quyền như cha. Câu chuyện này gọi là "Thập hạng toàn năng tái" được sách Tàu ghi lại. Như thế cụ An Dương Vương nhà mình, tài năng không phải tay vừa. 
           Đánh thắng Hùng Vương: Sách Tàu không ghi lại các chi tiết về Hùng Vương mà Đại Việt Sử Ký Toàn Thư ghi điều này đầy tiên. Có thể  tồn tại huyền sử truyền miệng Hùng Vương là vua của nước Văn Lang. Nhưng sách Tàu có ghi việc Thục Phán chinh phục Hùng Vương hay Lạc Vương (chưa thể xác định rõ Hùng Vương ghi trong sử Tàu người Tráng hay người Việt). Theo đó, Hùng Vương là nhân vật có sức khỏe tuyệt luân, nhiều lần đánh bại quân Thục, nên chủ quan, uống rượu, chơi gái. Thục Phán mang quân đến còn chưa tỉnh rượu, rồi cuống quýt lao đầu xuống giếng chết. ( Chỉ hơi khác một chút so với Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, do đó có thể các sử gia ta dựa vào đây mà cải biên). 
          Như vậy Thục Phán lên ngôi kiêm tính toàn Âu Lạc lập ra nước Âu Lạc tự xưng là An Dương Vương, đóng đô ở Phong Khê rồi dời về Cổ Loa. Quân Thục rất giỏi làm cung nỏ, đã có tiếng ở Trung Quốc thời cổ. Khi sang Việt Nam có thể đã phát minh thêm công nghệ bịt mũi tên bằng đồng để có sức công phá và sát thương mạnh hơn. Việc Âu Lạc bị Triệu Đà thôn tính được ghi tường tận trong sử sách Trung Quốc do đó sự tồn tại của An Dương Vương là chắc chắn hơn Hùng Vương.
         Kết luận:
        1. An Dương Vương và Âu Lạc có thể có thật vì có trong các sách sử xuất hiện khá sớm.
        2. Việc An Dương Vương dòng dõi nhà Thục cũng là khả thi, do quá trình di dân từ Thục từ kéo dài hơn 100 năm từ khi nhà Thục bị diệt năm 316 TCN đến khi An Dương Vương diệt xong Hùng Vương lập nước Âu Lạc 207 TCN.
        3. Chưa rõ Hùng Vương bị Thục Phán diệt có phải là ở Phú Thọ và có nước Văn Lang hay không. Hay đó là một Hùng Vương nào đó người Tráng.

