Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhàn đàm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhàn đàm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 14 tháng 2, 2022

Tính phi nhân của tư tưởng Á Đông

 Nhiều người cho rằng tư tưởng Á Đông mạnh về toàn cục nên kém về phân tích so với tư tưởng Phương Tây. Cao Xuân Huy cho rằng sự khác biệt là ở chủ toàn-chủ biệt. Phương Đông nhìn vấn đề theo hướng toàn cục, Phương Tây dựa trên phân tích thành từng mảnh nhỏ để lĩnh hội các mảnh dễ hơn "chia để chinh phục" (divide and conquest).

Nhiều người khác lại cho rằng tư tưởng Á Đông trọng ở tâm linh, tư tưởng Phương Tây trọng ở vật chất. Chúng ta sợ bất cứ loại ý thức siêu nhiên, phi vật chất nào, từ bình vôi đến ma xó. Phương Tây chỉ lo thiếu tiền, vì thế có sốt vàng, sốt thuộc địa, phát triển hạm đội, máy móc để kiếm tiền, trong khi ta nhàn tản trồng rau, nói chuyện đạo đức. Người khác lại cho Á Đông là duy tâm, Phương Tây là duy vật, Á Đông là chủ quan, Phương Tây là khách quan, Phương Đông là lý trí, Phương Tây là cảm giác, vân vân và vân vân.

Tất cả những luận thuyết đó đều là giản lược để phục vụ cho nhận thức chủ quan hoặc do hiểu quá sơ sài về tư tưởng Phương Đông hoặc Phương Tây, hoặc cả hai. Các quan điểm này mâu thuẫn với nhau đến nỗi chẳng thể rút ra một điều gì chung bổ ích. Thực ra mọi thứ như duy tâm-duy vật, tâm linh-vật chất, lý trí-cảm giác, chủ toàn-chủ biệt, chủ quan-khách quan, bản thể-hiện tượng, dù Đông hay Tây đều có đủ. Có chăng là ở Phương Tây do có phương pháp khoa học phát triển hơn mà các phạm trù này đều tinh tế hơn.

Khác biệt lớn nhất của tư tưởng Á Đông và Phương Tây là phi nhân và vị nhân. Mọi chủ thuyết của Á Đông đều không dựa trên cá nhân, không dựa trên cái tôi cụ thể. Mọi cá thể con người đều phải phủ định bản thân mình để phục tùng một trật tự được ai đó cho là hợp lý theo một nghĩa nào đó. Tu dưỡng, đào luyện ở phương Đông là quá trình phủ định các bản năng, để tiến tới phủ định hoàn toàn tư duy độc lập và cuối cùng là cá thể con người. Trong khi đó, cái Tôi là trung tâm của mọi tư tưởng, hành vi của Phương Tây. Nghệ thuật tạo hình Á Đông cũng vô cảm như vậy. Các bức tượng, tranh của phương Đông đều mang tính ước lệ đến nỗi các khuôn mặt tượng đều vô cảm, giống hệt nhau cho đến cả tư thế ngồi.

Xã hội Phương Đông được tổ chức mô phỏng theo hình thức toàn hảo nhất của loài côn trùng gồm ong, kiến và mối. Dân chủ, đổi mới nhất cũng chỉ là Vua Khỉ. Mọi cá thể khỉ đều là vô nghĩa, chỉ là một cái lông của Mỹ Hầu Vương. Mọi Hồng vệ binh chỉ là một con kiến thợ, mọi xúc cảm của họ đều là vô nghĩa trong tư tưởng chói sáng của Mao Chủ Tịch.

Chủ Nhật, 9 tháng 1, 2022

Chỉ những nền văn hoá lớn mới nuôi được bọn gàn

Dân tộc nào, thời đại nào cũng có người gàn. Socrates đốt đuốc tìm chân lý ban ngày. Diogenes sống trong thùng gỗ. Bá Di Thúc Tề không ăn thóc nhà Chu đến nỗi chết đói Thú Dương. Nhạc Phi cùng con trai bị hãm chết ở Phong Ba Đình vẫn tin ở "thiên nhật chiêu chiêu" (mặt trời sáng tỏ). Bùi Giáng rách rưới, đói khát, ngủ ngoài đường mà tự cho mình là trích tiên.

Gàn tức là đi ngược lại tính toán khôn ngoan thường tình. Thường thì gàn không có công tích gì cụ thể, chẳng tạo lập được tài sản, ngu ngơ giữa đường đời, thiệt thân mình, khổ vợ con.
Vậy mà những dân tộc lớn lại trọng người gàn. Những dân tộc quá tỉnh táo, khinh rẻ người gàn thường lại là nhược tiểu, đói nghèo, lạc hậu, suốt ngày nói chuyện khởi nghiệp, đi tắt đón đầu, mơ chuyện ông Bành Tổ, chê bai kẻ gàn dở, khinh bạc kẻ cần kiệm, bạc đãi kẻ không biết xa hoa.
Quốc gia sáng suốt không phải là tập hợp của những kẻ quá tinh ranh. Kẻ tinh ranh thành thói quen tính lợi hại trước mắt. Tính lợi hại thì xoay chiều liên tục, như chiếu tam cúc, chuyển tiền từ túi này qua túi khác rồi lại trở về, khó sinh giá trị mới. Quốc gia sáng suốt phải dựa trên các giá trị ổn định. Không ai giữ giá trị ổn định đáng tin cậy bằng bọn gàn. Vì sao quỹ khoa học, quỹ đầu tư của các quốc gia, không phải lo quản lý đến từng xu mà chọn lựa vẫn công tâm, hiệu quả đầu tư cao? Vì bọn quản lý toàn những tay gàn, không hề quan tâm đến thiệt hơn. Đừng có tưởng bọn Tây là ngố ngốc dễ lừa. Không bọn con buôn nào ma lanh láu cá như bọn tư bản Tây. Nhưng hễ cần hỏi ý kiến là chúng mời ngay bọn gàn, được chăm bẵm để giữ bằng được bản tính gàn và để ra các quyết định thay cho xã hội.
Cố nhiên các quốc gia tinh ranh hơn không đời nào chịu nuôi bọn gàn, để mất thời gian nghe chúng bàn chuyện viển vông, nghiên cứu phát triển RD gì đó vớ vẩn. Vả lại có muốn nuôi cũng chẳng nuôi nổi vì các quốc gia này thường đói nghèo, lạc hậu, quốc khố rỗng tuếch có được đồng nào không bị bọn tinh ranh tham nhũng thì đã bị các quyết định đầu tư ngu xuẩn ăn hết sạch.
Vì thế mới có chuyện bà bán phở ở khu Kim Liên xem TV thấy giới thiệu về Giáo sư Trần Đức Thảo nổi tiếng thế giới bèn chép miệng mà rằng "Cũng là Trần Đức Thảo mà Trần Đức Thảo của người ta sao mà giỏi giang quý hoá thế. Trần Đức Thảo ở khu mình sống khác gì con chó".

Thứ Năm, 26 tháng 8, 2021

MONG MANH TRÍ THỨC VIỆT

Không phải ông nào không biết làm gì ngoài đọc sách, hoặc có bằng cấp đều đã là trí thức theo nghĩa mà tôi hiểu. Khi một người bắt đầu suy nghĩ về ý nghĩa thực sự đằng sau kiến thức trong sách vở, tìm cách kết nối chúng lại với nhau và với sự tồn tại của chính bản thân mình, khi đó hắn mới có thể được gọi là trí thức, khác với đám thợ chữ trộn bê tông chữ, xây trát chữ để mưu sinh. Nước Nga có nhiều nhà khoa học, Viện sĩ lỗi lạc, nhưng điển hình trí thức là Perelman không hề có danh hiệu gì. Tính cách Perelman càng nhiều thì độ trí thức sẽ càng cao. Lăng xăng quan quyền lắm danh hiệu như Lysenko, Sedov, Mitchourin hay Fadeev không thể gọi là trí thức. Tuy rằng hành động tự sát của Fadeev cũng có chút phảng phất hơi hướng trí thức Nga theo kiểu Yesenin.

Trong làng khoa bảng Việt Nam, tỷ lệ trí thức khá thấp. Nếu chọn điển hình thời phong kiến có thể lấy Chu Văn An và Nguyễn Bỉnh Khiêm, thời Pháp thuộc có thể lấy Nguyễn Khuyến, thời xã hội chủ nghĩa có thể lấy Nguyễn Tuân. Đó là các hình tượng mà giới sĩ phu cùng thời tôn sùng nhất. Tính cách bao trùm các vị này là yếm thế và không có hành động cụ thể. Liên hệ những chuyện các cụ nói với nhau đã khó, vì các cụ không có học thuyết gì cụ thể, chỉ lập ngôn vụn vặt. Liên hệ những gì các cụ nói với bản thân các cụ còn xa xỉ hơn vì các cụ hầu như không hành động gì. Hành động đối với hệ thống đánh giá của dân ta đều là ty bỉ. Vì thế khối người lăn lưng ra làm đều bị dè bỉu không được sùng bái. Các cụ cứ ngự trong mây mà hé lộ tý râu, tý vuốt, tý vảy để được sùng bái. Còn sau mây là gì chúng ta chịu không có bằng chứng để suy đoán.
Cụ Chu Văn An, không thấy nghe nói làm gì cụ thể ngoài việc dâng sớ chém 7 người bị gọi là gian thần. Nhưng cụ thể không biết là ai, tên tuổi thế nào, tội trạng gì. Riêng về mặt pháp lý điều đó không ổn tý nào. Nếu là vua, tôi sẽ không bao giờ chém người, cho dù tôi không ưa đến mấy, theo đề nghị trái quy trình và đạo lý như thế. Khái niệm về gian thần của sĩ phu Bắc Hà cũng rất cảm tính, công thức và theo chủ nghĩa lý lịch: các hoạn quan Lương Đăng, Đinh Thắng, Đinh Phúc bị Nguyễn Trãi chỉ măt là gian thần hại nước, đều có những lời bàn hữu lý về cải cách lễ nhạc và có khí tiết, thậm chí bênh Nguyễn Trãi khi ông bị hàm oan. Về mặt chính trị, nếu quả cụ An muốn chém ai đó thật, hoặc việc chém đó có ích nước lợi dân thật, cụ tất phải bày mưu tính kế với Lê Quát, Phạm Sư Mạnh đều là bậc tể tướng, học trò cụ, nghe cụ răm rắp. Sắp đặt dày công, gài bẫy cho cá kình vào lưới sắt, chém dễ như bỡn. Nhưng xây dựng một chương trình thực hiện cụ thể mất thời gian không phải là mặt mạnh của trí thức ta. Các cụ trí thức tỏ ra thanh cao không làm việc cụ thể như thế. Vì thế mà có truyện tiếu lâm: thầy ngoại khoa cắt xong đuôi mũi tên phủi tay xong việc, nói còn lại là việc của thày nội khoa. Thực ra, mục tiêu của cụ An chỉ là làm truyền thông, mượn 7 tên đặt ra chuyện chém để tạo dư luận xã hội mà thôi. Có lẽ từ "chém gió" nên lấy chuyện Chu Văn An làm điển tích từ nguyên. Thơ phú trước tác của cụ An để lạị cũng không thấy gì thật xuất chúng.
Nguyễn Bỉnh Khiêm có thể nói là trí thức Việt Nam đầu tiên có uy tín quốc tế. Cụ đã thoát khỏi các vấn đề chính trị quốc nội để nghiên cứu lý số là đỉnh cao khoa học chung của các nước Tứ Đại Hoa. Cụ được được một nhà tổ sư dịch lý tán tụng "ở nước Nam có ông Trình là có biết dịch lý". Thế là ghê lắm rồi. Tuy kiểu khen này khá trịch thượng, hỗn láo, như thầy xoa đầu khen trò trung bình. Cụ được vua Mạc trọng vọng, nhưng không thấy bàn được mưu nào ích quốc lợi dân. Mưu kỳ bí nhất của cụ là bày cho Nguyễn Hoàng cát cứ Đường Trong. Mẹo mực để phân tranh đất nước không thể gọi là ích nước lợi dân. Sấm Trạng Trình thì kỳ bí, không biết có nghĩa thật như người ta tán hay không. Có lẽ nên mở rộng thành ngữ "vịt nghe sấm Trạng".
Nguyễn Khuyến, đỗ đầu liền ba kỳ thi Hương Hội Đình, có thể coi là có giấy thông hành trí thức. Tuy nhiên, người thi rớt nhiều lần cùng thời như Trần Tế Xương không thể gọi là không trí thức. Về công tích của cụ toàn bộ đều là thái độ phân vân, thấy nói ngang, móc máy, xỏ xiên nhiều chứ không có quan điểm gì tường minh để dân tình có thể lấy làm chủ thuyết mà theo hay xả thân vì lợi ích cộng đồng. Thậm chí, thái độ sống của một biểu tượng được tôn sùng như thế còn làm cho các nỗ lực của các chí sĩ như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thượng Hiền thành trò công cốc, đáng cười. Thơ của cụ tinh những chữ, cầu kỳ nhưng không thấy ý nào cho cứng cỏi, nguyên khôi. Cái gì cũng tí tẻo tèo teo. Việc cụ trở thành thần tượng một thời của sĩ phu Bắc Hà cũng cho thấy trí thức của ta mong manh thế nào. Có lẽ cụ Yên Đổ đáng là biểu tượng của "trí thức trùm chăn".
Nguyễn Tuân được nhiều người gần đây tôn sùng, do tính cách lập dị và cầu kỳ. Văn ông đọc cũng thích nhưng đọc một vài bài thì chán vì không thấy ý tưởng nào tích cực, lặp đi lặp lại na ná như nhau. Văn của ông thấy mường tượng giống như có một ông thánh ngồi trong nhà phán về thời sự quốc tế. Có vài công thức mẫu thì phán chuyện gì cũng được, nhưng nó cứ meo méo không thật thế nào đó.Tư tưởng của ông cũng không được sắc bén như Nam Cao. Cái tinh tế của ông quay đi quay lại thấy là Phở, Trà. Nghe nói, ăn uống của ông cũng cầu kỳ, giò lụa phải mua ở chợ Hàng Da. Thấy nói ông "ngẳng" với các quan văn nghệ như Tố Hữu, Hà Xuân Trường, nhưng thái độ ông không rõ ràng và chưa thấy bao giờ bênh vực đàn em, bạn hữu được như các "đại ca" Nguyễn Huy Tưởng, Tô Ngọc Vân. Tâm huyết với nghệ thuật của cụ thì không được như Văn Cao, Nguyễn Sáng. Công tích với xã hội không thể so với Nguyễn Hữu Đang, Nguyễn Văn Tố. Việc ông trở thành biểu tượng vượt bậc với những người kia cũng cho thấy cái gọi là trí thức Việt thật mong manh. Cụ Tuân đáng gọi là "trí thức giả điếc cầu an".
Như vậy, có thể tạm khắc họa hình tượng trí thức Việt xuyên thời đại là "chém gió, phán sấm, trùm chăn và giả điếc cầu an". Ôi mong manh.

Thứ Hai, 26 tháng 3, 2018

Sách Chu bễ có phải là ngụy thư?

