Hiển thị các bài đăng có nhãn Phiếm luận. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phiếm luận. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 12 tháng 6, 2025

Đọc Thơ có ích lợi gì

1. Tôi về căn bản là người thực tế và thiên về triết lý hơn là cảm xúc. Đọc thơ dĩ nhiên là có thích thú. Tôi cũng thấy đọc thơ có ích lợi, cũng như nghe nhạc, đọc sách. Tất nhiên, tôi không có ý định nói đến các ích lợi như dùng làm công cụ giải trí, giao lưu hay để tiếp cận các bà, các cô thích sụt sịt.

2. Các chương trình đào tạo elite cả Đông-Tây, Kim-Cổ đều có dạy thơ. Điều đó chứng tỏ đọc-học Thơ có lợi cho trí tuệ. Tuy nhiên, không phải nhồi nhét bất cứ thơ ca hò vè tục ngữ nào, và đơn thuần nuốt chửng thuộc lòng là sẽ có hiệu quả, bổ trí não. Không phải cứ để xã hội nhồi cho thơ nào thì nuốt thơ ấy như nhồi vịt vỗ béo, thì đều tốt. Trong hoàn cảnh dạy Thơ ở trường phổ thông từ nửa thế kỷ nay và việc tôn vinh Thơ trong xã hội đều đang có vấn đề. Việc thưởng thức Thơ thụ động, vô cảm hoặc vay mượn cảm xúc, chúng ta cần phải biết cách bổ khuyết. Nếu đã quá muộn cho bản thân thì hãy cố gắng vì thế hệ sau.
3. Trước hết Thơ cũng như Nhạc, quan trọng nhất là mỹ cảm. Mỹ cảm hình thành do tác phẩm và khiếu thẩm mĩ (gout) của chính bạn. Gọi là “khiếu” nhưng đây là năng lực hình thành trong quá trình tiếp thu cái đẹp, tất nhiên cũng có phần tố chất, tạm coi là phúc đức. Nếu bạn có lỗ tai trâu, đương nhiên có nghe nhạc Beethoven suốt ngày, tôi ngờ việc có thể hình thành năng lực thẩm mĩ tử tế. Tương tự, dù bạn có tai của Bá Nha, nhưng mỗi khi khen bài giảng của GS Hoàng Chí Bảo, bạn được thưởng kẹo, mỗi khi khen nhạc Chung Tử Kỳ lĩnh một cái tát, nếu bạn vẫn giữ được năng lực thẩm mĩ sau vài chục năm, tôi sẽ cho bạn là siêu nhân. Dù bạn làm nghề gì, gout là cái quyết định tài năng của bạn. Nếu bạn dốt Toán hay tiếng Anh, và nếu bạn có thể kiên nhẫn, chắc chắn ai đó sẽ có thể giúp bạn cải thiện. Nếu bạn có gout tồi, đó sẽ là tuyệt vọng. Một GS một năm công bố hàng loạt công trình na ná nhau không thể nói là dốt, mà năng lực thẩm mĩ có vấn để. Cho dù có được tung hô, tôn vinh thế nào, rồi sẽ chẳng đi đến đâu hay giá trị nào đáng kể cả. Not even wrong.
4. Thơ rèn luyện năng lực thẩm mĩ tốt nhất NẾU ... chúng ta đọc thơ đúng cách. Thế nào là đúng cách? Chắc nhiều người sẽ nói tôi muốn áp đặt cách đọc thơ. Mỗi người một cách, chắc gì năng lực thẩm mĩ của tôi có gì hay có gì hơn người. Điều đó đúng, năng lực thẩm mĩ không ai giống ai và không phân định lượng hơn kém như điểm số. Tuy vậy, vẫn có những tiêu chuẩn nhất định. Nghệ thuật luôn gắn liền với khuôn khổ. Đôi khi nghệ thuật phá khuôn khổ để tiến lên. Nhưng nghệ thuật tồn tại được là nhờ sự đấu tranh giữa khuôn khổ và nội dung. Bạn tự do lựa chọn thật, nhưng phải sinh được mĩ cảm. Và mĩ cảm đó phải phù hợp với con người thực của bạn. Xã Xệ, Lý Toét nghe nhạc giao hưởng, mặc complet không thể là mĩ cảm lành mạnh.
5. Để có mĩ cảm và phân biệt thơ với vè, cần nắm được thi tứ. Và cố nhiên chỉ nên đọc các loại thơ thực sự có thi tứ. Do phương tiện biểu đạt của Thơ rất hạn chế nên thi tứ là một ngụ ý ẩn náu trong ngôn từ, không thể cắt nghĩa tường minh mà phụ thuộc vào vốn văn hoá và trải nghiệm về Thơ tạo thành. Thi tứ giống như một bức tranh hoặc giống một làn điệu nhạc, diễn tả một ý tưởng, hình ảnh hoặc cảm xúc có sức gợi mở và liên tưởng. Gợi mở và liên tưởng càng đa dạng, càng lớn thì giá trị càng cao. Như vậy Thơ chuyển qua Ấn tượng và Tượng trưng là tất yếu, khi các hình ảnh tả cảnh, tả tình của thơ Lãng mạn đã khai thác hết uy lực trở nên sáo mòn. Bấy giờ Thơ sẽ trở nên nhàm chán như một ván bài domino, vần điệu và nội dung đều bị tất định đến mức không còn chỗ để người đọc có thể sáng tạo ra mĩ cảm. Như vậy, nếu thơ chỉ có ấn tượng tinh tế (không đơn giản) hoặc tổ hợp độc đáo của các biểu tượng sức gợi mở sẽ lớn hơn nhiều. Khi đó thi tứ không phải là một mệnh đề, cho dù là một minh triết. Cần phân biệt thi tứ với đại ý, là cái xác định tường minh và không có sức gợi mở. Nói về đại ý của bài thơ thì cũng như mô tả sức cháy của một cây dương cầm khi đem đốt.
6. Tìm thi tứ của bài thơ là một quá trình ngược với quá trình sáng tác từ ý thơ mà viết thành bài thơ, hay từ bố cục phác thảo tạo nên bức tranh. Mỗi nét phất, mỗi mảng, mỗi màu đều có chủ ý, thì mỗi từ, nhịp điệu, hình ảnh, âm điệu đều có chủ đích. Vì vậy, bên cạnh việc tương thông tức thời, bắt được “tần số” của bài thơ, việc giải mã tìm thi tứ rất quan trọng. Chính đây là lợi ích của việc đọc thơ. Đọc được văn bản hoặc đọc được ngôn ngữ cơ thể, có đem lại nhiều yếu tố thuận lợi hơn nhưng điều quan trọng vẫn phải nắm bắt được ý sau câu chữ. Toàn bộ nhận thức của con người hơn kém nhau chỉ ở đọc. Đọc là lấy được thông tin cần thiết dựa trên dữ liệu đã có.
7.Theo nghĩa như vậy, có thể là do may mắn ngẫu nhiên, thơ Đường thực sự là ấn tượng và tượng trưng, có khả năng gợi mở nhiều nhất. Ngô Tùng Phong nói ngôn ngữ Trung là văn khiêu ý. Khiêu ý không tốt cho truyền đạt, mô tả chính xác nhưng cực hay cho Thơ. Tôi thấy đọc thơ Đường cực kỳ bổ ích.
8. Đọc thơ nói chung có lợi cho việc mở rộng từ vựng và rèn luyện tư duy. Dạy Thơ Việt rất kém, không phải do số lượng thơ ít ỏi, mà chưa dạy cách đọc Thơ. Nếu đọc thơ tốt, bạn sẽ đọc kinh, sách triết học dễ dàng.

Thứ Sáu, 15 tháng 11, 2024

Trung bình và trung dung

        1. Nếu ai hỏi tôi khái niệm Toán học nào sâu sắc và vĩ đại nhất, tôi sẽ chọn khái niệm “trung bình”. Tại sao không chọn khái niệm số, đơn vị hay số không như các nhà toán học hay nói? Số là một khái niệm tự nhiên, hình thành từ cuộc sống. Khi Con người quyết định đứng thẳng lên thì cũng là lúc số tự đến với Con người, không cần đến sự sâu sắc và vĩ đại, vì đó chính là Cuộc sống. 2. Số 1 đương nhiên tồn tại như một số, nhưng phát hiện con số này là đơn vị lại là một phát minh vĩ đại cần đến một trí tuệ Toán học chín muồi. Số 0 vốn không phải là một số, phát hiện ra nó là sự vượt trội về kỹ năng dùng số của Con người, do đó có thể nói đó là một sáng chế kỹ thuật ghi số vĩ đại. Tuy vậy, đơn vị 1 và con số 0 đều mang tính kỹ thuật, toán học vị toán học, sinh ra để làm Toán, không có tính nhân văn có thể so sánh với phép lấy trung bình.

3. Tôi cho rằng, với một mô hình ngôn ngữ lớn không có các thuật ngữ đơn vị hoặc số 0, AI vẫn có thể tạo ra các khái niệm đó trong một tương lai không xa. Tuy nhiên, tôi không chắc AI hiện tại có thể làm điều đó với phép tính trung bình. Nói một cách khác, phép tính trung bình có tính người hơn các phát kiến toán học vĩ đại khác. Sự vĩ đại có tính người sẽ nhân văn hơn nhưng cũng mang theo cả những thói hư tật xấu của con người.

4. Trung bình sinh ra để mô tả quy luật phổ quát của tự nhiên, vì thế nó là một phát minh vĩ đại và sâu sắc. Sự phổ quát này quán xuyến một triết lý căn cội của xã hội mà cụ Khổng cố đơn giản hoá thành khái niệm trung dung, vừa ngạo mạn vừa nhút nhát, vừa có vẻ trí tuệ vừa lười suy nghĩ.
5. Có lẽ trung bình sinh ra từ bản chất tranh chấp của con người. Thú vật cũng có bản tính tranh chấp, nhưng chúng chỉ có thể giải quyết tranh chấp bằng bạo lực hoặc một năng lực nào đó tinh tế hơn gây thiệt hại và khó chịu cho đối phương, buộc các đối tượng này phải từ bỏ tranh chấp. Trong thế giới thú vật, hoàn toàn không có nhượng bộ. Con người nhanh chóng nhận ra rằng, tranh chấp theo luật thú sẽ dẫn đến phải tiêu diệt đồng loại hoặc bị đồng loại tiêu diệt.
6. Đối với kẻ mạnh, sự tồn tại của đối phương cũng cần thiết, có khi còn quan trọng hơn đối tượng mà chúng đang tranh đoạt. Điều đó để chúng không bị cô đơn khi chống lại những đối tượng thứ 3, đang rình rập để tiêu diệt cả hai bên tranh đoạt. Thế giới tồn sinh trong rừng thẳm có quy luật sinh tồn vô cùng khốc liệt. Do đó, khái niệm trung bình ra đời cùng với nhân tính, sự thoả hiệp và rộng lượng. Con người thắng được cái tôi bản năng để tới cái tôi cao quý chỉ sau khi phát minh ra trung bình.
7. Sau này, chúng ta bị nhồi sọ ở tiểu học định nghĩa trung bình cộng là phải có hai số cộng lại chia đôi. Rồi lớn lên chúng ta lại mặc cả theo bản năng “cưa đôi”, tham nhũng cũng cưa đôi lợi nhuận với doanh nghiệp đút lót “mới bền”, liên minh cộng sinh đó mới kéo dài. Thực ra đó là một khái niệm trung bình man rợ kiểu thô bạo máy móc dành cho loài thú đột nhiên được làm người.
8. Chúng ta đừng nghĩ người thượng cổ là thô sơ, thời gian trưởng thành của họ từ khi biết đứng thẳng so với thời gian trưởng thành của họ đến chúng ta gấp tới hàng chục lần. Phép trung bình của họ là một khoảng nào đó hợp lý ở giữa, người có nhu cầu hơn sẽ được phần hơn. Họ không so đo lắm về sự chênh lệch. Công bằng tuyệt đối không đòi hỏi độ chính xác. Tôi đồ rằng phép cưa đôi chỉ xuất hiện khi có sự tham dự của người thứ 3, manh nha cho xã hội, bắt đầu từ thế chân vạc. Về mặt Toán học, ngày nay người ta đã phát hiện rất nhiều khái niệm trung bình đều cho kết quả nằm ở giữa chừng, trung bình cộng không phải luôn là trung bình hay ho nhất.
9. Chúng ta thử nghĩ xem cái đẹp là gì? Đừng ngắn quá, đừng dài quá, đừng béo quá, đừng gầy quá, đừng đen quá, đừng trắng quá, môi đừng dày cộp hay mỏng dính, mắt đừng ti hí hay trợn trừng trợn trạc. Đó chính là trung bình. Có người đã viết một chương trình xử lý ảnh, đầu vào là hàng ngàn bức ảnh các cô gái xấu xí theo các kiểu khác nhau. Sau khi lấy trung bình tất cả các đường nét, màu sắc, máy tính cho ra một bức ảnh một cô gái đẹp mĩ mãn. Điều đó cho thấy cái đẹp là cái trung bình. Tôi sẽ không tranh luận về quan niệm cái đẹp của xã hội bị trung bình hoá nên bị định kiến quy định.
10. Cái Thiện khó nói hơn, do có nhiều góc nhìn. Tuy nhiên, trong nhiều hoàn cảnh, cái Thiện thô sơ trong rừng chỉ có 1-2 cá thể không còn khả thi. Một khái niệm trung bình, được gọi là trung dung, tuy không thể lượng hoá khách quan, có thể xem là giải pháp cho Thiện cho xã hội. Vì Thiện không thể lượng hoá, nên Trung dung là một nghệ thuật sống, cố nhiên cũng sẽ bị lợi dụng bởi bọn “ỡm ờ, ba phải không chính kiến” nhưng vô cùng tinh ranh nhắm đến những phần chia chác khác bẫm hơn. 11. Vì vậy biết phân biệt giữa Trung Đạo và Ba Phải là phản ánh chất lượng của con người. Tuy vậy nói cho cùng, Thiện là một khái niệm trung bình trừu tượng nằm giữa việc không dám giết một con kiến đến bạo tàn. Có thể vô cùng nhút nhát nhưng có thể vô cùng táo tợn. Nói tóm lại, nếu chỉ hô hào khẩu hiệu Thiện chẳng nói lên được điều gì. Chính vì thế Thiện hay bị tôn giáo hoặc ý thức hệ lợi dụng, vì họ có thể nhào nặn nó theo ý muốn, rồi nướng chiên hoặc hấp thành những cái bánh thơm phức theo khẩu vị của đám đông u mê nhưng vô cùng manh động, tuy tỏ ra bướng bỉnh nhưng vô cùng dễ kích động theo chủ đích.
12. Tương tự, có một điểm trung bình giữa Giả dối và Thô lỗ được gọi là Trung thực. Trước một người què hồn nhiên nói về nhảy cao, trước người đui chê bai việc không biết màu sắc, không thể gọi là Trung thực, mặc dù đó có thể thoả mãn định nghĩa Trung thực trong rừng rậm.
13. Trong thời đại truyền thông, tuy các ý kiến có nhiều màu sắc, những đều thăng giáng không đáng kể xung quanh một số tâm điểm hút rời rạc. Chúng ta sẽ gọi đó là các quan điểm quá khích. Phải nói sự quá khích có sức hấp dẫn ghê gớm. Một mặt, bản năng của đám đông là lười suy nghĩ. Đa số người săn thông tin trên mạng không phải để tìm cái mới, nâng cao hiểu biết. Thực tế họ đã có chủ ý sẵn, phần lớn hình thành từ quyền lợi, xuất thân, thói quen. Họ không đủ sức, nghị lực và không có nhu cầu xem xét chủ ý đó một cách duy lý. Thay vì tra cứu, đọc sách, tìm hiểu, nghiền ngẫm, đối chiếu thực tế, chiêm nghiệm, họ sẽ lên mạng lười biếng tìm những mảng vá để đắp vào chủ ý cho na ná một chính kiến. 14. Đừng tưởng họ đọc, nghe toàn bộ lập luận của người khác để học hỏi. Họ chỉ hơm hớp, đợi có chỗ nào phù hợp cắt vội lấy một mảnh để vá vào chỗ họ còn thiếu. Tôi không tin ở những cái gọi là kiến thức ăn liền được vá víu đó. Đã nói về Bandera tức là phải biết về cuộc đời, hành trạng, tư tưởng và tác phẩm của ông ta trước khi tôn ông ta làm anh hùng dân tộc. Cũng cần xem liệu khái niệm anh hùng đó có mâu thuẫn gì với hệ thống giá trị vốn có của mình hay chỉ muốn biến hệ thống đó thành một nồi cám lợn.
15. Đạo Trung Dung cũng như mọi phạm trù triết học có nhiều biến thể. Từ việc đi tìm chân lý đến việc trùm chăn, hay định kiến hủ lậu đều có thể nhân danh Trung Dung. Nhưng Trung Đạo như một sợi chỉ mong manh xuyên suốt, mọi minh triết đều mong manh, trong một biển vô minh. Nấu cám lợn hiểu theo cách của bọn phàm phu tục tử cũng là một phép lấy trung bình.