II. An Dương Vương Thục Phán có gốc Hán Tạng?
    Trong phần I, chúng ta đã nói về Thục Phán (An Dương Vương) là con của Thục Chế (AnTrí Vương) là hậu duệ của họ Khai Minh vua nước Thục cổ.
    Đây có thể là 1 trong 5 thành phần sắc tộc chính để hình thành nên dân tộc Việt vào thế kỷ 10-15 bao gồm:
      1.  Nam Á (Khmer, Mường, Lê Lợi)
      2. Nam Đảo (Một phần của Chiêm Thành, phần kia của Chiêm Thành là người Thủy xuất phát từ Hải Nam, châu Đạm châu Nhĩ).
      3. Thai-Kadai (Lạc Việt-Tráng, Hùng Vương)
      4. Hán (Triệu Đà, Lý Bôn, Lý Công Uẩn, Trần Cảnh, Hồ Quý Ly)
      5. Hán- Tạng.
     Ngày nay, phân tích gien đã cho thấy các thành phần như vậy. Câu hỏi đặt ra là thành phần Hán Tạng có gốc gác cụ thể thế nào và hòa huyết vào đại gia đình dân tộc Việt từ bao giờ. Rất có thể An Dương Vương là làn sóng hòa huyết lần thứ nhất của người Hán-Tạng.
    Theo một số lý lẽ phản bác thuyết Thục Phán có gốc Hán Tạng bắt đầu là Ngô Sĩ Liên cho rằng nước Thục mất trước khi An Dương Vương xây thành Cổ Loa gần 100 năm. Do đó, Thục Phán không thể là hậu duệ của nước Thục thời cổ đại ở bình nguyên Quảng Hán, Thành Đô ở Tứ Xuyên. Các lý lẽ tiếp nối cho rằng Thục Phán là thủ lĩnh của Âu Việt, một bộ lạc ở sẵn trong vùng Quý Châu, Quảng Tây, Vân Nam, khi lớn mạnh bèn thu phục Lạc Việt (mà các nhà sử học Việt Nam đồng nhất với Văn Lang) lập nhà nước Âu Lạc.
     Trong phần I chúng tôi cho rằng nếu thái tử nhà Thục chạy về nước Sở với một binh lực còn khá lớn, các lực lượng Thục cũng dần dần tụ họp lại ở phía Nam nước Sở, trong một thế hệ. Khi nước Sở mất, họ lại di chuyển tiếp về phía Nam, thống nhất các bộ tộc người Việt ở đây và trở thành thủ lĩnh liên minh bộ lạc, đã đánh bại quân Tần là Đồ Thư trong địa phận Quý Châu, Quảng Tây. (Thục Chế, Thục Phán). Sau đó Thục Phán diệt nước Văn Lang (nếu có), chứ không phải là liên minh.
      Ta thử xem tiếp nguồn gốc Hán-Tạng của Thục Phán theo giả thuyết này. Nước Thục hình thành từ hai nhánh: tộc Khương và tộc Nhiễm. Khương tộc chính là người Tạng ngày nay và nhiều phần đã bị Hán hóa. Nhiễm tộc đứng đầu trong các dân tộc Đê. Theo Sử Ký thì các tộc phía Tây có Lục Di, Thất Khương, Cửu Đê. Các bộ lạc của hai tộc Khương và Nhiễm đã xuất hiện tại bình nguyên Tứ Xuyên khá sớm, chắc chắn là vào thời Hạ-Thương. Nhưng có thể trước đó hàng trăm năm, từ thời Tam Hoàng-Ngũ Đế. Họ đã hòa huyết và hình thành nhà nước thị tộc nô lệ từ sớm và xưng vương đầu tiên bên cạnh vua nhà Hạ và nhà Thương. Họ đã phát minh ra nghề nuôi tằm dệt lụa, do đó vua Thục tự gọi họ là Tàm Tùng (Tàm là con tằm).
      Sử Tàu ghi khi nhà Chu diệt Trụ Vương, Thục Vương đã cử binh giúp đỡ và là binh lực trọng yếu. Thục nổi tiếng về cung nỏ cho đến tận sau này tại Cổ Loa vẫn có nhiều mũi tên đồng. Điều đó giải nghĩa lợi thế của Thục Phán khi diệt Văn Lang và chống lại xâm lăng Nam Việt của Triệu Đà nhờ cung nỏ. Vào đời Chu, chính quyền của nhà Thục đã chuyển qua tập đoàn người Khương, họ Khai Minh. Các sách còn ghi lại truyền thuyết vua Thục  Đỗ Vũ truyền ngôi (buộc phải truyền ngôi???) cho thừa tướng là Miết Linh, chết hóa thành chim đỗ quyên hay con chim cuốc, suốt ngày kêu mất nước.
      Họ Khai Minh từ Miết Linh truyền được 12 đời hơn 720 năm (từ Chu Vũ Vương đến khi bị Tần diệt vào thời Chiến Quốc). Đoạn này bốc phét hơi giống 18 vua Hùng của ta. Như vậy, thành phần Hán Tạng của dân tộc Việt có từ An Dương Vương (nếu đúng) là từ tộc Khương và Nhiễm (Đê) chứ không liên quan tới người Miêu (Mèo-Hmong) như trong một số thuyết đã nói.
     Tiện thể tra cứu tiếp xem nước Âu Việt có liên hệ với tộc người nào.
Âu Việt gồm Đông Âu, ở vào vùng Phúc Kiến, Cối Kê là nước Việt của Câu Tiễn. Tây Âu ở bắc Quảng Tây, có sông Quế, sông Tầm. Sách Cựu Đường Thư, Địa lý chí nói "Thời Tần là Quế Lâm, thời Hán là Uất Lâm. Ấy là nơi cư trú của Tây Âu, Lạc Việt cổ". Có thuyết cho rằng Tây Âu và Lạc Việt cũng là một, chỉ các bộ lạc ở vùng Quảng Tây, Quý Châu (10 bộ lạc liên minh với Thục Chế).
      Kết luận:
      1. Thuyết An Dương Vương có gốc gác từ nước Thục cổ là có khả năng thực tế. Vừa có thể giải thích được thành phần Hán-Tạng trong gien người Việt.
     2.  Có sự trùng hợp giữa việc giỏi sử dụng cung nỏ của nước Thục cổ và nhà Thục trong sử Việt.

Thứ Hai, 26 tháng 3, 2018

Sách Chu bễ có phải là ngụy thư?