Sách Chu bễ còn gọi là Chu bễ Toán kinh (周髀算经) là sách cổ của Trung Quốc. Đa số các học giả Trung Quốc cho là xuất hiện sớm nhất khoảng TK1 trước CN tức là khoảng thời Hán Vũ Đế. Điểm đặc biệt là trong sách này có thuyết Cái Thiên và cơ sở cho lịch Tứ phân. Một số học giả cho rằng sách này ra đời sớm hơn vào thời Chiến Quốc (TK5-TK3 trước CN). Một số học giả quá khích hơn còn cho rằng sách này soạn đầu đời Chu (TK11 trước CN) hoặc thời Xuân Thu (TK8-TK5 trước CN). Một số người lại cho tác phẩm này xuất hiện muộn hơn nhiều.
Đặc biệt mô hình vũ trụ của Chu bễ hoàn toàn khác biệt với Thiên văn học dòng chủ lưu của Trung Quốc với thuyết Cái thiên như sau "Thiên viên như trương cái, địa phương như kỳ cục" (Trời tròn như cái lọng, đất vuông như bàn cờ). (Cái là cái lọng do đó thành tên chủ thuyết). Chủ thuyết này là bất di bất dịch trong quan niệm chủ lưu của Trung Quốc cho đến cuối đời Minh, khi Thang Nhược Vọng (giáo sĩ người Đức) đưa ra Tân thuyết giải thích bốn mùa, năm đới khí hậu, gây ra ầm ĩ và phản đối trong giới sĩ phu. Tuy nhiên, trong sách Chu bễ đã nói về việc tại Bắc Cực đến hè băng cũng không tan. Chu Bễ cũng nói mặt đất hình tròn, bầu trời cũng hình tròn, song song với mặt đất cách mặt đất 8 vạn dặm. Cần nói rõ Chu Bễ không hề nói Trái Đất hình cầu, mà chỉ nói bề mặt Trái Đất cong, có thể là một phần của mặt cầu và vì thế cũng không hề biết có Nam Cực.
Điều đáng chú ý là mô hình vũ trụ của Chu Bễ hoàn toàn giống hệt như mô hình có trong sách cổ của Ấn Độ là Puranas (Vãng thế thư), ước ra đời TK10 trước CN. Nhiều học giả Trung Quốc cũng cho rằng, tuy ý tưởng giống nhau có thể sinh ra tại nhiều nơi, nhưng việc trùng đến mức quái dị từ đại thể đến tiểu tiết giữa Chu Bễ và Puranas, khó lòng không cho chúng là từ một gốc. Chính học giả Trung Quốc nói rằng cho rằng "Ngẫu nhiên xảo hợp" là cách giải thích vô cùng miễn cưỡng.
Ở điểm này, các học giả TQ có hai cách nhìn nhận khác nhau. Một cho rằng Puranas chép từ Chu Bễ, rồi từ đó truyền sang Lưỡng Hà, Hy Lạp, La Mã. Quan điểm khác cho rằng, Chu Bễ nhắc tới Chu Công (TK10 trước CN) và Trần Tử (TK1 trước CN, tức là thời Hán Vũ Đế), như vậy không thể ra đời trước Puranas. Lại có người cho rằng Chu Bễ được soạn một lần thời Chu Công và lần sau thời Trần Tử. So sánh văn phong với sách Hoài Nam Tử, người ta có thế thấy phần Trần Tử có văn phong đồng thời với Hoài Nam Tử. Từ đó suy ra Chu Bễ có thể có niên đại như TK1, nếu bản Hoài Nam Tử mà chúng ta có hiện nay đích xác là nguyên bản của Lưu An. Tuy nhiên, các chi tiết của phần có Trần Tử cũng giống Puranas. Mặt khác, thời cổ không có Internet, thời gian để một cuốn sách do Chu Công phổ biến ra xã hội đã lâu, để lan truyền ra ngoại vực không thể trong vòng vài năm.
Đáng chú ý trong Hán Thư của Ban Cố (TK1) trong Nghệ Văn Chí có nhắc đến hai tác phẩm toán học là Hứa Thương Toán Thuật và Đỗ Trung Toán Thuật, không hề có Chu Bễ Toán Kinh. Do đó có khả năng là Chu Bễ Toán Kinh thời đó vẫn chưa có.
Và còn một số lý do khác mà tôi sẽ không thảo luận ở đây, đa số học giả thừa nhận, thời gian ra đời sớm nhất có thể có của Chu Bễ là vào đời Hán Vũ Đế (TK1 trước CN). Nên nhớ rằng thời gian này là thời gian thuyết Cái thiên của Trương Hành đang là chủ lưu. Nội dung của Chu Bễ mâu thuẫn hoàn toàn với các thuyết chủ lưu, khó lòng có thể chen chân vào học giới. Cách học của người Trung Quốc lại rất câu nệ sách vở giáo điều, không bao giờ tham khảo các quan điểm dị biệt, cho là tà thuyết.
C. Cullen cho rằng Chu Bễ không phải một người viết, mà đại thể có thể chia thành nội thiên và ngoại thiên. Nội thiên lấy Trần Tử làm trung tâm, có thể được soạn vào thế kỷ 1. Tuy nhiên ngoại thiên không thể soạn muộn hơn thế kỷ 2. Lại có học giả Nhật Bản căn cứ vào nội dung của Chu Bễ có xác định vị trí của sao Bắc Cực luận đoán ra, người viết quan sát thiên tượng của TK6-TK7 trước CN. Tuy nhiên cách lập luận này đã bị phê phán rất nhiều.
Hiện nay đa số học giả thống nhất được là Chu Bễ không do một người trước tác do nội dung và văn phong đều bất đồng. Các tác giả cũng ở nhiều thời kỳ khác nhau, và có những quan điểm bất đồng. Trong lịch sử Trung Hoa, việc san định, chú giải sách khá tùy tiện, như sách Tam Quốc của Trần Thọ nhưng lượng đóng góp của Bùi Tùng Chi rất lớn, và không loại trừ việc sửa cả văn gốc. Hoặc Tôn Tử Binh Pháp có thêm rất nhiều đóng góp của Tào Tháo đời Hán và Lý Tĩnh đời Đường cách rất xa về niên đại. Nếu thừa nhận Chu Bễ có nhiều tác giả và nhiều quan niệm khác nhau, cần phải xác định ý tưởng nào thuộc về thời kỳ nào thông qua nội dung và so sánh với chủ lưu chứ không thể gán ghép toàn bộ nội dung cho một thời kỳ để ra những kết luận không có cơ sở, như một năm dài 365.25 ngày (nếu có) có trong Chu Bễ được gán ghép cho thời Chu hoặc Xuân Thu, Chiến Quốc. Như vậy những lời được cho là của Thương Cao, Chu Công, Trần Tử đều là hư cấu của người sau.
Các học giả Trung Quốc cũng đặt vấn đề "Tri thức về thời tiết nóng lạnh và 5 đới khí hậu từ đâu đến". Tri thức thiên văn chủ lưu của người Trung Quốc không cho phép giải thích thời tiết khí hậu. Do đó có thể nói đến thế kỷ 17, Thang Nhược Vọng mới mang tri thức này vào Trung Quốc. Tuy nhiên Chu Bễ Toán Kinh lại có manh nha loại tri thức này, là một điểm kỳ lạ và đứt đoạn.
Tôi tạm dịch một số đoạn nhận định sau
比较合理的解释似乎只能是 ∶ 这些知识不是中国传统天文学体系中的组成部分, 所以对于当时大部分中国天文学家来说, 这些知识是新奇的, 与旧有知识背景格格不入的, 因而也是难以置信的.
So sánh giải thích hợp lý tựa hồ chỉ có một khả năng là∶ những tri thức này không phải là bộ phận trong hệ thống thiên văn học truyền thống của Trung Quốc, vì lẽ đó đối với đại bộ phận các nhà thiên văn học Trung Quốc thời đó mà nói, những tri thức này là mới mẻ, không ăn nhập gì với các tri thức cũ mà họ cho, vì thế rất khó chấp nhận.
其次, 在古代中国居传统地位的天文学说 ---- 浑天说中, 由于没有正确的地球概念, 是不可能提出寒暑五带之类的问题来的.
Hơn nữa, trong thuyết Hỗn thiên, thuyết thiên văn có địa vị (trung tâm) trong truyền thống cổ đại Trung Quốc, do không có khái niệm địa cầu chính xác, không thể có năng lực đề xuất các loại vấn đề liên quan tới thời tiết, khí hậu.
Để kết luận, tôi xin bày tỏ quan điểm cá nhân, người đọc tùy ý lựa chọn tin tưởng hay không: Khả năng Chu Bễ Toán Kinh là ngụy tạo dần dần từng chi tiết hoặc toàn bộ không phải là không có. Việc ngụy tạo sách vở cổ thư của Trung Quốc không phải là chuyện hiếm. Việc các tri thức về vũ trụ của Chu Bễ gần như bê nguyên xi từ Puranas là hiển nhiên. Khả năng trùng hợp (xảo hợp) rất hiếm hoi như lạc đà chui qua lỗ kim, tuy theo thuyết lượng tử không phải là không có tý xác suất nào. Tin ở những điều may rủi vu vơ như vậy, trong khi có quá nhiều điều hay và chắc chắn hơn, phụ thuộc bạn có quá nhiều thời gian không biết dùng làm gì hay không. Cuối cùng, dù là ngụy thư, tự phát minh hay sao chép, các kiến thức có giá trị trong Chu Bễ cũng nằm ngoài kiến thức chủ lưu của Trung Quốc trong suốt lịch sử cho đến Trung hoa Dân Quốc. Do đó không thể coi là tri thức thiên văn học Trung Quốc. Mặt khác các kiến thức này đều có ở Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ trước Chu Bễ rất nhiều. Những điều tôi nói đây không phải là suy đoán cá nhân, hay ý kiến của học giả phương Tây mà của các học giả Trung Quốc có lý trí và công bằng.
Tôi sẽ trở lại lịch tứ phân và việc người Trung Quốc biết một năm có 365.25 ngày từ khi nào sau vào một dịp khác.

Thứ Bảy, 18 tháng 4, 2015

Nhàn đàm: Công nghiệp hát rong kể chuyện

Qua nhiều tỉnh ở Việt Nam, thấy nhân dân sống còn nghèo, tôi cứ băn khoăn không biết làm thế nào với những người này, có thể thu tiền làm CNTT từ họ. Hay nói rộng hơn, có thể thu tiền gì từ họ, ngoài đồ ăn, cái mặc, chỗ ở, thuốc thang và xa hơn một chút là học hành. Nếu thị trường mua không có, thì cũng khó có thể giúp họ có được thu nhập để nâng cao đời sống. Nói cho cùng, họ cũng phải bắt đầu thu nhập từ môi trường xung quanh. Vấn đề của các tỉnh đều là tìm ra sản phẩm công nghiệp. Tỉnh nào cũng nói thị trường trong tỉnh không có, muốn tìm cách bán ra tỉnh ngoài, nhưng cũng dựng hàng rào ngăn chặn sản phẩm của tỉnh khác vào tỉnh mình. Quay đi quay lại, cuối cùng lại trở về bán tài nguyên. Tỉnh nào không có tài nguyên thì bán đất. Đất mỗi ngày một cạn mà công nghiệp, sản phẩm không có, tương lai sẽ không biết bán cái gì. Tôi tán thành bán tài nguyên, nếu như nhằm vào mục tiêu tạo vốn, đầu tư vào công nghiệp, để trong tương lai có sản phẩm bán được.

Có lẽ vấn đề của cả nước Việt Nam cũng như vậy. Rất ít sản phẩm được thị trường trong và ngoài nước chấp nhận. Tôi đã từng đi dự một hội chợ sản phẩm công nghệ và hoàn toàn thất vọng. Mặt hàng bán chạy nhất là trái vải của Bắc Giang và bánh đậu xanh của Hải Dương. Cách sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao nhất là quy trình nuôi tôm và nén mùn cưa thành củi. Có lẽ khó khăn không nằm ở việc làm một sản phẩm cụ thể, mà ở chỗ vòng quay của hệ thống không trơn tru. Động vào chỗ nào cũng phải thắng được lực ì của cả hệ thống. Làm một việc thành công ở Việt Nam là phải vác lên vai toàn bộ các vấn đề của xã hội. Thành thử chỉ các công ty lớn mới có hy vọng thành công vì mới bõ công xây dựng một bộ máy toàn diện để giải quyết chừng đó vấn đề.

Tuy nhiên, xem ra các đại gia cũng chỉ say sưa lợi dụng thương quyền để đào mỏ, chứ không phải là muốn giải quyết đến gốc của vấn đề để phát triển lâu dài. Vì vậy, các khẩu hiệu luôn luôn đổi mới được đưa ra, giống anh con rể bắt chước bố vợ đủ thứ trong tiếu lâm Việt Nam, mà không làm chuyện gì cho ra hồn.

Xem ra, để làm ăn lớn có lẽ nên bắt đầu từ thị trường nước ngoài. Thị trường nước ngoài nếu thành công lâu dài và ổn định sẽ dần dần tạo ra thị trường trong nước. Thực sự thì trong CNTT, xu hướng gia công là xu hướng duy nhất thành công ở quy mô công nghiệp, sau khi đã thử nghiệm các ý tưởng như game, thương mại điện tử, mạng xã hội,.... không mấy thành công. Đến như đại gia Viettel, trước nguy cơ bão hòa thị trường Viễn thông trong nước đã bắt đầu tìm ra nước ngoài.

Có điều, chỉ là ra nước ngoài thôi thì vẫn chưa phải là một chiến lược cụ thể. Rõ ràng gia công không phải là một hướng lâu dài, do không thể hình thành thương hiệu. Không có thương hiệu thì không thể có khách hàng lâu dài và không thể có sản phẩm công nghiệp có tầm cỡ. Gia công mà không để ý tới sản phẩm thì cũng không hơn gì bán tài nguyên, trong đó con người cũng là một dạng tài nguyên. Có thể gia công là một giải pháp tốt nhất hiện nay mà chúng ta có, nhưng không thể là đích đi tới. Cũng như bán hoa hậu, người mẫu, than đá, dầu mỏ, đều phải hướng tới mục tiêu trong tương lai, là phải có sản phẩm công nghiệp.

Tôi nhớ, hình như Tố Hữu có lần được hỏi sẽ làm gì sau khi thôi chức Phó Thủ tướng, ông đã trả lời "Tôi sẽ đi hát rong kể chuyện". Cũng có thể ngài Phó Thủ tướng -Thi Sĩ phụ trách kinh tế hoàn toàn không có một ý tưởng nào về công nghiệp. Nhưng tôi chợt nghĩ: Tại sao lại không có công nghiệp hát rong kể chuyện. Nếu chúng ta thử tính xem doanh thu do di sản của ông già hát rong kể chuyện mù Homer, hay chàng nghệ sĩ Shakespeare đã tạo ra cho nhân loại là bao nhiêu, có lẽ toàn bộ doanh thu của ngành công nghiệp CNTT chỉ là con muỗi. La Quán Trung ngày xưa, Trương Nghệ Mưu ngày nay cũng là những người hát rong kể chuyện. Hát rong kể chuyện Harry Potter, Lords of the Ring tạo ra doanh thu khổng lồ mà bất cứ ngành công nghệp nào cũng phải ao ước.

Việt Nam có thể hát rong kể chuyện gì cho thế giới để thay vào các cố gắng thi hoa hậu, thi Olympics, làm game, đá bóng nhại theo tiqui-taka, gia công phần mềm.... không thể nào thành công nghiệp quy mô quốc gia được. Đừng tưởng hát rong kể chuyện không có vai trò lớn. Người ta mua hàng Trung Quốc, du lịch Trung Quốc, đầu từ vào Trung Quốc cũng bắt đầu từ các câu chuyện hát rong kể chuyện Đèn Lồng Đỏ treo Cao, Ngoạ hổ Tàng Long, Tam Quốc, Hồng Lâu Mộng,.... Trước khi  các thương hiệu Sony, NEC, Canon, Honda, Toyotta,... của Nhật trở thành quen thuộc, thế giới đã say sưa nghe Kurosava hát rong kể chuyện về con người và văn hóa Nhật bản. Có thể nói văn hóa dẫn đường và cũng là người bảo tiêu quan trọng nhất cho hàng hóa công nghiệp. Chúng ta sẽ kể chuyện gì đây và sẽ kể thể nào?  

