1. Tôi về căn bản là người thực tế và thiên về triết lý hơn là cảm xúc. Đọc thơ dĩ nhiên là có thích thú. Tôi cũng thấy đọc thơ có ích lợi, cũng như nghe nhạc, đọc sách. Tất nhiên, tôi không có ý định nói đến các ích lợi như dùng làm công cụ giải trí, giao lưu hay để tiếp cận các bà, các cô thích sụt sịt.
Thứ Năm, 12 tháng 6, 2025
Đọc Thơ có ích lợi gì
Thứ Sáu, 15 tháng 11, 2024
Trung bình và trung dung
1. Nếu ai hỏi tôi khái niệm Toán học nào sâu sắc và vĩ đại nhất, tôi sẽ chọn khái niệm “trung bình”. Tại sao không chọn khái niệm số, đơn vị hay số không như các nhà toán học hay nói? Số là một khái niệm tự nhiên, hình thành từ cuộc sống. Khi Con người quyết định đứng thẳng lên thì cũng là lúc số tự đến với Con người, không cần đến sự sâu sắc và vĩ đại, vì đó chính là Cuộc sống. 2. Số 1 đương nhiên tồn tại như một số, nhưng phát hiện con số này là đơn vị lại là một phát minh vĩ đại cần đến một trí tuệ Toán học chín muồi. Số 0 vốn không phải là một số, phát hiện ra nó là sự vượt trội về kỹ năng dùng số của Con người, do đó có thể nói đó là một sáng chế kỹ thuật ghi số vĩ đại. Tuy vậy, đơn vị 1 và con số 0 đều mang tính kỹ thuật, toán học vị toán học, sinh ra để làm Toán, không có tính nhân văn có thể so sánh với phép lấy trung bình.
3. Tôi cho rằng, với một mô hình ngôn ngữ lớn không có các thuật ngữ đơn vị hoặc số 0, AI vẫn có thể tạo ra các khái niệm đó trong một tương lai không xa. Tuy nhiên, tôi không chắc AI hiện tại có thể làm điều đó với phép tính trung bình. Nói một cách khác, phép tính trung bình có tính người hơn các phát kiến toán học vĩ đại khác. Sự vĩ đại có tính người sẽ nhân văn hơn nhưng cũng mang theo cả những thói hư tật xấu của con người.
Chủ Nhật, 13 tháng 2, 2022
VŨ TRỤ CAM
Có người ví quyền năng của Einstein là quyền năng của Satan, vì nếu Newton làm mọi sự trở nên sáng sủa minh bạch thì Einstein làm mọi sự trở nên tối tăm và mơ hồ. Trước hết là việc trong lỗ đen và ở thời điểm Big Bang không có không gian và thời gian gây ra rất nhiều khó chịu và sinh ra các câu hỏi: Chui vào lỗ đen rồi đi đâu? Trước Big Bang là cái gì? Nếu vũ trụ là một điểm thì xung quanh đó là cái gì? Phải có cái gì đó chứa một điểm hay phải có cái gì gây ra Big Bang chứ?
Thứ Năm, 24 tháng 12, 2015
Thế nào là một chứng minh
Năm tôi 12 tuổi, học lớp 6, hệ phổ thông 10 năm cũ, bắt đầu học hình học. Tôi còn nhớ bài toán đầu tiên tôi có vấn đề như sau: "Chứng minh hai góc đối đỉnh thì bằng nhau". Trước tiên tôi không biết thế nào là "chứng minh". Sách giáo khoa không có đoạn nào nói thế nào là chứng minh. Cho đến khi các bạn trong lớp đã chứng minh được các tính chất của tam giác nội tiếp, ngoại tiếp, đường tròn chín điểm, tôi vẫn băn khoăn về bài toán đầu tiên. Tôi không có cảm giác là mình tự mình làm được bài toán đó và chỉ học thuộc cách chứng minh. Tôi cũng lắp ráp các đoạn "chứng minh" để tạo ra các chứng minh mới và nhận được điểm tốt, thậm chí thi học sinh giỏi. Nhưng tôi không cảm giác đó là kết quả suy nghĩ của mình, tất cả chỉ là lắp ráp cơ học và bắt chước máy móc, không hề có một niềm vui sáng tạo nào. Tất cả chỉ vì tôi không hiểu thế nào là một chứng minh. Điều kỳ lạ ở chỗ các bạn của tôi lại thấy điều đó vô cùng đơn giản và không gặp bất cứ khó khăn nào. Họ trả lời tôi "chứng minh là chứng mình".
Sau nhiều năm làm việc nghiên cứu, tôi mới nhận ra việc định nghĩa chứng minh không đơn giản. Tuy thế, phải tới gần đây, tôi mới hiểu tại sao tôi lại có vấn đề với việc chứng minh. Có lẽ là tại vì tôi đọc trước sách giáo khoa môn Văn lớp 7, có những bài văn mẫu chứng minh câu nói của lãnh tụ hay văn hào nào đó về tinh thần yêu nước của dân tộc. Quả thật là những "chứng minh" đó khác xa các chứng minh toán học.
Có lần tôi nói chuyện với một chị nghiên cứu sinh Văn học tại đại học MGU. Chị nói đề tài là chứng minh quan điểm giai cấp vô sản của Gorki qua các tác phẩm của ông. Tôi hỏi làm thế nào có thể chứng minh được quan điểm vô sản của một người dựa vào các tác phẩm. Cuối cùng chúng tôi đã tranh luận mất cả buổi tối thế nào là chứng minh và đi đến kết luận khái niệm chứng minh trong văn học khác với chứng minh trong khoa học. Điều đó mang lại thất vọng lớn lao cho tôi về công việc nghiên cứu văn học.
Thực tế cuộc sống đã cho tôi thấy chứng minh theo cách thức khoa học nhiều khi không thuyết phục bằng các cách "chứng minh" khác. Điều đó dù muốn dù không tôi cũng phải chấp nhận sau nhiều va chạm cọ xát với cuộc sống thực tế. Tuy nhiên, tôi vẫn nghĩ rằng có lẽ việc có một cách hiểu chung về chứng minh cho xã hội ngay từ khi còn trong ghế nhà trường là một điều cần thiết. Người ta hay nói "nói phải củ cải cũng nghe". Tuy nhiên, thế nào là một điều nói phải mới là vấn đề. Xã hội hiện nay rất ghét duy lý, các mệnh đề được chấp nhận là do cảm tình, cảm tính và cảm động chứ không phải do "nói phải" hay "chứng minh".
Cách tư duy trong xã hội nước ngoài nơi tôi đã từng sống và làm việc có khác. Nhiều khi tôi cố thuyết phục ai đó làm một điều gì bằng cách nói những tình cảm, mong muốn với điều đó. Nhưng nhiều khi câu trả lời là điều đó có lẽ rất hay, nhưng tôi không thể làm vậy vì mâu thuẫn với nguyên tắc A, B nào đó. Đó là một cách tư duy rất duy lý.