Sách Chu bễ còn gọi là Chu bễ Toán kinh (周髀算经) là sách cổ của Trung Quốc. Đa số các học giả Trung Quốc cho là xuất hiện sớm nhất khoảng TK1 trước CN tức là khoảng thời Hán Vũ Đế. Điểm đặc biệt là trong sách này có thuyết Cái Thiên và cơ sở cho lịch Tứ phân. Một số học giả cho rằng sách này ra đời sớm hơn vào thời Chiến Quốc (TK5-TK3 trước CN). Một số học giả quá khích hơn còn cho rằng sách này soạn đầu đời Chu (TK11 trước CN) hoặc thời Xuân Thu (TK8-TK5 trước CN). Một số người lại cho tác phẩm này xuất hiện muộn hơn nhiều.
Đặc biệt mô hình vũ trụ của Chu bễ hoàn toàn khác biệt với Thiên văn học dòng chủ lưu của Trung Quốc với thuyết Cái thiên như sau "Thiên viên như trương cái, địa phương như kỳ cục" (Trời tròn như cái lọng, đất vuông như bàn cờ). (Cái là cái lọng do đó thành tên chủ thuyết). Chủ thuyết này là bất di bất dịch trong quan niệm chủ lưu của Trung Quốc cho đến cuối đời Minh, khi Thang Nhược Vọng (giáo sĩ người Đức) đưa ra Tân thuyết giải thích bốn mùa, năm đới khí hậu, gây ra ầm ĩ và phản đối trong giới sĩ phu. Tuy nhiên, trong sách Chu bễ đã nói về việc tại Bắc Cực đến hè băng cũng không tan. Chu Bễ cũng nói mặt đất hình tròn, bầu trời cũng hình tròn, song song với mặt đất cách mặt đất 8 vạn dặm. Cần nói rõ Chu Bễ không hề nói Trái Đất hình cầu, mà chỉ nói bề mặt Trái Đất cong, có thể là một phần của mặt cầu và vì thế cũng không hề biết có Nam Cực.
Điều đáng chú ý là mô hình vũ trụ của Chu Bễ hoàn toàn giống hệt như mô hình có trong sách cổ của Ấn Độ là Puranas (Vãng thế thư), ước ra đời TK10 trước CN. Nhiều học giả Trung Quốc cũng cho rằng, tuy ý tưởng giống nhau có thể sinh ra tại nhiều nơi, nhưng việc trùng đến mức quái dị từ đại thể đến tiểu tiết giữa Chu Bễ và Puranas, khó lòng không cho chúng là từ một gốc. Chính học giả Trung Quốc nói rằng cho rằng "Ngẫu nhiên xảo hợp" là cách giải thích vô cùng miễn cưỡng.
Ở điểm này, các học giả TQ có hai cách nhìn nhận khác nhau. Một cho rằng Puranas chép từ Chu Bễ, rồi từ đó truyền sang Lưỡng Hà, Hy Lạp, La Mã. Quan điểm khác cho rằng, Chu Bễ nhắc tới Chu Công (TK10 trước CN) và Trần Tử (TK1 trước CN, tức là thời Hán Vũ Đế), như vậy không thể ra đời trước Puranas. Lại có người cho rằng Chu Bễ được soạn một lần thời Chu Công và lần sau thời Trần Tử. So sánh văn phong với sách Hoài Nam Tử, người ta có thế thấy phần Trần Tử có văn phong đồng thời với Hoài Nam Tử. Từ đó suy ra Chu Bễ có thể có niên đại như TK1, nếu bản Hoài Nam Tử mà chúng ta có hiện nay đích xác là nguyên bản của Lưu An. Tuy nhiên, các chi tiết của phần có Trần Tử cũng giống Puranas. Mặt khác, thời cổ không có Internet, thời gian để một cuốn sách do Chu Công phổ biến ra xã hội đã lâu, để lan truyền ra ngoại vực không thể trong vòng vài năm.
Đáng chú ý trong Hán Thư của Ban Cố (TK1) trong Nghệ Văn Chí có nhắc đến hai tác phẩm toán học là Hứa Thương Toán Thuật và Đỗ Trung Toán Thuật, không hề có Chu Bễ Toán Kinh. Do đó có khả năng là Chu Bễ Toán Kinh thời đó vẫn chưa có.
Và còn một số lý do khác mà tôi sẽ không thảo luận ở đây, đa số học giả thừa nhận, thời gian ra đời sớm nhất có thể có của Chu Bễ là vào đời Hán Vũ Đế (TK1 trước CN). Nên nhớ rằng thời gian này là thời gian thuyết Cái thiên của Trương Hành đang là chủ lưu. Nội dung của Chu Bễ mâu thuẫn hoàn toàn với các thuyết chủ lưu, khó lòng có thể chen chân vào học giới. Cách học của người Trung Quốc lại rất câu nệ sách vở giáo điều, không bao giờ tham khảo các quan điểm dị biệt, cho là tà thuyết.
C. Cullen cho rằng Chu Bễ không phải một người viết, mà đại thể có thể chia thành nội thiên và ngoại thiên. Nội thiên lấy Trần Tử làm trung tâm, có thể được soạn vào thế kỷ 1. Tuy nhiên ngoại thiên không thể soạn muộn hơn thế kỷ 2. Lại có học giả Nhật Bản căn cứ vào nội dung của Chu Bễ có xác định vị trí của sao Bắc Cực luận đoán ra, người viết quan sát thiên tượng của TK6-TK7 trước CN. Tuy nhiên cách lập luận này đã bị phê phán rất nhiều.
Hiện nay đa số học giả thống nhất được là Chu Bễ không do một người trước tác do nội dung và văn phong đều bất đồng. Các tác giả cũng ở nhiều thời kỳ khác nhau, và có những quan điểm bất đồng. Trong lịch sử Trung Hoa, việc san định, chú giải sách khá tùy tiện, như sách Tam Quốc của Trần Thọ nhưng lượng đóng góp của Bùi Tùng Chi rất lớn, và không loại trừ việc sửa cả văn gốc. Hoặc Tôn Tử Binh Pháp có thêm rất nhiều đóng góp của Tào Tháo đời Hán và Lý Tĩnh đời Đường cách rất xa về niên đại. Nếu thừa nhận Chu Bễ có nhiều tác giả và nhiều quan niệm khác nhau, cần phải xác định ý tưởng nào thuộc về thời kỳ nào thông qua nội dung và so sánh với chủ lưu chứ không thể gán ghép toàn bộ nội dung cho một thời kỳ để ra những kết luận không có cơ sở, như một năm dài 365.25 ngày (nếu có) có trong Chu Bễ được gán ghép cho thời Chu hoặc Xuân Thu, Chiến Quốc. Như vậy những lời được cho là của Thương Cao, Chu Công, Trần Tử đều là hư cấu của người sau.
Các học giả Trung Quốc cũng đặt vấn đề "Tri thức về thời tiết nóng lạnh và 5 đới khí hậu từ đâu đến". Tri thức thiên văn chủ lưu của người Trung Quốc không cho phép giải thích thời tiết khí hậu. Do đó có thể nói đến thế kỷ 17, Thang Nhược Vọng mới mang tri thức này vào Trung Quốc. Tuy nhiên Chu Bễ Toán Kinh lại có manh nha loại tri thức này, là một điểm kỳ lạ và đứt đoạn.
Tôi tạm dịch một số đoạn nhận định sau
比较合理的解释似乎只能是 ∶ 这些知识不是中国传统天文学体系中的组成部分, 所以对于当时大部分中国天文学家来说, 这些知识是新奇的, 与旧有知识背景格格不入的, 因而也是难以置信的.
So sánh giải thích hợp lý tựa hồ chỉ có một khả năng là∶ những tri thức này không phải là bộ phận trong hệ thống thiên văn học truyền thống của Trung Quốc, vì lẽ đó đối với đại bộ phận các nhà thiên văn học Trung Quốc thời đó mà nói, những tri thức này là mới mẻ, không ăn nhập gì với các tri thức cũ mà họ cho, vì thế rất khó chấp nhận.
其次, 在古代中国居传统地位的天文学说 ---- 浑天说中, 由于没有正确的地球概念, 是不可能提出寒暑五带之类的问题来的.
Hơn nữa, trong thuyết Hỗn thiên, thuyết thiên văn có địa vị (trung tâm) trong truyền thống cổ đại Trung Quốc, do không có khái niệm địa cầu chính xác, không thể có năng lực đề xuất các loại vấn đề liên quan tới thời tiết, khí hậu.
Để kết luận, tôi xin bày tỏ quan điểm cá nhân, người đọc tùy ý lựa chọn tin tưởng hay không: Khả năng Chu Bễ Toán Kinh là ngụy tạo dần dần từng chi tiết hoặc toàn bộ không phải là không có. Việc ngụy tạo sách vở cổ thư của Trung Quốc không phải là chuyện hiếm. Việc các tri thức về vũ trụ của Chu Bễ gần như bê nguyên xi từ Puranas là hiển nhiên. Khả năng trùng hợp (xảo hợp) rất hiếm hoi như lạc đà chui qua lỗ kim, tuy theo thuyết lượng tử không phải là không có tý xác suất nào. Tin ở những điều may rủi vu vơ như vậy, trong khi có quá nhiều điều hay và chắc chắn hơn, phụ thuộc bạn có quá nhiều thời gian không biết dùng làm gì hay không. Cuối cùng, dù là ngụy thư, tự phát minh hay sao chép, các kiến thức có giá trị trong Chu Bễ cũng nằm ngoài kiến thức chủ lưu của Trung Quốc trong suốt lịch sử cho đến Trung hoa Dân Quốc. Do đó không thể coi là tri thức thiên văn học Trung Quốc. Mặt khác các kiến thức này đều có ở Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ trước Chu Bễ rất nhiều. Những điều tôi nói đây không phải là suy đoán cá nhân, hay ý kiến của học giả phương Tây mà của các học giả Trung Quốc có lý trí và công bằng.
Tôi sẽ trở lại lịch tứ phân và việc người Trung Quốc biết một năm có 365.25 ngày từ khi nào sau vào một dịp khác.

