Hiển thị các bài đăng có nhãn Luận Tam Quốc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Luận Tam Quốc. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 5 tháng 10, 2025

Từ Thứ và đại chiến Đương Dương-Tràng Bản-Giang Hạ

Từ Thứ tự Nguyên Trực. Khi còn trẻ chuộng sức mạnh, muốn làm nên sự nghiệp như Hoắc Khứ Bệnh, Vệ Thanh, bèn theo nghề cung kiếm. Thứ thường sử cặp song kiếm, nhiếp hồn đối phương trong nháy mắt, rồi vỗ vai khẳng khái kết bạn. Thường tự cho rằng mình là quân tử kiếm, không cầu thắng làm thiên hạ vô địch, mà chỉ bảo vệ lẽ phải.
Một ngày nọ, bạn thân của Thứ có xích mích với cường hào rồi ép chết. Người nhà đến khóc lóc, kể khổ với Thứ. Thứ ngửa mặt lên trời than: Tiếc thay cho đôi song kiếm của ta lại phải ra tay với bọn chuột nhắt, nhưng thù bạn không báo sao đáng gọi là quân tử kiếm. Bèn một mình xách song kiếm, đang đêm vượt tường vào nhà cường hào lấy mạng kẻ thù, rồi cao chạy xa bay. Quan phủ cáo thị khắp nơi truy nã Thứ. Có người biết hành tung của Thứ nhưng sợ thủ đoạn của Thứ, nên không dám báo quan.
Thứ cùng đường, có người giới thiệu, bèn nhập bọn với lũ lục lâm dư đảng Khăn Vàng, ngày chẹn đường lữ khách kiếm tiền mãi lộ. Một hôm, nhìn đồng bọn tranh giành, chia chác đồ cướp được, tủn mủn từng li bạc, thấy ngán ngẩm, bất giác lòng nguội lạnh như băng. Thứ ngẩng đầu trông trời thở dài: Một thân võ nghệ siêu quần, chí lớn trùm đời, mà tới bước phải làm tên cướp đường nhỏ mọn thế này đúng là trời định. Có lẽ đó là số kiếp cho nghề cung kiếm của ta. Bèn chôn đôi kiếm bên sông, thề với trời đất cả đời sẽ không động tới đao kiếm. Đoạn dứt áo ra đi, quyết chí lập nghiệp từ đầu bằng sách vở.
Thứ có hai người bạn cũ là Thạch Thao và Thôi Quân, nghe nói Thứ sử Kinh Châu là Lưu Biểu có hùng chí, văn tài lại đang thu nạp hào kiệt, bèn cùng nhau nhằm phương Nam mà đi. Đến vùng Long Trung, Dĩnh Châu đất đai màu mỡ bèn ở lại làm nghề nông. Bấy giờ, Dĩnh Châu là nơi tụ hội nhân tài. Tư Mã Ý, Quách Gia, Trình Dục đều trưởng thành ở nơi này. Thứ, Thao và Quân theo học Bàng Đức Công, cùng với bọn Tư Mã Huy, Gia Cát Lượng và Bàng Thống. Trong đó Huy lớn tuổi hơn cả được tôn làm anh. Thứ ngày đêm chuyên cần đọc sách, trong vài năm ôm hết kinh luân thiên hạ, chuyên về lược thao binh pháp, cùng Bàng Thống bàn luận rất tương đắc. Thứ còn chuyên cần cày cấy, có được sản nghiệp khá khá, bèn đón mẹ về ở cùng, thờ mẹ rất hiếu.