Chủ Nhật, 13 tháng 2, 2022

VŨ TRỤ CAM

Có người ví quyền năng của Einstein là quyền năng của Satan, vì nếu Newton làm mọi sự trở nên sáng sủa minh bạch thì Einstein làm mọi sự trở nên tối tăm và mơ hồ. Trước hết là việc trong lỗ đen và ở thời điểm Big Bang không có không gian và thời gian gây ra rất nhiều khó chịu và sinh ra các câu hỏi: Chui vào lỗ đen rồi đi đâu? Trước Big Bang là cái gì? Nếu vũ trụ là một điểm thì xung quanh đó là cái gì? Phải có cái gì đó chứa một điểm hay phải có cái gì gây ra Big Bang chứ?

Tôi sẽ đưa ra một mô hình tự tạo (home-made). Dám chắc là không có mấy người bác bỏ được. Nó sẽ giúp các bạn hiểu một số vấn đề, thậm chí còn đặt được một số câu hỏi có nghĩa hơn hoặc chí ít biết được một số câu hỏi không nên đặt ra. Tất nhiên bạn đừng coi nó là một mô hình vật lý nghiêm chỉnh.

Thế giới của tôi là một quả cam. Toàn thể vũ trụ đều tồn tại trên bề mặt quả cam. Mô hình này chỉ có 2 chiều, một chiều không gian và một chiều thời gian. Nhưng nếu bạn muốn mệt óc thì có thể cố tưởng tượng ra quả cam 5 chiều với bề mặt 4 chiều. Nhưng sẽ cũng chẳng vì thế mà những điều tôi sắp nói đây thay đổi về bản chất. Quả cam này có thể tích bao nhiêu nhỉ? Diện tích bề mặt là bao nhiêu? Đối với người sống ngoài thế giới-trái cam, chỉ việc lấy một cái thước (cố nhiên là thước của thế giới bên kia) đo là xong. Nhưng chắc chắn bề mặt của vũ trụ-cam là hữu hạn và nhỏ thôi. Điều gì xảy ra nếu, người ở thế giới bên kia cũng dung tục như trong thế giới của chúng ta? Họ sẽ đo bằng một cái thước cao su giống như một quan chức cảm tính, trái cam có thể lớn bằng trái bưởi hoặc nhỏ như trái chanh theo ý thích của người đo hoặc theo phong bì của người muốn đặt hàng bạn để bạn làm công việc đo cam nhưng theo một ý chí cam nào đó. Điều đó nghĩa là gì? Thay đổi độ đo sẽ cho kết quả khác! To nhỏ là do độ đo chứ không phải trái cam đã co lại hoặc dãn nở ra theo ý các "Thượng đế". Nhưng quyền năng của sự dối trá cũng có giới hạn, dù sao vũ trụ-cam cũng có kích thước hữu hạn đối với các sinh vật thượng đẳng. Ngựa hay hươu thì cuối cùng cũng là con vật có 4 chân mà thôi.


Đối với các sinh vật sống trong vũ trụ-cam thì sao? Có một ông Einstein-cam, viết ra một phương trình cam, và nói rằng metric phải được xác định bởi phương trình này. Cố nhiên ông có thể sẽ không được giải thưởng Nobel cam về phương trình cam này mà sẽ được giải về hiện tượng quang điện-cam nào đó. Rất không may là độ đo trong thế giới cam lại phụ thuộc vào tương tác hấp dẫn- cam và các sinh vật -cam thấy rằng trái cam đang nở ra, mặc dù ông Einstein cam cũng như bạn và tôi là những sinh vật thượng đẳng không tin ở điều đó. Nhưng chúng ta biết, vì Toán học của các sinh vật cam cũng giống như của chúng ta, rằng vật to hay nhỏ chỉ là do cách chọn độ đo. Nếu chọn một độ đo co lại theo thời gian thì thế giới nở ra. Độ đo tiến tới 0 thì thế giới sẽ nở ra vô cùng. Chọn độ đo nở ra thì thế giới co lại. Không có giới hạn nào cho việc chọn metric trong thế giới cam cả. Cố nhiên phương trình cam nói rằng quả cam đang nở ra với gia tốc dương.

Rồi có một số nhà bác học cam nói rằng có một số nghiệm kỳ dị của phương trình cam: lỗ đen cam và nổ lớn cam. Họ cho rằng quả cam bắt đầu có từ một vụ nổ lớn, là một thời điểm kỳ dị không có không gian và thời gian. Thực ra cam vẫn là cam. Nổ lớn, điểm kỳ dị chỉ có trong đầu của mấy nhà khoa học cam. Họ làm như sau: Đặt cam lên bàn đã kẻ sẵn ô. Nối điểm cực bắc (điểm cao nhất) của trái cam với một điểm bất kỳ trên mặt trái cam. Đường đó sẽ cắt mặt bàn tại một điểm nào đó có tọa độ là (x,t). Đó chính là không gian và thời gian cam. Điểm cực bắc của trái cam sẽ không có giá trị không gian và thời gian nào cả. Là các sinh vật thượng đẳng, chúng ta sẽ thấy những câu hỏi lăng nhăng kiểu trước cực bắc của trái cam là cái gì, cái gì sinh ra cực bắc trái cam của các sinh vật cam là vô nghĩa. Mặc dù các sinh vật cam cũng biết có phép chiếu nổi như chúng ta.


Điều đó không có nghĩa là chúng ta thông minh hơn sinh vật cam. Chúng ta sẽ không bao giờ hiểu được các tương tác cam mô tả bởi phương trình cam sinh ra các độ đo kỳ dị dường như ngu xuẩn, ảo giác dãn nở, các lời giải kỳ dị của thế giới cam nó hay ho ở chỗ nào. Chúng ta không bao giờ hiểu được tình cảm cam, tình yêu cam hay một ông Ngô Bảo Châu cam nào cứ khăng khăng yêu một cái chũm cam hơn những chỗ khác trong quả cam cho dù có nhiều nước ngọt hơn thì có ý nghĩa gì với chúng ta. Chúng ta cũng không bao giờ hiểu được tại sao sinh vật cam lại phải tụ tập hội nghị, đại hội cam nghiêm trang bàn về những vấn đề rất là ... cam mà đối với chúng ta thế nào cũng xong.
Quyền năng của Chúa là thấy mọi vấn đề đơn giản bằng cách đứng ngoài thế giới. Quyền năng của Satan là làm mọi vấn đề trở nên phức tạp bằng cách dấn thân vào thế giới cam chăng? Biết đâu ở một thế giới nào đó bên kia đang có một sinh vật đang mỉm cười nhìn thế giới chúng ta như một trái cam bốn chiều nhỏ xíu, trong khi chúng ta đang nói về những khoảng cách hàng tỷ năm ánh sáng và sóng hấp dẫn. Không hiểu sinh vật đó có sẵn sàng đánh đổi những điều đơn giản, hợp lý, tuyệt đỉnh thông thái lấy những cái rắc rối của cuộc sống và một cái chũm cam 5 chiều không nhỉ?






Thứ Năm, 24 tháng 12, 2015

Thế nào là một chứng minh

Tôi không phải là một người những điều quá xa thực tế. Nhưng có những câu hỏi tưởng chừng vô bổ và vô hại lại có vô khối vấn đề cần suy nghĩ.

Năm tôi 12 tuổi, học lớp 6, hệ phổ thông 10 năm cũ, bắt đầu học hình học. Tôi còn nhớ bài toán đầu tiên tôi có vấn đề như sau: "Chứng minh hai góc đối đỉnh thì bằng nhau". Trước tiên tôi không biết thế nào là "chứng minh". Sách giáo khoa không có đoạn nào nói thế nào là chứng minh. Cho đến khi các bạn trong lớp đã chứng minh được các tính chất của tam giác nội tiếp, ngoại tiếp, đường tròn chín điểm, tôi vẫn băn khoăn về bài toán đầu tiên. Tôi không có cảm giác là mình tự mình làm được bài toán đó và chỉ học thuộc cách chứng minh. Tôi cũng lắp ráp các đoạn "chứng minh" để tạo ra các chứng minh mới và nhận được điểm tốt, thậm chí thi học sinh giỏi. Nhưng tôi không cảm giác đó là kết quả suy nghĩ của mình, tất cả chỉ là lắp ráp cơ học và bắt chước máy móc, không hề có một niềm vui sáng tạo nào. Tất cả chỉ vì tôi không hiểu thế nào là một chứng minh. Điều kỳ lạ ở chỗ các bạn của tôi lại thấy điều đó vô cùng đơn giản và không gặp bất cứ khó khăn nào. Họ trả lời tôi "chứng minh là chứng mình".

Sau nhiều năm làm việc nghiên cứu, tôi mới nhận ra việc định nghĩa chứng minh không đơn giản. Tuy thế, phải tới gần đây, tôi mới hiểu tại sao tôi lại có vấn đề với việc chứng minh. Có lẽ là tại vì tôi đọc trước sách giáo khoa môn Văn lớp 7, có những bài văn mẫu chứng minh câu nói của lãnh tụ hay văn hào nào đó về tinh thần yêu nước của dân tộc. Quả thật là những "chứng minh" đó khác xa các chứng minh toán học.

Có lần tôi nói chuyện với một chị nghiên cứu sinh Văn học tại đại học MGU. Chị nói đề tài là chứng minh quan điểm giai cấp vô sản của Gorki qua các tác phẩm của ông. Tôi hỏi làm thế nào có thể chứng minh được quan điểm vô sản của một người dựa vào các tác phẩm. Cuối cùng chúng tôi đã tranh luận mất cả buổi tối thế nào là chứng minh và đi đến kết luận khái niệm chứng minh trong văn học khác với chứng minh trong khoa học. Điều đó mang lại thất vọng lớn lao cho tôi về công việc nghiên cứu văn học.

Thực tế cuộc sống đã cho tôi thấy chứng minh theo cách thức khoa học nhiều khi không thuyết phục bằng các cách "chứng minh" khác. Điều đó dù muốn dù không tôi cũng phải chấp nhận sau nhiều va chạm cọ xát với cuộc sống thực tế. Tuy nhiên, tôi vẫn nghĩ rằng có lẽ việc có một cách hiểu chung về chứng minh cho xã hội ngay từ khi còn trong ghế nhà trường là một điều cần thiết. Người ta hay nói "nói phải củ cải cũng nghe". Tuy nhiên, thế nào là một điều nói phải mới là vấn đề. Xã hội hiện nay rất ghét duy lý, các mệnh đề được chấp nhận là do cảm tình, cảm tính và cảm động chứ không phải do "nói phải" hay "chứng minh".

Cách tư duy trong xã hội nước ngoài nơi tôi đã từng sống và làm việc có khác. Nhiều khi tôi cố thuyết phục ai đó làm một điều gì bằng cách nói những tình cảm, mong muốn với điều đó. Nhưng nhiều khi câu trả lời là điều đó có lẽ rất hay, nhưng tôi không thể làm vậy vì mâu thuẫn với nguyên tắc A, B nào đó. Đó là một cách tư duy rất duy lý.

Có lẽ thiếu cái duy lý đó mà xã hội ta, khi đã đến một giai đoạn phát triển nhất định đã bộc lộ những yếu kém hết sức tinh tế. Thế nào là chứng minh một người có tội, một dự án đầu tư là có hiệu quả, một người nào đó có năng lực đáng được đề bạt? Nếu chúng ta không có một số nguyên tắc có lẽ những vấn đề trên còn tồn tại mãi và những tai nạn của nó không bao giờ giải quyết triệt để, xã hội không thể vận hành trơn tru.

Xem ra câu hỏi "thế nào là một chứng minh" có lẽ không phải là một câu hỏi thuần túy lý thuyết. Thực ra định nghĩa thế nào không phải là quan trọng lắm. Quan trọng là có một cách hiểu và áp dụng nhất quán.

Chủ Nhật, 27 tháng 9, 2015

Thói quen cắt lỗ ra khỏi cục pho mát

Sĩ phu Bắc Hà rất ưa thích so sánh.  Cứ hễ so sánh là cãi nhau. Tất nhiên lý do cuối cùng là "bánh tao đâu", nhưng cũng có chút lý do cãi nhau là ở bệnh thích so sánh. So sánh A với B, anh với tôi, nó với chúng nó. Thích lắm, thú vị lắm, giống như chơi trò tetrix, ăn điểm số, hay nhập cái bang được lên một túi. Không phải làm gì cả, hơn nữa là một trật tự bất biến, cứ thế ngồi hưởng. Cho dù cái bổng lộc đó thảm hại thế nào, cũng có được phép thắng lợi tinh thần.