Thứ Bảy, 22 tháng 11, 2014

Bệnh ếch ngồi đáy giếng - Lệnh Lỗi Dương

Nhiều người nói sự phát triển của Việt Nam đặc biệt. Có người nói là do văn hóa của ta nó thế. Nếu đã nói đến văn hóa và đặc biệt, có nghĩa là "trời sinh ra thế, thế thời phải thế", không thể làm gì được. Có một số người, lạc quan hơn, có quan điểm "biến nhược điểm thành ưu điểm", hy vọng rằng tìm được một việc B mà nhược điểm khiến ta không làm được việc A sẽ khiến ta là việc B tốt hơn người khác. Tất nhiên, hy vọng dù mong manh vẫn đáng khen, và rõ ràng là cũng có những cái B như thế, nhưng hiếm và cũng chẳng ngon lành gì (nên mới tới phần mình).
Tuy nhiên, có những việc nhất thiết phải làm mà lại nói tôi không làm vì tôi không có ưu thế, tôi sẽ chỉ làm những cái tôi có ưu thế, thì có khác nào một anh chàng lập dị, trời lạnh mặc áo may ô, trời nóng quấn khăn phu la, sáng không đánh răng. Đúng là đặc biệt, đúng là tự hào vì không ai làm được như thế. Như đó có phải là một cuộc sống hạnh phúc không thì mới là việc cần bàn.
Sớm muộn chúng ta cũng phải sống, làm việc như những người bình thường, vì cuộc sống không thể chỉ mãi mãi là một sàn biểu diễn trí thông minh, hay một cuộc thi lấy kỷ lục. Toa thuốc "biến nhược điểm thành ưu điểm" chẳng qua là để trị cấp tính dành cho người bệnh chứ không thể là một cách sống bình thường lâu dài. Phương chi tôi ngờ rằng các sự đặc biệt được đổ lỗi cho văn hóa đó, thực ra nó cũng không đặc biệt gì, vốn ai cũng đã từng phải trải qua trong giai đoạn ấu trĩ. Có đặc biệt chăng là trì trệ và tụt hậu trong hoàn cảnh hiếm còn ai vẫn chậm phát triển vừa tự mãn. Chính hoàn cảnh như vậy tạo nên một tâm lý thể hiện bằng một thái độ mang tính bệnh lý "ếch ngồi đáy giếng".
Rất nhiều việc đangg bế tắc hiện nay, thay vì vận dụng suy luận bình thường là có thể triển khai tốt, đều có những tiên đề huyền thoại, không quy định trên văn bản nào, không biết lấy từ đâu ra, bẻ gãy mọi lập luận như chơi. Hoặc đơn giản hơn, có những việc trên thế giới, những người phát triển trí tuệ bình thường đều phải làm như vậy, mà ở Việt Nam, các hội đồng hùng mạnh, có các giáo sư bằng cấp nghe dọa chết người cũng đọc sách Tây, đi hội nghị Tây, cũng gật gù thông qua những cách làm hoàn toàn khác lạ, dù thất bại từ thế hệ này qua thế hệ khác. Sản phẩm thì hàng núi giấy, người đi sau chui vào đó mà chui được ra không bị dị tật suốt đời cũng đã là kỳ quan. Tiếc thay, đó không phải là đặc biệt gì về văn hóa, chẳng qua là bệnh "ếch ngồi đáy giếng" do ấu trĩ pha với tự mãn
Con ếch ngồi dưới đáy giếng rất nhiều lý luận, sử dụng đến phán đoán rất nhiều, nên rất giống người thông minh. Chỉ có điểm khác biệt duy nhất, người thông minh phán đoán trên tình huống thật, con ếch ngồi đáy giếng, phán đoán dựa trên rất nhiều giả tưởng, đa số không bao giờ xảy ra. Chính vì có quá nhiều giả tưởng (có khác giả thiết khoa học, tuy nhiều người vẫn hay lẫn lộn, một số vô tình, một số khác cố ý), nên nếu có nhiều ếch sẽ tranh luận liên miên theo kiểu ếch ngồi đáy giếng. Có một số tiêu chí để nhận biết các tranh luận của ếch ngồi đáy giếng để khỏi mang tiếng phản dân chủ bóp nghẹt tranh luận. Tranh luận của ếch ngồi đáy giếng luôn đi vòng tròn theo kiểu kiến bò miệng chén, bởi vì trong giếng các vấn đề cũng chật hẹp như miệng chén. Có thể tranh thủ làm một việc gì đó có ích chừng mười năm như luyện dịch cân kinh, học ngoại ngữ, hoặc lấy tay phải vật với tay trái, thành một công phu trác tuyệt, quay lại bàn tranh luận của ếch thấy câu chuyện vẫn thế, như phim Tàu nhiều bộ, không có tiến triển gì, bàn bàn và bàn tiếp, chẳng ra ngô khoai gì. Thời Trung cổ ở phương Tây cũng có vô thiên lủng các vấn đề kiểu như thế, nào là việc luyện vàng, nào là sự tồn tại của ê te, động cơ vĩnh cửu,... tạo ra hàng tấn lý luận, phép ngụy biện, siêu hình học mà không phải trí tuệ thông thường nào cũng có thể hiểu, cũng đầy rẫy tự mãn. Không có gì mới lạ. 
Một đặc điểm khác của ếch ngồi đáy giếng là rất khinh bỉ, ghét những lý luận đơn giản hướng tới thực tế. Bởi vì dù là ếch, trực quan mách bảo chính những lý luận tầm thường, thực tế dựa trên lương năng sẽ đập vỡ mớ lý luận phức tạp của ếch ngồi đáy giếng. Chính Lệnh tôi nhiều lần cũng phải thừa nhận mình không đủ chữ nghĩa, và không đủ năng lực theo dõi các lược đồ logic phức tạp của các học giả ếch ngồi đáy giếng.  Sự khinh rẻ đối với thực tế bên ngoài miệng giếng là vũ khí vô song của ếch ngồi đáy giếng, bởi vì nó sẽ đập tan mọi câu hỏi nghi ngờ về phương pháp luận của ếch, buộc những kẻ phản biện rơi vào mê hồn trận của ếch. Phải nói theo kiểu ếch, lập luận như ếch, tư duy được như ếch, thì ếch mới nói chuyện. Học xong được lý luận của ếch thì cũng đã tàn đời hoa, mong gì tìm được lối ra.
Kiến thức hạn hẹp của ếch không phải là điều đáng giận. Làm sao có thể giận được hoàn cảnh không may. Cái đáng giận là ếch không muốn ra khỏi giếng khi có điều kiện và tìm cách ngăn trở những con ếch khác mưu toan bò qua miệng giếng. Lý luận của ếch là người khác cũng sống  dưới đáy giếng như mình mới tốt mới phát triển. Có biết đâu, người ta cũng bắt đầu đả phá cái thói "không đàm ngộ quốc" của ếch.

Thứ Bảy, 15 tháng 11, 2014

Thời thượng và khai phóng - Lệnh Lỗi Dương

Tôi không bao giờ tin rằng số đông luôn sáng suốt trong mọi đánh giá và quyết định. Xã hội loài người không ít lần bị những kẻ mị dân làm lầm lạc. Cũng không thiếu các bi kịch của anh hùng lỡ vận. Nói một cách rộng ra, luôn luôn có thể thủ tiêu các xu thế tiến bộ và dân chủ bằng những đám đông. Đó chính là một nghịch lý của xã hội của loài người. Đó là lý do vì sao mà Robespiere và các bạn của ông bị đưa lên đoạn đầu đài do chính thể chế các ông đã chiến đấu để tạo ra. Chính Chúa Giê xu cũng bị đám đông đóng đinh câu rút. Nhà hiền triết Socrates cũng bị đám đông nhân danh dân chủ bỏ phiếu khép vào tội tử hình.  Chừng đó ví dụ cũng đủ để ta phải suy nghĩ về chân lý của đám đông và ý nghĩa của dân chủ thực sự.
Một thể chế dân chủ thực sự phải phản ánh được ý chí chung của xã hội nhưng không được bóp chết các tư tưởng khai phóng của những bộ óc kiệt xuất soi đường hiếm hoi. Xã hội loài người đi lên nhờ những tư tưởng khai phóng, chứ không nhờ những ý thích thời thượng. Hãy thử tưởng tượng xem nếu lý thuyết tương đối của Einstein, định lý Godel, hệ thức bất định cũng phải đưa ra lấy phiếu tín nhiệm, hay đánh giá bằng các hội đồng thì làm sao khoa học công nghệ phát triển được. Tư tưởng khai phóng tự thân nó đã có giá trị, sẽ trở thành chân lý, không cần đến sự yêu ghét cảm tính, thay đổi thất thường của đám đông.  
Không có gì bất công hơn bằng cách cho những người chưa chuẩn bị đủ kiến thức, không sẵn sàng tư cách ngang bằng với những người đã dày công nghiên cứu kỹ trong một quyết định đòi hỏi trí tuệ, kiến thức và sự chính trực. Một ý kiến cá nhân chỉ có ý nghĩa khi cá nhân đó thực sự có đủ năng lực đánh giá, đủ thông tin và kiến thức cần thiết, nhất là phải có được các phẩm chất đảm bảo cho công minh. Ngày nay không hiếm những hội đồng, tổ chức mà đa số thành viên không được chuẩn bị kiến thức đầy đủ, đứng ra góp ý thậm chí có quyền sửa đổi những đề xuất của các nhà chuyên môn đã dày công chuẩn bị. Nhiều cuộc họp, các thành viên chỉ đọc tài liệu 10-15 phút trước khi vào họp, để phát biểu hùng hồn, đánh giá nặng nhẹ một cách tức cười lãng xẹt, đó là chưa kể đến những người dù có nghiên cứu kỹ cũng không hiểu được hoặc cố tình không hiểu vấn đề. Bất công đó chính là phản dân chủ, dù áp dụng nguyên tắc đa số. 
Nói cho cùng Cách mạng văn hóa, Cải cách ruộng đất, Chủ nghĩa vô chính phủ, đều là kích động đám đông để chống lại các mầm mống giá trị đang còn mong manh. Tư tưởng khai phóng cũng như các đồ quý hiếm, bao giờ cũng mong manh dễ vỡ, khó vượt qua được thử thách thô bạo của đám đông. Cách đây vài hôm, tôi có tham gia một hội đồng thẩm định, đã góp ý kiến. Một ủy viên hội đồng nói: anh không thực tế gì cả. Tôi trả lời: Đúng, tôi là người không thực tế, nhưng không có nghĩa là tôi không biết thực tế, nhưng không bao giờ chấp nhận thực tế theo đuôi đám đông.
 Cấu trúc hai viện lập pháp ở nhiều nước chính là để giải quyết song đề sử dụng đám đông để xây dựng nền dân chủ và cũng đề phòng đám đông bị điều khiển bởi một nhóm mị dân sẽ bóp chết dân chủ thực sự.
Đối với tôi, dân chủ có nghĩa là khi tôi giao phó quyền bỏ phiếu cho một người đại diện trong cơ quan lập pháp, hành pháp hay hội đồng khoa học, không có nghĩa là tôi mong người đó luôn phải làm theo ý tôi. Tôi trao quyền của tôi có nghĩa là tôi tin ở tư cách và năng lực của người đó để đưa ra quyết định tốt nhất thay tôi trong những vấn đề tôi không đủ thời gian tìm hiểu, không có hiểu biết tối thiểu hoặc có thể sai lầm. Tôi mong dân chủ là sự minh bạch, người ra quyết định phải chịu trách nhiệm với quyết định của họ, khi họ thay mặt chúng tôi làm điều đó.
Việc bỏ phiếu tín nhiệm gần đây của Quốc Hội, có vẻ là một hành vi theo phong trào vì thời thượng, nhưng có nhiều điểm không được minh bạch về mục đích. Nếu nhằm mục tiêu để bãi miễn những quan chức không đủ phiếu tín nhiệm, Quốc Hội e rằng không đủ thẩm quyền. Không có một đạo luật nào nói rằng những người đã được bổ nhiệm một cách hợp pháp có thể bị bãi miễn bởi phiếu tín nhiệm thấp. Ở các nước dân chủ, để lấy phiếu tín nhiệm một quan chức, cần phải có lý do là người đó có dấu hiệu vi phạm luật pháp. Ở một số nước có tư tưởng khai phóng, luật pháp cho phép, khi một nguyên thủ đưa ra một quyết định không được đám đông ủng hộ, nguyên thủ đó có thể yêu cầu bỏ phiếu tín nhiệm, nếu vẫn đủ số phiếu cần thiết, vị nguyên thủ đó có thể đơn phương ra quyết định.
Nếu bỏ phiếu tín nhiệm trở thành một thứ phong vũ biểu cho các nhà quản lý, các chính trị gia, sẽ là một thảm họa cho những tính cách khai phóng và khơi nguồn cho việc đầu cơ thói chuộng thời thượng, mị dân. Các nhà lãnh đạo sẽ thôi không làm việc, bỏ bê sáng tạo, khinh thường động não và trở thành những nhà diễn tuồng. Khi đất nước lâm nguy hay khó khăn, thay vì cần ra những quyết định sáng suốt, nhà chính trị gia thời thượng sẽ chỉ nghĩ đến việc đo xem có bao nhiêu người ủng hộ phương án nào để ra quyết định.
Vấn đề là làm thế nào để đám đông có thể ra quyết định sáng suốt. Một xã hội có thể ra các quyết định sáng suốt, nếu như có một hệ thống giá trị vững chắc. Không phải là không làm được đinh ốc, xe hơi, cho dù giải thưởng Fields có là sản phẩm của trí tuệ Việt Nam, thất bại lớn nhất của trí thức Việt Nam là việc không xây dựng nổi một hệ thống giá trị để có thể thẩm định được các vấn đề xã hội một cách sáng suốt, thậm chí là để trí thức Việt Nam tự biết xấu hổ khi vẫn tham gia vào các việc thẩm định không trung thực rồi cao đạo trách móc những người khác.
Nếu năm 1945, Nguyễn Văn Tố và Nguyễn Hữu Đang cũng phải lấy ý kiến bằng phổ thông đầu phiếu là biết chữ Quốc ngữ có cần thiết hay không, có lẽ hai ông đã bị tín nhiệm thấp, đã không có phong trào Bình dân học vụ. Việc đó cũng không phải đưa ra tranh luận học thuật trên báo chí như Nghệ thuật vị Nhân sinh hay Nhân sinh vị Nghệ thuật. 
Đã đến lúc người Việt Nam, nhất là những người lãnh đạo cần phải quả cảm để ra quyết định tốt nhất khai phóng cho đất nước ngay cả khi những ý tưởng của họ chưa trở thành thời thượng. 