Một ngày kia, nghe tin Lưu Bị đóng ở Tân Dã là Tả Tướng quân nhà Hán là người có hùng tâm tráng chí, Thứ buông sách ngẩng đầu lên trời mừng rỡ "nay ta gặp được chân chúa cũng là cơ hội ngàn năm có một". Bèn cưỡi lừa, đeo túi vải, đến cửa huyện xin ra mắt và tự tiến cử. Bị gặp Thứ, tâm đầu ý hợp, bèn dùng làm quân sư, kính trọng như khách. Thứ nói: Tôi xin tiến cử với chúa công hai người, một có tài lược thao, chinh phạt mở rộng bờ cõi, bình thiên hạ, người kia giỏi cai trị, ngoại giao. Bị hỏi là ai. Thứ thưa: Người thứ nhất là Bàng Thống, hiệu Phụng Sồ, có mưu lược, dùng binh như thần, có thể coi như Hàn Tín đời nay. Người thứ hai là Gia Cát Lượng, hiệu Phục Long, có tài năng cai trị, có mưu trí, lại giỏi biện bác, ngoại giao, có thể coi như Trương Lương của ngài. Bị mừng lắm: Danh của Phụng Sồ-Phục Long ta đã từng nghe Tư Mã Huy nói tới. Thứ nói: Hai người này nếu chúa công muốn mời phải mang lễ trọng để sau này chúng tướng sợ phục thì mới mưu sự được. Bị bèn sắm lễ trọng thân đi mời Lượng và Thống. Chỉ tiếc rằng, Thống bấy giờ đã sang Giang Nam làm việc dưới trướng Lỗ Túc. Bị, Lượng và Thứ, ngày đêm bàn bạc việc dân và binh. Từ đó mới có Long Trung Sách, mưu đồ chia ba thiên hạ thành thế chân vạc. Sách đó do Lượng là tay thủ bút, Bị là người có tầm nhìn, Thứ là người thêm màu sắc, đường nét và sách lược quân sự vậy. Có người cho rằng Long Trung Sách là do Lượng viết sẵn khi còn ngủ vùi ở Ngọa Long Cương, thật quá sai lầm.
Chẳng bao lâu, Tào Tháo diệt xong nhà Viên, đem quân trăm vạn nam hạ quyết dẹp yên các sứ quân Kinh Châu và Giang Đông. Lưu Biểu chết đúng lúc Kinh Châu trong cảnh cơm sôi lửa bỏng đó. Con trai thứ của Biểu là Lưu Tông, nghe lời bọn Khoái Việt, đem 9 quận Kinh Tương đầu hàng Tào Tháo. Bị cùng Thứ, Lượng dẫn bọn tướng võ là Quan Vũ, Trương Phi, Triệu Vân kịch chiến với quân Tào tại Tân Dã và thất lợi.
Thứ bèn bày mưu "Nếu ta cố đánh nhau với Tào bây giờ chẳng khác trứng chọi đá. Nếu vừa đánh vừa lui sớm muộn cũng bị Tào Tháo bắt. Chi bằng, chúa công cho Quan Vũ đem quân bản bộ chạy gấp về Giang Hạ, cướp lấy quân thủy bộ của Lưu Kỳ, đang không theo hiệu lệnh của Tông, lập sẵn phòng tuyến thứ hai. Tháo tuy có trăm vạn quân nhưng đến đó đã như cây cung căng hết sức bật, dễ dầu gì nuốt sống được ta." Bị nói "Ý kiến của quân sư rất cao. Nhưng nay đang cần có quân để chống Tào. Để Vũ đi là sinh lực của quân ta chỉ còn một nửa." Thứ nói "Cũng ví như để dành giống cho mùa sau trong nghề nông vậy. Nếu cùng ở đây, kéo dài được thêm vài ngày rồi cũng mất cả. Có điều đây là canh bạc mạo hiểm, những người ở lại phải đủ sức và can trường giữ được chân quân Tào ít nhất 10 ngày để Vũ có thời gian chuẩn bị." Bị nói " Trương Phi và Triệu Tử Long theo ta đã lâu, như thủ túc, là các tướng tài thời này, lại rất trung thành. Lưu Phong, My Phương cũng là những dũng tướng, có tài trí, thao lược đều là người thân cận trong nhà. Giản Ung, My Chúc đều có thể cầm quân. Nhưng làm thế nào để giữ cho được 10 ngày?".