Thứ Bảy, 8 tháng 10, 2016

Vũ Tường – Đọc Việt Nam 1946: Chiến tranh đã bắt đầu ra sao


Thứ Ba, ngày 31 tháng 8 năm 2010

Đăng lại từ Talawas

Điểm sách Vietnam 1946: How the War Began (From Indochina to Vietnam: Revolution and War in a Global Perspective) của Stein Tonnesson, NXB ĐH California, Berkeley, 2010.[1]

Năm 1946 là một thời điểm rất quan trọng trong lịch sử Việt Nam khi nước này vừa thoát ra khỏi ách thuộc địa. Trong quyển Vietnam 1946, sử gia Na Uy Stein Tonnesson theo dõi quá trình diễn biến quan hệ Việt-Pháp từ nhân nhượng đến xung đột qua hai biến cố: Hiệp định sơ bộ 6-3-1946 và biến cố 19-12-1946 khi chiến tranh bùng nổ. Tonnesson trình bày hai phát hiện quan trọng. Thứ nhất, Hiệp định sơ bộ 6-3 có được do công của các tướng lãnh Quốc dân Đảng Trung Quốc đã cố gắng môi giới cho cả hai bên Pháp Việt tiến hành đàm phán. Mặc dù thực ra sau năm 1945, Paris chỉ muốn bảo vệ quyền lợi của Pháp ở Nam bộ, các viên chức Pháp ở Đông Dương đặt kế hoạch giành quyền kiểm soát lâu dài cả miền Bắc khi họ điều quân ra Bắc để thay thế quân đội chiếm đóng Quốc dân Đảng Trung Quốc. Nếu không có phía Quốc dân Đảng Trung Quốc gây áp lực mạnh đối với cả hai bên Pháp Việt để ký Hiệp định sơ bộ 6-3, chiến tranh có lẽ đã bùng nổ vào lúc đó. Phát hiện thứ hai của Tonnesson liên quan đến câu hỏi ai chịu trách nhiệm đối với việc chiến tranh nổ ra vào ngày 19-12-1946. Cũng như đối với trường hợp trên, Tonnesson cho thấy những viên chức Pháp ở Đông Dương làm trái với chỉ thị của chính phủ Pháp khi họ khiêu khích chính phủ Việt Minh để nhử Việt Minh tấn công trước. Quân đội Việt Minh đã cố gắng không trả đũa các trò khiêu khích của quân Pháp trong một thời gian, nhưng cuối cùng đã sập bẫy và nổ súng vào ngày 19-12, chỉ vài ngày sau khi chính phủ Đảng Xã hội lên cầm quyền ở Pháp và mở ra triển vọng đạt được hòa bình bằng con đường thương thuyết. Tonnesson cũng phê bình tướng Võ Nguyên Giáp, vị Tổng tư lệnh của Việt Nam, vì đã ra lệnh khai chiến hoặc đã không ngăn cản được binh sĩ của ông ta nổ súng vào đêm 19-12-1946.