Có lẽ thiếu cái duy lý đó mà xã hội ta, khi đã đến một giai đoạn phát triển nhất định đã bộc lộ những yếu kém hết sức tinh tế. Thế nào là chứng minh một người có tội, một dự án đầu tư là có hiệu quả, một người nào đó có năng lực đáng được đề bạt? Nếu chúng ta không có một số nguyên tắc có lẽ những vấn đề trên còn tồn tại mãi và những tai nạn của nó không bao giờ giải quyết triệt để, xã hội không thể vận hành trơn tru.
Xem ra câu hỏi "thế nào là một chứng minh" có lẽ không phải là một câu hỏi thuần túy lý thuyết. Thực ra định nghĩa thế nào không phải là quan trọng lắm. Quan trọng là có một cách hiểu và áp dụng nhất quán.
Chủ Nhật, 27 tháng 9, 2015
Thói quen cắt lỗ ra khỏi cục pho mát
Mọi phép so sánh đều gắn với một hệ giá trị có trật tự hơn kém, thường là định lượng được bằng một con số. Trên một trục số, thì phải trái, hơn kém, trước sau rạch ròi. Chỉ có điều, những thứ trong thực tế, đa phần lại không chỉ có một giá trị, cho dù có thể định lượng. Hai điểm trên mặt phẳng đã không thể biết lớn nhỏ, phải trái, trước sau một cách khách quan. Có chăng phải lấy một cá nhân làm rốn của vũ trụ mới phán được. Nhưng trong thời đại biến động, gốc tọa độ cũng chuyển động như chong chóng. Anh mới ở đầu hàng đấy, thoắt cái đã thành ra cuối hàng. Hai số phức rõ ràng có định lượng, nhưng không thể nói số nào lớn hơn số nào. Hai đại lượng ảo và thực lại chuyển hóa qua nhau khi quay trục tọa độ.
Đơn giản hóa là cái bệnh của sĩ phu Bắc Hà, cái gì chưa hiểu thì cứ tóm một câu "nôm na là ....". Đỡ tốn công đọc hiểu, đau đầu phức tạp. Tư duy diễn nôm có một sức hút kỳ lạ. Thứ nhất nó cũng nghe na ná như minh triết, chỉ khác cái không dựa trên khổ công luyện tư duy đến mức tinh thục. Thứ hai nó rất cuốn hút đại chúng, do liên hệ gần như một một đến những gì đại chúng đang thiếu thốn, đang thích thú như tâm linh, số mệnh, dân chủ, chứng khoán, kiếm tiền, lừa cấp trên, cấp dưới dễ dàng. Đơn giản hóa kiểu diễn nôm bao giờ cũng giải quyết dễ dàng bài toán so sánh. Nếu chỉ có một đại giáo chủ, thì mọi việc hẳn đã dễ. Tuy nhiên, trong thời đại tập sự dân chủ có đến hàng tỷ loại giáo chủ diễn nôm khác nhau, thế là tranh luận không thôi, hoàn toàn không có một mục đích thực tiễn nào cả, thậm chí về nhận thức cũng chẳng thu hoạch gì. Từ Thức gặp tiên về vẫn thấy hai ông sĩ phu Bắc Hà cãi nhau về cùng một chủ đề, có khác chăng luận điệu của ông B bây giờ là của ông A trước đây và ngược lại.
Diễn nôm trong một số trường hợp khá thành công, nhưng đó là ngẫu nhiên. Tuy nhiên, trong đa số trường hợp là cố gắng cắt lỗ ra khỏi cục pho mát. Cái lỗ trong pho mát tồn tại được là nhờ có pho mát bao quanh. Sĩ phu Mít thản nhiên nói về cái lỗ như một thực thể độc lập và tranh luận rằng lỗ phải có trước, phải ưu tiên hơn pho mát.
Chính vì thế có những cuộc tranh cãi kỳ cục: Nghệ thuật và Nhân sinh, Biết và Làm, Tinh thần và Vật chất. Hoàn toàn không khác gì tranh luận từ thời Trung cổ ở phương Tây về Trứng và Gà. Ngày nay có ai nói chuyện kiểu như thế ở phương Tây, hẳn bị coi là dở hơi. Ở ta nói chuyện giống hệt như thế vẫn được tôn vinh. Kể cũng lạ.
Thứ Ba, 22 tháng 9, 2015
Đạo lý Tetrix.
Từ bao giờ chẳng biết, tư duy tetrix cũng len vào giới học thuật, chuyên môn. Cũng tốt. Học thuật chuyên môn là làm việc thật. Làm việc mà không tưởng thưởng thì tốt quá. Nên mới đẻ ra các bậc viên chức, phóng viên chính, nhà giáo ưu tú, nghệ sĩ nhân dân, PGS và GS các loại. Nhà giáo mà không có có ưu tú, thì chẳng khác nào có thêm cái nhãn không ưu tú.Phóng viên mà không chính khác nào là có mác phóng viên phụ. Chuyên gia không có chữ cao cấp khác nào loại hai, thấp cấp, trong một thị trường toàn đồ hàng dỏm, nhái. Khó chịu lắm. Ai biết sắc sảo tận tâm, hùng hồn uyên bác thế nào, tất cả đều nhòe nhoẹt trong một đám ngu phu ngu phụ vô danh. Thế là bản năng tetrix trồi dậy cuốn hút bao người vào một hành trình thăm thẳm. Có người làm việc chi phí thấp hản là tốt rồi. Nhưng xem ra hệ thống chức danh cũng có những nhược điểm ngày càng lộ rõ. Quan trọng nhất là động lực danh và động lực làm việc đã nhanh chóng đi về hai hướng. Mấu chốt nhất là chế độ tưởng thưởng, ít ỏi nên phải phân biệt, và theo danh thì đỡ eo xèo nhất. Thế là trò tetrix này càng thêm động lực, trở thành Võ lâm truyền kỳ, binh khí cấp bậc tính ra tiền ảo, tiền ảo đổi thành tiền thật. Không ai còn làm gì chỉ sôi sục theo danh lợi tạo thành cơn sốt ảo.