Chủ Nhật, 3 tháng 8, 2014

Dịch chữ "vu" trong "Bảy mươi hai kế"

Hôm nay chợt xem mấy bản dịch về "Thất thập nhị kế" của Quỷ Cốc Tử Vương Hủ. Thấy các bản dịch tiếng Việt đều thêm thắt, tán hoa hoè hoa sói, vớ vẩn. Tự nhiên nghi ngờ nên phải xem lại cho kỹ. Ngay câu đầu:
静中有动, 动中有静, "变生于事, 事生谋, 谋生计, 计生议, 议生说, 说生进, 进生退, 退生制, 因以于制事" .(Tĩnh trung hữu động, động trung hữu tĩnh, "Biến sinh vu sự, sự sinh mưu, mưu sinh kế, kế sinh nghị, nghị sinh thuyết, thuyết sinh tiến, tiến sinh thối, thối sinh chế, nhân dĩ vu chế sự" )
Các bản tiếng Việt đều dịch là:
Trong tĩnh có động ,trong động có tĩnh . “Biến sinh ra sự ; Sự sinh mưu ; Mưu sinh kế ; Kế sinh nghị ; Nghị sinh thuyết ; Thuyết sinh tiến ; Tiến sinh thoái ; Thoái sinh chế, chế ngự sự việc.
Mình băn khoăn nhất là ý "biến sinh vu sự". Nếu dịch cho ngay ngắn thì phải là "biến động sinh ra ở sự việc". Trong trường hợp này sinh không phải là "sinh thành" (chủ động) mà là "được sinh ra" (bị động). Ý khác hẳn.
Có lẽ các người dịch trước đều dựa vào logic theo chuỗi "sự sinh mưu, mưu sinh kế, kế sinh nghị,..." Suy luận như thế thì sự đã sinh mưu nên không thể sinh biến được. Tuy nhiên, chữ nghĩa là chữ nghĩa không thể suy luận theo chủ quan được. Nếu vậy tại sao Quỷ Cốc Tiên Sinh lại dùng chữ "vu" ở đây.
Sau một hồi suy luận, thấy rằng còn một cách hiểu khác, hay và thâm thuý hơn nhiều nếu trung thành với bản dịch. Theo cách đọc đó, cần dịch như sau:
"Trong tĩnh có động, trong động có tĩnh. Biến động sinh ra ở sự việc, (bởi vì) sự việc sinh ra mưu chước, mưu chước sinh ra kế sách, kế sách sinh ra luận bàn, luận bàn sinh học thuyết, học thuyết tạo thế tấn công, tấn công mở đường rút về, rút về tạo điều kiện chế ngự, người ta bèn theo đó mà chế ngự sự việc".
   Ý nói khi có một sự việc (như sự kiện Trung Quốc kéo dàn khoan vào hải phận Việt Nam) sẽ gây ra biến động, rối loạn. Vấn đề phải trong cái biến động, đừng hoảng, đừng rối, đừng bị biến động làm loạn ý, phải từng bước để chế ngự sự việc. Vì thế phải dựa trên đó có mưu chước (húc nhau), kế sách (tranh thủ liên kết Nhật Mỹ), có kế sách rồi sẽ luận bàn (về việc có nên kiện hay không), luận bàn rồi phải sinh ra học thuyết (Thoát Hoa luận), có học thuyết rồi phải tấn công (kiện, liên minh, phát triển tiềm lực thực sự), tấn công rồi phải biết phòng ngự (dẹp yên phe phái bên trong, nối lại quan hệ ngoại giao), như vậy sẽ là để chế ngự sự việc (để trong tương lai đừng có nhiều giàn khoan).
    Có lẽ cũng phải cảm ơn cái dàn khoan làm mình hiểu được chữ "vu" của Quỷ Cốc Tiên Sinh.

Thứ Tư, 23 tháng 7, 2014

Nhàn đàm tin trong ngày

1. Tin một cậu bé lớp 7 say sưa thí nghiệm mạch vi điện tử và lập trình đã làm thiết bị tự động tắt điện cho mẹ và tra cứu kiến thức hóa học cho chị.
     Chuyện có vẻ như là nhỏ, không có tổ chức, trường nào có thể đứng ra nhận thành tích đào tạo, không có những giải thưởng quốc tế hay kỷ lục. Nhưng loại gương sáng này là mẫu hình đang thiếu và quan trọng đối với tương lai của dân tộc. Nếu trở thành phổ biến thì còn giá trị hơn các loại khoa học gia và giải thưởng tủ kính rất nhiều. Tri thức cho cùng quan trọng là nó phải rọi sáng được đến từng cá nhân
Xem tin ở đây

2.  Có tin ông Phạm Quang Nghị, Bí thư Thành Ủy Hà Nội đi thăm Mỹ, sau khi hủy bỏ chuyến đi của Bộ trưởng Bộ Ngoại Giao, Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh vào hồi tháng 6. Mà lại là "theo lời mời của Bộ Ngoại giao Mỹ". Về mặt Đảng, ông Nghị là cao cấp hơn, nhưng ở tầm hoạt động và đúng chức năng thì ông Phạm Bình Minh đi có ý nghĩa hơn và sẽ có quan chức cao cấp hơn của Mỹ ra tiếp. Nếu như thông lệ trước kia, ông Nghị sang cùng lắm sẽ được Thị trưởng New York tiếp. Không biết thông điệp của sự kiện này là thế nào?
Xem tin ở đây

Chủ Nhật, 20 tháng 7, 2014

Lỗ pho mát và đầu bên phải cái gậy

1. Những cái lỗ trong cục pho mát cười sằng sặc vì thích thú. Lỗ càng nở to thì pho mát càng nhỏ đi một cách khốn khổ. Cho đến khi pho mát hoàn toàn biến mất, lỗ cũng biến mất.

2. Thằng Tèo không thích bên phải, vì bên phải là nơi thuận tay của nó. Cái gậy có hai đầu. Đầu bên phải thật là đáng ghét. Tèo bẻ đầu gậy bên phải đến gần phần ở giữa. Nó thỏa mãn nhìn khúc gậy bị bẻ đi và phần gậy còn lại. Chợt nó phát hiện ra khúc gậy bị bẻ đi cũng có đầu bên trái và khúc gậy còn lại vẫn có đầu bên phải.


Thứ Hai, 14 tháng 7, 2014

Nhà xuất bản giáo dục sẽ giúp Bộ quản lý, thẩm định các bộ sách giáo khoa ?

     Hôm nay là ngày giữa tuần, đang làm việc. Lý ra thì không có thời gian nhàn phiếm. Nhưng thấy quan chức và báo chí "nói nhịu" mỗi lúc một nhiều, phải bỏ thời gian ăn sáng có chút ý kiến.

      Bài báo Đọc ở đây đưa tin về việc bổ nhiệm một số quan chức mới của Nhà Xuất bản Giáo Dục. Phần kết có đoạn viết: "Chủ trương của Chính phủ cũng hướng tới xã hội hóa công tác biên soạn SGK; Điều đó có nghĩa là trong xã hội sẽ có nhiều nhóm biên soạn SGK; Trong đó NXBGDVN sẽ đóng vai trò hạt nhân của hoạt động này. Do vậy, NXBGDVN sẽ có thêm vai trò giúp Bộ quản lý, thẩm định các bộ sách SGK."
     Thật là mừng về chủ trương mới này của Chính phủ. Đáng lẽ điều này phải làm từ cách đây mấy chục năm. Không phải vì Chính phủ chưa biết việc này. Bao nhiêu người đã góp ý việc này từ rất lâu. Trên thế giới người ta cũng đã làm việc này từ lâu. Vì vậy, mừng không phải là "được mừng" vì Chính phủ ta sáng suốt. Mừng là mừng cho dân, cuối cùng kêu ca mấy chục năm cũng có chút ít kết quả. Tại sao một vấn đề giản đơn thế này mà công luận báo chí bàn rất ít, Chính phủ thì không muốn nghe?
     Nhà Xuất bản Giáo dục độc quyền về sách giáo khoa, cố nhiên là kiếm tiền rất dễ dàng, không phải cố gắng cải tiến chất lượng, cạnh tranh. Làm sách đã có dự án khổng lồ của Bộ trả tiền, họ chỉ in, tái bản, thị trường hàng năm lớn như vậy. Họ muốn tiếp tục độc quyền, cũng dễ hiểu. Nếu độc quyền có thể đảm bảo chất lượng tốt, giảm giá sách mà người dân đang phải è cổ ra chịu, luôn luôn có cải tiến, thì nó cũng đi một nhẽ.  Nếu không làm được điều đó, và cũng đã cho ông cơ hội thử mấy chục năm rồi, xin để cho xã hội cùng làm.
     Có một số người nói xã hội ta là xã hội chủ nghĩa, phải quản chặt những dịch vụ công cộng như y tế, văn hóa, giáo dục không thể chạy theo kinh tế thị trường. Xin thưa, nguyên lý, chí ít là trong sách vở kinh điển, xã hội chủ nghĩa không có nghĩa là "quản chặt" hay không phát triển theo định hướng "kinh tế". Xã hội chủ nghĩa chỉ có ý nghĩa, và thực tế đã được xây dựng bằng mồ hôi, xương máu của nhiều thế hệ, vì nó hướng tới một xã hội công bằng và phục vụ quyền lợi của người dân tốt hơn.
       Ở Mỹ, nơi xã hội được xây dựng theo nguyên lý của chủ nghĩa tư bản, kinh tế thị trường, trẻ em không phải mua sách giáo khoa. Mỗi khi vào năm học, các em đều được mượn sách từ thư viện của nhà trường. Sách in đẹp, bền, có thể dùng hàng chục năm, chất lượng rất tốt, ổn định. Gia đình sẽ phải đền, nếu sách bị làm mất hoặc hư hại đáng kể.
       Có thể có người nói "Mỹ giàu hơn ta, nên họ làm được". Đúng là Mỹ giàu hơn ta, nhưng chúng ta không làm tốt hơn có phải thực là vì nghèo hay không hay vì không quan tâm làm. Ở đây, trước hết hãy nói đến sự quan tâm tới quyền lợi của học sinh. Dù nghèo, việc quan tâm tới quyền lợi của người dân vẫn phải luôn luôn được chú trọng trong xã hội ta. Tôi muốn thấy ít nhất có một vài nỗ lực thực tế và thường xuyên thể hiện sự quan tâm đó.
       Trở lại vấn đề  xã hội ta có thực chưa làm được như Mỹ vì nghèo hay không. Nếu chúng ta tính ở mức hiện nay, mỗi người đi học phải trả một năm từ $25-50 cho sách giáo khoa. Với 20 triệu người đi học, mỗi năm sẽ có một thị trường khoảng 500 triệu tới 1 tỷ đô la. Trong 10 năm, sẽ có 5-10 tỷ đô la biến thành rác thải hàng năm. Với 5 tỷ đô la chúng ta có thể là dư dả cho những gì nước Mỹ đang làm.
     Lý do làm được sách giáo khoa tốt, rẻ, không phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, ý thức hệ, mà phụ thuộc vào cách làm, và đáng buồn hơn là phụ thuộc vào ý muốn làm việc tốt cho học sinh, người dân, xã hội của một số người.
     Nếu sách giáo khoa được xã hội hóa, điều đó có nghĩa là mọi tri thức tinh hoa nhất của xã hội đều được huy động, sẽ không bị bó hẹp vào những hội đồng không có cách nào thay đổi cách làm cách nghĩ như hiện nay vì đã bị đóng khuôn vào những chức danh, danh hiệu, bằng cấp. Sẽ không có một dự án soạn sách giáo khoa 35 nghìn tỷ nào cả. Các trí thức có năng lực, có tầm nhìn, nhiệt huyết sẽ hết lòng đóng góp vào việc đó.
      Nếu việc in, xuất bản, phân phối quản lý sách giáo khoa được xã hội hóa sẽ tiết kiệm chi phí cho người dân. Các chi phí đó có thể được đầu tư vào các sách tham khảo và các sách vở khác, tạo một thói quen học và dạy mới khác cách nhồi sọ như hiện nay.  Hơn nữa, ngày nay, công nghệ thông tin đã phát triển sẽ tiếp tục làm cho sách giáo khoa sống động hơn nữa, có nhiều tương tác đa phương tiện, giá thành, giá quản lý, phân phối, cập nhật rẻ xuống rất nhiều. Hàng ngày, các em học sinh sẽ không phải gù lưng vẹo cột sống thồ sách đến trường. Trong cặp các em luôn sẽ có cả một thư viện sách để tham khảo, trong một thiết bị máy tính bảng, để học với thói quen sáng tạo vừa tiếp cận với công nghệ cao.
     Liệu có khó khăn gì về việc kiểm tra chất lượng sách giáo khoa khi xã hội hóa? Nếu làm theo đoạn trích ở trên "NXBGDVN sẽ giúp Bộ quản lý, thẩm định chất lượng các bộ SGK", quả thật sẽ không có bước tiến nào đáng kể. Đó vẫn là tư duy cũ, thay đổi chỉ là miễn cưỡng đối phó với sức ép của xã hội chứ chưa thực lòng muốn thay đổi, chưa bỏ thời gian nghĩ đến kế hoạch thay đổi thế nào.
     Thứ nhất, có một nguyên tắc mà loài người phát hiện ra từ thời còn ở trong rừng nguyên thủy:Nếu có một miếng ăn phải chia, thì người chia không phải là người được chọn. Nguyên tắc này được phổ biến khắp nơi trong các nền kinh tế văn minh. Nếu NXBGDVN muốn giúp Bộ quản lý, thẩm định chất lượng SGK, xin hãy trở thành một Vụ hoặc Cục chuyên môn, không làm công tác xuất bản sách giáo khoa nữa, để tránh xung đột lợi ích.
      Xin bình luận thêm về một kết luận có trong bài báo NXBGDVN vẫn sẽ là "đàn anh" của các nhà xuất bản trong nước. Nghe khẩu khí có vẻ chưa muốn từ bỏ vai trò độc quyền, làm "đàn anh" có siêu lợi nhuận. Nếu vậy, thì cái gọi là đám mây, dịch vụ SDK điện tử cũng chỉ là tiêu tiền dự án ngân sách khổng lồ và công cốc mà thôi.
     Cuối cùng, phản bác đã nhiều, nếu không có phương án nào thay thế cụ thể, thức giả có thể lại nghĩ rằng người viết cũng là một loại sĩ phu Bắc Hà, vào cuộc họp thì ngậm miệng thin thít, ra ngoài thì đàm tiếu chê bai phản biện mà không có một đề xuất thiết thực nào. Thực ra, cũng không phải sáng tạo gì cho lắm, lạc hậu như tôi đây cũng có thể nghĩ được dăm ba kế quèn, ít ra cũng hơn cách làm hiện tại. Kế sách hiển nhiên nhất chẳng phải đâu xa, cứ xem trên thế giới có những cách làm thế nào.
     Trước hết, trên thế giới hiện nay, có một xu thế gọi là học liệu mở, với giấy phép Creative Common. Giấy phép này cho phép sách vở được tự do sử dụng lại để làm ra các sách vở khác với điều kiện trích nguồn. Các sách giáo khoa do NXBGDVN làm ra đều là dùng thuế của dân, và là tài sản của xã hội. Đề nghị có ngay một đạo luật tuyên bố, mọi sách giáo khoa hiện tại và quá khứ của NXBGDVN đều có giấy phép Creative Common, mọi cá nhân tổ chức doanh nghiệp đều có quyền sử dụng để làm ra các sách giáo khoa mới. Vẫn tiếp tục cấp tiền cho NXBGDVN để làm SGK mở với giấy phép Creative Common. Bộ GDĐT có chức năng thường xuyên thẩm định và công bố danh sách các sách giáo khoa được công nhận đạt chuẩn bằng một quy trình minh bạch. Mọi tổ chức, cá nhân đều có quyền làm sách giáo khoa. Các thầy có quyền lựa chọn sách giáo khoa và sách tham khảo, cho mỗi năm học sau khi đăng ký với nhà trường, Bộ (?) và công bố minh bạch. Các doanh nghiệp được khuyến khích đưa sách giáo khoa lên mạng, xây dựng các hình thức sách tương tác, đa phương tiện.