Thứ đáp "Thủy quân Giang Hạ thiện chiến khét tiếng thiên hạ. Năm xưa, Tôn Kiên oai dũng mà cũng phải mất mạng dưới tay Hoàng Tổ và Tô Phi trong thủy chiến. Nay Tháo không giỏi thủy chiến, chỉ cậy vào quân bộ, ắt sẽ phải tụ trăm vạn quân ở Nam Quận, Công An, Xích Bích lâu dài. Như vậy, cả xứ Giang Nam sẽ sợ mất mật mà chấn động, Ngô Hầu thế nào cũng sinh lòng nghi ngờ Tào Tháo. Khi đó ta có thể sai Lượng uốn ba tấc lưỡi thuyết Đông Ngô cùng liên minh chống Tào. Ta có 5 vạn quân thủy bộ, cùng với 7 vạn quân Ngô, dựa vào thế hiểm của Trường Giang, lại thêm lòng dân và sĩ tử Kinh Sở, Ngô Việt không thích lệ thuộc Trung Nguyên, đủ đối chọi với quân Tào".
Lượng nói "Tôi có quen Lỗ Tử Kính đại tướng Đông Ngô, có thể nhờ ông ấy tiến dẫn với Ngô hầu. Tôi tin chắc rằng Ngô sẽ không muốn để Tào nuốt được bên ta. Nếu ta thất bại sẽ đến lượt họ phải đơn độc chống Tào. Vì thế, nếu khéo léo, ta hoàn toàn có thể thuyết phục được Đông Ngô liên minh chống Tào. Vả lại, nay ta mới thua trận, Tào Tháo ắt cho ta không còn thực lực mà sẽ tập trung đánh Ngô mạnh trước. Khi Ngô và Tào đại chiến, chúng ta sẽ nhân cơ hội thu thập các quận ở Kinh Châu. Tuy vậy, việc cầm chân quân Tào phải nhờ thêm sức trăm họ đó". Thứ nói: "Nếu dốc sức mà đánh và giữ, có giữ được 10 ngày hay không rất khó nói. Tôi xin bày thế trận liên hoàn, không có đụng độ lớn, nhưng quân Tào phải gặp nhiều trận nhỏ, không biết tập trung đại quân ở đâu. Nhưng để chắc chắn phải cần đến đảm và lược của hai tướng Triệu và Trương."
Bị nghe lời, bèn phái Vũ đem 2000 quân kỵ bản bộ ngày đêm chạy trước tới Giang Hạ. Nhân Lưu Kỳ không phòng bị, Vũ xuất kỳ bất ý đoạt binh phù, có được thêm ngay 2 vạn quân thủy và 1 vạn quân bộ, tích súc lương thực, cắm cờ quạt, chông chà tua tủa, san sát dọc theo mặt sông, lập thành phòng tuyến theo thế ỷ đốc chờ sẵn để đón quân Lưu Bị.
Hôm sau, Lượng cho dán cáo thị khắp nơi "Ai không muốn ở lại với Tào thì theo Lưu Sứ quân về Kinh Châu". Trăm họ, phần đông không biết mô tê phải trái gì, nghe trăm vạn quân Tào đến thì sợ mất mật, gồng gánh theo Bị khá đông. Quân tuyển phong bên Tào là cặp dũng tướng mưu trí Trương Liêu-Từ Hoảng đang tiến đánh như bay, vấp ngay phải một đoàn người trẻ con, cụ già, đàn bà, gồng gánh lôi thôi, lếch thếch, eo xèo. Liêu-Hoảng đều đã nhận quân lệnh rất nghiêm của Thừa Tướng không được quấy động nhân dân, rút cục không biết phải ứng phó thế nào. Hai tướng bèn dừng ngựa hạ trại đợi đại quân tới, để xin chỉ thị mới. Tháo nghe tin thám mã hồi báo cũng không biết được sự thể, chỉ thấy tình huống này chưa từng thấy trong binh pháp, tạm thời không ra được quyết sách. Bèn sai đại quân tiến gấp, sau 5 ngày mới tập kết được toàn quân và đồ truy trọng tới Đương Dương.