Tonnesson sử dụng rất nhiều tài liệu chủ yếu từ các kho lưu trữ ở các nước phương Tây. Rất rõ ràng và thuyết phục, ông cho thấy vì nhiều lý do, Paris đã bỏ bê tình hình ở Đông Dương, thông tin giữa Paris và Sài gòn (nơi Cao ủy Pháp đóng bản doanh) bị lệch pha, và các chỉ huy Pháp ở Sài gòn đã có những hành động dẫn đến chiến tranh. Chủ yếu dựa trên tư liệu Pháp kết hợp với một ít tư liệu Việt Nam, Tonnesson dựng lại bức tranh khá chi tiết mô tả các biến cố xảy ra từng giờ trong ngày 19-12 cực kỳ quan trọng. Bức tranh này phức tạp hơn nhiều so với câu chuyện chúng ta vẫn nghe về biến cố này như một cuộc tấn công bất ngờ vào lực lượng Pháp do quân đội Việt Minh tổ chức. Mặc dù tướng Giáp đúng là có soạn ra một kế hoạch tấn công như vậy từ trước, Tonnesson cho thấy rằng quyết định tấn công chỉ được đưa ra vài giờ trước khi nổ súng, và cũng không thể loại trừ khả năng binh sĩ dưới quyền tướng Giáp tự tiện nổ súng không có lệnh trên [và ông ta chỉ còn cách phải tuyên chiến với Pháp vì việc đã lỡ xảy ra].

Không chỉ soi rọi các biến cố xảy ra trong năm 1946, công trình của Tonnesson còn có ba đóng góp rộng hơn đối với lịch sử Việt Nam. Đóng góp thứ nhất là về vai trò của Quốc dân Đảng Trung Quốc trong diễn tiến lịch sử Việt Nam. Cho đến nay, giới sử học đã coi nhẹ vai trò của Quốc dân Đảng Trung Quốc đối với sự tồn tại của chính phủ Hồ Chí Minh. Nếu người Trung Quốc đã làm như người Mỹ ở Seoul (từ chối không công nhận một chính phủ thiên tả vừa mới thành lập sau khi Nhật đầu hàng), hay như người Anh ở Sài Gòn và Jakarta (cho phép quân đội Pháp và Hà Lan trở lại khôi phục thuộc địa cũ đã bị Nhật chiếm trong Thế chiến II), chính phủ Hồ Chí Minh có rất ít cơ hội sống sót. Bộ chỉ huy quân chiếm đóng Quốc dân Đảng Trung Quốc giúp chính phủ Hồ Chí Minh qua việc ép buộc các nhóm chống cộng là Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội phải tham gia vào chính phủ Việt Minh và ký Hiệp định sơ bộ 6-3. Mặc dù Đảng Cộng sản Đông Dương không thực sự chia sẻ quyền lực với các nhóm này, việc họ tạm thời chấp nhận tham gia vào chính phủ Việt Minh cho phép chính phủ này tuyên bố là Việt Minh đại diện cho tất cả mọi giai cấp và phe nhóm Việt Nam. Thay vì cảm ơn Tưởng Giới Thạch và các tướng lĩnh của ông ta, lịch sử quan phương ở Việt Nam lại chê trách họ: người Trung Quốc bị xem là một kẻ thù còn tệ hơn người Pháp. Các học giả Tây phương (trừ King Chen) cũng rất hay chỉ ra tính chất vô kỷ luật và thổ phỉ của quân đội Quốc dân Đảng Trung Quốc, nhưng quên mất vai trò quan trọng của họ đối với vận mệnh chính phủ Hồ Chí Minh.

Đóng góp thứ hai của Vietnam 1946 là góp thêm chứng cứ cho luận điểm ngược lại với quan điểm lịch sử quan phương về sự lãnh đạo tập trung của Đảng Cộng sản Đông Dương trong và sau “Cách mạng tháng Tám.”[2] Bức tranh ngày càng rõ nét cho thấy một Đảng Cộng sản Đông Dương yếu ớt, phải dựa vào những lực lượng khác để giữ chính quyền, mặc dù có thể Đảng này có tổ chức mạnh nhất so với tất cả. Đảng có rất ít quyền kiểm soát đối với chính quyền địa phương ngoài những thành phố lớn. Việc giải thể Đảng Cộng sản Đông Dương vào cuối năm 1945 làm cho tình hình này tồi tệ hơn. Dựa trên tư liệu của tình báo Pháp, Tonnesson (tr. 24) suy đoán rằng “công tác Đảng bị các lãnh đạo Đảng (nếu không phải là chính Trường Chinh) xem nhẹ trong giai đoạn 1946-47 vì họ bận rộn với công việc quản lý nhà nước.” Giả thuyết binh sĩ của tướng Giáp nổ súng tấn công Pháp bất chấp lệnh trên vào tối 19-12 góp thêm một chi tiết vào bức tranh chung trên.