Mọi phép so sánh đều gắn với một hệ giá trị có trật tự hơn kém, thường là định lượng được bằng một con số. Trên một trục số, thì phải trái, hơn kém, trước sau rạch ròi. Chỉ có điều, những thứ trong thực tế, đa phần lại không chỉ có một giá trị, cho dù có thể định lượng. Hai điểm trên mặt phẳng đã không thể biết lớn nhỏ, phải trái, trước sau một cách khách quan. Có chăng phải lấy một cá nhân làm rốn của vũ trụ mới phán được. Nhưng trong thời đại biến động, gốc tọa độ cũng chuyển động như chong chóng. Anh mới ở đầu hàng đấy, thoắt cái đã thành ra cuối hàng. Hai số phức rõ ràng có định lượng, nhưng không thể nói số nào lớn hơn số nào.  Hai đại lượng ảo và thực lại chuyển hóa qua nhau khi quay trục tọa độ.

Đơn giản hóa là cái bệnh của sĩ phu Bắc Hà, cái gì chưa hiểu thì cứ tóm một câu "nôm na là ....". Đỡ tốn công đọc hiểu, đau đầu phức tạp. Tư duy diễn nôm có một sức hút kỳ lạ. Thứ nhất nó cũng nghe na ná như minh triết, chỉ khác cái không dựa trên khổ công luyện tư duy đến mức tinh thục. Thứ hai nó rất cuốn hút đại chúng, do liên hệ gần như một một đến những gì đại chúng đang thiếu thốn, đang thích thú như tâm linh, số mệnh, dân chủ, chứng khoán, kiếm tiền, lừa cấp trên, cấp dưới dễ dàng. Đơn giản hóa kiểu diễn nôm bao giờ cũng giải quyết dễ dàng bài toán so sánh. Nếu chỉ có một đại giáo chủ, thì mọi việc hẳn đã dễ. Tuy nhiên, trong thời đại tập sự dân chủ có đến hàng tỷ loại giáo chủ diễn nôm khác nhau, thế là tranh luận không thôi, hoàn toàn không có một mục đích thực tiễn nào cả, thậm chí về nhận thức cũng chẳng thu hoạch gì. Từ Thức gặp tiên về vẫn thấy hai ông sĩ phu Bắc Hà cãi nhau về cùng một chủ đề, có khác chăng luận điệu của ông B bây giờ là của ông A trước đây và ngược lại.

Diễn nôm trong một số trường hợp khá thành công, nhưng đó là ngẫu nhiên. Tuy nhiên, trong đa số trường hợp là cố gắng cắt lỗ ra khỏi cục pho mát. Cái lỗ trong pho mát tồn tại được là nhờ có pho mát bao quanh. Sĩ phu Mít thản nhiên nói về cái lỗ như một thực thể độc lập và tranh luận rằng lỗ phải có trước, phải ưu tiên hơn pho mát.

Chính vì thế có những cuộc tranh cãi kỳ cục: Nghệ thuật và Nhân sinh, Biết và Làm, Tinh thần và Vật chất. Hoàn toàn không khác gì tranh luận từ thời Trung cổ ở phương Tây về Trứng và Gà. Ngày nay có ai nói chuyện kiểu như thế ở phương Tây, hẳn bị coi là dở hơi. Ở ta nói chuyện giống hệt như thế vẫn được tôn vinh. Kể cũng lạ.

Thứ Ba, 22 tháng 9, 2015

Đạo lý Tetrix.

Vi sao hệ thống nhà nước mê hoặc công chức? Công chức công việc chính là cạo giấy. Vô cùng nhàm chán. Lại rất ỷ eo nhiều chuyện vô nghĩa, hạn chế suy nghĩ độc lập, làm cùn nhụt ý chí. Đãi ngộ lại vô cùng bạc bẽo. Người ta nghĩ rằng động lực công chức là bổng lậu. Thực ra, hàng trăm vị trí công chức không có lấy một vị trí có thể kiếm được bổng lậu. Tất nhiên không thiếu các vị trí kiếm được tiền giời ơi, nhưng động lực chính cho công chức trẻ vẫn không phải là vật chất. Một công chức 30-40 có danh xưng Phó Vụ Trưởng đến các cuộc họp đã được giới thiệu rất oai. Nhưng tại Vụ, ngài PVT chỉ huy bao nhiêu người? Nhiều Vụ có 5-6 người đã có tới 4-5 người ở cấp Phó Vụ Trưởng, Vụ trưởng, thậm chí hàm Vụ trưởng. Chuyên viên còn quý hiếm hơn quan. PVT vẫn cạo giấy như thường, trừ những vị trí đặc biệt, đó chỉ là danh xưng bên ngoài. Như vậy quyền lực, điều khiển người khác cũng không phải là động lực. Động lực chính vẫn là hệ thống cấp bậc, chức danh và sự cay cú hoặc thỏa mãn đi đôi với các nấc thang. Tâm lý này giống hệt trò chơi Tetrix. Trò chơi này khá đơn giản, không có gì lý thú, nhưng hấp dẫn bởi hệ thống tính điểm lên bậc, ngoài ra không có gì khác. Cũng giống như hệ thống cấp bậc của Cái bang: Bắt đầu là đệ tử 1 túi, lên đến chín túi rồi mới đến trưởng lão, lại trở lại một túi đến chín túi, rồi mới đến đại trưởng lão, rồi mới có chức như truyền công, chấp pháp, rồi mới tới phân đà chủ, phó bang chủ mới đến bang chủ. Lên mỗi nấc là trăm sự nhiêu khê, lễ nghi lằng nhằng. Nhưng sự hấp dẫn ở đó, tính ràng buộc cũng ở đó. Đệ tử 9 túi là một cấp bậc vô cùng nhỏ nhoi, vô nghĩa, nhưng mất hàng chục năm công cán, bao nhiêu lần lên chức trước ngàn cặp mắt ghen tỵ của đồng cấp. Nếu bỏ đi thì tiếc vô cùng. Cấp bậc quân đội cũng hấp dẫn như vậy. Ngày nay, tại Trung Quốc quân nhân không thể lên chức Nguyên Soái, thậm chí Đại tướng cũng không có. Nhưng đã có thêm 4 bậc Quân Sĩ trưởng (tương đương với 7 cấp bậc Hạ Sĩ quan), 3 cấp Úy, 4 cấp Hiệu và 3 cấp Tướng. Đeo lon cấp Úy hay Hiệu đã là vinh dự và khó như lên trời, vô cùng hấp dẫn. 
Từ bao giờ chẳng biết, tư duy tetrix cũng len vào giới học thuật, chuyên môn. Cũng tốt. Học thuật chuyên môn là làm việc thật. Làm việc mà không tưởng thưởng thì tốt quá. Nên mới đẻ ra các bậc viên chức, phóng viên chính, nhà giáo ưu tú, nghệ sĩ nhân dân, PGS và GS các loại. Nhà giáo mà không có có ưu tú, thì chẳng khác nào có thêm cái nhãn không ưu tú.Phóng viên mà không chính khác nào là có mác phóng viên phụ. Chuyên gia không có chữ cao cấp khác nào loại hai, thấp cấp, trong một thị trường toàn đồ hàng dỏm, nhái. Khó chịu lắm. Ai biết sắc sảo tận tâm, hùng hồn uyên bác thế nào, tất cả đều nhòe nhoẹt trong một đám ngu phu ngu phụ vô danh. Thế là bản năng tetrix trồi dậy cuốn hút bao người vào một hành trình thăm thẳm. Có người làm việc chi phí thấp hản là tốt rồi. Nhưng xem ra hệ thống chức danh cũng có những nhược điểm ngày càng lộ rõ. Quan trọng nhất là động lực danh và động lực làm việc đã nhanh chóng đi về hai hướng. Mấu chốt nhất là chế độ tưởng thưởng, ít ỏi nên phải phân biệt, và theo danh thì đỡ eo xèo nhất. Thế là trò tetrix này càng thêm động lực, trở thành Võ lâm truyền kỳ, binh khí cấp bậc tính ra tiền ảo, tiền ảo đổi thành tiền thật. Không ai còn làm gì chỉ sôi sục theo danh lợi tạo thành cơn sốt ảo.
Trò chơi này đến lúc nào đó sẽ có những biến thái mới. Sẽ có đứa trẻ nào hô lên chuyện Hoàng đế ở truồng. Ăn nhau là mặc quần áo hay không, chứ không có quần mà gọi là tơ siêu hạng, nhẹ như không để người đời bắt buộc phải tán thưởng có gì lý thú. Và nhất là danh hiệu hão không thể là động cơ vĩnh cửu vận hành một bộ máy thực sự làm việc

Thứ Năm, 20 tháng 8, 2015

Dùng chữ nghĩa và cách suy nghĩ: nhìn và chiêm nghiệm

Người Việt có thói quen nói theo quán tính. Phun ra cả cụm từ thậm chí nhiều cụm từ có ý nghĩa khác nhau mà không hề đắn đo về ý nghĩa của nó. Người ta vẫn nói thế, tôi nói thế là an toàn, cùng lắm là ngang tầm với người nói trước. Lâu ngày thành một đường mòn. Cứ nói như vẹt, tưởng đó là ý tường của mình.

Ví dụ đơn giản: "ngôi nhà đẹp", "Cô gái xinh" là vừa đủ trọn nghĩa. Nhưng nói ra lại có vẻ hơi "tây" nếu không nói "ngôi nhà rất đẹp", "cô gái xinh quá". Nếu như vậy trong tiếng Việt không có chỗ cho "rất đẹp", "rất xinh" nữa. Nói một cách khác, một vấn đề tưởng vô nghĩa, nhưng thành thói quen sẽ làm một dân tộc mù về cấp độ. Không nhận thức được về cấp độ, tất nhiên sẽ khiếm khuyết về suy nghĩ.

Bài này sẽ thảo luận về nhóm các chữ "khía cạnh", "viễn cảnh", "triển vọng", "nhìn lại", "vỡ lẽ",... mà người Việt dùng khá lộn xộn. Đặc biệt khi thông dịch hoặc nói chuyện với người nước ngoài, các khái niệm này dùng sai một cách hồn nhiên. Khi đầu tôi nghĩ rằng đó là do yếu về ngoại ngữ hay từ vựng, nhưng gần đây quan sát một số trí thức đáng kính, tôi mới chợt nhận ra rằng phương pháp suy nghĩ của người Việt chưa thực sự phát triển. Giữa việc dùng từ cho chính xác và phát triển phương pháp tư duy có quan hệ tương hỗ. Dùng từ không chỉnh, méo mó sẽ làm méo mó phương pháp. Phương pháp suy nghĩ chưa phát triển đến một mức độ tinh vi, cách dùng từ sẽ sơ sài cầu thả, không sense được sự khác biệt, theo lối mòn.

Trong tiếng Anh có các từ "aspect", "prospect", "perspective" nghĩa khác nhau. Người Việt dùng rất lung tung "khía cạnh", "triển vọng", "viễn cảnh",... Trước hết chúng ta hãy nói về ý nghĩa về mặt phương pháp khi dùng các từ này. Thực ra có rất nhiều người hay dùng các từ này không thực sự có ý niệm nào về phương pháp. Trước hết "aspect" và "perspective" đều liên quan tới cách nhìn chủ quan của một người về một sự vật. Người Việt vẫn có thói quen buộc tội, đánh giá hay dán nhãn cho nhau về "cách nhìn sai", "cách nhìn đúng",... Thực ra, có nhiều mệnh đề, khẳng định, đánh giá,... chỉ có nghĩa sau khi chọn một cách nhìn. Cũng như hướng dẫn "quán ăn ở bên phải khách sạn" là hoàn toàn vô giá trị. Có lần tôi đã phỏng vấn học viên cao học "tài năng" về một thuật toán tìm kiếm "tìm bên phải trước hay bên trái trước".  Học viên được giới thiệu là rất giỏi và chuẩn bị học tiến sĩ, chịu cứng không trả lời được. Tôi sẽ không đánh giá hay trách móc anh bạn trẻ này. Tuy nhiên, phương pháp suy nghĩ của người Việt thực sự chưa phát triển đến mức vào vô thức, mà cách tốt nhất là được nhúng vào ngôn ngữ. Tôi chưa thấy sinh viên nước ngoài mắc vào vấn đề "phải trái", "tốt xấu", có lẽ vì họ ít đánh giá như đinh đóng cột, và góc nhìn luôn gắn chặt với cách suy nghĩ. Chính vì vậy mà người nước ngoài hiểu về "aspect", "perspective" hơn.  Trừ những chân lý hình thức, vô hồn, phần lớn các chân lý đều mang dấu ấn cá nhân, gắn chặt với một cách nhìn, chính vì thế mà chúng mới bổ ích và có thể đi vào đời sống. Tính chặt chẽ khách quan thường nằm trong retrospect nhiều hơn. Phát kiến khoa học cũng như phát kiến ra châu Mỹ, Hải Vương tinh hay hạt Higgs đều dựa trên một niềm tin, một góc nhìn mang đậm dấu ấn cá nhân. Sự phát triển thường là do cá nhân dám gánh trách nhiệm, thậm chí dám áp đặt quan điểm. Đợi mọi việc rõ ràng rồi mới quyết định thì mọi việc đã trễ. Người Việt không hề có viễn kiến, coi thường trực quan, chà đạp cá nhân làm sao có thể hiều được sâu sắc các từ như "aspect", "perspective".

Cùng liên quan tới cách nhìn chủ quan, nhưng có vẻ "aspect" chỉ chủ quan trong việc lựa chọn cách mô tả, nhìn tương đối cụ thể, gần và mô tả khách quan sự vật trong cách nhìn đó. Tiếng Việt chọn "aspect" là "khía cạnh", "phương diện", có lẽ là gần đúng hơn cả. Tuy có một số điểm chưa hoàn toàn chính xác, nhưng khi đem sử dụng NHẤT QUÁN và THÀNH THỤC, các từ này sẽ tự thu góp những ý niệm mới và tự hoàn thiện. Nội hàm chính xác sẽ dần được hoàn thiện. "Perspective" là một cách nhìn từ xa. Nhiều người nhầm rằng perspective chỉ nói về tương lai, vì thế từ tiếng Việt "viễn cảnh" cũng hiểu là "tương lai xa". Thực ra, tuy rất hiếm khi dùng, nhưng người ta có thể nói về perspective về quá khứ như một cách nhìn phóng chiếu về quá khứ. Perspective có tính chủ quan hơn nhiều, cũng như người nhìn có thể chọn góc nhìn, cự ly, tiêu điểm. Perspective có thể bao gồm cả việc kiến giải, sử dụng những khái niệm quen thuộc, không nhất thiết có nghĩa khi ở trong một điều kiện hoàn toàn khác. Có thể tạm dùng chữ "viễn cảnh" cho perspective với ý thức rằng "viễn cảnh" có thể bao gồm cả quá khứ. Để tránh quán tính trong việc dùng chữ nghĩa đã mòn vẹt, có thể dùng chữ "tầm nhìn xa". Nhưng tuyệt đối không dùng "triển vọng" như trong từ điển hoặc trong thực tế đang dùng khá phổ biến.