Tại Đương Dương, Từ Thứ lại quyết định chia đôi quân, bố trí 2000 quân bộ của Trương Phi lui về lập phòng tuyến thứ hai cách đó nửa ngày đường tại sườn dốc Tràng Bản. Tràng Bản có địa thế hiểm, đường độc đạo, lại có sông che chắn, toàn quân không thể dàn hàng ngang cậy số đông đi qua, là nơi lý tưởng để cố thủ. Cánh quân của Triệu Vân sẽ có nhiệm vụ tử thủ bảo vệ trận địa Đương Dương để đại quân của Bị rút lui nếu đại chiến có hướng bất lợi.
Theo kế hoạch của Thứ, tại Đương Dương quân nhà Lưu chỉ cần duy trì được 3 ngày. Ngày đầu tiên, Bị cho treo miễn chiến bài, với dòng chữ "quân đi xa mỏi mệt, không chiến" ở dưới ký "Nhân nghĩa quân". Tào Tháo nghe thám tử hồi báo, vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ cười lớn: "Huyền Đức muốn dựng cờ nhân nghĩa như Tống Tương Công ngày xưa ư. Cung kính không gì bằng theo ý." Bèn ra lệnh trong quân cho cắm trại nghỉ ngơi hai ngày để lấy sức. Trình Dục nói: "Thưa chúa công, tuy quân ta đi đường xa mỏi mệt, nhưng chưa đến nỗi kiệt sức. Cũng ví như gân đang săn, khí đang hăng, cố gắng đánh ngay vẫn có thể bắt Lưu Bị. Tôi e rằng cho nghỉ 2 ngày lòng quân sẽ trễ nải." Tháo cười "Ta đánh trận cả đời lẽ nào không biết điều ngươi nói. Phải cho nghỉ ngơi 5 ngày, lòng quân mới trễ nải. Quân ta đã đi bộ hàng trăm dặm, nghỉ 2 ngày dưỡng sức rất có lợi, sức mạnh tăng lên hàng chục lần. Có điều ta chưa hiểu tại sao Huyền Đức lại tốt bụng như thế? Hay vì hắn chưa hiểu phép dĩ dật đãi lao trong binh pháp?"
Hai hôm sau, Tào -Lưu đại chiến tại Đương Dương. Dân chúng bất đắc dĩ phải chứng kiến cảnh đâm chém máu chảy thành sông, khóc như ri, kêu gọi nhau dậy đất, tạo nên một chiến trường rối loạn chưa từng có, dân binh trộn lẫn lộn nhào, chiến xa lẫn với trâu bò gà qué. Thật khó biết phải đánh vào đâu và đánh kiểu gì, xung xa hay trường trận, thật không có bài vở nào có. Quân Lưu lẩn trốn trong các đám dân, bất đồ xông ra tập kích rồi lại biến mất. Quân Tào đang chiếm ưu thế áp đảo nên cũng không vội vã, tránh thương vong vô ích cho dân và cho quân mình. Khi trời sập tối, toàn bộ đại quân của Lưu Bị với các chiến tướng Lưu Phong, My Chúc, My Phương, Giản Ung đã rút khỏi chiến trường di chuyển về phía sau phòng tuyến dựng sẵn ở Tràng Bản. Trên chiến trường chỉ còn lại quân bản bộ của Triệu Vân gồm 500 người và các nhóm nạn dân. Vân cho đốt hàng ngàn đống lửa. Tháo quan sát từ xa tưởng đại quân Lưu Bị hạ trại bèn cho khua chiêng thu quân và gửi khoái mã đem thư miễn chiến sang quân Lưu hẹn giờ Mão hôm sau đối trận quyết định thắng thua.
Trình Dục vào trình với Tháo "Tôi đã bắt được mẹ Từ Thứ trong đám nạn dân. Xin đem vào yết kiến Thừa Tướng." Tháo cho mời vào, đối đáp rất lễ phép và trọng hậu. Tháo nói "Ta là Thừa tướng Đại Hán, muốn thống nhất thiên hạ để xã tắc khỏi phân tranh. Ta chỉ muốn dẹp yên những kẻ phân tranh chống đối để quốc gia được yên bình. Mong lão mẫu nhìn vào đại cuộc hiểu cho. Lệnh lang là nhân tài thời nay, trót theo phản loạn, ta sẽ khoan hồng và trọng dụng." Từ Mẫu nói "Trước kia tôi chưa được gặp ngài, chỉ nghe thiên hạ đồn đại nửa tin nửa ngờ. Nay mới biết ngài quang minh chính đại như vậy. Xin tình nguyện viết thư khuyên con về hàng nhà Hán." Tháo rất mừng lại khoản đãi Từ Mẫu càng trọng hậu hơn.