Thứ ba, Tonnesson chia tay với một xu hướng chủ đạo trong Việt Nam học từ thập niên 1960. Các học giả theo xu hướng này né tránh việc phê phán các lãnh tụ cộng sản Việt Nam khi cần phải phê phán.[3] Theo xu hướng này, những người cộng sản được mô tả như chỉ quan tâm thuần túy và chính đáng đến việc giành độc lập dân tộc, nhưng bị buộc phải tiến hành chiến tranh tự vệ chống lại các thế lực xâm lược ngoại bang. Có vẻ như họ không bao giờ phạm sai lầm, mà nếu có phạm thì cũng rất thành thật thú nhận. Xu hướng này có lẽ do việc nhiều sử gia quá tin vào hồi ký của các lãnh tụ cộng sản như Trần Huy Liệu và Võ Nguyên Giáp. Không có gì lạ khi các nhân vật này tô vẽ hào quang lên Đảng của họ và lờ đi những sai lầm. Tonnesson mở đầu quyển Vietnam 1946 bằng việc kiểm điểm lại số người chết vì chiến tranh ở Việt Nam trong thế kỷ 20. Con số này lên đến hàng triệu người, cả người Việt lẫn nước ngoài. Tonnesson tin rằng tất cả những cuộc chiến tranh này đều có thể đã tránh được nếu chính phủ Việt Minh đã biết tự kiềm chế vào cái ngày định mệnh 19-12-1946 đó. Trong khi Tonnesson không trách Hồ Chí Minh về biến cố này, ông cho rằng Võ Nguyên Giáp có trách nhiệm để cho chiến tranh xảy ra, mặc dù trách nhiệm của ông ta ít hơn các quan chức Pháp như Đô đốc Georges D’Argenlieu, Leon Pignon, và tướng Jean-Etienne Valluy. Tệ hơn nữa, Tonnesson cho rằng Võ Nguyên Giáp là một người bướng bỉnh tự cho rằng ông ta không có trách nhiệm gì, mặc dù các chứng cớ lịch sử cho thấy khá rõ trách nhiệm của ông ta để cho chiến tranh xảy ra. Theo Tonnesson (tr. 257), “Đối với tướng Giáp, người chịu trách nhiệm rất lớn không chỉ đối với quyết định tấn công [ngày 19-12], nhưng đối với tất cả những thiệt hại nhân mạng và các khổ đau khác trong những cuộc chiến kế tiếp ở Đông Dương, ý nghĩ rằng chuỗi thảm kịch đó có thể bắt đầu từ một sự hiểu lầm là không thể chấp nhận được.”

Quyển sách có một điểm yếu quan trọng: đó là việc dùng rất ít tư liệu từ Việt Nam. Mặc dù Kho lưu trữ của Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn chưa cho phép các nhà nghiên cứu sử dụng tư liệu, có nhiều bộ Văn kiện Đảng đã được xuất bản, đặc biệt là bộ mới in gần đây từ năm 1999.[4 ]Các văn kiện trong Tập 8 (1945-1947) của bộ sách này cho thấy rõ sự tồn tại của cơ quan Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương vào thời điểm này.[5] Nhân vật bí ẩn trong tư liệu tình báo Pháp có tên là “Nhân Nhân” rất có thể là Trường Chinh, vì ông ta đôi khi ký tên Nhân dưới một số văn kiện.[6]

Chỉ đọc lướt qua Tập 8 nói ở trên, chúng ta có thể nêu thêm bốn sự việc quan trọng nhìn từ phía Việt Nam để bổ sung bức tranh phía Pháp do Tonnesson vẽ ra. Sự việc thứ nhất là chính phủ Hồ Chí Minh có vẻ sợ các đối thủ Việt Nam (Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội) hơn sợ Pháp. Trong một văn kiện ngày 3-3-1946, Thường vụ Trung ương giải thích lý do Đảng quyết định ký Hiệp định sơ bộ 6-3 với Pháp như sau. Trung ương Đảng nghĩ rằng nếu Việt Minh đánh nhau với Pháp sẽ có lợi cho Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội chứ không có lợi cho Đảng Cộng sản Đông Dương. Lãnh tụ Đảng thừa nhận rằng “chủ hòa lúc này có hai chỗ nguy hiểm: a) Bọn phản động lợi dụng tinh thần kháng chiến của quần chúng mà tuyên truyền phỉnh dân và vu ta là phản quốc, là bán nước cho Tây; b) bọn thực dân Pháp có thể tăng gia lực lượng trên đất ta để một ngày kia bội ước diệt ta.” Tuy nhiên, lãnh đạo Đảng cho rằng có hai điều lợi lớn khi ký Hiệp định sơ bộ: một là “phá được mưu mô bọn Tàu trắng, của bọn phát xít, và của bọn Việt gian, bảo toàn được thực lực;” và hai là, “dành được giây phút nghỉ ngơi để sửa soạn cuộc chiến đấu mới… tiến tới giành độc lập hoàn toàn.”[7] Một trong những biện pháp đầu tiên Đảng muốn thi hành ngay sau khi ký Hiệp định sơ bộ là “lợi dụng thời gian hòa hoãn với Pháp mà diệt bọn phản động bên trong, tay sai của Tàu trắng, trừ những hành động khiêu khích ly gián ta và Pháp.” Văn kiện này chứng tỏ rằng cuộc tranh giành quyền lực giữa các phe nhóm người Việt cũng quan trọng không kém cuộc tranh giành độc lập giữa tất cả người Việt và thực dân Pháp. Việc Đảng Cộng sản Đông Dương e ngại các kẻ thù người Việt hơn là Pháp cho thấy rằng các biến cố năm 1946 không chỉ liên quan đến nền độc lập của Việt Nam mà còn đến việc giành quyền lãnh đạo đất nước của các đảng phái Việt Nam.

Sự việc thứ hai: tư liệu Việt Nam cho thấy lãnh đạo Đảng Cộng sản Đông Dương kỳ vọng rất nhiều vào Hiệp định sơ bộ 6-3, không phải như Tonnesson (tr. 5) nghĩ rằng họ chỉ ký cho xong chuyện nhưng sau đó sẽ tìm cách thoái thác thi hành. Thực ra họ coi Hiệp định sơ bộ 6-3 là một bước tiến quan trọng so với tuyên bố của De Gaulle cho Đông Dương tự trị ngày 24-3-1945. Mặc dù theo Hiệp định sơ bộ 6-3, Việt Nam chưa được độc lập, một văn kiện Đảng viết rằng “Pháp đã từ bỏ tham vọng lập lại chế độ thuộc địa tại Việt Nam và công nhận nguyên tắc tự do và thống nhất của ta. Kẻ thù trực tiếp của chúng ta bây giờ là bọn phản động Pháp…”[8] Ít nhất là vài tháng sau khi ký Hiệp định sơ bộ, lãnh đạo Đảng vẫn muốn tiếp tục đàm phán trên cơ sở Hiệp định sơ bộ chứ không phải thoái thác thi hành, mặc dù họ vẫn tiếp tục chuẩn bị cho một cuộc đấu tranh vũ trang nếu cần thiết. Thái độ lạc quan của họ khi nghĩ rằng người Pháp đã từ bỏ tham vọng lập lại chế độ thuộc địa có lẽ là lý do tại sao Đảng Cộng sản Đông Dương sợ Pháp ít hơn sợ các đảng phái Việt Nam khác.