Trò chơi này đến lúc nào đó sẽ có những biến thái mới. Sẽ có đứa trẻ nào hô lên chuyện Hoàng đế ở truồng. Ăn nhau là mặc quần áo hay không, chứ không có quần mà gọi là tơ siêu hạng, nhẹ như không để người đời bắt buộc phải tán thưởng có gì lý thú. Và nhất là danh hiệu hão không thể là động cơ vĩnh cửu vận hành một bộ máy thực sự làm việc
Thứ Năm, 20 tháng 8, 2015
Dùng chữ nghĩa và cách suy nghĩ: nhìn và chiêm nghiệm
Ví dụ đơn giản: "ngôi nhà đẹp", "Cô gái xinh" là vừa đủ trọn nghĩa. Nhưng nói ra lại có vẻ hơi "tây" nếu không nói "ngôi nhà rất đẹp", "cô gái xinh quá". Nếu như vậy trong tiếng Việt không có chỗ cho "rất đẹp", "rất xinh" nữa. Nói một cách khác, một vấn đề tưởng vô nghĩa, nhưng thành thói quen sẽ làm một dân tộc mù về cấp độ. Không nhận thức được về cấp độ, tất nhiên sẽ khiếm khuyết về suy nghĩ.
Bài này sẽ thảo luận về nhóm các chữ "khía cạnh", "viễn cảnh", "triển vọng", "nhìn lại", "vỡ lẽ",... mà người Việt dùng khá lộn xộn. Đặc biệt khi thông dịch hoặc nói chuyện với người nước ngoài, các khái niệm này dùng sai một cách hồn nhiên. Khi đầu tôi nghĩ rằng đó là do yếu về ngoại ngữ hay từ vựng, nhưng gần đây quan sát một số trí thức đáng kính, tôi mới chợt nhận ra rằng phương pháp suy nghĩ của người Việt chưa thực sự phát triển. Giữa việc dùng từ cho chính xác và phát triển phương pháp tư duy có quan hệ tương hỗ. Dùng từ không chỉnh, méo mó sẽ làm méo mó phương pháp. Phương pháp suy nghĩ chưa phát triển đến một mức độ tinh vi, cách dùng từ sẽ sơ sài cầu thả, không sense được sự khác biệt, theo lối mòn.
Trong tiếng Anh có các từ "aspect", "prospect", "perspective" nghĩa khác nhau. Người Việt dùng rất lung tung "khía cạnh", "triển vọng", "viễn cảnh",... Trước hết chúng ta hãy nói về ý nghĩa về mặt phương pháp khi dùng các từ này. Thực ra có rất nhiều người hay dùng các từ này không thực sự có ý niệm nào về phương pháp. Trước hết "aspect" và "perspective" đều liên quan tới cách nhìn chủ quan của một người về một sự vật. Người Việt vẫn có thói quen buộc tội, đánh giá hay dán nhãn cho nhau về "cách nhìn sai", "cách nhìn đúng",... Thực ra, có nhiều mệnh đề, khẳng định, đánh giá,... chỉ có nghĩa sau khi chọn một cách nhìn. Cũng như hướng dẫn "quán ăn ở bên phải khách sạn" là hoàn toàn vô giá trị. Có lần tôi đã phỏng vấn học viên cao học "tài năng" về một thuật toán tìm kiếm "tìm bên phải trước hay bên trái trước". Học viên được giới thiệu là rất giỏi và chuẩn bị học tiến sĩ, chịu cứng không trả lời được. Tôi sẽ không đánh giá hay trách móc anh bạn trẻ này. Tuy nhiên, phương pháp suy nghĩ của người Việt thực sự chưa phát triển đến mức vào vô thức, mà cách tốt nhất là được nhúng vào ngôn ngữ. Tôi chưa thấy sinh viên nước ngoài mắc vào vấn đề "phải trái", "tốt xấu", có lẽ vì họ ít đánh giá như đinh đóng cột, và góc nhìn luôn gắn chặt với cách suy nghĩ. Chính vì vậy mà người nước ngoài hiểu về "aspect", "perspective" hơn. Trừ những chân lý hình thức, vô hồn, phần lớn các chân lý đều mang dấu ấn cá nhân, gắn chặt với một cách nhìn, chính vì thế mà chúng mới bổ ích và có thể đi vào đời sống. Tính chặt chẽ khách quan thường nằm trong retrospect nhiều hơn. Phát kiến khoa học cũng như phát kiến ra châu Mỹ, Hải Vương tinh hay hạt Higgs đều dựa trên một niềm tin, một góc nhìn mang đậm dấu ấn cá nhân. Sự phát triển thường là do cá nhân dám gánh trách nhiệm, thậm chí dám áp đặt quan điểm. Đợi mọi việc rõ ràng rồi mới quyết định thì mọi việc đã trễ. Người Việt không hề có viễn kiến, coi thường trực quan, chà đạp cá nhân làm sao có thể hiều được sâu sắc các từ như "aspect", "perspective".
Cùng liên quan tới cách nhìn chủ quan, nhưng có vẻ "aspect" chỉ chủ quan trong việc lựa chọn cách mô tả, nhìn tương đối cụ thể, gần và mô tả khách quan sự vật trong cách nhìn đó. Tiếng Việt chọn "aspect" là "khía cạnh", "phương diện", có lẽ là gần đúng hơn cả. Tuy có một số điểm chưa hoàn toàn chính xác, nhưng khi đem sử dụng NHẤT QUÁN và THÀNH THỤC, các từ này sẽ tự thu góp những ý niệm mới và tự hoàn thiện. Nội hàm chính xác sẽ dần được hoàn thiện. "Perspective" là một cách nhìn từ xa. Nhiều người nhầm rằng perspective chỉ nói về tương lai, vì thế từ tiếng Việt "viễn cảnh" cũng hiểu là "tương lai xa". Thực ra, tuy rất hiếm khi dùng, nhưng người ta có thể nói về perspective về quá khứ như một cách nhìn phóng chiếu về quá khứ. Perspective có tính chủ quan hơn nhiều, cũng như người nhìn có thể chọn góc nhìn, cự ly, tiêu điểm. Perspective có thể bao gồm cả việc kiến giải, sử dụng những khái niệm quen thuộc, không nhất thiết có nghĩa khi ở trong một điều kiện hoàn toàn khác. Có thể tạm dùng chữ "viễn cảnh" cho perspective với ý thức rằng "viễn cảnh" có thể bao gồm cả quá khứ. Để tránh quán tính trong việc dùng chữ nghĩa đã mòn vẹt, có thể dùng chữ "tầm nhìn xa". Nhưng tuyệt đối không dùng "triển vọng" như trong từ điển hoặc trong thực tế đang dùng khá phổ biến.
"Triển vọng" là "kỳ vọng tiến triển", nói về tương lai, thích hợp với chữ "prospect". Mặc dù "prospect" trong từ điển Anh Việt đều có cả hai chữ Việt tương ứng "triển vọng" và "viễn cảnh". Nhưng đó là do sự lười biếng, cẩu thả hoặc bệnh mù cấp độ của người Việt. Prospect là một cách nhìn tương lai về sự vật của người nói, tất nhiên vẫn mang một phần yếu tố chủ quan.