Sáng hôm sau, giờ Mùi, quân Tháo tiến lên chỉ gặp quân bản bộ của Triệu Vân. Vân ra sức đánh. Đến giờ Ngọ chỉ còn lại vài chục tên tướng tâm phúc, Vân theo hẹn với Thứ, bèn cho tướng sĩ, mở đường máu thoát ra khỏi chiến trường. Trên đường rút chạy, Vân bắt gặp một chiếc xe. Trong đó chỉ có một đứa trẻ đang nằm khóc, nhìn ra chính là Lưu Thiện, con trai của Bị bị thất lạc. Người nhũ mẫu đã bị giết nằm chết lạnh bên cạnh. Vân bèn buộc Thiện vào người, cùng vài chục quân cưỡi ngựa chạy về Tràng Bản.
Chiều hôm đó, đại quân Tào hơn 10 mũi truy đuổi tới dốc Tràng Bản, gặp quân Trương Phi đang trấn giữ ở đó. Quân Tào, cờ xí rợp trời, trống chiêng inh ỏi, quân đi đầy đồng, thế dời non lật biển. Trương Phi trắng trẻo, tuấn tú, cao lớn, thong dong cưỡi ngựa trông vô cùng nhàn nhã, dẫn quân lập trận ngăn lại. Tháo từ xa nhìn Phi, bất giác thấy kính phục, nhớ lại hồi luận võ nghệ ở Hứa Đô, Quan Vũ có nói Trương Phi võ nghệ sức mạnh còn cao siêu hơn Vũ vài phần. Bèn cho quân hạ trại, hẹn sáng mai quyết một trận tử chiến.
Sáng hôm sau, Tháo cho cánh quân tiên phong của Tào Nhân, Nhạc Tiến xuất trận. Trương Phi dựa vào thế hiểm của sườn dốc Tràng Bản cầm cự được từ sáng đến tối, Qua ngày thứ hai, Tháo cho toàn quân xuất chiến, đại tấn công, Bị cũng đem quân chủ lực tới trợ chiến cho Phi. Tới chiều, quân của Bị đại bại, từng tốp một trốn chạy khỏi chiến trường. Tháo cho thu quân ăn mừng chiến thắng, hẹn ngày mai sẽ tận diệt tàn quân của Bị. Điều Tháo không ngờ là trong đêm đó, Bị và Thứ cũng đang ăn mừng chiến thắng của chiến dịch Tân Dã-Phàn Thành-Đương Dương-Tràng Bản. Có lẽ từ đây, mà Á Đông ta có tục lệ hai phe tham chiến đều mừng chiến thắng.
Đến nửa đêm, các quân kỵ bộ của Phi cũng nhổ trại bỏ chạy nốt về Giang Hạ để tập hợp với quân của Bị và Vũ. Kiểm điểm lại các quân tản mát lần lượt chạy về, số quân thủy bộ bên Lưu lên tới gần 6 vạn. Thứ lại sai người phao tin đồn ầm lên chuyện Lưu Tông đầu hàng Tào, được phong hầu nhưng bị Tháo cho người giết trên đường về Hứa Đô. Tin đó truyền sang Đông Ngô làm Tôn Quyền hoảng sợ, không dám chủ hòa. Trước đó, Thứ cũng đã viết thư cho Bàng Thống nhờ thuyết phục Lỗ Túc khuyên Quyền liên minh với Lưu Bị. Túc nhận mật lệnh của Quyền tới gần Tràng Bản, thì biết là Bị đã chạy về Giang Hạ, bèn tới Giang Hạ ra mắt Bị, nói về việc Quyền đồng ý liên minh chống Tào.