"Triển vọng" là "kỳ vọng tiến triển", nói về tương lai, thích hợp với  chữ "prospect". Mặc dù "prospect" trong từ điển Anh Việt đều có cả hai chữ  Việt tương ứng "triển vọng" và "viễn cảnh". Nhưng đó là do sự lười biếng, cẩu thả hoặc bệnh mù cấp độ của người Việt. Prospect là một cách nhìn tương lai về sự vật của người nói, tất nhiên vẫn mang một phần yếu tố chủ quan.

Cuối cùng, chúng ta sẽ bàn về chữ "retrospect". Retrospect là một thao tác của những người có tầm suy nghĩ bao quát, nhìn về những gì đã xảy ra, cố nhiên vẫn theo những perpective chủ quan nào đó, để có chiêm nghiệm và dự cảm đối với những vấn đề trước mắt. Phải nói người Việt, kể cả những trí thức ưu tú vẫn không hiểu vai trò của "retrospect" trong suy nghĩ là thế nào. Tôi đã từng ngạc nhiên khi một số trí thức vẫn được tiếng là ưu tú dè bỉu retrospect là nói những chuyện đã xảy ra không có gì mới. Thực ra, dù có đi dây đó, đọc hàng tạ sách, con người vẫn khó thoát khỏi ảnh hưởng của chuỗi dây chuyền: ngôn ngữ ảnh hưởng tới văn hóa, văn hóa ảnh hưởng tới cách suy nghĩ, suy nghĩ đẻ ra số phận. Đừng kêu ca về số phận nếu chưa nhìn lại cách suy nghĩ. Đừng than phiền về cách suy nghĩ nếu chưa mạnh dạn thay đổi văn hóa. Đừng oán trách văn hóa nếu không bắt đầu sử dụng ngôn ngữ chính xác và tinh tế. Người Việt nghĩ về quá khứ rất sơ sài, không phân biệt nổi vô hồn vô cảm với sự khách quan, vì thế hầu như không có được chiêm nghiệm gì có ích lợi cho hiện tại từ những cuộc huynh đệ tương tàn đẫm máu trong quá khứ. Có lẽ vì thế trong tiếng Việt không có từ nào thực sự thích hợp cho retrospect. Có người dịch là "nhìn lại". Thực ra "nhìn lại" chưa có một chút chiêm nghiệm nào, người nước ngoài đã có từ "review". Chiêm nghiệm còn cao hơn suy tư một bậc. Chính vì không biết chiêm nghiệm quá khứ nên người Việt cùng lắm chỉ hiểu được từ "vỡ lẽ" (hind sight) là một cách cảm nhận bài học quá khứ cụ thể, không cần chiêm nghiệm, một cái tát có lẽ sẽ làm con người "vỡ lẽ" nhanh và thấm thía hơn. Tôi nghĩ nên dịch retrospect là "chiêm nghiệm" để khuyến khích người Việt đọc sách nước ngoài chịu khó học các dân tộc khác động não, thay vì chỉ "ôn lại những trang sử vàng vẻ vang của dân tộc".

Thứ Sáu, 13 tháng 3, 2015

Phiếm luận cuối tuần: Vòng tròn nhân quả và cách mở nút thắt Gordias của Alexander Đại Đế

Tìm ra mối quan hệ nhân quả (causality) là phương pháp tư duy quen thuộc để tìm hiểu thế giới. Giữa hai sự kiện hoặc hai sự vật, nếu có thể thiết lập một quan hệ nhân quả, một cái sẽ được xem là nhân, một cái sẽ được coi là quả. Nhân là cái có trước, sinh ra quả. Sư tồn tại của quả là tất yếu khi có nhân. Bằng cách đó, các nhà thông thái cho là giải thích được và tiên đoán được sự tồn tại của quả. Các nhà chính trị thích thú vì chỉ cần khống chế được nhân sẽ có thể nhào nặn quả như chơi đất sét. Trí thức được tưởng thưởng tốt hơn đám bình dân và có cơ hội gia nhập giới cầm quyền, chỉ để ngồi phát hiện ra các quan hệ nhân quả. Vận tốc đầu nòng súng và góc bắn là nhân, viên đạn bắn trúng đích là quả. Ném một người từ đỉnh Tháp Đôi New York, Tháp nghiêng Pisa hay Tháp Eiffel, bất kể sang tiện phú bần, tri thức, nhân cách, quan điểm ra sao đều có kết quả như nhau, và đều rơi với gia tốc trọng trường. Nhát cuốc trên cánh đồng bình thường hay trên Killing Field của Khmer Đỏ, đều tuân theo định luật Newton, có cùng phản lực và gây biến dạng tỷ lệ với xung lực. Khoa học và người sinh ra nó không có quan điểm, quan điểm và kết quả là do người dùng tạo ra. Động lực sử dụng tri thức lớn đến mức, nếu nó không được dùng cho một thế lực này, nó sẽ được sử dụng cho thế lực đối địch, giống như khương tuyến của chàng sĩ quan Hungari Feri được mời chào cho Nhà Thờ Chính giáo trước, nhưng rốt cuộc lại dùng để phá cổng thành Constantinople, thành trì của Chính giáo.

Không phải quan hệ nhân quả luôn luôn hoạt động tốt với tư duy con người. Nó cũng có thể lừa gạt con người, làm cho số phận của họ khốn khổ hơn. Ở đây, chúng tôi sẽ không bàn tới những tên bồi thông thái, chuyên tìm ra các mối quan hệ nhân quả giả tạo để kiếm chác và sẽ bàn tới các tính huống có vòng tròn nhân quả (causality cycle). Thực ra quan hệ nhân quả phần lớn chỉ có thể áp dụng được trong một giai đoạn nhất định, con gà là nhân đẻ ra quả trứng là quả chỉ trong giai đoạn con gà sinh ra và lớn lên đẻ trứng. Khi đã có quả trứng, đưa vào lò ấp và nở ra con gà con, đó lại là một giai đoạn với quan hệ nhân quả khác. Thói xấu của tư duy trí thức là tổng quát hóa, lấy kinh nghiệm cục bộ, áp dụng cho toàn thể. Cũng như đem tư duy Toán học áp dụng cho các vấn đề công nghiệp, đem tư duy triết học, chính trị bàn giấy áp dụng cho cuộc sống. Thành công của tính nhân quả là với các chu kỳ dài, thường là trong thế giới cơ học. Tuy nhiên có những trường hợp một quá trình diễn ra là một chuỗi liên tiếp quả và nhân đổi chỗ cho nhau. Điều đó rất thường xảy ra trong thực tế xã hội. Chẳng hạn, chúng ta hãy xem tính nhân quả trong việc một người nhân viên nói thẳng làm sếp nổi giận lôi đình. Có thể xem nói thẳng là nhân, lôi đình là quả. Nhưng thực ra, nếu sếp không có quyền nổi giận lôi đình, thì sẽ không có cơn lôi đình đó. Cơ chế của giận lôi đình không phải là xảy ra ngay tức thì và phát triển một cách tất định (deterministic) đến cao trào. Các nhà tâm lý đã chỉ ra cơ chế như sau, ban đầu sếp thấy hơi khó chịu, khó chịu sinh ra hơi giận, cơn giận đó lại gây là khó chịu hơn, khó chịu hơn sẽ gây giận hơn, và cứ như thế các vòng tròn khó chịu- giận sẽ xoay với tốc độ ngày càng tăng, nhân quả liên tục bị vi phạm để đổi vai với tốc độ ngày càng cao và bùng phát thành một cơn giận lôi đình. Nếu có cách gì chặn ngay vòng tròn đó lại thì sẽ không có cơn lôi đình. Con chó hung hăng sủa cũng bắt đầu từ tâm trạng sợ hãi, muốn trấn an sợ hãi phải hung hăng và sủa, Sủa hung hăng lại thấy sợ hãi thêm, lông gáy dựng đứng lên.
Các vòng tròn nhân quả trong thượng tầng kiến trúc đã gây ra những tranh luận rất tốn kém, "con gà -quả trứng", "vật chất-tinh thần", "văn học-cuộc sống", "nghệ thuật-nhân sinh". Cố công xác định cho được đâu là nhân là quả, thực là vô bổ, khi nhân quả chỉ là một vai trò có tính giai đoạn là một chức năng mà tư duy tạm gán để có thể giúp đỡ cho sự hoạt động của nó dễ dàng hơn, để suy luận, tư biện. Nhìn rộng ra, xã hội, cuộc sống hàng ngày, thế giới, vũ trụ có vô số vòng tròn nhân quả đang đánh lừa các tư duy thông thái sa vào vòng xảo biện, mất thời gian. Nhiều vấn đề rơi vào việc tranh luận nhân quả mà không bao giờ kết thúc tranh luận, không ai chịu ai, rồi phải dùng nắm đấm, súng ống, bom liều chết, vũ khí nguyên tử,... Vì vậy, trước khi bắt đầu một cuộc tranh luận, cần phải xem xét chúng ta có đang bị một vòng nhân quả đánh lừa hay không. Cố nhiên, trong phần lớn các trường hợp, các bên đều bị khóa chết vào vòng tròn đó, và có ảo giác là nếu vấn đề không ngã ngũ sẽ không làm được việc gì khác. Người ta thường nhầm tưởng xã hội tiến lên nhờ đấu tranh. Thực ra, đấu tranh là tất yếu khi xã hội tiến lên, nhưng khi đấu tranh thì xã hội sẽ dừng lại, thậm chí thụt lùi. Đấu tranh là cái giá phải trả chứ không phải động lực cho sự tiến lên. Đấu tranh là bắt buộc, nhưng không phải đấu tranh càng nhiều càng tốt, các xã hội chỉ biết đấu tranh không ngơi nghỉ là các xã hội chậm tiến. Tổ chức đấu đá quanh năm là tổ chức tụt hậu.
Alexander Đại đế, từ năm 333 trước Công Nguyên đã có cách giải quyết các tình trạng "tiến thoái lưỡng nan", "lang bạt kỳ hồ" cắt đứt vòng nhân quả như thế.
Tương truyền rằng, tại xứ Gordium, nhà vua Gordias đã để lại một cái nút thắt Gordias (Gordian Knot) với lời nguyền "ai cởi được nó sẽ có quyền lực bao gồm cả châu Âu và châu Á". Nhiều thế hệ trôi qua, rất nhiều người đã cố gắng nhưng không ai cởi được cái nút thắt  Gordias. Mùa Đông năm 333, nhà vua Alexander của xứ Macedoin, dừng chân lại Gordium và thử gỡ nút thắt này. Sau một hồi loay hoay không thành công, một tư tưởng vĩ đại chợt lóe lên, nhà vua tuốt kiếm chém nút làm đôi. Theo truyền thuyết, lời giải của Alexander làm Zeus chúa tể của các chư thần thích thú đến nỗi cầm lưỡi tầm sét vung lên lung tung. Suốt cả đêm đó trời đầy giông bão, sấm chớp ầm ầm. Chúa tể của chư thần đưa Alexander từ một công vương Macedoin hẻo lánh lên tầm Đại Để làm chủ cả hai châu lục.
Thông điệp của Alexander có thể bắt đầu chỉ đơn giản là "nếu ta không làm được cũng đừng hòng có ai làm được". Tuy nhiên, điều đó đã đưa đến một lời giải tuyệt vời, cho đến nay chúng ta vẫn còn phải học để chặt phăng nhưng vòng nhân quả vô tích sự kéo giãn bên này thì thít chặt bên kia. Cứ ngẫm mà xem, lời giải vung gươm chặt phăng những cái nút luẩn quẩn sẽ giải quyết vô khối vấn đề của cuộc sống do chính chúng ta tạo ra với ảo tưởng của mình.

  

Thứ Tư, 4 tháng 3, 2015

Thảm họa điểm lùi và tình thế "lang bạt kỳ hồ"

Có những người dù cố sức đến mấy cũng không thể tiến lên được, có những xã hội có cố gắng bao nhiêu cũng không thế tiến hơn được. Có một số thuyết cho rằng những người đó, xã hội đó đã đến ngưỡng bão hòa. Điều lý thú hơn là ở chỗ, cũng những người đó, xã hội đó có những đặc trưng, thường được cho là các giá trị đánh giá, không khác gì những người, xã hội tiến bộ hơn. Vậy sự khác biệt là ở chỗ nào? Và quan trọng hơn là thái độ của chúng ta đối với những tình huống đó. Phải tìm cách tự hài lòng, đợi thời thế thay đổi do một thượng đế ban phát cho ư, hay lại nghĩ ra một thuyết gì mới để chứng tỏ ta ưu việt, hệ thống đánh giá có vấn đề.

Trong Toán học có một mô hình rất đơn giản để phân tích tình huống này gọi là Thảm họa điểm lùi (Cusp Catastrophe), rất giống hình tượng "lang bạt kỳ hồ" mà tôi đã phân tích một lần: Con cáo già tiến lên thì dẫm phải yếm ngực, lùi thì dẫm phải đuôi, tình hình kẹt cứng. Thảm họa điểm lùi được nhà toán học Zeeman đề xuất năm 1976, để mô tả trạng thái tâm lý, sau đó được nhiều người giải thích về sự phát triển của doanh nghiệp, xã hội và nhiều lĩnh vực khác.

Cơ sở của Thảm họa Điểm lùi là một nhánh rất phức tạp trong lý thuyết tô pô, với rất nhiều khái niệm phức tạp, tuy nhiên có một mô hình cụ thể rất dễ hiểu đối với mọi người có kiến thức phổ thông về toán như trong hình sau đây:


Giả sử một hệ thống (có thể là một con người, tổ chức hay một xã hội) được đặc trưng bằng 2 tham số năng lực nội tại trên mặt phẳng ở dưới đáy của hình vẽ trên.  Chỉ số giá trị khách quan về hệ thống đó nằm trên trục vuông góc với mặt phẳng đó. Và có một mặt gấp khúc như trong hình vẽ. Hệ thống đó xuất phát từ điểm thấp nhất và bắt đầu tiến lên, bằng cách phát triển năng lực của mình. Những hệ thống húc đầu vào nhánh dưới của mặt gấp khúc, cuối cùng sẽ tiến đến những điểm "lang bạt kỳ hồ" không tiến lên được nữa.

Một số người có thể so sánh năng lực nội tại của mình với những người thành công hơn nhiều và thấy mình không hề thua kém, có thể còn vượt trội hơn, nhưng cuối cùng giữa hai loại người vẫn là sự khác biệt lớn lao. Nói nghe có vẻ quá khích, nhưng thực tế có những kẻ dở hơi, cám hấp hay điên khùng, có những tố chất không khác gì thiên tài. Các hệ thống khác như tổ chức, doanh nghiệp, xã hội hay quốc gia cũng đều có thể vấp phải tình thế "lang bạt kỳ hồ" như vậy. Khi đó mọi nỗ lực tiến về phía trước đều vô nghĩa. Người ta có thể than thân trách phận, trách đời bất công, hoặc các thế lực bên ngoài chống phá. Thực ra vấn đề chính là nằm ở hệ thống đó. Không phải chỉ có năng lực là quan trọng mà con đường phát triển năng lực để đi lên cũng là quan trọng trong tình huống này. Một con đường khác sẽ dẫn tới nhánh trên của của diện Zeeman sẽ không có cản trở nào và có thể tiếp tục tiến lên dễ dàng và mãi mãi. Con đường đó đã tránh được nếp gấp trên diện Zeeman là nguyên nhân của "lang bạt kỳ hồ" khổ sở này.