Sự việc thứ ba: Tonnesson chĩa mũi dùi phê phán vào tướng Giáp với tư cách người chịu trách nhiệm chính bên phía Việt Nam đối với việc chiến tranh bùng nổ. Tonnesson có nhắc đến việc Trường Chinh thuộc phe chủ chiến, nhưng tư liệu Việt Nam cho thấy giàn lãnh đạo chóp bu của Đảng Cộng sản Đông Dương đều ủng hộ tướng Giáp. Sau vụ tàn sát ở Hải Phòng, Hội Nghiên cứu Chủ nghĩa Mác (Đảng Cộng sản Đông Dương trá hình) ra tuyên bố khen ngợi các chiến sĩ Việt Nam đánh nhau với Pháp ở Hải Phòng và Lạng Sơn và kêu gọi cảnh giác và tăng cường chuẩn bị chiến tranh. Tuyên bố này nói rằng Tạm ước 14-9-1946 (do chủ tịch Hồ Chí Minh ký ở Pháp) là “một bước nhân nhượng cuối cùng.”[9] Cùng lúc đó, Trường Chinh viết một bài với giọng điệu sặc mùi chiến tranh và máu lửa: “toàn dân sẵn sàng đứng dậy; tay đã để vào cò súng, mắt đã ngắm vào đầu bọn cướp nước, những bắp thịt đã căng thẳng; chỉ chờ lệnh là hàng triệu người ào tới băm vằm quân tàn bạo.” Trường Chinh hướng mối căm thù của ông ta không chỉ vào thực dân Pháp mà vào cả những người Việt không thích chiến tranh: “Phải gạt phăng những lời khuyên đầu hàng của bọn tự nhận là “bạn” ta hay của thù ta. Phải kịp thủ tiêu những chủ trương tháo lui, dao động của những kẻ non gan trong hàng ngũ dân tộc. Phải trừng trị thẳng tay những kẻ làm tay sai cho địch, bất kỳ trong tầng lớp nhân dân nào… Trước khi xông lên ngăn địch, phải chặt những dây dợ vướng chân.”[10] Mặc dù tướng Giáp có thể đã một mình ra quyết định nổ súng vào tối hôm đó, chắc hẳn ông ta có sự đồng thuận của ban lãnh đạo Đảng. Các biến cố năm 1947 ăn khớp với cách suy luận này. Sau khi chiến tranh bùng nổ, Đảng Cộng sản Đông Dương triệu tập Hội nghị Cán bộ Trung ương để phân tích tình hình thế giới và trong nước, đồng thời thảo luận các chính sách và kế hoạch cần thiết. Bản nghị quyết dài 33 trang của Hội nghị này chỉ nói đến công tác ngoại giao trong một đoạn ngắn như trích dẫn một phần dưới đây:

Vấn đề ngoại giao: vấn đề Việt Nam vừa được đem ra bàn cãi náo nhiệt ở Quốc hội Pháp. Đảng Cộng sản Pháp, Tổng Liên đoàn Lao động Pháp vừa tỏ rõ thái độ đối với Chính phủ Pháp giảng hòa với Việt Nam. Bọn Đờ Gôn lại hoạt động mưu cho phản động thế giới mà lật đổ chế độ cộng hòa Pháp. Đứng trước tình hình ấy, đoàn thể [đây là nói đến Đảng Cộng sản Đông Dương] phải theo dõi từng tí thời cuộc và chính trị nước Pháp. Nếu Pháp nhận Việt Nam độc lập và thống nhất, nhưng phải làm cho cán bộ và nhân dân hiểu rằng, chưa đánh đến hết gia đoạn thứ ba của cuộc trường kỳ kháng chiến, thì dù có dàn xếp cũng chưa thể giải quyết hẳn được sự xung đột giữa ta và thực dân Pháp. Chẳng qua tạm hòa hoãn để dành thời gian, v.v… Bởi vậy tuy phải lợi dụng hết khả năng ngoại giao, làm cho cuộc đổ máu Việt-Pháp rút ngắn lại, nhưng không thể có thái độ chủ quan đối với những cuộc đàm phán và nhất là không được sơ hở để quân địch lợi dụng… đánh úp ta.[11]

Lãnh đạo Đảng có vẻ không đặt nhiều niềm tin vào chính phủ Đảng Xã hội của Pháp, cũng không có vẻ luyến tiếc rằng chiến tranh đã xảy ra. Mặc dù Hồ Chí Minh vẫn tìm cách đàm phán với Pháp và giao một số Bộ trong chính phủ cho các nhân vật không cộng sản vào đầu năm 1947, Trường Chinh và Lê Đức Thọ ban những chỉ thị cảnh cáo nghiêm khắc quần chúng không nên đặt quá nhiều hy vọng vào ngoại giao.[12]