Tại Giang Hạ, Bị cho mở tiệc ăn mừng và khoản đãi thượng khách Đông Ngô là Lỗ Túc. Khi bình công, công đầu thuộc về Từ Thứ. Rượu đang vui, Từ Thứ bỗng ôm mặt khóc. Bị kinh ngạc hỏi duyên cớ. Thứ nói "Chẳng may mẹ tôi đã bị Tào bắt được. Người đã gửi thư khuyên tôi hàng Hán. Vì vậy tiệc hôm nay là lần cuối của tôi với chúa công."
Bị khẳng khái nghe lời "Ta rất tiếc, nhưng mẫu tử tình thâm, Nguyên Trực hãy về lo cho lão mẫu." Thứ nói "Chúa công đã có Khổng Minh giúp tôi cũng yên tâm phần nào. Việc quân sau này, tôi đã lập kế để tiến cử Bàng Sĩ Nguyên, tài còn gấp 10 tôi. Việc lớn lo gì không thành"
Lượng nói "Các nước đánh nhau, không bức bách mẹ cha của nhau. Ngày xưa Hạng Vũ còn không giết Thái Công. Chắc Tào Tháo không hại mẹ tiên sinh đâu. Tôi cho rằng Trung nguyên kẻ sĩ nhiều, tiên sinh về đó cũng chỉ mai một tên tuổi. Theo Lưu Sứ Quân, chúng ta sẽ là Trương Lương, Hàn Tín của nhà Hán"
Tuy vậy, vì mẹ, Thứ vẫn quyết ý ra đi. Bị lưu luyến nhưng không dám ép.
Trước khi sang bên quân Tào, Thứ ghé qua nhà Bàng Thống khẩn khoản nhờ Thống giúp Bị. Thống giận nói "người coi ta là món đồ thay thế để cúng tế như hình nhân thế mạng chăng". Bèn không nhận lời. Tuy vậy, sau này, Thứ đã có kế phản gián, khiến Lỗ Túc nhiều lần tiến cử nhưng Tôn Quyền và Chu Du không dùng Thống. Rốt cuộc Thống phải theo Bị, rồi giúp Bị lấy Tây Xuyên. Sau này, Lượng làm đến Thừa tướng nhà Thục, nghe tin bọn Từ Thứ, Thạch Thao, Thôi Quân làm quan bên Tào chức chỉ tới trung lang tướng, bèn ngậm ngùi than thở tiếc cho tài của các bạn.
Lại nói Tào Tháo, sau khi thắng lớn ở Đương Dương-Tràng Bản bèn cho quân thu thập Kinh Châu, Nam Quận, Tràng Sa vỗ yên dư đảng của Lưu Biểu. Trong vòng một tháng, đè nén kẻ phản kháng, lấy lòng kẻ thức thời, cắt đặt cai trị chu đáo. Lại thu thập được bọn nhân tài Khoái Việt, Sái Mạo. Phong cho Lưu Tông một chức quan cao nhàn tản ở kinh đô. Hai tháng sau Tháo mới mang quân sang Đông. Khi đó liên minh Lưu-Tôn đã hình thành xong.

Thứ Bảy, 23 tháng 9, 2023

Bành Dạng khinh suất uổng tài cao

Bành Dạng tự Vĩnh Niên, trẻ tuổi đã nổi tiếng tài cao, dung mạo tuấn tú khác người, xem việc như thần, là danh sĩ đất Ích Châu. Dạng tính trời phú hào sảng phóng khoáng, coi địa vị, phú quý như gió thoảng, nhìn người có quyền chức, địa vị bằng nửa con mắt. Tự xem danh sĩ trong thiên hạ thấy không ai có thể bằng mình. Dạng thường tự nói sẽ phải làm nên công nghiệp trùm đời như Quản Trọng, Nhạc Nghị.