Cuối cùng, chúng ta sẽ bàn về chữ "retrospect". Retrospect là một thao tác của những người có tầm suy nghĩ bao quát, nhìn về những gì đã xảy ra, cố nhiên vẫn theo những perpective chủ quan nào đó, để có chiêm nghiệm và dự cảm đối với những vấn đề trước mắt. Phải nói người Việt, kể cả những trí thức ưu tú vẫn không hiểu vai trò của "retrospect" trong suy nghĩ là thế nào. Tôi đã từng ngạc nhiên khi một số trí thức vẫn được tiếng là ưu tú dè bỉu retrospect là nói những chuyện đã xảy ra không có gì mới. Thực ra, dù có đi dây đó, đọc hàng tạ sách, con người vẫn khó thoát khỏi ảnh hưởng của chuỗi dây chuyền: ngôn ngữ ảnh hưởng tới văn hóa, văn hóa ảnh hưởng tới cách suy nghĩ, suy nghĩ đẻ ra số phận. Đừng kêu ca về số phận nếu chưa nhìn lại cách suy nghĩ. Đừng than phiền về cách suy nghĩ nếu chưa mạnh dạn thay đổi văn hóa. Đừng oán trách văn hóa nếu không bắt đầu sử dụng ngôn ngữ chính xác và tinh tế. Người Việt nghĩ về quá khứ rất sơ sài, không phân biệt nổi vô hồn vô cảm với sự khách quan, vì thế hầu như không có được chiêm nghiệm gì có ích lợi cho hiện tại từ những cuộc huynh đệ tương tàn đẫm máu trong quá khứ. Có lẽ vì thế trong tiếng Việt không có từ nào thực sự thích hợp cho retrospect. Có người dịch là "nhìn lại". Thực ra "nhìn lại" chưa có một chút chiêm nghiệm nào, người nước ngoài đã có từ "review". Chiêm nghiệm còn cao hơn suy tư một bậc. Chính vì không biết chiêm nghiệm quá khứ nên người Việt cùng lắm chỉ hiểu được từ "vỡ lẽ" (hind sight) là một cách cảm nhận bài học quá khứ cụ thể, không cần chiêm nghiệm, một cái tát có lẽ sẽ làm con người "vỡ lẽ" nhanh và thấm thía hơn. Tôi nghĩ nên dịch retrospect là "chiêm nghiệm" để khuyến khích người Việt đọc sách nước ngoài chịu khó học các dân tộc khác động não, thay vì chỉ "ôn lại những trang sử vàng vẻ vang của dân tộc".
Thứ Sáu, 13 tháng 3, 2015
Phiếm luận cuối tuần: Vòng tròn nhân quả và cách mở nút thắt Gordias của Alexander Đại Đế
Thứ Tư, 4 tháng 3, 2015
Thảm họa điểm lùi và tình thế "lang bạt kỳ hồ"
Trong Toán học có một mô hình rất đơn giản để phân tích tình huống này gọi là Thảm họa điểm lùi (Cusp Catastrophe), rất giống hình tượng "lang bạt kỳ hồ" mà tôi đã phân tích một lần: Con cáo già tiến lên thì dẫm phải yếm ngực, lùi thì dẫm phải đuôi, tình hình kẹt cứng. Thảm họa điểm lùi được nhà toán học Zeeman đề xuất năm 1976, để mô tả trạng thái tâm lý, sau đó được nhiều người giải thích về sự phát triển của doanh nghiệp, xã hội và nhiều lĩnh vực khác.
Cơ sở của Thảm họa Điểm lùi là một nhánh rất phức tạp trong lý thuyết tô pô, với rất nhiều khái niệm phức tạp, tuy nhiên có một mô hình cụ thể rất dễ hiểu đối với mọi người có kiến thức phổ thông về toán như trong hình sau đây:
Giả sử một hệ thống (có thể là một con người, tổ chức hay một xã hội) được đặc trưng bằng 2 tham số năng lực nội tại trên mặt phẳng ở dưới đáy của hình vẽ trên. Chỉ số giá trị khách quan về hệ thống đó nằm trên trục vuông góc với mặt phẳng đó. Và có một mặt gấp khúc như trong hình vẽ. Hệ thống đó xuất phát từ điểm thấp nhất và bắt đầu tiến lên, bằng cách phát triển năng lực của mình. Những hệ thống húc đầu vào nhánh dưới của mặt gấp khúc, cuối cùng sẽ tiến đến những điểm "lang bạt kỳ hồ" không tiến lên được nữa.
Một số người có thể so sánh năng lực nội tại của mình với những người thành công hơn nhiều và thấy mình không hề thua kém, có thể còn vượt trội hơn, nhưng cuối cùng giữa hai loại người vẫn là sự khác biệt lớn lao. Nói nghe có vẻ quá khích, nhưng thực tế có những kẻ dở hơi, cám hấp hay điên khùng, có những tố chất không khác gì thiên tài. Các hệ thống khác như tổ chức, doanh nghiệp, xã hội hay quốc gia cũng đều có thể vấp phải tình thế "lang bạt kỳ hồ" như vậy. Khi đó mọi nỗ lực tiến về phía trước đều vô nghĩa. Người ta có thể than thân trách phận, trách đời bất công, hoặc các thế lực bên ngoài chống phá. Thực ra vấn đề chính là nằm ở hệ thống đó. Không phải chỉ có năng lực là quan trọng mà con đường phát triển năng lực để đi lên cũng là quan trọng trong tình huống này. Một con đường khác sẽ dẫn tới nhánh trên của của diện Zeeman sẽ không có cản trở nào và có thể tiếp tục tiến lên dễ dàng và mãi mãi. Con đường đó đã tránh được nếp gấp trên diện Zeeman là nguyên nhân của "lang bạt kỳ hồ" khổ sở này.
Vấn đề là ở chỗ, người ta hay một xã hội không chọn trước được cho mình được đường đi mà hay bị dẫn dắt bởi các động cơ sáng tạo hoặc cảm tính, thấy tiện là đi. Điều đó cho thấy rằng những người chuyển động theo "second mover", giống như những người leo núi bám sát người đi trước có một chiến lược an toàn hơn so với những người tìm một con đường "đi tắt đón đầu" hay "sáng tạo trong hoàn cảnh" để húc đầu vào tình thế "lang bạt kỳ hồ". Vấn đề có lẽ quan trọng hơn là những người, tổ chức đã mắc vào trạng thái "lang bạt kỳ hồ" cần phải làm gì? Muốn tiến lên lâu dài chắc chắn phải lùi lại. Chắc chắn là đau buồn, tiếc nuối nhưng không có cách nào khác. Nếu có sức nâng được đuôi lên thì tốt, nếu không cũng đành phải cắt đuôi, hoặc ngồi ở đó cả đời. Sẽ không có ai, dù là Thượng đế hay Thần may mắn, đến cứu mình được.