     Đơn giản, không khó, không cần chuẩn bị các dự án tiêu tiền ngân sách khổng lồ. Kết quả sẽ vô cùng mạnh mẽ. Đáng nói là như vậy, chúng ta sẽ trở thành một quốc gia phát triển bình thường, suy nghĩ một cách bình thường như mọi quốc gia trên thế giới.

Thứ Tư, 2 tháng 7, 2014

Chuyện nhỏ cần bàn về tiếng Việt


Mấy em thiếu nhi trương biển "Small things matter" (những việc nhỏ đáng bàn). Con người ta cứ chia việc nhỏ việc lớn theo ý mình mà bỏ qua. Thực ra, việc đáng bàn và việc không đáng bàn, chẳng liên quan gì đến nhỏ hay to.

Chuyên mục Ngôn ngữ của tôi hôm nay sẽ bàn về mấy việc dùng từ lặt vặt. Nhiều người coi nhẹ việc này, nhưng quan điểm của tôi, lỗi nhẹ (cố nhiên chỉ là đánh giá chủ quan) nhưng hay xảy ra sẽ có hậu quả xấu hơn là lỗi lớn hiếm khi xảy ra, hoặc trong trường hợp bất khả kháng. Việc thất thân của Tiểu Long Nữ, dù mấy anh chị cổ hủ, cho là chuyện tày trời, đúng ra chỉ là chuyện gãi ngoài da, vớ vẩn. Trong khi đó, chương trình của hacker lấy trộm đi 5-10 cent cho mỗi giao dịch ngân hàng, phải bị coi là vụ trộm cắp lớn. Trong hoạt động doanh nghiệp, cắt giảm kinh phí cũng thường tập trung vào các lãng phí nhỏ hay xảy ra. Thường lỗi nhỏ, người ta hay tặc lưỡi, vì thế nó lại càng dễ xảy ra.

Những người dịch thuật có kinh nghiệm thường thấy khi dịch khó mà tránh được "rằng thì là mà", và văn dịch thường chi chít "sự" và "việc" để cho các danh từ, và thường là dùng sai lẫn lộn. Thiết tưởng cũng nên bàn về các chuyện này. Đáng lẽ những chuyện này phải được học trong nhà trường, nhưng chắc vì các giáo sư, tiến sĩ mải lo làm những chuyện "nhớn" để dân tộc phải khốn khổ với chữ nghĩa thế này.

Trước tiên bàn về việc dùng các từ "sự" và "việc". Muốn phân định đúng sai thì phải có chuẩn, không có chuẩn, đành "duy danh định nghĩa", tự nắm tóc mình mà kéo lên vậy. Đứng về chính danh mà nói, "sự" lớn hơn, bao gồm nhiều "việc", mỗi việc thì gồm nhiều "cái". Như vậy, khi dịch phải phân biệt rõ là đang nói về một phạm trù, một sự vật bất biến (tương đối thôi) hãy dùng "sự". Chỉ một hành động, sự kiện hãy dùng "việc". Khi chỉ một vật cụ thể, khái niệm cụ thể, kết quả cụ thể dù là danh từ, không nên dùng "sự" lẫn "việc".  Lấy ngay ví dụ: "Walking is good for health" dịch là "Việc đi bộ có lợi cho sức khỏe". Quyết không dùng "sự" ở đây. "A walk is good for you now" dịch là "Một cuộc đi dạo có lợi cho anh bây giờ" hoặc dân dã "Đi dạo một phát sẽ tốt cho anh bây giờ". Các bạn thử quan sát mà xem, người Việt ta dùng lẫn lộn và lạm dụng "việc" và "sự" thế nào. Đừng tưởng dùng sai vô hại. Hành vi đẻ ra thói quen, thói quen đẻ ra ý thức, ý thức quyết định số phận. Biết đâu dân tộc ta long đong cũng chỉ bắt đầu bằng việc dùng từ không cẩn thận. Rồi "sơ ý" lẫn hành vi ngẫu nhiên với quan điểm, phạm trù. Khi tiến hành chiến dịch lâu dài thì lẹt đẹt vài phát tượng trưng rồi đánh trống bỏ dùi. Rồi khổ, lại kêu.

     Chuyển sang việc dùng quán từ. Gần đây, tôi có quan sát được một hiện tượng dùng quán từ vô lý. Bắt đầu nhận ra chuyện này ở một người bình thường, sau đó thấy rất nhiều người, thậm chí quyền cao chức trọng, văn hay chữ tốt, bằng cao luận khoát, có lẽ là hiện tượng khá phổ biến trong giới sĩ phu. Rồi mới thấy kinh hãi.
      Ví dụ:
                    -  Anh có ăn "quả" dứa để em gọt ? (Rất dễ thương, nhưng trên bàn có tới ba quả dứa)
                    -  Anh có ăn dứa em ạ (Không lẽ lại nói em dùng quán từ sai).
      hay
                    -  Anh có thích ăn con mực không? (Mực đang ở dưới Hạ Long, chưa mua)
                    -  Anh không ăn mực đầu tháng.
        Khác nhau ở chỗ nào và việc dùng quán từ lẫn lộn nói lên vấn đề gì? "Dứa", "Mực" không có quán từ là khái niệm trừu tượng, phạm trù. "Con mực", "quả dứa" là các đối tượng cụ thể. Việc phân biệt phạm trù trừu tượng với các đối tượng cụ thể là thao tác của tư duy mà người Âu rất rành mạch trong quy tắc ngữ pháp. Đừng có mang khẩu hiệu chống "dĩ Âu vi Trung", "bản sắc dân tộc" hay "hòa nhập nhưng không hòa tan" ra đây để chống lại tiến bộ về tư duy của nhân loại. Đừng tưởng chỉ có mấy bà nội trợ đơn giản hay ngoài quán bia người ta mới sai như thế. Các dịch giả của chúng ta cũng lẫn lộn rất phổ biến, câu gốc không có quán từ, mục tiêu chỉ khái niệm, sang tiếng Việt để thuận tai, cứ tùy tiện thêm quán từ "một", "cái",... sai hẳn nghĩa gốc. Rất tinh tế, không ai nhận ra, có nhận ra cũng tặc lưỡi "không quan trọng" "còn nhiều việc quan trọng chết người chưa sửa". Biết đâu những việc chết người đã cố sửa mà không thể sửa sau nhiều năm cũng bắt nguồn từ những cái "không quan trọng" ngày càng dày đặc, mà không chịu sửa. Nếu nói một dân tộc luôn lầm lẫn cái tổng quát với cái cụ thể, biến khái niệm thành cái cụ thể, đánh tráo cái cụ thể thành một ý thức hệ thì có phải là vấn đề quan trọng không. Thành công một hai việc do may mắn đã vội tổng quát hóa thành thành quả của một tư tưởng. Hoặc thực hiện một sự nghiệp lớn, chỉ chăm chăm làm một vài việc tủn mủn lẻ tẻ, không để ý tới những cái lâu dài.

Cuối cùng, câu chuyện nhàn đàm chẳng có đầu đũa gì, đụng chạm tới tới việc dùng "rằng thì là mà". Tôi còn nhớ hồi tôi học lớp hai, mẹ tôi đã dạy cấm dùng "rằng thì là mà" trong câu. Tôi cố thuyết phục mẹ tôi, có những câu bắt buộc phải dùng "rằng thì là mà" nhưng Người không buồn sửa những câu tôi đưa ra mà chỉ nói "Viết lại, không dùng "rằng thì là mà". Tôi cố cãi "có chữ vì có người dùng". Mẹ tôi nói "Dùng để nói tạm tha thứ được. Văn viết dùng "rằng thì là mà" rất nhà quê". Sau này, thành thói quen, tôi rất ít dùng "rằng thì là mà". Tuy nhiên, khi dịch từ các thứ tiếng nước ngoài, tôi mới quan sát được "rằng thì là mà" chi chít. Có thể phát hiện ra văn dịch qua mật độ sử dụng "rằng thì là mà". Bản thân tôi cũng vô tình dùng rất nhiều "rằng thì là mà".
"I say that" dịch là "Tôi nói rằng". "If I have money, then..." dịch là "Nếu tôi có tiền, thì...". "The sky is blue" dịch là "Bầu trời là xanh".... Cứ thế chẳng mấy chốc tiếng Việt sẽ đầy ắp "rằng thì là mà".

Đầu danh trạng

Lần này mục "Bình Tam Quốc" bàn đến "danh đầu trạng" là thuật ngữ dùng trong Thủy Hử. Có lẽ Tam Quốc toàn nói đến quý tộc, võ tướng, nho sĩ không dùng từ chợ búa của bọn lục lâm trộm cướp. Mặc dù họ vẫn làm những sự việc tương tự, nhưng có đánh chết họ cũng không chịu nhận vì sĩ diện.
Thực ra "danh đầu trạng" là một sự việc phổ biến trong hoạt động xã hội, trong chính trị lại càng phổ biến, nên cũng chẳng có gì xấu hổ. "Đầu danh trạng" là việc phải làm một số việc, để cam kết với một phía, đồng thời khóa khả năng trở cờ theo phía bên kia. Putin cũng đã từng phải nộp "đầu danh trạng" để cam kết không phản bội tập đoàn Elcin.
Trong Thủy Hử có đoạn Lâm Xung lên Lương Sơn Bạc xin nhập bọn, bị Vương Luân đòi nộp "đầu danh trạng". Anh này phải xuống núi phục kích mấy ngày phải cắt cho được ít nhất một đầu người về nộp. Như thế là phạm luật triều đình, sẽ phải theo Lương Sơn Bạc mãi mãi. Mấy ngày đầu, anh ta gặp toàn phụ nữ, người già yếu ớt nên thương tình tha cho. Nhưng đến ngày cuối cùng, anh ta thề rằng có gặp Thánh hay Phật cũng phải thịt, xui xẻo lại gặp phải anh Dương Chí võ nghệ cũng chẳng kém.
Trong Tam Quốc, Quan Vũ có thể nói là vô địch về "đầu danh trạng". Về hàng Tào Tháo thì phải nộp đầu Nhan Lương, Văn Sú. Bỏ Tào Tháo đi phải chém sáu tướng. Đến lúc gặp lại ông em kết nghĩa Trương Phi cũng bị ông này bắt nộp "đầu danh trạng" mới cho nhập bọn trở lại. 
Cho hay là dù đã nộp "đầu danh trạng" cho đối phương, nếu thực lòng muốn trở về đội ngũ, chỉ cần nộp "đầu danh trạng" khác, ác liệt, quan trọng hơn là được.

Thứ Hai, 16 tháng 6, 2014

Bình Tam Quốc: Ngụy Diên

Ngụy Diên, theo La Quán Trung tả, mặt đỏ, như táo chắp (giống Quan Vũ). Về tướng mạo mà nói phải là trung thần. Tuy nhiên, La Quán Trung kể là khi Ngụy Diên mới theo về, Gia Cát Lượng đã muốn lôi ra chém vì có phản cốt sau gáy, may mà Lưu Bị can mới thoát chết.
Trong toàn bộ Tam Quốc Diễn Nghĩa, Ngụy Diên là người bị bôi bẩn, chê bai nhiều nhất. Đánh trận toàn thua, khi nào có võ công như chém tướng vô địch của Ngụy thì là do Gia Cát Lượng sắp đặt.
Tuy nhiên, La Quán Trung vẫn ghi lại việc Ngụy Diên hiến kế cho Gia Cát Lượng đi tắt qua hang Tý Ngọ vào lấy Trường An, được nhiều nhà quân sự và chính trị đời sau đánh giá là có tầm chiến lược cao (trong số đó có Đặng Tiểu Bình và Lý Tiên Niệm). Trong chiến dịch Nhai Đình, chính Ngụy Diên đã can Mã Tốc và có biện pháp dự phòng mới tránh cho quân Thục bị thua nặng nề hơn.
Việc Ngụy Diên làm phản sau khi Gia Cát Lượng chết, cũng là việc bịa đặt vu khống của Dương Nghi, tay chân của Gia Cát Lượng, được Tưởng Uyển, Đổng Doãn là người của Gia Cát Lượng sắp đặt bên cạnh Hậu chủ ủng hộ. Khi đó trong quân đội, Ngụy Diên là người có danh tiếng và chức vị cao nhất, Tiền Quân Sư, Chinh Tây Đại Tướng Quân, giả tiết, Nam Trịnh Hầu. Chức Tiền Quân Sư, chứng tỏ Ngụy Diên không chỉ có nhiệm vụ chém giết như La Quán Trung mô tả mà còn là người bày mưu tính kế. Ngụy Diên chắc chắn không có ý làm phản, vì khi có cơ hội ông không chạy sang đầu hàng Tư Mã Ý, khi thất thế ông vẫn chạy về hướng Nam để bị giết.
Thời Lưu Bị còn sống, đánh giá rất cao Ngụy Diên. Sau khi lấy Hán Trung cần một đại tướng để trấn thủ, chống Tào Tháo, vai trò còn quan trọng hơn Kinh Châu. Đa số các tướng và các quan đều cho là Trương Phi sẽ được đề cử. Cuối cùng người được chọn lại là Ngụy Diên, chứng tỏ Lưu Bị đánh giá cao Ngụy Diên hơn cả Trương Phi về tài năng.
Có người cho rằng, Gia Cát Lượng cố ý dùng Dương Nghi, Tưởng Uyển, Đổng Doãn để chế ngự Ngụy Diên. Dù thế nào đi nữa Gia Cát Lượng vẫn phải chịu trách nhiệm về cái chết bi thảm của Ngụy Diên, là tướng tài nhất của Thục thời bấy giờ. Dùng người như vậy, sao có thể thắng lợi.
Cho dù bưng bít bóp méo sự thật thế nào, Ngụy Diên chỉ là nạn nhân của một tính xấu trong giới lãnh đạo là ghen ghét nhân tài.
Sau đây tôi xin đăng lại bản dịch Truyện Ngụy Diên trong Tam Quốc Chí của Trần Thọ