Bình sinh Dạng vẫn cho là hai cha con Lưu Chương tuy có tham vọng bá vương, nhưng tính khí nhu nhược, tầm nhìn thiển cận không đáng khuông phò, nên có ý đợi chân chúa xuất hiện. Hứa Tĩnh từ Giao Chỉ về làm Thái Thú Quảng Hán, dùng lễ tìm người tài, Dạng khinh thường Tĩnh chỉ có hư danh, thiếu thực tài, không muốn ra ứng tuyển bèn viết thư tiến cử Tần Bật. Thực ra, Dạng ngầm ý tự phụ cho rằng giúp việc quan Thái Thú chẳng qua chỉ đến chức Công Tào, cai trị xử kiện lặt vặt, không đáng dùng cái tài kinh bang tế thế của mình.
Dạng thường tụ tập bọn danh sĩ đất Thục, uống rượu cùng bình phẩm việc thiên hạ. Dạng nghị luận xác đáng, sâu sắc, không ai không phục. Đôi lúc có lời bình phẩm tới các nhân vật đương thời, xúc phạm đến quan trên. Có người thức thời nói: Tài Dạng đáng tài khanh tướng, nhưng trẻ tuổi đã khinh suất nguy và tiếc lắm thay. Chuyện đến tai Lưu Chương, Chương bèn cho đóng gông, lại sai cắt trụi râu tóc của Dạng để làm nhục. Dạng vẫn cười nói như không, coi râu tóc, dè bỉu của người đời là chuyện ngoại thân.
Tiên Chúa đem quân vào Thục, Dạng muốn ra mắt, nhưng chưa biết cách nào. Lại nghe Trung Lang Tướng, Quân sư Bàng Thống chính là danh sĩ Phượng Sồ ở Tương Dương, tuổi trẻ, tài cao, tính tình lại khoáng đạt, bèn tới trại của Thống xin yết kiến. Thống đang định tiếp đón, nói chuyện, nhưng chợt có việc gấp bèn tạ lỗi, nói Dạng vào trướng ngồi chờ để xử lý công vụ. Dạng bèn leo lên giường của Thống nằm ngủ. Tả hữu lấy làm quái lạ nhưng cũng không dám ngăn cản. Thống xong việc về trướng thấy Dạng, quần áo tả tơi, râu tóc cụt lủn như tên tù, đang nằm ngáy pho pho, thần thái tiêu sái, biết là kỳ tài, bèn sai sắp sẵn tiệc rượu rồi ngồi đợi.
Hồi lâu, Dạng tỉnh giấc vươn vai như ở nhà, hát bài Phượng Hoàng Cầu, giọng sang sảng như tiếng chuông ngân. Thống lại càng kính phục, bèn nói "Tiên sinh tới đây có gì chỉ bảo?" Dạng cười "Tôi nghe nói Sĩ Nguyên tài cao chí lớn, nay gặp gỡ, cần chi vội vã, xin cùng uống vài chén rượu, rồi hãy luận bàn chuyện thiên hạ." Thống bèn dọn rượu thịt, hai người tuổi trẻ tài cao, vô cùng tương đắc, ăn như rồng cuốn, rượu tràn quý tị, bèn bàn khắp việc thiên hạ, chỉ cần nói nửa câu là biết hết ý nhau, tự cho là Bá Nha, Tử Kỳ.
Thống mừng lắm bèn nói "Tôi ôm mộng kinh bang tế thế lâu ngày. May có Lỗ Tử Kính giới thiệu nên mới gặp được Lưu Sứ Quân là người anh hùng thời nay, thật là thỏa chí. Nay muốn tiến cử túc hạ, cùng giúp chân chúa mưu bá đồ vương, cứu thiên hạ lưu danh thiên cổ chẳng hay ý túc hạ thế nào?" Dạng nói "Tôi sở dĩ chưa ra làm quan, ý để tài cho chân chúa dùng. Chẳng hay Lưu Sứ Quân đã có những ai là cộng sự."
Thống nói "Bề tôi tâm phúc của Chúa công ta có My, Giản, Tôn, Y. Đại tướng có Quan, Trương, Hoàng, Triệu, Ngụy, Hoắc. Bầy mưu trong màn trướng quyết định việc ngoài trăm dặm, lại có thể làm rường cột Khổng Minh, Hiếu Trực và ta đây. Khổng Minh có tài cai trị nhưng không thạo việc binh, chưa hợp với việc ngày nay đánh dẹp trên lưng ngựa. Nay được thêm túc hạ, lo gì không bình được thiên hạ."