Trong nhiều tình huống thực tế diện Zeeman có thể khác chút ít. Có thể từ xuất phát điểm hướng ngay về các điểm Thảm họa Điểm lùi sẽ tạo sự tăng trưởng nhanh hơn, trong khi theo hướng lên có thể tăng trưởng chậm hơn thậm chí có thể đi xuống. Mô hình này cho thấy với phát triển lâu dài, chọn con đường là quan trọng chứ không phải ở việc thể hiện các năng lực và đánh giá trước mắt.
Số phận của một dân tộc cũng vậy, có thể thỏa mãn, tự hào với những năng lực mình đang có, nhưng con đường đến được với những năng lực đó, thể hiện ở nền văn hóa, hệ thống giá trị cũng rất quan trọng. Theo một cách hiểu nào đó, văn hóa, hệ thống giá trị là những thứ mà một dân tộc nhặt nhạnh, tích lũy trên con đường đến hôm nay. Cố nhiên đã mang nặng đẻ đau sẽ có lòng yêu thương quyến luyến. Nhưng đôi khi cũng phải dứt bỏ để có thể tiến lên, đặc biệt khi đã ở trong tình huống Thảm họa Điểm lùi.
Có lẽ câu hỏi quan trọng hơn cả của mỗi người, tổ chức, xã hội hay quốc gia, là khó khăn trước mắt đã phải là "lang bạt kỳ hồ" hay chưa. Tôi xin để dành câu hỏi này cho mọi người cùng suy nghĩ.
Thứ Tư, 25 tháng 2, 2015
Dụng công tìm hiểu chữ nghĩa qua một cặp câu đối đang có nhiều bàn luận
Chủ Nhật, 18 tháng 1, 2015
Ngụy biện và Charlie Hebdo
Số những người lên án bọn khủng bố lại chia làm hai. Có những người kịch liệt ủng hộ Charlie Hebdo, cho Charlie Hebdo đúng hoàn toàn và những người không nghĩ thế. Hai nhóm người này lại chia tiếp tục chia thành các nhóm nhỏ hơn. Việc đó không có gì đáng nói. Thế giới này sở dĩ thú vị vì kể từ khi biết thế nào là tự do, người ta chấp nhận các cách nhìn nhận khác mình. Loài người là một loại động vật tồi tệ nhất kể từ khi cho phép mình tiêu diệt đồng loại chỉ vì khác biệt ý kiến về một vấn đề.
Tuy vậy, ít ai để ý tới sự gian manh, quỷ biện của Charlie Hebdo. Tờ báo này cố tình dùng phép ngụy biện, đồng nhất một số vấn đề, một cách vô lương. Trước hết họ đánh đồng việc châm biếm, khiêu khích tín đồ Hồi giáo của họ với bảo vệ tự do. Tự do của nắm đấm của chúng ta bắt đầu ở ở chỗ mũi của người khác chấm dứt. Nếu chúng ta hoa chân múa tay đấm đá vào khoảng không trước mũi của người khác 1mm, tuy vẫn là việc tự do cho phép, nhưng đã là một việc khiêu khích, người văn minh yêu tự do, không nên làm. Hãy tưởng tượng, một người giả bộ khập khiễng trước mặt người què để làm vui, nhai mỡ lợn sấy nhồm nhoàm trong nhà thờ Hồi giáo, hay in ảnh người thân đã khuất của bạn lên giấy vệ sinh và cho rằng đó là hài hước là tự do. Đó chính là khiêu khích. Khiêu khích không những vô văn hóa mà còn ngu xuẩn. Trêu chọc một kẻ điên khùng, kích động một con bò điên hay chó dại, giơ đầu ra đi dưới giàn giáo có đá rơi, rồi cho mình là tự do hay anh hùng. Khiêu khích để người ta phạm tội, chính mình cũng sẽ có tội.
Ngụy biện thứ hai có phần bất lương hơn là Charlie Hebdo đồng nhất bản thân tòa báo với những họa sĩ bị giết. Các họa sĩ bị giết là người làm công cho Charlie Hebdo, họ bị giết gia đình của họ mất người thân. Charlie Hebdo nhờ sự kiện mà thu hút người quan tâm tăng vọt, khả năng thu lợi khổng lồ. Quyền lợi khác, vì thế khác làm sao là một được. Điều bất lương ở chỗ Charlie Hebdo có biết trêu chọc con bò điên, đi dạo dưới đá rơi hay khiêu khích Hồi giáo là nguy hiểm tới tính mạng hay không. Sau sự kiện 11/9, nếu ai không biết đến sự nguy hiểm của các tín đồ Hồi giáo cực đoan, có lẽ họ sống trongg rừng hay trên hành tinh khác chứ không phải ở Paris. Nếu đã biết điều đó, Charlie Hebdo vẫn đang tâm bỏ mặc các nhân viên của mình đi vào chỗ chết. Đó là hành động gì.
Điều bất lương thứ ba là việc Charlie Hebdo vẫn cố tình ngụy biện nhân danh tự do, dùng những người đã chết để kiếm lợi ích truyền thông.
Tôi không nói về nhận thức của Charlie Hebdo về tự do, về tôn giáo và văn hóa. Tôi không hy vọng có cái gì như thế. Nhưng những người hôm nay tự xưng "Tôi là Charlie" hãy nghĩ về phép ngụy biện và tự do chân chính.
Thứ Hai, 8 tháng 9, 2014
"Đầu trứng to" hay "4 lần 8"? Phiếm luận về tranh luận của sĩ phu Việt
Đối với người từ ngoài trông vào như anh chàng Gulliver, mọi sự có vẻ vô nghĩa và hài hước, nhưng đối với những người dân ở xứ sở nó đó là một cuộc tranh luận chính trị, xã hội thậm chí khoa học vô cùng nghiêm túc.
Chúng ta đã có những cuộc tranh luận "văn học vị thuật vị nghệ thuật hay vị nhân sinh", "hiện thực hay văn học cao hơn", "lãng mạn hay hiện thực", đã lôi cuốn cả xã hội, những trí tuệ tinh hoa vào trò chơi mà ngôn ngữ láu cá đã đặt bẫy cho con người sụp vào. Những cuộc chơi trí tuệ đáng lẽ chỉ nên dùng để tiêu khiển, vây vo với các quý bà, quý cô, được nâng cấp thành vấn đề của đám đông, động lực chỉ còn sĩ diện thắng thua, cuối cùng không được kết thúc bởi giải pháp mỹ mãn nhưng có phần ngây thơ của Andersen với tư cách lời "Hoàng đế cởi truồng" từ miệng của một chú bé. Không có chú bé nào cả, vì xã hội của chúng ta không được xây dựng một cách thông minh như thế.