Vấn đề là ở chỗ, người ta hay một xã hội không chọn trước được cho mình được đường đi mà hay bị dẫn dắt bởi các động cơ sáng tạo hoặc cảm tính, thấy tiện là đi. Điều đó cho thấy rằng những người chuyển động theo "second mover", giống như những người leo núi bám sát người đi trước có một chiến lược an toàn hơn so với những người tìm một con đường "đi tắt đón đầu" hay "sáng tạo trong hoàn cảnh" để húc đầu vào tình thế "lang bạt kỳ hồ". Vấn đề có lẽ quan trọng hơn là những người, tổ chức đã mắc vào trạng thái "lang bạt kỳ hồ" cần phải làm gì? Muốn tiến lên lâu dài chắc chắn phải lùi lại. Chắc chắn là đau buồn, tiếc nuối nhưng không có cách nào khác. Nếu có sức nâng được đuôi lên thì tốt, nếu không cũng đành phải cắt đuôi, hoặc ngồi ở đó cả đời. Sẽ không có ai, dù là Thượng đế hay Thần may mắn, đến cứu mình được.

Trong nhiều tình huống thực tế diện Zeeman có thể khác chút ít. Có thể từ xuất phát điểm hướng ngay về các điểm Thảm họa Điểm lùi sẽ tạo sự tăng trưởng nhanh hơn, trong khi theo hướng lên có thể tăng trưởng chậm hơn thậm chí có thể đi xuống. Mô hình này cho thấy với phát triển lâu dài, chọn con đường là quan trọng chứ không phải ở việc thể hiện các năng lực và đánh giá trước mắt.

Số phận của một dân tộc cũng vậy, có thể thỏa mãn, tự hào với những năng lực mình đang có, nhưng con đường đến được với những năng lực đó, thể hiện ở nền văn hóa, hệ thống giá trị cũng rất quan trọng. Theo một cách hiểu nào đó, văn hóa, hệ thống giá trị là những thứ mà một dân tộc nhặt nhạnh, tích lũy trên con đường đến hôm nay. Cố nhiên đã mang nặng đẻ đau sẽ có lòng yêu thương quyến luyến. Nhưng đôi khi cũng phải dứt bỏ để có thể tiến lên, đặc biệt khi đã ở trong tình huống Thảm họa Điểm lùi.

Có lẽ câu hỏi quan trọng hơn cả của mỗi người, tổ chức, xã hội hay quốc gia, là khó khăn trước mắt đã phải là "lang bạt kỳ hồ" hay chưa. Tôi xin để dành câu hỏi này cho mọi người cùng suy nghĩ.

Thứ Tư, 25 tháng 2, 2015

Dụng công tìm hiểu chữ nghĩa qua một cặp câu đối đang có nhiều bàn luận

Mấy hôm nay không hiểu sao trên mạng lại rộ lên chiến dịch ném đá cụ giáo sư già Vũ Khiêu. Là người nổi tiếng, có nhiều danh vọng, tước vị, thiết tưởng cũng phải đủ sức chống chọi. Vì vậy bênh vực cụ Vũ Khiêu là không cần thiết. Không khéo người ta lại tưởng mình xu phụ quyền thế, nịnh hót Thủ tướng chưa biết chừng.
Dù đúng dù sai việc phản biện các nhân vật lớn cũng là đáng khen. Tuy nhiên, lý luận gì cũng phải đúng và chính xác. Nhân Tuấn Công Thư Phòng, một blog cá nhân của Hoàng Gia http://tuancongthuphong.blogspot.com/2014/09/ve-oi-cau-oi-thu-tuong-tang-gs-vu-khieu.html giải thích về một cách hiểu một cặp "câu đối" của Thủ tướng tặng Giáo Sư Vũ Khiêu, tôi muốn đưa ra một cách hiểu khác.
Theo các bình luận trên mạng được Tuấn Công Thư Phòng (TCTP) phân tích lại cho có vẻ có cơ sở chữ nghĩa một chút thì "cặp câu đối" "Sơn Hà Linh Khí Tại/ Kim Cổ Nhất Hiền Nhân" vừa không chỉnh lại vừa sai về ý, đề cao quá đáng một cách dốt nát thành ra ý phúng viếng. Theo TCTP thì 99,9% khả năng mặt chữ Hán của cặp câu đối trên là 山河靈氣在, 今古一賢人 và phải hiểu với các nghĩa từ điển như sau:
     1. Sơn hà 山河= núi sông
     2. Linh khí 靈氣=“Khí thiêng” tương đương với từ Hán Việt "linh khí".
    3. Tại = "ở,còn"
    4. Kim cổ 今古: từ xưa tới nay. 
    5. Nhất : đứng đầu; một; duy nhất.
    6. Hiền nhân 賢人: bậc tài đức kiêm toàn.
Cần phải nói ngay, nếu luận ra mặt chữ thế này, thì không cần kiến thức cao siêu, học sinh lớp 6 ngày nay ở trường làng cũng biết là câu đối không chỉnh. Nhưng chuyện này sẽ phân tích sau. Tạm công nhận cách suy đoán mặt chữ này, thì việc dịch nghĩa đã có không khách quan mà ngả theo dư luận chung trên mạng. Đặc biệt, TCTP đã chọn nghĩa cho chữ nhất là "đứng đầu, duy nhất" và Kim cổ là "từ xưa tới nay" là một trạng từ, làm việc suy tôn có phần thái quá và làm "câu đối" càng không chỉnh. Thực ra, dù theo cách luận mặt chữ này, nhất chỉ có nghĩa là "một", kim cổ nếu là một danh từ chỉ "(Chuyện) Xưa Nay" hay "Di sản" (Heritage, theo từ điển Trung-Anh). TCTP không hiểu vô tình hay cố ý không chọn nghĩa "hãy còn" cho chữ tại  và chọn chữ ở rồi kết luận vế một có nghĩa là "ở trong khí thiêng của núi sông" để kết luận là văn phúng viếng cho một chủ thể ẩn (người được tặng???). Nếu chọn chữ "hãy còn" thì ý vế đầu chỉ là "Linh khí núi sông hãy còn" hoặc "Núi sông hãy còn linh khí" tùy theo phân tích câu chủ vị "Sơn hà Linh khí - Tại" hay "Sơn hà - Linh khí tại". Vế thứ hai dù phân tích ra sao cũng chỉ là "một nhà thông thái (chuyện) kim cổ"  chứ không phải là "bậc tài đức kiêm toàn đứng đầu từ cổ chí kim" (Nếu quả như thế thì cần phải viết rõ "Cổ kim đệ nhất hiền nhân"). Xem ra, TCTP luận văn tự chẳng khác mấy tay đề lại thời Thanh xử án văn tự về câu "Thanh phong bất thức tự". TCTP cũng có bàn luận những khả năng 0.1% râu ria như "hà" có thể là "ráng mây chiều", "cổ" là trống để kết luận là vô lý. Nếu theo cách đó thì còn hàng trăm tổ hợp với nhiều nghĩa khác nhau của mỗi âm tiết nữa.
   Tuy nhiên, tôi xuất phát từ ý tưởng là mấy chữ Hán Việt này cũng không có gì là cao siêu, luật đối cũng không phải là điều gì quá khó với một người có kiến văn trung bình. Việc Thủ tướng tặng chữ, ắt phải có chuyên gia không tồi phụ trách và thẩm định kỹ càng. Vì vậy, nếu giả thiết đây là một cặp câu đối thì mặt chữ phải là 山河靈氣在,今古一賢因 và Kim Cổ phải là một danh từ. Đặc biệt, chữ Nhân có nghĩa là "nhờ vào". Như vậy có ứng với hay cách phân tích chủ vị nêu trên chỉ có hai cách hiểu khá đối nhau về cả ý và chữ "Linh khí núi sông hãy còn / Nhờ cậy một người thông kim cổ"  hoặc "Núi sông hãy còn linh khí/Chuyện xưa nhờ cậy một người hiền". Tuy là ý tán dương, nhưng không đến nỗi độc tôn phạm thượng.
    Về luật bằng trắc chỉ có mỗi âm tiết Sơn và Kim không đối vận. Nhưng luật bằng trắc ngay cả trong văn tự Hán cũng không đòi hỏi 100%. Chẳng hạn, có thể xem một sưu tập 500 câu đối chữ Hán được cho là "hay nhất" http://www.vnthidan.com/500-cau-doi-chu-han-suu-tam-t6361.. thì có rất nhiều câu không đối bằng trắc 100%. Kể cả âm vận thì câu đối trên cũng không phải tồi. Đó là vấn đề kỹ thuật, còn nội dung hay hay dở, thâm thúy hay vụng dại, tôi xin dành cho các bậc cao nhân. 
   Thế mới biết trong việc dịch thuật, giải thích chữ nghĩa, định kiến, suy đoán (nói cho đúng là "bịa") có hại đến mức nào. Định kiến làm người ta không còn thận trọng tra cứu kỹ càng và đặc biệt không còn tỉnh táo, tôn trọng người viết nữa. 
     Vấn đề này phân tích ra không phải để phục vụ một mục đích "vị nhân sinh" nào ngoài chuyện chuyên môn về dịch thuật, chữ nghĩa kể cả bênh cụ giáo sư, xu nịnh Thủ tướng hay lấy oai. Tuy nhiên, sau khi tìm hiểu mới biết. Mặt khác, tôi cũng muốn nêu vai trò của công nghệ thông tin: Một người trình độ chữ nghĩa Hán và Việt rất hạn chế như tôi, với sự giúp đỡ của các công cụ phần mềm (và tất nhiên có cả chịu khó) có thể phân tích vấn đề chữ nghĩa ở một mức nào đó.
    Sau khi tìm hiểu câu đối này tôi mới được biết, việc ném đá GS Vũ Khiêu không chỉ ở câu đối này mà còn có cả việc ông tặng một cặp câu và hôn má hoa hậu Nguyễn Cao Kỳ Duyên. Vì thế tôi mới vỡ lẽ ra rằng "ném đá" mới là nội dung chính, còn việc chữ nghĩa chẳng qua là công cụ tiện tay vớ được thì dùng chứ đâu có phải là nghiêm chỉnh. Vì vậy, tôi cũng xin phép không bàn luận thêm ở đây, chỉ xin nói thêm một câu "Chân lý chỉ có thể có được với các lý lẽ hoàn toàn trong sạch".

Chủ Nhật, 18 tháng 1, 2015

Ngụy biện và Charlie Hebdo

Thế giới chia làm hai phần. Có những người lên án việc bọn khủng bố Hồi giáo tàn sát những họa sĩ châm biếm làm việc cho tờ Charlie Hebdo, đa số là những người tử tế và những người cực đoan, bênh vực bọn này.
Số những người lên án bọn khủng bố lại chia làm hai. Có những người kịch liệt ủng hộ Charlie Hebdo, cho Charlie Hebdo đúng hoàn toàn và những người không nghĩ thế. Hai nhóm người này lại chia tiếp tục chia thành các nhóm nhỏ hơn. Việc đó không có gì đáng nói. Thế giới này sở dĩ thú vị vì kể từ khi biết thế nào là tự do, người ta chấp nhận các cách nhìn nhận khác mình. Loài người là một loại động vật tồi tệ nhất kể từ khi cho phép mình tiêu diệt đồng loại chỉ vì khác biệt ý kiến về một vấn đề.
Tuy vậy, ít ai để ý tới sự gian manh, quỷ biện của Charlie Hebdo. Tờ báo này cố tình dùng phép ngụy biện, đồng nhất một số vấn đề, một cách vô lương. Trước hết họ đánh đồng việc châm biếm, khiêu khích tín đồ Hồi giáo của họ với bảo vệ tự do. Tự do của nắm đấm của chúng ta bắt đầu ở ở chỗ mũi của người khác chấm dứt. Nếu chúng ta hoa chân múa tay đấm đá vào khoảng không trước mũi của người khác 1mm, tuy vẫn là việc tự do cho phép, nhưng đã là một việc khiêu khích, người văn minh yêu tự do, không nên làm. Hãy tưởng tượng, một người giả bộ khập khiễng trước mặt người què để làm vui, nhai mỡ lợn sấy nhồm nhoàm trong nhà thờ Hồi giáo, hay in ảnh người thân đã khuất của bạn lên giấy vệ sinh và cho rằng đó là hài hước là tự do. Đó chính là khiêu khích. Khiêu khích không những vô văn hóa mà còn ngu xuẩn. Trêu chọc một kẻ điên khùng, kích động một con bò điên hay chó dại, giơ đầu ra đi dưới giàn giáo có đá rơi, rồi cho mình là tự do hay anh hùng. Khiêu khích để người ta phạm tội, chính mình cũng sẽ có tội.
Ngụy biện thứ hai có phần bất lương hơn là Charlie Hebdo đồng nhất bản thân tòa báo với những họa sĩ bị giết. Các họa sĩ bị giết là người làm công cho Charlie Hebdo, họ bị giết gia đình của họ mất người thân. Charlie Hebdo nhờ sự kiện mà thu hút người quan tâm tăng vọt, khả năng thu lợi khổng lồ. Quyền lợi khác, vì thế khác làm sao là một được. Điều bất lương ở chỗ Charlie Hebdo có biết trêu chọc con bò điên, đi dạo dưới đá rơi hay khiêu khích Hồi giáo là nguy hiểm tới tính mạng hay không. Sau sự kiện 11/9, nếu ai không biết đến sự nguy hiểm của các tín đồ Hồi giáo cực đoan, có lẽ họ sống trongg rừng hay trên hành tinh khác chứ không phải ở Paris. Nếu đã biết điều đó, Charlie Hebdo vẫn đang tâm bỏ mặc các nhân viên của mình đi vào chỗ chết. Đó là hành động gì.
Điều bất lương thứ ba là việc Charlie Hebdo vẫn cố tình ngụy biện nhân danh tự do, dùng những người đã chết để kiếm lợi ích truyền thông.
Tôi không nói về nhận thức của Charlie Hebdo về tự do, về tôn giáo và văn hóa. Tôi không hy vọng có cái gì như thế. Nhưng những người hôm nay tự xưng "Tôi là Charlie" hãy nghĩ về phép ngụy biện và tự do chân chính.