TRUYỆN NGỤY DIÊN
Nguỵ Diên tự Văn Trường, người ở Nghĩa Dương. Từng làm bộ tướng đã theo Tiên chủ vào Thục, lập nhiều chiến công, được thăng làm Nha môn tướng. Khi Tiên chủ xưng làm Hán Trung Vương, đóng dinh ở Thành Đô. Lúc bấy giờ cần một tướng giỏi trấn giữ Hán Xuyên, mọi người đều bàn luận cho rằng tất sẽ là Trương Phi, Phi cũng nghĩ như vậy. Tiên chủ lại đề bạt Diên làm đô đốc Hán Trung, tước Trấn Viễn tướng quân, Hán Trung thái thú, mọi người đều kinh ngạc. Tiên chủ họp quần thần, hỏi Diên rằng: “Nay uỷ thác cho khanh giữ trọng trách này, khanh cảm thấy thế nào?” Diên đáp rằng: “Nếu Tào Tháo cử quân thiên hạ đến, thần sẽ vì đại vương mà kháng cự; nếu cử một viên thượng tướng dẫn 10 vạn quân đến, thần sẽ vì đại vương mà nuốt gọn” Tiên chủ khen hay, mọi người đều cho rằng lời ấy là hùng tráng. Tiên chủ xưng đế hiệu, tiến cử Diên làm Trấn Bắc tướng quân. Năm Kiến Hưng nguyên niên, Diên được phong làm Đô đình hầu. Năm Kiến Hưng thứ năm, Gia Cát Lượng đóng quân ở Hán Trung, đổi Diên làm đô đốc quân tiên phong, lĩnh chức tư mã, Lương châu thứ sử. Năm Hiến Hưng thứ tám, sai Diên đi về phía Tây vào sâu xứ Khương, Hậu tướng quân nhà Nguỵ là Phí Dao (Diệu) cùng Ung châu thứ sử Quách Hoài cùng với Diên đại chiến ở Dương Khê, Diên đại phá Quách Hoài, được bổ thêm chức tiền quân sư Chinh tây đại tướng quân, được thêm tước Nam Trịnh hầu.
Diên thường theo Lượng ra quân, muốn xin riêng một vạn tinh binh, men theo đường để hẻm hội quân (với Lượng) ở Đồng Quan, như việc năm xưa của Hàn Tín, Lượng nhất định không cho, Diên vẫn thường nói Lượng nhút nhát, than thở rằng tài của mình chẳng được dùng hết”. [Nguỵ lược viết rằng: Hạ Hầu Mậu làm An Tây tướng quân, giữ ở Tràng An, Lượng ở Nam Trịnh cùng các tướng bàn định kế sách, Diên nói rằng: “Nghe nói Hạ Hầu Mậu còn ít tuổi, là con rể của chủ, hèn nhát mà vô mưu. Nay cấp cho tôi 5.000 tinh binh, 5.000 quân tải lương, tôi thẳng theo lối Bao Trung tiến ra, men theo Tần Lĩnh nhằm hướng Đông mà đến, lại theo hướng Tý Ngọ mà tiến về Bắc, bất quá chỉ 10 ngày có thể đến được Tràng An. Mậu thấy Diên tôi đến bất ngờ tất gióng ngựa bơi thuyền bỏ chạy. Như thế trong thành Tràng An chỉ còn bọn ngự sử, kinh triệu, thái thủ coi giữ, ở Hoành môn, Đề các dân tất chạy náo loạn, ắt ta chiếm được hết cả lương thực vậy. Địch quân từ phía Đông tiến lại cũng phải mất 20 ngày, khi ấy tướng quân đã theo lối Tà Cốc mà đến, tất cũng kịp vậy. Như thế, chỉ một lần vọng động mà từ Hàm Dương về phía Tây có thể định được vậy”. Lượng lo rằng kế ấy nguy hiểm, chẳng bằng cứ yên ổn theo đường thẳng mà tiến, có thể lấy Lũng Hữu, thập toàn có thể khắc địch mà chẳng phải lo lắng gì, bởi thế không dùng kế của Diên.] Diên khéo dưỡng sĩ tốt, dũng mãnh hơn người, lại có tính kiêu căng, lúc bấy giờ người dưới đều có ý kiêng dè. Chỉ có Dương Nghi không theo ý của Diên, Diên rất lấy làm tức giận, hai người ấy thường như nước với lửa. Năm Kiến Hưng thứ 12, Lượng xuất quân theo lối Tà Cốc, lấy Diên làm tiên phong. Diên ở cách xa quân doanh của Lượng chừng 20 dặm, Diên mộng thấy trên đầu mọc sừng, nhân thế mới hỏi quan chiêm bốc là Triệu Trực, Trực nói dối Diên rằng: “Giống Kỳ Lân trên đầu cũng có sừng mà đại dụng, ấy là điềm chẳng cần phải đánh mà giặc tự tan vậy.” Rồi cáo lui về nói với người khác rằng: “Chữ Giốc chiết tự, là dùng ở dưới đao, trên đầu có đao, ấy là điềm rất dữ.”
Mùa thu, Lượng bị bệnh nặng, bí mật cùng Trưởng sử Dương Nghi, Tư mã Phí Vỹ, Hộ quân Khương Duy rằng sau khi mình chết sẽ lui quân, sai Nguỵ Diên đoạn hậu, tiếp nữa là Khương Duy, nhược bằng Diên không vâng mệnh, cứ tự dẫn quân rút về. Lúc Lượng mới mất, các tướng bí mật không phát tang, Nghi lệnh cho Phí Vĩ tới thăm dò ý tứ Diên. Diên nói: “Thừa tướng tuy mất đi, nhưng ta vẫn còn đây. Vậy chỉ nên phái phủ quan lo việc tang lễ đưa thi thể thừa tướng về chôn cất, ta sẽ thống suất ba quân đánh giặc, hà cớ gì vì một người chết đi mà phải phế bỏ việc lớn thiên hạ nhỉ? Vả lại Diên ta là người thế nào, sao có thể chịu sự chỉ huy của Dương Nghi, để nhận việc đi đoạn hậu như vậy sao!” Thế rồi cùng với Vỹ bàn chuyện theo về hay ở lại, sai Vỹ viết thư cùng với mình ký tên, thông báo với chư tướng. Vỹ nói dối Diên rằng: “Bây giờ tôi trở về nói lại với Dương Trưởng sử, Trưởng sử nghe thấy như thế, vốn ít trải việc quân, ắt chẳng theo mệnh trước nữa vậy.” Lúc Vỹ ra khỏi cửa vội vã ruổi ngựa trở về, Diên mới hối hận, đuổi theo thì đã không kịp.
Diên sai người dò xét bọn Nghi, thấy mọi người vẫn theo mệnh trước của Lượng, các tướng trong doanh lần lượt dẫn quân trở về. Diên giận lắm, thấy Nghi mới đi chưa xa, mới khinh suất đốc quân theo lối tắt trở về Nam Cốc trước, đóng quân chẹn đường đốt sạn đạo. Cả Diên và Nghi đều cùng dâng biểu kể tội phản nghịch của nhau, trong vòng một ngày, biểu văn khẩn cấp đưa về liên tiếp. Hậu chủ đem việc ấy hỏi Thị trung Đổng Doãn, Lưu phủ Trưởng sử Tưởng Uyển, Uyển-Doãn đều bảo đảm cho Nghi mà ngờ vực Diên.
Bọn Dương Nghi phạt cây thông đường sạn đạo, hành quân đêm ngày, theo sau Diên. Diên đến trước, đóng ở Nam Cốc khẩu, phái binh đón đánh bọn Nghi, Nghi bèn lệnh cho Hà (Vương) Bình đến trước trận đánh Diên. Bình tiến lên mắng Diên rằng: “Thừa tướng mới mất, thi thể còn chưa lạnh, bọn ngươi sao dám như vậy?” Binh sỹ của Diên nghe thấy biết lỗi đều ở Diên, chẳng ai theo mệnh nữa, quân sỹ đều tan đi cả. Diên bị cô lập mới dẫn con cái cùng mấy kẻ tay chân đào tẩu, chạy vào Hán Trung. Nghi sai Mã Đại đuổi theo chém được, đem thủ cấp dâng cho Nghi, Nghi đạp chân lên đầu Diên mắng: “Đồ nô tài, ngươi còn làm ác được nữa chăng?”. Lại muốn giết cả ba họ nhà Diên.
Khi trước, Tưởng Uyển dẫn quân túc vệ đi nhanh về Bắc tới doanh quân, còn cách hơn 20 dặm, hỏi thăm thì biết Diên đã chết, bèn lui về. Nguyên ý Diên chẳng phải về Bắc hàng Nguỵ mà lại chạy về Nam, chỉ những muốn giết bọn Nghi mà thôi. Bình nhật Diên cùng chư tướng vốn có bất đồng, đương thời bàn luận rằng Diên tất là người thay Lượng. Việc vốn chỉ có như thế, chẳng phải là làm phản vậy.
[Nguỵ lược viết: Gia Cát Lượng bị bệnh, bảo bọn Diên rằng: “Sau khi ta chết, phải hết sức thận trọng, chớ có như thế nữa”. Lại sai Diên thay mình điều hành mọi việc, bí mật làm lễ tang và lui về. Diên nhân thế bèn giấu việc ấy, lui binh về đến Bao khẩu mới phát tang. Trưởng sử Dương Nghi với Diên vốn bất hoà, thấy Diên nắm quyền quân sự, sợ bị hại, bèn nói phao lên rằng Diên muốn dẫn quân theo về phương Bắc, nhân đó dẫn quân đánh Diên. Diên vốn không có bụng dạ ấy, không đánh mà dẫn quân bỏ chạy, bị quân đuổi theo giết chết.]

Kỹ thuật đóng lọ hoa quả để giúp nông dân Thoát Hoa

Mấy hôm nay nghe dồn dập các tin nông sản bị ế nào xoài, chanh, hành, thấy đần cả người. Lại thấy trên đường bán đầy vải và các thứ trái cây khác. Nghe nói một kg vải tại vườn chỉ khoảng 3-5K mà không có người đến mua. Nông dân thồ 100kg vải ra đến Hà Nội chỉ mang về 1M đã thấy mừng. Thật xót xa. Lại thấy một ông nguyên TGĐ một công ty công nghệ lớn của Việt Nam tỏ ra xót xa cho nông dân nên khuyên ăn thật nhiều xoài, thịt bò xào hành và phở vắt nhiều chanh để chứng tỏ yêu nước nhiều. Thực ra yêu nước trong nhiều trường hợp chỉ là "có" hay "không" rất khó đo nhiều ít. Người có một đồng trong túi cho cả một đồng không thể nói "yêu" nhiều hay ít hơn một ông triệu phú xỉa ra 100 đồng.
Tôi nhớ năm 2007, bay từ Bắc Kinh về Quảng Châu, thấy có bán "lệ chi" (vải) của Trung Quốc mua 5 lạng giá khoảng 15 USD, ăn thấy chua loét, không thơm. Năm 2008, xách sang Hàn Quốc gần 5kg vải   cho các đàn em ở Bộ 4T đang du học ở SNU, gọi cả các bạn Hàn Quốc cùng ăn. Họ chưa hề ăn vải bao giờ, không biết leichi là gì, vừa ăn vừa xuýt xoa khen loại quả ngon nhất trên đời. Vải quả thực là một thứ quả trân quý có danh tiếng. Mấy năm nay thấy xuống giá, thấy thật đau lòng. Người Trung Quốc còn có giai thoại rằng Dương Quý Phi thích ăn vải. Vải đưa từ Giang Nam lên bằng ngựa trạm, các đại thần mỗi người chỉ được một trái, còn lại vua đều để dành cho mỹ nhân.
Giá có cách gì bảo quản, chế biến và quảng bá việc mua vải cũng như các loại rau cây Việt Nam cho thế giới. Như thế mới là yêu nước thực sự, chứ không phải chỉ chém gió cho đỡ áy náy. Bán đi chút ít cổ phiếu thì có mà làm được khối thứ.
Trước hết, nói về vải. Người Việt mình hay chế biến vải khô. Tuy nhiên, vải khi khô, vị ngọt sắc, không thơm, hoàn toàn là một thứ thực phẩm khác. Có thể dùng làm nguyên liệu chế biến thì được, dùng như một trái cây khó mà có thị trường. Tôi nghĩ về việc người Âu Châu ngày xưa, họ bảo quản táo, lê bằng cách phun lên vỏ trái cây một chất gì đó để giữ được rất lâu, thậm chí quanh năm đều có thể có táo tươi. Các nhà khoa học Việt nam có thể nghiên cứu chế một chất gì đó xịt lên vỏ để có thể giữ trái vải tươi lâu.
Vải nóng nên dùng vài trái rất ngon, nhưng phải ăn dồn dập hàng ký, e là không hay. Vì vậy phải nghĩ cách đóng hộp để ăn được quanh năm. Ở Âu Châu có món đóng hộp, đóng lọ. Vải hộp, có lẽ không dở, làm cũng không khó gì hơn, lê hộp, mận hộp hay đào hộp. Vấn đề là tuyên truyền quảng cáo xây dựng thương hiệu. Chính vì vải nóng, nên dọn một đĩa dessert vài trái vải hộp ướp đá sẽ rất ngon. Nếu nghiên cứu kỹ để cho vào trong nước vải một vài vị gì đó sẽ có một món hảo hạng. Đóng hộp có lẽ chỉ cần một dây chuyền không đắt tiền. Ông Tổng Giám Đốc nọ chỉ cần bán vài phần nghìn cổ phần sẽ làm được khối thứ. Trước hết chỉ cần nghiên cứu khoảng 5-10 công thức gia vị cho hộp vải đa dạng hơn.
Còn cánh dân thường không có tiền đầu tư, có thể học các cách đóng lọ rau quả cổ truyền của nông dân Âu Châu.
Tôi vừa học được vài cách từ cô bạn có bà nội là nông dân Hungari chính gốc. Món thứ nhất là hoa quả đóng lọ, nông dân Hung hay làm khi đến mùa thu hoạch để dùng quanh năm. Thường thì họ đóng lọ anh đào, đào, lê, mận, phúc bồn tử, dâu,.... Cách làm xem chừng rất đơn giản. Kiếm một ít lọ thủy tinh có nắp xoay, rửa sạch, sấy khô. Xếp trái cây đã rửa sạch, để ráo nước vào lọ thật chặt, rắc đường lên trên và một chút gia vị. Đóng nắp, xoay chặt, rồi để nghiêng kiểm tra xem có còn hở không. Sau đó xếp các lọ vào một nồi lớn, đổ nước vào và đun 30 phút kể từ khi nước sôi. Sau khi bắc ra, ủ các lọ trong vải để giữ nóng càng lâu càng tốt. Khi các lọ nguội, đem bỏ tủ lạnh (ngày xưa người dân chỉ để dưới nhà hầm hoặc góc bếp) là xong. Thí nghiệm với vải tôi nghĩ cho một chút quế, vỏ chanh hay hạt mơ chắc đều ngon.
Đóng chai dưa chuột, ớt, hành, củ cải, bắp cải... cũng đơn giản. Cũng dùng lọ có nắp xoay như trên. Đặt xuống dưới đáy chai một bó thì-là (dill). Kiếm khoai tây già là tốt nhất, gọt vỏ, thái khoanh, xếp một lớp lên trên. Rồi xếp dưa chuột, ớt, bắp cải, hành, củ cải lên trên sau đó lại để một lớp khoai tây già, rồi một lớp thì-là nữa. Sau đó pha nước đun sôi để nguội với muối. Mỗi lít nước, một thìa ăn muối. Đổ nước muối lên trên. Nếu bạn thích ngọt, có thể bỏ thêm chút đường hoặc một số lá cây. Đóng nắp thật chặt, xếp góc nhà để dùng dần, đảm bảo giòn tan, nếu làm đúng cách và dưa chuột tốt (Dưa chuột nhớ cắt bỏ hai đầu) Tôi đặc biệt thích dưa chuột muối, nếu có loại giòn, mỗi tuần có thể làm vài chai. Đặc biệt uống bia với dưa chuột muối thì thú vị hơn hẳn mấy thứ đồ nhậu hiện nay.
Mỗi nhà làm vài chục lọ rau quả là giúp bà con nông dân rất nhiều. Tuy nhiên không hiểu loại bình có nắp xoay hiện nay có dễ kiếm không. Chắc sau này nhiều người dùng sẽ có giá rẻ hơn.