Đến tận thế kỷ 20, những vấn đề như vậy đều phải kết thúc bởi nắm đấm. Chân lý vẫn được định đoạt tốt nhất, triệt để nhất bằng phương pháp của Trương Phi "Nói nhiều vô ích, có giỏi đánh nhau ba trăm hợp." Chiến tranh, cải cách ruộng đất, tổ chức,...đã thay bút mực, trí tuệ giải quyết vấn đề đến tận gốc, có lẽ mục tiêu của những cuộc tranh luận như thế không phải là vấn đề đang bàn. Những người to mồm nhất cũng thông suốt, và cũng nhờ thế mà hôm nay một chú bé lớp 3 cũng có thể thấy những vấn đề tranh luận là vô nghĩa, nhân sinh có thể đứng cùng nghệ thuật, văn học đua sắc với hiện thực, lãng mạn và hiện thực đều có thể dùng để phát biểu cảm xúc, thái độ. Nói cho cùng, sức mạnh vật lý vẫn là một giải pháp định lượng công bằng hơn nhiều so với những trò ném đá giấu tay trong hậu trường nền của tranh luận giấy bút. Với những vấn đề to lớn như thế thì các bài toán "thuyền trưởng" hay "chuồng gà" chỉ là những trò lặt vặt nhãi nhép.
Dân gian ta có chuyện trò ăn bánh của thầy. Thầy bắt bẻ trò, đi trước cũng sai, đi ngang cũng sai, đi sau cũng sai, cái nào cũng có lý luận sách vở đàng hoàng. Trò phải lật bài ngửa "thày dạy con phải làm thế nào ạ". Kể ra giải pháp của trò cũng đã thông minh. Nhưng câu trả lời của thầy lại là một câu hỏi "Thế bánh tao đâu?" Giá trò biết được chân lý này đã không phải chịu tuế toái, phiền phức, lao tâm khổ tứ nghĩ mẹo đối phó với thầy. Thế mới biết cậy vào trí tuệ bao giờ cũng phải trả giá mà cuối cùng vẫn đi đến cùng một kết cục.
Liệu tranh luận, rèn luyện trí tuệ bằng vấn đề "4 lần 8" có giúp sĩ phu dương thanh, ngự thế giúp dân làm được ra cái ốc vít hay không. Nếu được, xin mời các ngài cứ tiếp tục ạ.
Thứ Bảy, 2 tháng 8, 2014
Tư duy và tình cảm của phụ nữ và đàn ông khác nhau thế nào?
Trở lại chủ đề phụ nữ cất tư duy và tình cảm vào một cái tủ không có ngăn kéo sẽ có hệ quả thế nào. Cố nhiên sẽ có những hệ quả kiểu như để mắm tôm và sô cô la không gói kỹ trong tủ lạnh. Khi ăn sô cô la sẽ thấy thoang thoảng vị mắm tôm. Khi ăn bún đậu, hay chân giò luộc ta sẽ nhớ đến sô cô la. Biết thế thì đừng bao giờ nên cãi lý với một người phụ nữ, nhất là khi người vợ đó có một số quyền lực tuyệt đối đối với ta như mẹ, em gái, người tình, vợ hay con gái. Trong đó cố nhiên đáng sợ nhất là người tình và vợ, với những vũ khí kiểu như "Anh nghĩ A chứng tỏ anh là B". Đừng có bảo phụ nữ không có năng lực logic. Logic của họ cao siêu, đúng lý thuyết, áp dụng chính xác và sáng tạo ranh mãnh hơn đàn ông chúng ta nhiều. Đàn ông chẳng qua là một loài động vật huyênh hoang thực chất là nô lệ cho logic chứ đâu có làm chủ được nó. Tôi đã từng bị quy tội là "vô tri vô giác" chỉ từ tam đoạn luận tuyệt vời thế này: "Anh có biết A (một việc bé như đầu đũa)?" --"Không biết A là vô tri A"--"Anh là người vô tri vô giác". Cái hay của phụ nữ là họ lập luận logic theo kiểu lấn chiếm đất đai, mỗi ngày chỉ lấn vài cm, thay vì thực hiện logic đỏ mặt tía tai trong vòng một phút như đàn ông. Binh pháp kiểu này đến Đức Thánh Trần cũng đã từng chịu là không có cách gỡ.
Khi nói lý phụ nữ họ hay "rút nhầm" tình cảm ra để đối phó, nên các anh đàn ông tưởng là phụ nữ chỉ thạo về tình cảm. Sai lầm to. Phụ nữ là loài động vật lý trí hơn đàn ông rất nhiều. Những khi anh đàn ông vì tình cảm mà tê liệt lý trí, là khi lý trí của phụ nữ hoạt động mạnh nhất, theo đúng nguyên tắc của võ học Vịnh xuân: phát lực cực đại khi kình lực của địch thủ cực tiểu. Khi anh đàn ông đang ngây ngất trong mùi Chanel 5, say sưa hứa hái cả mặt trăng xuống cho em là khi người phụ nữ đang suy tính xem người lãng mạn ba hoa hơn hay người chân chất thực dụng hơn hoặc mặt trăng nào to nặng hơn. Trong phòng the người phụ nữ cũng phải tính toán ngày mai đi chợ bằng gì. Tôi nghĩ rằng đó là tố chất vĩ đại của người phụ nữ và ưu thế của cái tủ một ngăn.
Tủ một ngăn của phụ nữ không chỉ trộn lẫn tư duy với tình cảm, còn trộn lẫn các vấn đề tư duy và trộn lẫn các loại tình cảm. Tôi thực sự thán phục khả năng liên tưởng của phụ nữ giữa các vấn đề rất xa nhau. Đã từng có chuyện một kết quả toán học chứng minh dài dòng, bị một bà nội trợ chỉ ngay ra chỗ sai. Tuy thế, tôi khá e ngại việc trộn lẫn các loại tình cảm, mặc dù một số anh đàn ông láu cá có thể lợi dụng việc trộn lẫn này. Đôi khi phụ nữ bắt đầu bằng lòng thương hại, kết thúc bằng một tình yêu, hoặc ngược lại bắt đầu bằng một tình yêu kết thúc bằng một sự khinh bỉ. Đọc một cuốn sách viết những bí mật trong các fantasies tình cảm của phụ nữ, nam giới sẽ phải ngạc nhiên về những món cocktail rất lạ lùng.