Thứ Hai, 8 tháng 9, 2014

"Đầu trứng to" hay "4 lần 8"? Phiếm luận về tranh luận của sĩ phu Việt

     Trong tác phẩm "Gulliver du ký" có đoạn kể chuyện tại một xứ sở nọ có một cuộc tranh cãi về việc khi ăn trứng phải đập đầu trứng to hay đầu trứng nhỏ. Mới đầu là tranh cãi, sau đó hình thành phe nhóm, chính đảng để đấu tranh cho chân lý mà mỗi bên quan tâm. Thảo luận nghị trường cũng trở thành việc đấu đá cho cái chân lý vốn dĩ phụ thuộc vào cách rặn đẻ của con gà mái. Sau một thời gian dài không ngã ngũ, vấn đề nhạt dần, chủ yếu do dân chúng thấy chán ngấy với chủ đề đầu trứng, tại xứ sở nọ lại nảy sinh ra vấn đề để dép bên giường ngủ. Một bên cho rằng phải để dép đầu trở ra ngoài, để hôm sau dậy xỏ dép cho nhanh. Bên đối lập chủ trương đầu dép trở vào trong để tuột dép chui vào giường cho nhanh. Suy rộng ra thì một bên hướng tới công việc, một bên hướng tới hưởng thụ. Thế là một cuộc đấu tranh xã hội nữa lại nổ ra.
    Đối với người từ ngoài trông vào như anh chàng Gulliver, mọi sự có vẻ vô nghĩa và hài hước, nhưng đối với những người dân ở xứ sở nó đó là một cuộc tranh luận chính trị, xã hội thậm chí khoa học vô cùng nghiêm túc.
    Chúng ta đã có những cuộc tranh luận "văn học vị thuật vị nghệ thuật hay vị nhân sinh", "hiện thực hay văn học cao hơn", "lãng mạn hay hiện thực", đã lôi cuốn cả xã hội, những trí tuệ tinh hoa vào trò chơi mà ngôn ngữ láu cá đã đặt bẫy cho con người sụp vào. Những cuộc chơi trí tuệ đáng lẽ chỉ nên dùng để tiêu khiển, vây vo với các quý bà, quý cô, được nâng cấp thành vấn đề của đám đông, động lực chỉ còn sĩ diện thắng thua, cuối cùng không được kết thúc bởi giải pháp mỹ mãn nhưng có phần ngây thơ của Andersen với tư cách lời "Hoàng đế cởi truồng" từ miệng của một chú bé. Không có chú bé nào cả, vì xã hội của chúng ta không được xây dựng một cách thông minh như thế.
     Đến tận thế kỷ 20, những vấn đề như vậy đều phải kết thúc bởi nắm đấm. Chân lý vẫn được định đoạt tốt nhất, triệt để nhất bằng phương pháp của Trương Phi "Nói nhiều vô ích, có giỏi đánh nhau ba trăm hợp." Chiến tranh, cải cách ruộng đất, tổ chức,...đã thay bút mực, trí tuệ giải quyết vấn đề đến tận gốc, có lẽ mục tiêu của những cuộc tranh luận như thế không phải là vấn đề đang bàn. Những người to mồm nhất cũng thông suốt, và cũng nhờ thế mà hôm nay một chú bé lớp 3 cũng có thể thấy những vấn đề tranh luận là vô nghĩa, nhân sinh có thể đứng cùng nghệ thuật, văn học đua sắc với hiện thực, lãng mạn và hiện thực đều có thể dùng để phát biểu cảm xúc, thái độ. Nói cho cùng, sức mạnh vật lý vẫn là một giải pháp định lượng công bằng hơn nhiều so với những trò ném đá giấu tay trong hậu trường nền của tranh luận giấy bút. Với những vấn đề to lớn như thế thì các bài toán "thuyền trưởng" hay "chuồng gà" chỉ là những trò lặt vặt nhãi nhép.
     Dân gian ta có chuyện trò ăn bánh của thầy. Thầy bắt bẻ trò, đi trước cũng sai, đi ngang cũng sai, đi sau cũng sai, cái nào cũng có lý luận sách vở đàng hoàng. Trò phải lật bài ngửa "thày dạy con phải làm thế nào ạ". Kể ra giải pháp của trò cũng đã thông minh. Nhưng câu trả lời của thầy lại là một câu hỏi "Thế bánh tao đâu?" Giá trò biết được chân lý này đã không phải chịu tuế toái, phiền phức, lao tâm khổ tứ nghĩ mẹo đối phó với thầy. Thế mới biết cậy vào trí tuệ bao giờ cũng phải trả giá mà cuối cùng vẫn đi đến cùng một kết cục.
      Liệu tranh luận, rèn luyện trí tuệ bằng vấn đề "4 lần 8" có giúp sĩ phu dương thanh, ngự thế  giúp dân làm được ra cái ốc vít hay không. Nếu được, xin mời các ngài cứ tiếp tục ạ.

Thứ Bảy, 2 tháng 8, 2014

Tư duy và tình cảm của phụ nữ và đàn ông khác nhau thế nào?

       Có một anh bạn tôi nói một câu "Bọn đàn ông thường sai lầm vì không biết rằng phụ nữ xếp tư duy và tình cảm của họ vào một cái tủ không có ngăn kéo". Câu nói này đúng sai thế nào, tôi đã phải chiêm nghiệm hơn ba mươi năm và vẫn còn phải nghĩ thêm. Nhưng về mặt lý thuyết, đáng để phiếm luận, nhân dịp sáng nay tôi vừa dùng câu đó để nhắc nhở một cô bé. Xin chị em đừng vội kết luận, tôi viết bài này để phê phán phụ nữ. Vấn đề của nam giới là ở họ có quá nhiều ngăn, biến tư duy và tình cảm trở thành các lô cốt với vô số ổ đề kháng. Chính vì thế mà theo một thống kê, tuổi thọ trung bình của nam giới thường kém nữ giới. Mặt khác, đây cũng là dịp để các đấng mày râu có cơ hội lập công với chị em. Tất nhiên do tư duy "ngăn kéo" mà số các anh hiểu ra được việc đó không nhiều. Toàn bộ bài Văn hoá Luộc (Xem ở đây) tôi chỉ nhận được một lời cảm ơn của một gentleman theo đúng nghĩa. Bài Beauty and the Beast (Xem ở đây) cũng được một lời cảm ơn, nhưng tiếc thay lại từ một nhà khoa học nữ.
         Trở lại chủ đề phụ nữ cất tư duy và tình cảm vào một cái tủ không có ngăn kéo sẽ có hệ quả thế nào. Cố nhiên sẽ có những hệ quả kiểu như để mắm tôm và sô cô la không gói kỹ trong tủ lạnh. Khi ăn sô cô la sẽ thấy thoang thoảng vị mắm tôm. Khi ăn bún đậu, hay chân giò luộc ta sẽ nhớ đến sô cô la. Biết thế thì đừng bao giờ nên cãi lý với một người phụ nữ, nhất là khi người vợ đó có một số quyền lực tuyệt đối đối với ta như mẹ, em gái, người tình, vợ hay con gái. Trong đó cố nhiên đáng sợ nhất là người tình và vợ, với những vũ khí kiểu như "Anh nghĩ A chứng tỏ anh là B".  Đừng có bảo phụ nữ không có năng lực logic. Logic của họ cao siêu, đúng lý thuyết, áp dụng chính xác và sáng tạo ranh mãnh hơn đàn ông chúng ta nhiều. Đàn ông chẳng qua là một loài động vật huyênh hoang thực chất là nô lệ cho logic chứ đâu có làm chủ được nó. Tôi đã từng bị quy tội là "vô tri vô giác" chỉ từ tam đoạn luận tuyệt vời thế này: "Anh có biết A (một việc bé như đầu đũa)?" --"Không biết A là vô tri A"--"Anh là người vô tri vô giác".  Cái hay của phụ nữ là họ lập luận logic theo kiểu lấn chiếm đất đai, mỗi ngày chỉ lấn vài cm, thay vì thực hiện logic đỏ mặt tía tai trong vòng một phút như đàn ông. Binh pháp kiểu này đến Đức Thánh Trần cũng đã từng chịu là không có cách gỡ.
       Khi nói lý phụ nữ họ hay "rút nhầm" tình cảm ra để đối phó, nên các anh đàn ông tưởng là phụ nữ chỉ thạo về tình cảm. Sai lầm to. Phụ nữ là loài động vật lý trí hơn đàn ông rất nhiều. Những khi anh đàn ông vì tình cảm mà tê liệt lý trí, là khi lý trí của phụ nữ hoạt động mạnh nhất, theo đúng nguyên tắc của võ học Vịnh xuân: phát lực cực đại khi kình lực của  địch thủ cực tiểu. Khi anh đàn ông đang ngây ngất trong mùi Chanel 5, say sưa hứa hái cả mặt trăng xuống cho em là khi người phụ nữ đang suy tính xem người lãng mạn ba hoa hơn hay người chân chất thực dụng hơn hoặc mặt trăng nào to nặng hơn. Trong phòng the người phụ nữ cũng phải tính toán ngày mai đi chợ bằng gì. Tôi nghĩ rằng đó là tố chất vĩ đại của người phụ nữ và ưu thế của cái tủ một ngăn.
       Tủ một ngăn của phụ nữ không chỉ trộn lẫn tư duy với tình cảm, còn trộn lẫn các vấn đề tư duy và trộn lẫn các loại tình cảm. Tôi thực sự thán phục khả năng liên tưởng của phụ nữ giữa các vấn đề rất xa nhau. Đã từng có chuyện một kết quả toán học chứng minh dài dòng, bị một bà nội trợ chỉ ngay ra chỗ sai. Tuy thế, tôi khá e ngại việc trộn lẫn các loại tình cảm, mặc dù một số anh đàn ông láu cá có thể lợi dụng việc trộn lẫn này. Đôi khi phụ nữ bắt đầu bằng lòng thương hại, kết thúc bằng một tình yêu, hoặc ngược lại bắt đầu bằng một tình yêu kết thúc bằng một sự khinh bỉ. Đọc một cuốn sách viết  những bí mật trong các fantasies tình cảm của phụ nữ, nam giới sẽ phải ngạc nhiên về những món cocktail rất lạ lùng.
      Vấn đề của đàn ông lại là có quá nhiều ngăn tủ để cất giữ tư duy và tình cảm. Thành thử, tâm hồn của đa số đàn ông giống như dãy xà lim biệt giam chuồng cọp ở Côn Đảo. Kết nối chúng lại rất khó khăn. Đôi khi người đàn ông cố gắng mở các xà lim đó một cách rất tội nghiệp và buồn cười. Cũng có đôi người có tư duy rất vĩ đại và táo bạo mới có thể thành công. Chẳng hạn Richard Feynmann có kể lại là ông đã chuẩn bị rất kỹ cho một thí nghiệm vĩ đại về phụ nữ, trước một buổi tối ông khiêu vũ với cô em gái xinh đẹp của một người bạn. Theo kịch bản, ông sẽ phải đưa ra một đề nghị khiếm nhã và sẽ phải đưa ra một giải pháp mà ông cho là rất thông minh để khắc phục sự khiếm nhã đó. Vào cuối bản slow, ông lấy hết can đảm đề nghị "Đêm nay cô sẽ về với tôi chứ?" Câu trả lời đảo lộn mọi dự tính của Feynmann là "Yes".
     Ngoài cái ngăn tủ không có ngăn và nhiều ngăn ra, tư duy và tình cảm của phụ nữ và đàn ông về đại thể cũng như nhau. Rất nhầm nếu người đàn ông nghĩ rằng chỉ đàn ông mới poligam còn người phụ nữ thì phải monogam. Đó là chỉ là lý luận thường thấy ở người phụ nữ mà thôi. Và lý luận đó cũng đã trộn nhiều tình cảm.