Thứ Bảy, 14 tháng 6, 2014

Bình Tam Quốc: Vì sao Triệu Vân không được phong ngũ hổ tướng

Triệu Vân, về thâm niên, gắn bó, lòng trung thành, công lao và năng lực đều không kém Quan, Trương, Hoàng, Mã và Ngụy Diên. La Quán Trung, trong Tam Quốc Diễn Nghĩa nói rằng, khi Lưu Bị lên ngôi Hán Trung Vương, phong Quan, Trung, Triệu, Mã, Hoàng làm ngũ hổ tướng. Thực ra, chi tiết này hoàn toàn hư cấu. Có thể La Quán Trung muốn lấy lại công bằng cho Triệu Vân. Trần Thọ, khi viết Tam Quốc Chí cũng để Triệu Vân vào cùng một liệt truyện với Quan, Trương, Mã, Hoàng, ý cho rằng công lao, năng lực của Triệu Vân cũng không hề kém.

Sau khi quân Tào đại bại ở Xích Bích, Lưu Bị tranh thủ lấy được một nửa Kinh Châu, tự lĩnh Kinh Châu mục (thứ sử), khi đó Quan Vũ làm Thái Thú Tương Dương, Trương Phi làm Thái Thú Nghi Đô. Triệu Vân, được phong sau một chút làm Thái Thú Quế Dương.  Về chức có thể nói là tương đương, cho dù Quế Dương là quận xa không thể so được với trọng trấn Tương Dương hoặc Nghi Đô. Về quân hàm thì vẫn kém, Triệu Vân là Thiên Tướng Quân (Thiên đây không phải là trời mà nghĩa là được thiên vị), tuy nhiên vẫn là một loại tùy tướng hộ vệ, không phải là tư lệnh một cánh quân. Trong khi đó Quan Vũ là Đãng Khấu Tướng Quân, Trương Phi là Chinh Lỗ Tướng Quân (nghĩa Chinh Lỗ và Đãng Khấu gần tương đương, hàm nghĩa trách nhiệm cầm quân đánh dẹp). Nhưng dù sao, ở giai đoạn đó, Triệu Vân là một trong ba võ tướng quan trọng và có chức cao nhất trong tập đoàn Lưu Bị (được phong hàm Thái Thú, tương đương Tỉnh trưởng, có quyền hành chính).

     Đến khi, Lưu Bị bình định được Ích Châu, phong Triệu Vân làm Dực Tướng Quân (Dực có nghĩa là cánh, bay, chức tướng là một loại tướng chuyên hộ vệ). Quan Vũ đổng sự Kinh Châu (tương đương quyền Thứ Sử), quân hàm là Tiền Tướng Quân, Trương Phi, Mã Siêu là Tả, Hữu Tướng Quân,  đều được ban giả tiết (một thứ ấn tín, biểu tượng cho quyền lực và trọng thị). Hoàng Trung, quân hàm cũng tương đương, không có giả tiết nhưng được phong tước Quan Nội Hầu. Như vậy, Triệu Vân quan chức đã thua kém rất xa, cũng ví như Cục trưởng Cục Bảo vệ với các Bí thư Tỉnh Ủy. Ngụy Diên lúc đó là Thái Thú Hán Trung,  Trấn Viễn Tướng Quân, (tương đương Tư lệnh Quân Khu, Chủ tịch Thành phố trực thuộc Trung Ương). Rõ ràng, Triệu Vân không thể so sánh về quan chức.

Đến khi Lưu Bị lên ngôi Đế, Quan Vũ và Hoàng Trung đều đã mất (chuyện Hoàng Trung theo Lưu Bị đánh Ngô là La Quán Trung hư cấu). Mã Siêu đã là Lương Châu Mục (Thứ Sử, tương đương chư hầu một phương), tức Lai Hương Hầu, quân hàm là Phiêu kỵ Tướng quân. Trương Phi là Xa Kỵ Tướng Quân, Tây Hương Hầu chức là Tư Lệ Hiệu Úy kiêm Tư lệnh Lãng Trung. Phiêu Kỵ và Xa Kỵ đều chỉ đứng dưới Đại Tướng Quân (không phải bao giờ cũng có) cũng như hàm Đại Tướng. Khi đó Ngụy Diên bị giáng chức (không rõ lý do gì) làm Trấn Bắc Tướng Quân (chống Tào), tước Đô Đình Hầu (Đình Hầu là tước dưới tước Hầu). Triệu Vân được thăng làm Trấn Đông Tướng Quân (chống Ngô), tước Vĩnh Xương Đình Hầu. Khi này Triệu và Ngụy chức tước mới ngang hàng.

Sau khi, Gia Cát Lượng bổ nhiệm sai Mã Tốc thất bại trong chiến dịch Nhai Đình (thực ra là Gia Cát Lượng thua, Mã Tốc chỉ là người hứng trách nhiệm), tự cách chức Thừa Tướng (Thủ tướng) thành Đại Tướng Quân (Nguyên Soái) coi việc Thượng Thư Lệnh (Quyền Thủ tướng). Triệu Vân hoàn toàn không có liên quan, cũng bị cách chức thành Trấn Quân Tướng Quân. Khi đó Ngụy Diên đã là Tiền Quân Sư, Chinh Tây Đại Tướng Quân, Nam Trịnh Hầu, có giả tiết, chức danh chỉ thua Gia Cát Lượng. Dĩ nhiên Triệu Vân không thể so sánh.

Về mặt quan chức mà nói, quân hàm và chức vị của Triệu Vân luôn luôn chỉ ở mức như Tổng Cục Trưởng, Trung Tướng. Lý do có năng lực, công lao mà không được lên chức thường là kiêu ngạo, không cẩn thận trong hành vi lời nói, hoặc tham lam, xấu tính, không trung thành. Triệu Vân là người khiêm tốn, chính trực, rất cẩn thận trong hành vi lời nói, trung thành, không thủ lợi.  Vậy thì lý do nào khiến Triệu Vân không được trọng đãi?

Phân tích những nhân vật quan trọng nhất phe Thục để so sánh với Triệu Vân thì thấy ai cũng có khuyết điểm: Quan Vũ thì kiêu ngạo, ngông cuồng, khệnh khạng, thích hư danh; Trương Phi, thì ham rượu, thích gái (đánh Hán Trung, bắt được con gái Hạ Hầu Uyên, lấy luôn làm vợ), nóng tính, vũ phu, đánh đập quân sĩ; Mã Siêu, công tử kênh kiệu, tham vọng; Pháp Chính thì tham lam, cá nhân; Ngụy Diên, kiêu ngạo, cậy tài, hay kể công, nói năng đụng chạm; Gia Cát Lượng, không có tài về quân sự, nhưng hiếu chiến, bao biện, thiên vị bè cánh, trù dập người không vừa ý. Hoàng Trung có khá hơn một chút, nhưng là người nông nổi, tham công; Lý Nghiêm, cậy công, tham ô; Khương Duy, thích phô diễn năng lực kỹ thuật, kém cả về chiến lược quân sự, cả về chính trị.  Các tố chất đó Triệu Vân đều hơn. Về chăm chỉ làm việc, không thu vén tư lợi, Triệu Vân cũng hơn. Thế thì vì sao Triệu Vân không được nhìn nhận và không thành đạt.

Thực ra, việc thăng quan tiến chức, còn một yếu tố nữa, là lãnh đạo thấy ngại tính xấu của mình mà phải phủ dụ. Người như Triệu Vân, chỉ lo làm việc, không một mảy may quan tâm đến đãi ngộ, thì Lưu Bị thấy chưa cần gấp phải phong chức, mà có phong chức thì hắn cũng không coi ra gì thì tội gì mà phong chức. Chỉ cần khen vài câu kiểu "Toàn thân là đảm", "Hổ Oai","Vì mày suýt nữa tao mất một viên đại tướng" là Triệu Vân đã cảm kích, thì việc gì phải đối đãi bằng cách khác. Thậm chí, bị Gia Cát Lượng cách chức oan, rồi khen cho vài câu, cũng thấy sướng. Vì vậy, Triệu Vân cả đời mẫn cán trung thành, việc khó luôn đến tay, vinh quang không được hưởng là cũng dễ hiểu.

Cũng còn may, Triệu Vân cẩn thận lại làm chức bé nên không đến nỗi chết thảm như Ngụy Diên, Bành Dạng hay thân bại danh liệt như Lý Nghiêm. Xem ra cái chết của công thần số loại một như Phượng Hoàng Nhỏ Bàng Thống, cậy tài ăn nói tùy tiện, công cao trùm thời cũng là một nghi án vậy.


Thứ Sáu, 13 tháng 6, 2014

Luận Tam Quốc - Vua thì phải ở trung quân

      Vua bất đắc dĩ mới phải ra trận.  Vua ra trận thường rủi ro rất cao, Trần Duệ Tông chết trận ở Chiêm Thành, Lajos II, chết trận Mohács, Minh Anh Tông bị bắt toàn quân ở Thổ Mộc Bảo, làm quốc gia suy sụp.
      Chính vì vậy trong đấu tranh chính trị, người thủ lĩnh tối cao luôn phải "chuyển động vào trung tâm" (move to the center). Đó là nguyên tắc bảo vệ an toàn cho hệ thống. Đời Tam Quốc, trước khi cục diện Tam Quốc hình thành. Các sứ quân nổi lên như ong. Sứ quân nào có người lãnh đạo tối cao xông pha trận tiền thường không tốt.
       Lã Bố là một trong các sứ quân mạnh nhất, luôn đi tiên phong trong mọi chiến dịch. Kết quả thất bại thảm thương. Cũng có trường hợp vì không có người, chủ tướng luôn phải dẫn đầu. Nhưng tập đoàn của Lã Bố không thiếu nhân tài. Lã Bố có 8 dũng tướng. Trong đó xuất sắc nhất là Cao Thuận, có thể xem là nhân tài quân sự. Rồi đến Trương Liêu, sau này trở thành đại tướng của Tào Tháo, trấn giữ Hợp Phì, nhiều phen đánh cho Đông Ngô thất điên bát đảo.  6 dũng tướng còn lại tài năng cũng xấp xỉ.
Ngoài ra, Lã Bố còn Trần Cung đa mưu túc trí. Trong các chiến dịch, thường Trần Cung và Cao Thuận giữ nhà hoặc tiếp ứng, Lã Bố tự mình dẫn 7 tướng xông pha trận mạc. Nhọc lòng, phí sức, cuối cùng vẫn thất bại.
      Có thể tổ chức thành 5 cánh quân: Tiền quân Tiên phong Trương Liêu và một dũng tướng. Hậu quân Cao Thuận. Tả quân và Hữu quân 4 dũng tướng. Trung quân Lã Bố, Trần Cung và một dũng tướng. Nếu như vậy, dễ gì Tào Tháo thắng được Lã Bố.
      Một tập đoàn khác là Mã Siêu cũng vậy. Nhìn xu thế đã biết sớm muộn cũng thua. Mặc dù chủ tướng múa may, ẩu đả với các tướng quèn, mồ hôi mồ kê nhễ nhại. Trong khi chủ tướng bên kia ngồi rung đùi, phe phẩy quạt, gái gú phục vụ, xem các chú đâm chém.
      Các tập đoàn như thế, cho dù chủ tướng có tài thánh cũng rất nhiều rủi ro, bởi vì chỉ cần chủ tướng có vấn đề tài tập đoàn suy sụp.
      Một tập đoàn may mắn hơn là Tôn Kiên, lúc đầu cũng theo mô hình như vậy. Chủ tướng Tôn Kiên rất trâu bò,  bao giờ cũng đi đầu, mang cả 5 dũng tướng túm tụm một chỗ, chém giết ẩu đả. Cuối cùng Tôn Kiên cũng chết trận, tập đoàn lụn bại. Sau này Tôn Sách lên thay thế tuy có khá hơn, nhưng vẫn ham đi tiên phong, nên cũng không khá được. Phải đợi đến Tôn Quyền lên chủ trì, nằm ở trung quân, Đông Ngô mới thịnh vượng.
       Không phải chỉ về chiến trận, người lãnh tụ mới ở trung quân. Tôn Quyền tuy tôn vinh phái chủ chiến như Chu Du, Lỗ Túc, Lã Mông, Chu Thái, Lục Tốn và luôn mắng mỏ mấy tên chủ hòa như Trương Chiêu nhưng thực ra vẫn dùng mấy tên chủ hòa làm chức rất to. Về mặt chính trị như vậy là thông minh, vì mấy tên chủ hòa này sẽ làm đối trọng với phái diều hâu, để vua "chuyển dịch vào trung tâm". Hãy tưởng tượng nếu không có bọn Trương Chiêu, Hoa Hâm,... Tôn Quyền chỉ trọng dụng toàn phái chủ chiến thì chuyện gì sẽ xảy ra. Sẽ chỉ có hai trường hợp: Thứ nhất Tôn Quyền sẽ phải biến thành Lã Bố, để trở thành ngôi sao chủ chiến, luôn phải đi đầu, để rồi thất bại như cha và anh. Thứ hai, sẽ trở thành một cái bung xung để phái chủ chiến kéo đi đâu thì đi, kiểu như vua Hiến đế bị Tào Tháo kéo, hay Ngụy chủ bị Tư Mã Chiêu kéo.
      Câu hỏi đặt ra, là nếu trong tập đoàn của mình không có tướng tiên phong thì làm thế nào. Thực ra nhân tài không bao giờ thiếu, chỉ cần tài bồi, khuyến khích tư tưởng tiên phong, luôn muốn đi trước mình. Nói một cách khác, nếu không có người tiên phong hơn chủ tướng cũng phải sáng tạo ra một người như vậy, bằng cách khuyến khích sự táo bạo.
       Chẳng hạn như chuyện Triệu Xa mang quân chống Tần, quân yếu, không có dũng tướng cùng chia sẻ, nghĩ không ra kế nào, bèn rao trong quân: "Ai có kế chống giặc sẽ tôn làm quân sư". Một tên quân buột miệng nói "tôi làm quân sư được không", nói xong bỏ chạy nói "tôi đùa thôi, thực không có tài cán gì". Triệu Xa đuổi theo, nói "người dám nói vậy, ắt có thể làm quân sư" và tôn làm quân sư. Chia quân làm hai đạo, kết quả đánh thắng quân giặc. Câu chuyện này điển hình ở chỗ, tên quân kia có tài hay không không quan trọng, cần thì đều có thể và phải dựng lên.
    Ngày nay, trong thực tế chính trị như ở Mỹ, các Tổng thống trúng cử bao giờ cũng trọng dụng những người của mình là đương nhiên, nhưng không bao giờ quên đề cử một số người vốn là đối thủ. Người ta cho rằng họ muốn mị dân, lấy lòng phe đối lập. Thực sự, điều đó chỉ đúng một phần, nguyên nhân chủ yếu là họ muốn làm chủ được tình hình đều phải "move to the center", để không thành Lã Bố hay Hiến Đế. Và thực tế, đa số Tổng Thống đều không giữ lời hứa khi tranh cử. Lý do là "Vua thì phải ở trung quân".
     Nói đi cũng phải nói lại về phạm vi áp dụng của quy luật. Quy luật này chỉ áp dụng về lâu dài, trong các tình huống có quy luật ổn định. Cũng có nhiều tình huống khẩn cấp, chủ tướng phải mạo hiểm xông lên, như Napoleon ở cầu Arcole. Nhất là trong các trường hợp có biến động, xu thế của đoàn tàu lịch sử đang vòng gấp ở khúc ngoặt để tiến về một điểm cần bằng mới, nhiều thủ lĩnh cấp tiến, luôn đi đầu trong cái mới, nếu không bám chặt có thể văng ra khỏi đoàn tàu.
     Đã suy nghĩ theo lối cấp tiến sẽ có điểm yếu vì có nguy cơ tự mâu thuẫn với mình. Người cấp tiến khi dao động, phản tỉnh, thu liễm lại trước hết sẽ làm những người ủng hộ mình thất vọng, trái với những người bảo thủ hoặc những người phiêu lưu cực đoan luôn luôn có một nhóm nòng cốt trung thành với mình đến phút cuối.
    Nhận biết thời thế đang ở trạng thái gần điểm ổn định hay đang bắt đầu dịch chuyển đến điểm cân bằng mới, cũng đòi hỏi năng lực tiên kiến "tri thiên mệnh".  Một số ít người biết cũng không mấy ai dám tiết lậu thiên cơ, trời phạt tổn thọ như Quản Lộ. Thời bây giờ phải sửa lại thành "phi thiên đả, tắc nhân đả"



Chủ Nhật, 8 tháng 6, 2014

Tin Vịt: Phát kiến Việt Nam ảnh hưởng đến thế giới

Hãng Tin Vịt có hai tin chấn động liên quan đến đóng góp của Việt Nam cho khoa học và văn hóa thế giới
  Tin Vịt 1:  Định luật vạn vật hấp dẫn của Newton là một trong những định luật khoa học có ý nghĩa cả về thế giới quan (giải thích được sự tồn tại của hệ Mặt trời, thay đổi vũ trụ quan của loài người) và triết học (mọi vật đều hấp dẫn nhau theo một nghĩa nào đó). Theo truyền miệng thì Newton đã nghĩ ra định luật này khi uống trà buổi chiều dưới gốc một cây táo vì bị một trái táo rơi vào đầu. Có lẽ ông đã nghĩ rằng tại sao không nghĩ rằng đầu ông rơi vào trái táo. Tuy nhiên theo một số điều tra gần đây, người Việt Nam đã tìm ra định luật này trước. Cũng có thể, khi Newton trở thành quan thu thuế Hoàng gia, ông đã bắt được một tàu chở lậu, có một cuốn sổ ghi chép phát kiến này bằng chữ Nôm. Nhưng thay vì quả táo là một quả dừa. Chính vì vậy nhà thông thái của Việt Nam không thể có cơ hội trình bày cho thể giới về phát kiến của mình, chỉ có người thân ghi chép vài giòng sơ sài.