Vấn đề của đàn ông lại là có quá nhiều ngăn tủ để cất giữ tư duy và tình cảm. Thành thử, tâm hồn của đa số đàn ông giống như dãy xà lim biệt giam chuồng cọp ở Côn Đảo. Kết nối chúng lại rất khó khăn. Đôi khi người đàn ông cố gắng mở các xà lim đó một cách rất tội nghiệp và buồn cười. Cũng có đôi người có tư duy rất vĩ đại và táo bạo mới có thể thành công. Chẳng hạn Richard Feynmann có kể lại là ông đã chuẩn bị rất kỹ cho một thí nghiệm vĩ đại về phụ nữ, trước một buổi tối ông khiêu vũ với cô em gái xinh đẹp của một người bạn. Theo kịch bản, ông sẽ phải đưa ra một đề nghị khiếm nhã và sẽ phải đưa ra một giải pháp mà ông cho là rất thông minh để khắc phục sự khiếm nhã đó. Vào cuối bản slow, ông lấy hết can đảm đề nghị "Đêm nay cô sẽ về với tôi chứ?" Câu trả lời đảo lộn mọi dự tính của Feynmann là "Yes".
Ngoài cái ngăn tủ không có ngăn và nhiều ngăn ra, tư duy và tình cảm của phụ nữ và đàn ông về đại thể cũng như nhau. Rất nhầm nếu người đàn ông nghĩ rằng chỉ đàn ông mới poligam còn người phụ nữ thì phải monogam. Đó là chỉ là lý luận thường thấy ở người phụ nữ mà thôi. Và lý luận đó cũng đã trộn nhiều tình cảm.
Thứ Bảy, 21 tháng 6, 2014
Chuyện phiếm về các dấu trong văn viết
Thứ Bảy, 7 tháng 6, 2014
Thoát Hoa - Cuộc vượt ngục mới
Tôi đã đọc bài Thoát Trung Luận của Giáp Văn Dương, bài của Nguyễn Nhã, đã nghe Trần Ngọc Vương nói, đọc nội dung của cuộc tọa đàm của quỹ Phan Chu Trinh và nhận thấy Thoát Hoa còn là một con đường dài cả về nhận thức và hành động. Trước hết, dường như chúng ta có rất nhiều mong muốn, nhưng chúng ta vẫn chưa tính đến các ràng buộc và những khó khăn, do đó chúng ta vẫn hô hào và thực ra chưa có giải pháp. Và sau rất rất nhiều năm, chúng ta lại đối diện với vấn đề này, không tiến hơn được so với tiền nhân một bước nào.
Phải nhận thức rằng những cố gắng THOÁT HOA trong quá khứ, dù chúng ta sẽ mãi tự hào và trân trọng, nhưng không phải là những lần vượt ngục thành công triệt để. Bằng chứng là hết lần này tới lần khác, chúng ta vẫn luôn luôn phải ra những tuyên ngôn mới. Nếu như tuyên ngôn "đánh cho dài tóc, đánh cho đen răng" và võ công của Quang Trung là một cuộc THOÁT HOA thành công, làm sao đến hôm nay chúng ta vẫn phải băn khoăn, làm sau ngay sau đó các đời vua dù chống đối lẫn nhau vẫn phải nhận sắc phong "An Nam Quốc Vương". Miến Điện, Thái Lan và Lào đâu là nước lớn mạnh hơn ta, đâu có nhận tước phiên vương, và đâu có bị Trung quốc đe dọa hết lần này đến lần khác. Vì vậy, THOÁT HOA hay không chính là ở chúng ta, không cần nhìn vào Trung Quốc. Trong Tứ Đại Hoa, Nhật Bản và Hàn Quốc đều tiến hành Thoát Hoa thành công, cần gì tìm kinh nghiệm ở đâu xa, cũng là trước hết họ hiểu họ muốn gì.
Nếu đọc qua văn học, sách vở Trung Quốc, chúng ta thấy người Việt Nam ta suy nghĩ còn theo lối Trung hoa cổ hủ hơn cả người Trung Quốc. Những tư tưởng mà họ đã muốn vứt đi cả rồi, ta vẫn còn giữ chằng chằng. Nào là Kinh Dịch, âm dương bát quái, địa lý,... có lẽ người Việt còn mê và thạo hơn cả người Trung Quốc. Trong lịch sử cũng có chuyện, khi người Trung Quốc đã bỏ lối ăn mặc phong tục từ thời Đường, Tống, thì người Việt Nam ta vẫn giữ phong tục của Đường Tống và tự hào về điều đó, tự hào là giữ văn minh Hoa Hạ hơn cả người Trung Quốc.
Nếu chúng ta chỉ chống Trung Quốc ngoài mồm, không tháo bỏ những xích xiềng về thói quen, cách nghĩ bên trong, thì cuộc THOÁT HOA sẽ thất bại ngay từ đầu. Không đơn giản là chúng ta không dùng hàng hóa Trung Quốc, không hợp tác kinh tế với Trung Quốc, không dùng nguyên vật liệu, không bán hàng cho Trung Quốc, không tìm hiểu về văn hóa, lịch sử ngôn ngữ Trung Quốc thì có nghĩa là chúng ta đã THOÁT HOA.
Chúng ta tự hào về việc sử dụng chữ cái La Tinh. Đó là một điều kiện may mắn cho việc Thoát Hoa nhưng không hề là dấu hiệu là chúng ta đã Thoát Hoa thành công, vì nó không phải là nỗ lực nội tại của chúng ta, mà chỉ là một món quà tặng ngẫu nhiên của lịch sử và cố gắng thành công của một nhóm người đáng kính.
Tuy nhiên, như người tù khổ sai Papillon trước ngàn trùng sóng bể cũng phải thấy được hết những khó khăn nguy hiểm để mài sắc quyết tâm đi tới tự do, có lẽ cũng cần hé lộ những khó khăn của việc THOÁT HOA, để xem ai là người đồng hành, đỡ phải mất thời gian cưu mang vô ích những người thoái chí. Vì nói và tưởng tượng đến đích thì dễ, nhưng mấy ai dám trả giá trên đường đi. Trước hết, về kinh tế, THOÁT HOA sẽ tránh được sự phụ thuộc bấp bênh vào nguồn nguyên liệu, thị trường và những tiểu xảo của thương lái Trung Quốc. Nhưng cả một bộ máy nhập xuất phi mậu dịch cũng là chính chúng ta tạo dựng nên, ai bỏ được cám dỗ của những đồng tiền dễ dàng. Thay đổi cấu trúc của nền kinh tế, là phải đầu tư vào công nghệ, sẽ không có những tiến sĩ, giáo sư quanh năm rảng ranh, dễ dàng mang bằng cấp ra nói chuyện vu khoát "không đàm ngộ quốc". Tất cả sẽ đo bằng hiệu quả công việc, bằng các mối hàn, bằng các dòng lệnh, bản thiết kế theo tiêu chuẩn. Tất cả sẽ phải đi vào khuôn khổ của ISO như những cậu học trò của hệ thống giáo dục châu Âu, phải nắn nót từng trang từng chữ, bị khiển trách. Liệu có chịu được không.