Thứ Bảy, 21 tháng 6, 2014

Chuyện phiếm về các dấu trong văn viết

     Các dấu trong văn viết biểu thị tình cảm, hình thái, văn cảnh, điều chỉnh mạch văn, sắp xếp ý cho có ngăn nắp, tránh hiểu lầm,... vốn không phải là phát minh của văn minh châu Á, Hoa Hạ và cố nhiên càng không phải là sáng tạo của Việt Nam. Nói cho cùng, nếu không sử dụng bộ chữ La Tinh, vốn phát minh ra ở Âu Châu, thì có khi chưa có Thơ Mới, Tự Lực Văn Đoàn, Tiểu thuyết Thứ Bảy, văn học cách mạng,... Có thể nhân tiện kể luôn cả văn học phản động vào đây, vì vốn ngôn ngữ chẳng có lập trường. Có chăng là những cuốn tiểu thuyết với giọng như tuồng cải lương với những "thế ru", "há chẳng",...
    Cho đến nay đọc văn Tàu mới thấy, họ dùng các dấu trong câu rất kém, kém xa người Việt, chất lượng tồi, dùng không chuẩn xác, câu thì dài lê thê, với các mệnh đề chẳng ăn nhập gì với nhau, luộm thuộm chẳng khác một mụ già hàng cá lắm điều ngồi kể lể từ chuyện cá mú ươn sang chuyện con mèo hàng xóm sang ăn vụng nồi cá kho nhà mình. Âu cũng là cái hiếm hoi chúng ta có thể tự hào, biết đâu lại là lối ra mà chúng ta có thể nhanh chân bứt hẳn khỏi anh láng giềng cú đỉn khó chịu. Không phải là tất cả, nhưng đại đa số các ưu thế hiếm hoi của chúng ta với anh láng giềng này đều có xuất phát từ trời Tây.
     Trước khi cao đàm khoát luận về những vấn đề "vu khoát" mà đa phần đều dẫn về một điểm bế tắc chung, chúng ta hãy trở lại chủ đề chính, là chuyện sử dụng những dấu trong văn viết. Điều kỳ lạ là không ai để ý tới việc sử dụng các con dấu, ngay cả trong nhà trường cũng chẳng biết năm nào khi nào thì người ta dạy cách dùng dấu. Tôi dám đánh cuộc là chẳng có sách vở nào nói đầy đủ về quy tắc sử dụng các dấu như chấm, phảy, xuống dòng, chấm phảy, chấm than, chấm hỏi, ngoặc đơn, ngoặc kép,... Rồi chúng ta phê phán, sửa lỗi, dạy bảo nhau, cũng chẳng dựa trên quy chuẩn nào. Hoàn toàn kinh nghiệm và cảm tính.  Có một giáo sư Việt Kiều khá nổi tiếng, thành danh về chuyên môn xong xuôi khi còn trẻ, nên anh bỏ thời gian đáng kể để dạy dỗ lớp trẻ, phê phán lớp già người Việt về viết văn. Nhưng có lần anh sử dụng dấu phảy sai một cách có hệ thống, tôi góp ý (theo yêu cầu của anh), thì anh ta tự ái đến mức phản ứng, và khi tôi giải thích rõ anh chẳng buồn cảm ơn một câu cho lịch sự. Chuyện chữ nghĩa ở ta còn ở mức phân định theo cảm tính, mà đã cảm tính thì đi liền với tự ái, chầy cối, có khi thù hằn, chiến tranh, tìm cách hủy diệt nhau như chơi.
    Có người bảo dùng các dấu dễ, chẳng cần học: Này nhé, dấu chấm dùng để ngắt câu. Câu là phức hợp là gồm các mệnh đề có liên quan chặt chẽ với nhau. Ấy thế mà dịch các câu tiếng Việt ra tiếng Anh, kể cả các đề tài chính trị, văn chương hay khoa học rất nhiều khi phải dịch một câu thành ba bốn câu mới đúng quy định hành văn tiếng Anh. Thuở tôi mới về Việt Nam, cũng mấy lần được vinh hạnh viết diễn văn cho lãnh đạo. Các câu văn của tôi thường ngắn gọn, ít tán thán, thường bị chê là văn Tây. Sau đó được khen có tiến bộ với một cải tiến nhỏ, cố gắng đừng chấm câu 2,3 lần trước khi chấm một câu, thế là rõ văn Việt. Đơn giản, cứ như tụt giày Tây đi dép lê, kéo áo sơ mi ra ngoài quần, xắn ống tay quá khuỷu, xỉa răng toành toạch... là hòa đồng với văn hóa Việt.
     Đọc văn Tàu mới thấy, bản năng hướng Hoa của người Việt ta nó mạnh đến mức thành bản năng ở cả chi tiết nhỏ, đến nỗi ngẫu nhiên đi nhanh hơn được có chút lợi thế cũng phải đi chậm lại, vứt bỏ lợi thế để hướng về phía anh bạn láng giềng. Có lẽ cũng nên làm một nghiên cứu nhỏ thống kê về các câu dài lê thê trong tiếng Việt, tiếng Tàu để so sánh với cách viết tiếng Anh.
    Bạn có thể nói tôi là đang làm to chuyện, có mỗi chuyện dấu chấm. Tôi có thể bảo đảm là việc dùng dấu phảy cũng có vấn đề, đặc biệt sử dụng dấu xuống dòng là một xa xỉ phẩm. Nếu nhìn vào văn bản, có thể đánh giá, ít nhất 95% sinh viên, học sinh, trí thức có bằng cấp học vị, không biết sử dụng dấu xuống dòng để làm gì. Đơn giản, thích xuống thì xuống, nhiều khi chỉ vì lý do mỹ thuật.
     Sử dụng dấu phảy, dấu chấm và dấu xuống dòng sai không đơn thuần là vấn đề chính tả mà là vấn đề tư duy. Sử dụng sai lâu ngày, tư duy cũng bắt đầu luộm thuộm, sai hàng lối, nghĩ nói như người Tàu mà không hay.
      Một vấn đề tinh tế hơn, không đến nỗi khẩn cấp, nhưng lấy ra làm ví dụ: Bạn hãy thử hỏi 100 người xem: khi dấu ngoặc kép và dấu chấm câu đứng liền nhau thì dấu nào để trước. Tôi thực sự lấy làm mừng cho tương lai của tiếng Việt, nếu có 10 người chắc chắn được là nên làm thế nào. Chỉ mười phút trước khi viết những dòng này, tôi vừa phát hiện một anh bạn thân, một đại trí thức, biết vài thứ tiếng, chuyên nghề chữ nghĩa, sử dụng sai một cách có hệ thống. Đó không phải là vấn đề "anh sai tôi đúng". Sai sót là chuyện thường, ắt tôi cũng không phải là ngoại lệ. Nhưng khi các đại trí thức đều sai, thì lỗi không phải tại họ mà là lỗi của một cộng đồng, không có chuẩn mực không có hệ thống giá trị
     Một dân tộc, một tầng lớp trí thức không hình thành được hệ thống chuẩn mực từ cái nhỏ, đến tiêu chuẩn đánh giá đúng sai, xấu đẹp, dân tộc đó sẽ còn bất hạnh, tầng lớp trí thức đó nên tập trung về việc bón ruộng. Vì trí thức không đoàn kết sẽ bị người có quyền, có tiền chia rẽ lợi dụng sai kiến mua rẻ. Dân tộc sẽ chia lìa, không có giềng mối, ắt sinh ra bọn Mạc Thúy, Mạc Viễn, Nguyễn Huân, Trần Quốc Kiệt.
      Nhưng dù sao, chúng ta cũng phải chấp nhận một thực tế là không có chuẩn. Căn cứ vào đâu mà nói đúng nói sai. Có lẽ đến đây phải nhớ lại là các dấu văn bản là do người Âu nghĩ ra. Khi trò bí không gì bằng hỏi thầy, trừ phi chúng ta quyết tâm không làm những việc do thầy dậy, quay lại với thẻ tre và những kiệt tác không hề ngắt câu, để các thế hệ học giả còn có việc "không đàm", trốn việc cầm lấy mỏ hàn, bàn phím để khỏi làm ra sản phẩm hữu hình, mà vẫn được danh vọng cao siêu.
      Quy tắc ở Châu Âu rất đơn giản, gần như nhất quán: Nếu trong dấu ngoặc kép là một hoặc nhiều câu trọn vẹn, thường là một đoạn trích dẫn, dấu chấm câu sẽ luôn luôn đi trước dấu ngoặc kép. Nếu trong ngoặc chỉ là một từ, đoạn câu hoặc ý "nháy nháy" đứng ở cuối câu, dấu chấm sẽ đứng sau dấu ngoặc kép. Tất nhiên quy ước này dựa trên lý luận và cách tư duy cẩn thận. Để đạt được cách tư duy, hiểu được lý luận là một chuyện khó, dài dòng, nhiều khi lại bị quy là "viển vông" hay "không đàm ngộ quốc". Đơn giản nhất là cứ quy ước.
        Nhân đây có một câu hỏi, có thể làm nhiều người nổi quạu (Mời ra hàng cam mua vài quả về bóp chơi, tôi xin thu mua vỏ nguyên trái): Giới ngôn ngữ nghiên cứu những gì suốt mấy chục năm nay mà không có ai quan tâm đến những vấn đề quan trọng và đơn giản như vậy?
        Trộm nghĩ, giới ngôn ngữ học không phải là ngoại lệ, nên ắt cũng mắc căn bệnh chung của giới học giả Việt Nam, một giới học giả có nhiều nét giống nhà cầm quyền hơn là trí thức. "Cao thì chê là viển vông, gần thực tế thì chê là ti tiện tầm thường, sai thì bắt lỗi vụn vặt, nói đúng thì dùng, nhưng trong bụng đã ngầm ghen ghét bỏ rơi". Các bạn nghĩ câu nói này vốn nói về ai, có giống đa số học giả của ta không? Đó là viết lại ý của Hàn Phi nói về Tần Thủy Hoàng đấy. Ngạc nhiên chưa? Riêng điểm đó đã có thể thấy vì sao, trí thức của ta luôn luôn sợ làm việc cụ thể, thực tế, chỉ thích tham gia hội đồng chém gió, hay nói xấu sau lưng những người có thành quả cụ thể, dựa trên việc ăn mày dĩ vãng.
      Giới ngôn ngữ học lại còn có một việc nữa khá bận rộn, vì vấn đề không đơn giản vớ vẩn như hai nhân hai là bốn, vì vậy cứ một ông A có một thành tựu khoa học lùm lùm cao hơn mắt cá, sẽ có một ông đến đào ao bên cạnh. Có lẽ đây cũng không phải là vấn đề gì lớn vì nó quá nhiều vấn đề lặt vặt nói không hết, nói cũng chẳng để làm gì, và chúng sẽ còn mọc như cỏ mùa xuân, nếu chúng ta không tìm đến tận nguồn nước.
       Tôi ngạc nhiên khi thấy giới ngôn ngữ của ta, ứng dụng chẳng có mấy thành tựu, cũng chưa hề nghe tên tuổi trường phái nào được nhắc nhở, trích dẫn trên trường quốc tế, nhưng làm tinh những vấn đề lớn lao to tát. Nào đả phá Chomsky, nào lật nhào toàn bộ nền tảng ngữ pháp phương Tây, nào khoa học nâng cao tinh thần yêu nước độc lập dân tộc, đưa ra cách tiếp cận mới như Cô péc níc,... Khoa học tự nhiên cũng có những cách làm khoa học như vậy, thường chẳng đi đến đâu, đa số là do thất học và lười biếng, đôi khi ghen tỵ, hiếu danh hão mà không muốn khổ công. Họ hay bám lấy những lập luận chẳng liên quan gì đến khoa học, nên được gọi chung là "broken pot science" (Khoa học Niêu mẻ).
        Cũng phải nói, Khoa học Niêu mẻ, gắn liền với các nhà học phiệt, xa rời thực tế, chuyên nói chuyện "không đàm", nhưng gặp vấn đề thực tế là lập tức thoái lui, đóng vai trò phản biện, giống như ký sinh trùng. Thực ra, giống mèo mù cáo thọt, tồn tại dựa vào nhau. Chính vì thế, những vấn đề đơn giản, cấp bách ở ta, hàng chục không có ai làm, hoặc giả có những người muốn làm sẽ có cả một đội ngũ hùng hậu hơn, lớn tiếng hơn bàn lùi, ngăn cản. Cuối cùng, như hệ quả tất yếu, lại nảy sinh những việc làm bừa, theo cảm tính kinh nghiệm, để rồi khi thất bại, dậu đổ bìm leo, lại chính những kẻ cổ súy to mồm nhất "làm đi nhưng để tôi" xông ra phản biện. 

Thứ Bảy, 7 tháng 6, 2014

Thoát Hoa - Cuộc vượt ngục mới

Gần đây, trên mạng đã bắt đầu nói tới từ THOÁT TRUNG. Về mặt nội dung, tôi hoàn toàn tán thành việc nói tới việc đào thoát ra khỏi một nhà ngục đang kìm kẹp hướng đi đến tương lai của dân tộc. Đó là một việc trọng đại cần cùng suy nghĩ thậm chí là phải bắt đầu một văn hóa biết chấp nhận "đồng ý với việc có bất đồng", chứ không chỉ là vấn đề hô hào kích động tinh thần, chém gió áp đặt người khác bằng đủ thứ lý luận dân tộc chủ nghĩa. Tuy nhiên, cá nhân tôi thích từ THOÁT HOA hơn là THOÁT TRUNG, để tránh những việc hô hào dân tộc chủ nghĩa có tính đối phó, thời sự trước mắt. Cho dù không xảy ra sự kiện giàn khoan, chúng ta vẫn phải nghĩ đến việc thoát ly khỏi ảnh hưởng xấu của VĂN HÓA TRUNG HOA, chúng ta sẽ không thiển cận nghĩ rằng phải tỏ một thái độ cực đoan với người Trung quốc chỉ để chứng tỏ rằng mình yêu nước.

Tôi đã đọc bài Thoát Trung Luận của Giáp Văn Dương, bài của Nguyễn Nhã, đã nghe Trần Ngọc Vương nói, đọc nội dung của cuộc tọa đàm của quỹ Phan Chu Trinh và nhận thấy Thoát Hoa còn là một con đường dài cả về nhận thức và hành động.  Trước hết, dường như chúng ta có rất nhiều mong muốn, nhưng chúng ta vẫn chưa tính đến các ràng buộc và những khó khăn, do đó chúng ta vẫn hô hào và thực ra chưa có giải pháp. Và sau rất rất nhiều năm, chúng ta lại đối diện với vấn đề này, không tiến hơn được so với tiền nhân một bước nào.

Phải nhận thức rằng những cố gắng THOÁT HOA trong quá khứ, dù chúng ta sẽ mãi tự hào và trân trọng, nhưng không phải là những lần vượt ngục thành công triệt để. Bằng chứng là hết lần này tới lần khác, chúng ta vẫn luôn luôn phải ra những tuyên ngôn mới. Nếu như tuyên ngôn "đánh cho dài tóc, đánh cho đen răng" và võ công của Quang Trung là một cuộc THOÁT HOA thành công, làm sao đến hôm nay chúng ta vẫn phải băn khoăn, làm sau ngay sau đó các đời vua dù chống đối lẫn nhau vẫn phải nhận sắc phong "An Nam Quốc Vương". Miến Điện, Thái Lan và Lào đâu là nước lớn mạnh hơn ta, đâu có nhận tước phiên vương, và đâu có bị Trung quốc đe dọa hết lần này đến lần khác. Vì vậy, THOÁT HOA hay không chính là ở chúng ta, không cần nhìn vào Trung Quốc. Trong Tứ Đại Hoa, Nhật Bản và Hàn Quốc đều tiến hành Thoát Hoa thành công, cần gì tìm kinh nghiệm ở đâu xa, cũng là trước hết họ hiểu họ muốn gì.

Nếu đọc qua văn học, sách vở Trung Quốc, chúng ta thấy người Việt Nam ta suy nghĩ còn theo lối Trung hoa cổ hủ hơn cả người Trung Quốc. Những tư tưởng mà họ đã muốn vứt đi cả rồi, ta vẫn còn giữ chằng chằng. Nào là Kinh Dịch, âm dương bát quái, địa lý,... có lẽ người Việt còn mê và thạo hơn cả người Trung Quốc. Trong lịch sử cũng có chuyện, khi người Trung Quốc đã bỏ lối ăn mặc phong tục từ thời Đường, Tống, thì người Việt Nam ta vẫn giữ phong tục của Đường Tống và tự hào về điều đó, tự hào là giữ văn minh Hoa Hạ hơn cả người Trung Quốc.

Nếu chúng ta chỉ chống Trung Quốc ngoài mồm, không tháo bỏ những xích xiềng về thói quen, cách nghĩ bên trong, thì cuộc THOÁT HOA sẽ thất bại ngay từ đầu. Không đơn giản là chúng ta không dùng hàng hóa Trung Quốc, không hợp tác kinh tế với Trung Quốc, không dùng nguyên vật liệu, không bán hàng cho Trung Quốc, không tìm hiểu về văn hóa, lịch sử ngôn ngữ Trung Quốc thì có nghĩa là chúng ta đã THOÁT HOA.

Chúng ta tự hào về việc sử dụng chữ cái La Tinh. Đó là một điều kiện may mắn cho việc Thoát Hoa nhưng không hề là dấu hiệu là chúng ta đã Thoát Hoa thành công, vì nó không phải là nỗ lực nội tại của chúng ta, mà chỉ là một món quà tặng ngẫu nhiên của lịch sử và cố gắng thành công của một nhóm người đáng kính.