   Tin Vịt 2: Thời chưa tham gia phong trào cộng sản, Mao Trạch Đông đã sang Việt Nam kiếm ăn, nhờ đó ông có giao thiệp với giới Sĩ phu Bắc Hà. Sau này, ông vẫn giữ quan hệ thư từ để qua người này biết về người kia và ngược lại. Qua đó, ông xây dựng được quan điểm nổi tiếng liên hệ trí thức với phân bón ruộng. Vì vậy trong trường hợp này, quan hệ nhân quả (causality) bị vi phạm một cách biện chứng, một số trí thức quả tình đã bị luận thuyết của Mao chà đạp hạ xuống thành "cục phân", nhưng thực ra một số trí thức khác cũng là cảm hứng để Mao Chủ tịch xây dựng học thuyết cách mạng. Thực không biết phân biệt đâu là nhân đâu là quả như quả trứng hay con gà cái nào có trước.

Chủ Nhật, 1 tháng 6, 2014

Nhạc của thời chúng tôi - nhạc những năm 60-70

Con trai và con gái tôi nghe những loại nhạc mà tôi không thể tiêu hóa nổi. Nhưng có phải giống như cha mẹ tôi cũng không thích nghe nhạc của thế hệ chúng tôi? Tôi nhớ là cha mẹ tôi rất thích nghe nhạc mà thế hệ chúng tôi đã từng nghe.

Tôi đã cố suy nghĩ thật khách quan và vẫn thấy thế hệ 60-70 đã sản sinh một thế hệ vàng trong âm nhạc. Một ban nhạc tầm trung bình thời đó cũng có thể trở thành một ban nhạc thượng thặng ở thời kỳ sau. Sau thời kỳ đó, ngoại trừ ban nhạc Eagle của những năm 80, Michael Jackson của những năm 80-90 thì không còn một ban nhạc và nhân vật nào đáng kể có thể so sánh với thời 60-70.

Để nhớ lại âm nhạc của thời kỳ này tôi đã thử thiết kế một chương trình gồm 45 bài (hơi nặng một chút, phải mất nguyên một buổi tối để nghe)
https://www.youtube.com/playlist?list=PL7F1508973F9ECE26

Trước hết, mở đầu đương nhiên là ban nhạc vĩ đại nhất mọi thời đại là Beatles và người tôi thích nhất là George Harisson. Bài mở đầu Here comes the sun là thích hợp nói về sự hội tụ của thế hệ vàng và sau đó là My sweet lord nói về cái tâm linh tối thượng để rồi quay lại với ngày hôm qua Yesterday trong sáng.

Bee Gees là một ban nhạc lớn. Nhưng có lẽ bản thích hợp duy nhất với phong cách của thời kỳ này là Massachusetts. Tôi rất thích bài này và giọng hát của ca sĩ. Bee Gees chân chính là phong cách của thời kỳ sau, của Discotheque. Tiếp theo tôi chọn Mississipi của Pussycats. Vào thời 70 tôi chưa có dịp nghe Pussycats, mà có nghe chắc cũng không hiểu được. Bây giờ nghe lại thấy say mê, nghe mãi không chán cái hoài niệm về một vùng đất thênh thang, hùng vĩ, với những con người có tâm hồn khoáng đạt. Chất Mỹ trong bài hát này nhiều đến nỗi khó tin đó là một ban nhạc Hà Lan. Clip cũng rất hay với trang phục cao bồi, tiếng guitar thùng xen lẫn guitar Hawaii. Mặc dù yêu Pussycats nhưng tôi không thể chọn bài thứ hai của ban nhạc này vì phong cách gần giống nhau và không thể vượt được Mississipy.

     Tôi trở lại bờ sông Ohio với giọng hát vời vợi của Joan Baez. Tôi luôn luôn nhớ đến chị đã đến với Hà Nội trong chiến tranh và hát tại Nhà Hát Lớn. Rồi chị cũng đã tổ chức những cuộc đi bộ để chống việc Việt Nam can thiệp vào Campuchia. Có thể về chính trị, chị là một người đơn giản, nhưng chắc chắn chị là một người trung thực. Nói đến Joan Baez, không thể không nhắc đến Bob Dylan và bài ca để đời của anh Blowing in the wind.

     Cũng theo một giòng nhạc đó, đỉnh cao là Simon & Garfunkel với bộ ba tuyệt vời El condo Pasa, Scarborough Fair và The sound of silence. Tôi muốn lấy thật nhiều bài của Simon & Garfunkel vì bài nào cũng tuyệt vời, đứng chót vót trên đỉnh cao của một thời kỳ. Sau này cho đến khi Simon về già, đến hát ở New York, tôi vẫn yêu ông.

      Có lẽ cặp đôi dễ thương nhất của thời kỳ này là Mouth & Mac Neal với How Do You Do và Hello A. Đáng lẽ tôi chỉ chọn một bài của họ, nhưng họ dễ thương trong sáng đến nỗi tôi không thể cầm lòng chọn bài thứ hai cũng hay không kém. Về âm nhạc, có lẽ các bài này chưa so sánh được các bài trong danh sách, nhưng sự dễ thương của họ không ai bằng.

     Nói đến nhạc 70, không nhắc đến ABBA là khiếm khuyết. Đối với tôi, Agnetha là hiện thân của cái đẹp tươi sáng, không ai, không bao giờ có thể cưỡng lại sức cuốn hút của nàng với bộ tóc vàng thiên thần đầy ánh sáng. Nhìn nàng hát có thể thấy xung quanh là một vầng hào quang. Thời đó chúng tôi vẫn tranh luận Agnetha và Annie-Frid ai hơn. Tôi luôn ngả về Agnetha, không bao giờ thay đổi, mặc dù Fernando của Annie Frid thật tuyệt vời. Bài tôi thích nhất cố nhiên là Eagle bay đến bầu trời cao tự do và tới với cái đẹp. SOS và I do, I do âm nhạc trong sáng, du dương, rộn rã tươi vui và băng clip tràn ngập hình ảnh đẹp tuyệt vời, lộng lẫy và duyên dáng của Agnetha.

      Rồi chúng ta lại phải quay trở lại với Beatles với cặp bài không thể tách rời All my loving và And I love her. Tình yêu chỉ đơn giản như vậy. Sau đó là một bài nữa là đỉnh cao của John Lennon, Imagine. Âm nhạc sang trọng, yêu thương, lãng mạn. Từng nốt một thấm vào tâm hồn người và đọng ở đó bao nhiêu năm tháng để rồi kết tinh, lên hương ở nhiều cung bậc.

      Rất tiếc, Shocking Blue là ban nhạc mà tôi thích, nhưng chỉ có Venus là vượt tầm. Và tôi cũng có lý do để yêu cái tên này. Middle of the Road có lẽ không phải là một ban nhạc vĩ đại, nhưng có rất nhiều bài dễ nghe, đáng yêu, giai điệu yêu đời, thúc giục người ta làm những điều tuyệt diệu. Mỗi lần nghe Middle of the Road tôi lại nhớ tới những mùa hè của tuổi trẻ, khi trong mạch máu rừng rực tuổi xuân đầy khát vọng, cảm thấy cái nóng bỏng của hè đang tới với màn dạo đầu là màu hoa tulip đỏ, mùi thơm nồng nàn của tử đinh hương và tiếng rì rào trong các bụi cây đêm hè với những nụ hôn đầu đời. Có lẽ vì thế tôi chọn liền 4 bài của Middle of the Road: Soley, soley, Chirpy chirpy chip chip, Samson and Delilah và  Sacramento. Trước khi chuyển sang cao trào, tôi thấy cần phải nghe Something của Beatles để lắng đọng lại.

    Cao trào của chương trình bắt đầu bằng Apache của The Shadows. Đây là bản nhạc hoài niệm lớn nhất của chúng tôi. Suốt năm ngoại ngữ, chúng tôi nghe bản này vào lúc đêm, để nhớ về Hà Nội, bạn bè và gia đình. Nhiều khi lo thắt ruột với những tin về binh lửa. Thời đó chúng tôi gọi bài này là "Lên giường". The Shadows chỉ chuyên chơi nhạc không lời, ngón đàn guitar điêu luyện đi vào hồn người, Điều đáng ngạc nhiên, dù rất muốn tôi không thể chọn bài thứ hai của The shadows, có lẽ vì đã trót yêu Apache mất rồi. Công bằng mà nói các bài khác đều na ná giống như Apache và không hay bằng.

    Trước khi đi đến các đỉnh cao, không thể không nghe Je t'aime .. moi non plus với giọng ca của Serge Gainsburgh và Jane Birkin. Đây là một bài đỉnh cao về tình yêu và truy hoan. Sau này Brigitte Bardot cũng hát lại với Serge Gainsbugh và có cảnh. Cố nhiên xem thì hay hơn vì BB đẹp, nhưng hát không thể bằng. Smokie xuất hiện muộn hơn, nhưng Layback in the arms of someone nghe ngay sau Je t'aime ... moi non plus thì hay không thể tưởng tượng được, nhất là với giọng đầy nam tính của Smokie. Sau đó hay nghe Without you với giọng hát của Harry Nilsson, một bài được cả lời lẫn nhạc. Say mê tình dục vẫn không thể thiếu được lãng mạn vô tư.

     Bộ đôi Sugar baby love và Tonight của Rubettes bây giờ vẫn làm tôi nhớ lại cảm giác say mê cuộc sống, nồng nàn như lửa, giọng ca đầy mê hoặc như dụ dỗ người ta tới với những nhịp uốn lượn. Tôi mê bộ đôi này đến nỗi muốn chọn thêm vài bài của Rubettes nhưng không thể, vì bộ đôi này là đỉnh cao không thể vượt qua.

     Và đây là NÀNG: Suzie Quatro, người phụ nữ đẹp nhất, lôi cuốn nhất. Vào những năm ấy nàng vẫn thường tới Hungari biểu diễn ở đảo Margit. Tôi nhớ có buổi tối chúng tôi cũng ra đó tới gần nơi có buổi trình diễn, để thấy Suzie từ xa trong bộ áo da nổi tiếng. Không có người phụ nữ nào nhiều năng lượng, đam mê, cuốn hút, bùng nổ như Suzie. Tôi thích Agnetha, nhưng say mê Suzie. Hãy nghe Can The Can và If you can't give me love. Nếu như người khác tôi thích thì muốn chọn thật nhiều, riêng Suzie vì say mê mà tôi bắt buộc chọn ít bài. Một là để tôn sùng trân trọng Suzie, nhưng không trái tim đàn ông nào chứa nổi và tiêu hóa nổi quá nhiều nhiệt tình của Suzie. Dù vậy tôi vẫn phải chọn thêm một bài Suzie hát chung với  Chris Norman (Smokie) Stumblin' in  rất dễ thương, đúng là một cặp trai gái tài sắc, tuyệt đỉnh của cái đẹp.

    Thật bất công khi tôi chỉ chọn được một bài của bộ ba vĩ đại Deep Purple, Eric Clapton, Led Zeppelin với tuyệt phẩm Smoke on the Water. Mỗi người trong bọn họ đáng phải có một chương trình riêng. Nghe bản này sau Suzie thì mới thoát được cái cám dỗ của nàng. Rồi lại phải tiếp Rolling Stones với Angie. Và ban nhạc mà tôi thích nhất là Creedence, với nhịp trống uyển chuyển tuyệt vời. Người ta nói âm nhạc bắt đầu từ các bộ gõ, nhưng đến Creedence thì bộ gõ mới thành nhạc thực sự. Tiếng trống mà như có hồn. Tôi chỉ chọn hai tuyệt phẩm Hey tonight và Have you ever seen the rain để nhấm nháp cái tuyệt vời của Creedence. Mặc dù tôi có thể chọn hẳn một chương trình của Creedence để nghe mãi không chán. Mãi mãi yêu Creedence. Phải liên tiếp có các ban nhạc vĩ đại, nhân vật vĩ đại mới làm chúng ta dứt khỏi tình yêu với Suzie Quatro. Nhưng thực ra đến đây tôi vẫn còn nghe văng vẳng Can the Can.

    Boney M không phải là một ban nhạc vĩ đại, nhưng vui tươi với giọng nam tuyệt vời. Tôi chọn ba bài rất hay The Rivers of Babylon, Daddy Cool và Bahama Mama. Trước khi kết thúc, chúng ta lại phải quay lại với Abba với tuyệt phẩm da diết Fernando và thêm bài Dancing Queen để thấy lại Agnetha một lần nữa.

     Để kết thúc chương trình, tôi xin chọn ca sĩ Hy Lạp Demis Roussos vĩ đại với bộ ba Una Paloma Blanca, Good bye my love good bye và Forever Forever bất hủ. Chia tay rồi vẫn còn cảm xúc ấn tượng mãi mãi. Mãi mãi tôi yêu thời đại vàng của âm nhạc 60-70. Tôi thấy may mắn được lớn lên vào thời kỳ đó để tâm hồn mình thấm đẫm một thứ âm nhạc lãng mạn, đẹp đẽ và tuyệt diệu đỉnh cao như thế.
   
     Chắc chắn 45 bài này không đủ, cũng như nhiều ca sĩ, ban nhạc vĩ đại chưa được chọn. Đây chỉ là nét phác họa về âm nhạc của một thời kỳ của những tâm hồn vĩ đại.