Về mặt tinh thần, việc tự lực tạo ra một hệ thống giá trị mới (vốn phải là công việc của nhiều thế hệ) là một việc không tưởng. Chúng ta chỉ có một lựa chọn duy nhất là hội nhập với tư tưởng phương Tây. Chỉ có văn hóa phương Tây, khoa học kỹ thuật công nghệ hiện đại, các giá trị nhân bản về cá nhân con người đã được thử thách qua nhiều thế hệ mới có khả năng dứt chúng ta khỏi cơn nghiện quay trở về hệ thống tư tưởng phi nhân Trung Quốc.
Chúng ta cần phải dứt khoát THOÁT HOA đến mức không phải sợ hãi khi cần tiếp xúc học hỏi những giá trị tích cực của TRUNG HOA, như người Nhật, người Hàn đã làm. Nhưng trước mắt, chúng ta sẽ phải hiểu nhiều hơn về Socrates, Aristotelles, Platon hơn những Khổng Lão Mặc, về Washington, Napoleon, Robespierre,... nhiều hơn những Đường Thái Tông, Bao Chửng, Lưu Gù,... Chúng ta sẽ phải biết nhiều đến logic, nhị phân, tương đối luận,... hơn những Kinh Dịch, Bát Quái mơ hồ mà chóng vánh cho chúng ta được cảm giác là người uyên bác. Lười suy nghĩ mà có cảm giác nganh hàng với các chuyên gia hàng chục năm kinh nghiệm sau một thời gian chỉ mất công lý luận mơ hồ ai mà không thích, không mê. Liệu chúng ta có gan từ bỏ vầng sáng đó để trở thành một cậu bé học việc chuốt từng giòng lệnh, mối hàn.
Những vấn đề chúng ta mới đặt ra ngày hôm nay, đã có những tiền nhân đi trước, lao tâm khổ tứ, thậm chí trả bằng cả xương máu tính mạng để thể nghiệm vạch ra các bước cụ thể. Chúng ta sẽ không phải đi từ đầu, chỉ cần chúng ta quyết tâm làm điều đó và trước hết có một con đường đi khả dĩ là Âu Hóa.
Vấn đề trước tiên là Âu Hóa có thể mang đến cho chúng ta một tương lai tươi sáng hay không. Các cuộc cải cách thành công của Nga, Nhật, Hungari đều là Âu Hóa và sau đó họ đều trở nên hùng mạnh hay sống sót và trở nên văn minh. Người Thái Lan ngay từ thế kỷ 14, 15 dưới triều vua Asoka đã cử sứ thần sang Âu Châu để hướng tới văn minh, trong khi đầu thế kỷ 19, chúng ta vẫn không tin có đèn điện. Chúng ta học thuộc và nói theo những thành tích tự ru ngủ của văn minh Trung Hoa. Cần phải thấy rằng, người Hy Lạp đã biết Trái Đất tròn, tính được chu vi với sai số chưa tới 1/1000 trong khi người Trung Hoa vẫn khăng khăng Trái Đất hình vuông cho tới gần đây. Tôi không bao giờ tin có một logic chủ toàn có khả năng phát triển cơm no áo ấm, thay thế tư duy phân tích. Toàn bộ vật dụng xung quanh ta đều dựa trên phát minh của khoa học công nghệ Tây phương. Hầu như các dân tộc có tư duy minh triết nhưng lờ mờ đều phải vật lộn với đói nghèo khốn khổ.
Vấn đề thứ hai, các thói quen có thể thay đổi hay không. Chúng ta ngày nay thích uống rượu vang hơn rượu quốc lủi, ngồi xe hơi hơn cưỡi ngựa, để tóc ngắn hơn tóc dài, ăn mặc gọn ghẽ, sống có vệ sinh có lý gì không thể thay đổi các thói quen đã hủ lậu mọt ruỗng. Trước hết chỉ cần chúng ta bớt lười suy nghĩ, sống và làm việc một cách bình thường, như những người bình thường lương thiện trên đời là đủ
Thứ Năm, 17 tháng 4, 2014
PHIẾM LUẬN VỀ SOẠN SÁCH GIÁO KHOA
Trong khoa học, có nhiều trường phái, quan điểm có lẽ cũng là một điều đáng mừng. Tôi tin rằng các "cây đa cây đề" này đều là những người giỏi, có thừa nhiệt tình và thực tế mọi việc chuyên môn cho đến công luận cũng đều trong tay họ. Nếu giao cho những siêu nhân ít thời gian chủ trì, rồi công việc cũng lại do những "cây đa cây đề" này làm hết mà thôi. Như thế còn tệ hơn vì chẳng có ai chịu trách nhiệm trực tiếp. Kiểu làm như thế thì rồi cũng lại có kết quả như từ trước đến nay, không có vấn đề này cũng có vấn đề khác. Cách làm mới là vấn đề, chứ không phải ở chỗ ai làm tốt hơn ai.
Thứ tư, có thể khuyến khích ứng dụng CNTT làm sách giáo khoa điện tử. Như vậy học sinh sẽ không phải gù lưng, vẹo xương sống thồ sách đến trường. Một tablet PC nhỏ có thể chứa hàng nghìn cuốn sách, nếu cần có thể in những trang cần thiết. Đây thực sự sẽ là một cuộc cách mạng cho công nghiệp, CNTT và giáo dục nước nhà. Với một thị trường như thế các tablet PC này sẽ chỉ có giá $30-50.
Có lẽ chỉ cần bỏ một ít thời gian sẽ nghĩ ra nhiều thứ rất hay. Câu hỏi cuối cùng có lẽ sẽ trở về xuất phát điểm: Nếu dễ như vậy tại sao lại đến phần mình phải nghĩ. Có lẽ câu trả lời thế này: đó là chỗ đứng, người mắt tinh đến mấy cũng không thể tự nhìn gáy của mình. Một số người đã chọn chỗ đứng bị che lấp bởi quyền lợi, một số người khác thì chọn suy nghĩ theo lối mòn của đám đông và một số người khác nữa thì chọn cách ... không suy nghĩ. Đó mới là cái nguy nhất. Nếu chúng ta cùng suy nghĩ, đừng lẫn lộn vấn đề này với vấn đề khác như lợi ích, quyền lực,... lo gì không cùng tiến lên. Và nói cho cùng mọi người cùng sẽ thấy quyền lợi lâu dài ở đó. Mà chẳng phải băn khoăn vấn đề anh làm hay tôi làm, ai giỏi ai dốt hơn ai hay nghe theo ai bây giờ.