Sự việc thứ tư: Tonnessson (tr. 10) cho rằng “bổn phận căn bản nhất của mọi chính phủ” là bảo vệ hòa bình, nhưng tư liệu Việt Nam chỉ ra rằng nhiều lãnh tụ Việt Nam không nghĩ như vậy. Quan điểm của họ về chiến tranh và hòa bình phải được đặt trong thế giới quan Mác-Lê đầy dẫy những tư tưởng cách mạng cực đoan.[13] Theo thế giới quan này, tương lai của thế giới sẽ được quyết định trong cuộc đấu tranh một mất một còn giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội. Hòa bình với đế quốc chỉ là tạm thời vì bản chất của đế quốc là hiếu chiến và làm giàu nhờ chiến tranh. Hơn nữa, chính trị quốc tế không thể tách rời chính trị quốc nội. Như Trường Chinh từng tuyên bố, những người cộng sản Việt Nam có thể chấp nhận đoàn kết giai cấp tạm thời vì quyền lợi dân tộc, nhưng không bao giờ chấp nhận “thỏa hiệp giai cấp” (hy sinh các quyền lợi căn bản của giai cấp mình vì mục tiêu đoàn kết dân tộc).[14] Việc chung sống hòa bình với bọn đế quốc hay hòa hoãn với kẻ thù giai cấp có vị trí thấp trên thang giá trị của những nhà cách mạng Việt Nam mà tiêu biểu là Trường Chinh. Cuộc chiến tranh với Pháp năm 1946, nếu đúng như Tonnesson mô tả, thể hiện hành vi giống với cuộc cải cách ruộng đất từ năm 1953 đến 1956 mà thực chất là một cuộc đấu tranh giai cấp tàn bạo. Đánh giá theo hướng này, quyết định của tướng Giáp tấn công quân Pháp vào đêm 19-12-1946 không chỉ là một sai lầm chiến lược (như Tonnesson lập luận) mà là kết quả tự nhiên của những bộ óc cuồng tín thích tôn vinh những hy sinh cho các sự nghiệp “cao cả” không chỉ cho độc lập dân tộc mà còn cho cách mạng thế giới.

Để kết luận, dù sử dụng rất ít tư liệu Việt Nam, Vietnam 1946 là một công trình nghiên cứu có giá trị cao. Tonnesson đã giúp chúng ta hiểu biết thêm không chỉ về các sự kiện năm 1946 mà còn về lịch sử Việt Nam.

Chú thích

1. Dịch từ nguyên văn tiếng Anh trên Tạp chí mạng H-Diplo của Hội Nghiên cứu Lịch sử quan hệ đối ngoại Mỹ. Xem bài của các tác giả khác cùng điểm sách của Tonnesson và bài trả lời của ông tại trang web: http://www.h-net.org/~diplo/roundtables/PDF/Roundtable-XI-19.pdf

2. Về những luận điểm trái với lịch sử quan phương, xem Stein Tonnesson, The Vietnamese Revolution of 1945: Roosevelt, Ho Chi Minh, and De Gaulle in a World at War (Oslo: International Peace Research Institute, 1991); David Marr, Vietnam 1945: The Quest for Power (Berkeley: University of California Press, 1995) và Vu Tuong, Paths to Development in Asia: South Korea, Vietnam, China, and Indonesia (New York: Cambridge University Press, 2010).

3. Vu Tuong, "Vietnamese Political Studies and Debates on Vietnamese Nationalism," Journal of Vietnamese Studies, 2: 2 (2007), 175-230.

4. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn Kiện Đảng toàn tập (Hà Nội: NXB Chính trị Quốc gia, 1999-2007).

5. Tonnesson (sđd, tr. 29) bày tỏ nghi ngờ về sự tồn tại của cơ quan này, và dựa theo một tài liệu Việt Minh bị Pháp bắt được, kết luận rằng cơ quan này có thật.

6. Tonnesson (sđd, tr. 171) đoán rằng nhân vật này không thể là Trường Chinh vì Trường Chinh không đeo kính như người mà mật thám Pháp theo dõi, nhưng tên “Nhân Nhân” và những chi tiết khác cho thấy người đó là Trường Chinh.

7. “Tình hình và chủ trương.” Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn Kiện Đảng toàn tập, Tập 8, 45.

8. “Chỉ thị của Ban T.V.T.Ư., 9-3-1946. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn Kiện Đảng toàn tập, Tập 8, tr. 50.

9. “Lời kêu gọi quốc dân,” Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn Kiện Đảng toàn tập, Tập 8, tr. 148.

10. “Đánh và sẵn sàng đánh,” Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn Kiện Đảng toàn tập, Tập 8, tr. 452-453.

11. “Nghị quyết Hội nghị cán bộ trung ương,” Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn Kiện Đảng toàn tập, Tập 8, tr. 186.

12. Vu Tuong, “It’s Time for the Indochinese Revolution to Show Its True Colors: The Radical Turn in Vietnamese Politics in 1948,” Journal of Southeast Asian Studies 40: 3 (Oct 2009), tr. 528.

13. Xem Vu Tuong, “From Cheering to Volunteering: Vietnamese Communists and the Arrival of the Cold War 1940-1951,” trong Christopher Goscha and Christian Ostermann, eds. Connecting Histories: The Cold War and Decolonization in Asia (1945-1962) (Stanford University Press, 2009); và “Dreams of Paradise: The Making of a Soviet Outpost in Vietnam.” Ab Imperio(August 2008), tr. 255-285.

14. Vu Tuong, Paths to Development in Asia, tr. 196.

Vũ Tường là Giáo sư (Assistant Professor), ngành Khoa học Chính trị, Đại học Oregon.

© 2010 Vũ Tường
© 2010 talawas