Tuy nhiên, như người tù khổ sai Papillon trước ngàn trùng sóng bể cũng phải thấy được hết những khó khăn nguy hiểm để mài sắc quyết tâm đi tới tự do, có lẽ cũng cần hé lộ những khó khăn của việc THOÁT HOA, để xem ai là người đồng hành, đỡ phải mất thời gian cưu mang vô ích  những người thoái chí. Vì nói và tưởng tượng đến đích thì dễ, nhưng mấy ai dám trả giá trên đường đi. Trước hết, về kinh tế, THOÁT HOA sẽ tránh được sự phụ thuộc bấp bênh vào nguồn nguyên liệu, thị trường và những tiểu xảo của thương lái Trung Quốc. Nhưng cả một bộ máy nhập xuất phi mậu dịch cũng là chính chúng ta tạo dựng nên, ai bỏ được cám dỗ của những đồng tiền dễ dàng. Thay đổi cấu trúc của nền kinh tế, là phải đầu tư vào công nghệ, sẽ không có những tiến sĩ, giáo sư quanh năm rảng ranh, dễ dàng mang bằng cấp ra nói chuyện vu khoát "không đàm ngộ quốc". Tất cả sẽ đo bằng hiệu quả công việc, bằng các mối hàn, bằng các dòng lệnh, bản thiết kế theo tiêu chuẩn. Tất cả sẽ phải đi vào khuôn khổ của ISO như những cậu học trò của hệ thống giáo dục châu Âu, phải nắn nót từng trang từng chữ, bị khiển trách. Liệu có chịu được không.

Về mặt tinh thần, việc tự lực tạo ra một hệ thống giá trị mới (vốn phải là công việc của nhiều thế hệ) là một việc không tưởng. Chúng ta chỉ có một lựa chọn duy nhất là hội nhập với tư tưởng phương Tây. Chỉ có văn hóa phương Tây, khoa học kỹ thuật công nghệ hiện đại, các giá trị nhân bản về cá nhân con người đã được thử thách qua nhiều thế hệ mới có khả năng dứt chúng ta khỏi cơn nghiện quay trở về hệ thống tư tưởng phi nhân Trung Quốc.

Chúng ta cần phải dứt khoát THOÁT HOA đến mức không phải sợ hãi khi cần tiếp xúc học hỏi những giá trị tích cực của TRUNG HOA, như người Nhật, người Hàn đã làm. Nhưng trước mắt, chúng ta sẽ phải hiểu nhiều hơn về Socrates, Aristotelles, Platon hơn những Khổng Lão Mặc, về Washington, Napoleon, Robespierre,... nhiều hơn những Đường Thái Tông, Bao Chửng, Lưu Gù,... Chúng ta sẽ phải biết nhiều đến logic, nhị phân, tương đối luận,... hơn những Kinh Dịch, Bát Quái mơ hồ mà chóng vánh cho chúng ta được cảm giác là người uyên bác. Lười suy nghĩ mà có cảm giác nganh hàng với các chuyên gia hàng chục năm kinh nghiệm sau một thời gian chỉ mất công lý luận mơ hồ ai mà không thích, không mê. Liệu chúng ta có gan từ bỏ vầng sáng đó để trở thành một cậu bé học việc chuốt từng giòng lệnh, mối hàn.

Những vấn đề chúng ta mới đặt ra ngày hôm nay, đã có những tiền nhân đi trước, lao tâm khổ tứ, thậm chí trả bằng cả xương máu tính mạng để thể nghiệm vạch ra các bước cụ thể. Chúng ta sẽ không phải đi từ đầu, chỉ cần chúng ta quyết tâm làm điều đó và trước hết có một con đường đi khả dĩ là Âu Hóa.

Vấn đề trước tiên là Âu Hóa có thể mang đến cho chúng ta một tương lai tươi sáng hay không. Các cuộc cải cách thành công của Nga, Nhật, Hungari đều là Âu Hóa và sau đó họ đều trở nên hùng mạnh hay sống sót và trở nên văn minh. Người Thái Lan ngay từ thế kỷ 14, 15 dưới triều vua Asoka đã cử sứ thần sang Âu Châu để hướng tới văn minh, trong khi đầu thế kỷ 19, chúng ta vẫn không tin có đèn điện. Chúng ta học thuộc và nói theo những thành tích tự ru ngủ của văn minh Trung Hoa. Cần phải thấy rằng, người Hy Lạp đã biết Trái Đất tròn, tính được chu vi với sai số chưa tới 1/1000 trong khi người Trung Hoa vẫn khăng khăng Trái Đất hình vuông cho tới gần đây. Tôi không bao giờ tin có một logic chủ toàn có khả năng phát triển cơm no áo ấm, thay thế tư duy phân tích. Toàn bộ vật dụng xung quanh ta đều dựa trên phát minh của khoa học công nghệ Tây phương. Hầu như các dân tộc có tư duy minh triết nhưng lờ mờ đều phải vật lộn với đói nghèo khốn khổ.

Vấn đề thứ hai, các thói quen có thể thay đổi hay không. Chúng ta ngày nay thích uống rượu vang hơn rượu quốc lủi, ngồi xe hơi hơn cưỡi ngựa, để tóc ngắn hơn tóc dài, ăn mặc gọn ghẽ, sống có vệ sinh có lý gì không thể thay đổi các thói quen đã hủ lậu mọt ruỗng. Trước hết chỉ cần chúng ta bớt lười suy nghĩ, sống và làm việc một cách bình thường, như những người bình thường lương thiện trên đời là đủ

Thứ Năm, 17 tháng 4, 2014

PHIẾM LUẬN VỀ SOẠN SÁCH GIÁO KHOA

Mấy hôm nay thấy cộng đồng bàn về việc có băm tư nghìn tỷ hay trăm tỷ làm sách giáo khoa. Rồi lại bài về việc mời Ngô Bảo Châu hay anh A, anh B nào đó soạn sách giáo khoa. Tất nhiên, các loại ý kiến đều hay và nên nghe, chủ yếu là để biết người dân thường nghĩ gì về đại sự này của đất nước. Có điều, thấy nhiều người cũng có thể được gọi là có ăn học, cũng có những suy nghĩ rất bầy đàn, không dựa theo bất cứ hệ thống nào, lại suy nghĩ dựa dẫm vào truyền thông và giới quản lý. Vì thế có lẽ cũng nên Phiếm luận về đề tài này một chút.

Thứ nhất, việc giao cho một nhà khoa học rất giỏi làm SGK, cũng ngang như giao cho làm số định danh, thiết kế database, quản lý nhân sự cho VINASHIN, làm chủ tịch liên đoàn bóng đá Việt Nam đều có xác suất thành công xấp xỉ như nhau. Giả thiết xác suất đó đủ lớn. Nhưng tiếc thay, cũng theo như báo chí chúng ta chỉ có một hai người làm được việc đó, mà thời gian rất có hạn, cần phân phối cho chuyên môn, yêu đương, triết học và giải trí phần còn lại mới có thể cho các thứ khác. Có lẽ cần lập một bản danh sách các công việc theo thứ tự quan trọng để các siêu nhân bố trí thời gian tối ưu. Bên cạnh đó, có lẽ phải lập một bộ máy để thực thi và một bộ máy để PR cho được sự đồng thuận của xã hội. Nếu tính cả xác suất có điều kiện thành công của các bộ máy này, chưa có gì đảm bảo thành công hơn các phương án khác. Có lẽ chính vì thế, nước Pháp, nước Mỹ thiếu gì các siêu nhân mà không phải tất cả đều đi soạn sách giáo khoa.

     Chúng ta là những người đọc sách đều biết rằng đa số các nhà khoa học giỏi (không phải là tất cả) đều có thể viết sách chuyên khảo, bài review hay, nhưng viết sách giáo khoa (ngay cả cho sinh viên đại học và cao học) cho hay, nhiều khi lại là những cái tên hoàn toàn khác. Tôi biết rất nhiều đại ca, chuyên môn cũng không đến nỗi tồi, đã lăn lộn rất nhiều năm, quen cũng không thiếu ông to, rất mong được lĩnh xướng trong vấn đề sách. Họ cũng rủ tôi tham gia vào việc này với những lý luận "vì dân vì nước" rất hấp dẫn và khó từ chối. Họ đã hình thành những nhóm khác nhau, cạnh tranh với nhau để giành việc này. Ai cũng có rất nhiều quan điểm hay, nhiều khi cũng chẳng khác nhau bao nhiêu, và có thể nói rất nhiều về nhược điểm của đối thủ.  Có điều, cho dù là ai làm, có khác nhau thế nào thì cũng giống nhau là cách làm cũ, không thoát được những hạn chế tầm nhìn cá nhân.

    Trong khoa học, có nhiều trường phái, quan điểm có lẽ  cũng là một điều đáng mừng. Tôi tin rằng các "cây đa cây đề" này đều là những người giỏi, có thừa nhiệt tình và thực tế mọi việc chuyên môn cho đến công luận cũng đều trong tay họ. Nếu giao cho những siêu nhân ít thời gian chủ trì, rồi công việc cũng lại do những "cây đa cây đề" này làm hết mà thôi. Như thế còn tệ hơn vì chẳng có ai chịu trách nhiệm trực tiếp. Kiểu làm như thế thì rồi cũng lại có kết quả như từ trước đến nay, không có vấn đề này cũng có vấn đề khác. Cách làm mới là vấn đề, chứ không phải ở chỗ ai làm tốt hơn ai.

    Chúng ta không thể thử nghiệm nhiều lần với những cá nhân khác nhau để hết thế hệ này sang thế hệ khác phải chịu đựng. Mỗi lần thử nghiệm là một thế hệ sẽ qua đi. Cho dù là ai làm đi nữa, trước hết chúng ta vẫn cần có một thiết kế tổng thể theo một số tiêu chí nào đó có thể dễ dàng thống nhất với nhau. Có thể nêu ra vài ví dụ về những tiêu chí như thế, không phải khẳng định áp đặt, mà chỉ để minh họa về việc trước hết phải có vài nguyên tắc chung.

    Thứ nhất, chúng ta đang sống trong một thế giới đang ngày càng xích lại gần nhau. Không có lý nào chương trình giáo dục Việt Nam lại là một ốc đảo. Có những nguyên tắc, nhân loại đã trăn trở, trả giá bằng nhiều thế hệ. Dẫu rằng chúng ta chưa có nhiều thời gian để hiểu thật sâu sắc. Nhưng có thể tiết kiệm được hàng chục hàng trăm năm nghiên cứu, tại sao không thừa hưởng ngay điều đó. Tại sao cứ phải tìm cách phát hiện lại cái bánh xe, để rồi sau bao nhiêu vật vã mới hiểu ra cái điều ai cũng biết. Chỉ riêng nhận thức được như vậy, đã tiết kiệm được bao nhiêu thời gian và công sức.

     Thứ hai, một hệ thống sách giáo khoa bao giờ cũng hướng tới một hệ thống giá trị nào đó. Nếu nhìn thấy được điều đó sau khi tham chiếu một số hệ thống tiêu biểu, chúng ta sẽ dễ dàng thêm được các giá trị mà chúng ta còn thiếu, cần bổ sung để có một khung yêu cầu hoàn chỉnh cho chương trình, làm chuẩn cho các nội dung cụ thể. Nếu chúng ta có những người có thể làm được điều đó, có nghĩa là chúng ta có thể sửa đổi một số chỗ sao cho chương trình của chúng ta hợp lý hơn, tạo được sự đồng bộ giữa các môn học. Chẳng hạn, sao cho đừng biến các môn học vật lý, hóa học và sinh vật thành các bộ môn toán học ngây ngô như hiện nay hay đừng làm các môn xã hội xa rời lẫn nhau và xa rời khoa học tự nhiên, khoa học tự nhiên xa rời thực tế và công nghệ. Nếu chúng ta chưa có những người như vậy, có lẽ nên thuê các chuyên gia nước ngoài, trong nửa năm sẽ có được một cái khung tốt và đào tạo được những người nắm được phương pháp và tinh thần của cái khung đó. Cách đó rẻ hơn nhiều so với việc lập các hội đồng nghiệm thu các đề tài cấp nọ cấp kia mà thực tế chỉ là công nghiệp sản xuất 

    Thứ ba, có lẽ là vấn đề cần đột phá nhất, là tạo ra một cơ chế cạnh tranh trong việc viết sách giáo khoa. Ai cũng có thể viết sách giáo khoa, sách giáo khoa của ai cũng có thể được sử dụng, miễn là tuân thủ chuẩn do nhà nước ban hành, thực hiện các nội dung của khung giáo dục. Muốn như vậy cần có hai điều kiện. Thứ nhất, khung phải được công bố công khai, phổ biến rộng rãi. Thứ hai, phải xóa bỏ ngay việc độc quyền về sách giáo khoa. Các sách giáo khoa do các nhà giáo, nhà khoa học hoặc bất cứ một ai khác viết ra đều có thể được công nhận hợp chuẩn, trong một quá trình đơn giản, dễ dàng, minh bạch và công khai. Các thầy đều có thể chọn các sách nào thấy phù hợp nhất trong danh sách các sách đã được công nhận hợp chuẩn. Như thế, bao giờ cũng có sách tốt nhất sẽ được lựa chọn trên cơ sở thực tiễn, không phải là ý chí của riêng ai. Vả lại, có thể huy động mọi trí tuệ tốt nhất vào công việc này. Các sách khác sẽ là tham khảo và trong tương lai có thể sẽ là lựa chọn tốt hơn. Nhà nước chỉ đầu tư là những bộ sách ít người muốn làm. Những bộ sách do nhà nước dùng thuế của dân để làm sẽ phải là tài sản chung của xã hội, và như thế phải có bản quyền mở (Common Creative). Điều đó có nghĩa bất cứ ai cũng có thể sử dụng, thêm bớt để soạn sách khác, với yêu cầu duy nhất là phải trích dẫn nguồn.

      Thứ tư, có thể khuyến khích ứng dụng CNTT làm sách giáo khoa điện tử. Như vậy học sinh sẽ không phải gù lưng, vẹo xương sống thồ sách đến trường. Một tablet PC nhỏ có thể chứa hàng nghìn cuốn sách, nếu cần có thể in những trang cần thiết. Đây thực sự sẽ là một cuộc cách mạng cho công nghiệp, CNTT và giáo dục nước nhà. Với một thị trường như thế các tablet PC này sẽ chỉ có giá $30-50.

     Có lẽ chỉ cần bỏ một ít thời gian sẽ nghĩ ra nhiều thứ rất hay. Câu hỏi cuối cùng có lẽ sẽ trở về xuất phát điểm: Nếu dễ như vậy tại sao lại đến phần mình phải nghĩ. Có lẽ câu trả lời thế này: đó là chỗ đứng, người mắt tinh đến mấy cũng không thể tự nhìn gáy của mình. Một số người đã chọn chỗ đứng bị che lấp bởi quyền lợi, một số người khác thì chọn suy nghĩ theo lối mòn của đám đông và một số người khác nữa thì chọn cách ... không suy nghĩ. Đó mới là cái nguy nhất. Nếu chúng ta cùng suy nghĩ, đừng lẫn lộn vấn đề này với vấn đề khác như lợi ích, quyền lực,... lo gì không cùng tiến lên. Và nói cho cùng mọi người cùng sẽ thấy quyền lợi lâu dài ở đó. Mà chẳng phải băn khoăn vấn đề anh làm hay tôi làm, ai giỏi ai dốt hơn ai hay nghe theo ai bây giờ.