Dạng nói " Tôi nghe danh Pháp Chính là người quảng đại, tài cao. Túc hạ, tuy sơ kiến nhưng không khác gì Bá Nha của Dạng. Nhưng kẻ sĩ đông người dễ tranh giành. Không thuận ý khó làm việc. Tính Dạng lại sơ suất bất cẩn, sợ có bất trắc trong quan trường."
Thống nói " Những bậc vua anh hùng, kẻ sĩ kéo về rất đông. Vì thế có Trương Lương, Tiêu Hà, Tào Tham, mà vẫn phải có Trần Bình, Hàn Tín. Hoặc giả có sự cố gì không được như ý, tôi xin lấy chức vụ ra đảm bảo. Hoặc cùng túc hạ nên nghiệp Lã Thượng, Chu Công, hoặc cùng nhau rong chơi Ngũ Hồ quên hết việc thiên hạ."
Bèn dẫn Dạng vào yết kiến Lưu Bị. Dạng bàn việc binh như nước chảy, bày nhiều kế lạ. Bị yêu lắm, bèn giữ lại trong trướng nói chuyện ba ngày ba đêm không muốn rời, gác hết việc ngoài. Pháp Chính nghe nói Bị đang có người khách trẻ tuổi, dung mạo tuấn vĩ, phong thái hành vi lại cổ quái, bèn ngẩng mặt lên trời cười lớn "Mừng chúa công ta được thêm một nhân tài. Hẳn đây là Bành Vĩnh Niên."
Hôm sau Bị mở tiệc đãi Dạng như thượng khách, có Pháp Chính và Bàng Thống cùng dự. Bốn người bàn việc rất tương đắc. Bị bèn mời Dạng làm Tả tướng Tòng sự, điều động các tướng, giúp việc quân. Thống và Chính cùng thuyết phục, Dạng bèn khẳng khái nhận lời. Nhân đó, Bị hỏi Dạng "Tiên sinh xem quân dung của ta thế nào?" Dạng nói "Quân dung nghiêm chỉnh. Đánh đâu thắng đó. Nhưng hiện đang đóng trại chưa đúng phép." Bị nói "Xin tiên sinh cho nghe cao kiến."
Dạng nói "Thành Miên Trúc ở chỗ cao, lại ngay ở đê sông Miện. Nếu Trương Nhiệm cho quân phá đê sẽ cắt quân ta làm 3 khúc. Chỉ trong vài ngày hết lương. Quân sẽ loạn. Mong Minh quân lưu ý."
Bị bèn nghe theo. Kết quả bắt được Trương Nhiệm. Thống không may trúng tên lạc qua đời trước trận, năm ấy mới có ba mươi sáu tuổi. Dạng khóc mãi không thôi vì mất người tri kỷ. Lòng tự nhiên thấy trống rỗng cô quạnh không thiết đến sự đời, Pháp Chính phải an ủi Dạng mới nguôi ngoai. Dạng cùng Chính, giúp Bị điều động các tướng, lấy được Hán Trung, Chính được công đầu, Dạng được ghi công thứ hai.
Lưu Bị lấy được Thục, lĩnh Ích Châu Mục bèn lấy Dạng làm Trị Trung Tòng Sự, cùng bọn Chính, Lượng lo việc cai trị. Dạng tuy làm quan lớn, nhưng tính khí vẫn xuề xòa, có phần cẩu thả phóng túng.
Gia Cát Lượng, trong bụng không ưa Dạng, tính cách lại càng không thân thiện hòa hợp. Khi bàn việc, phần nhiều Dạng hợp ý với Chính mà trái với Lượng. Lượng thấy Bị và Chính tôn trọng Dạng, nên bề ngoài cố tỏ ra thân thiết bao dung, nhưng thường mật tâu với Tiên Chủ là Dạng chí lớn tài cao, tính lại cương cường khó kiềm chế. Bị ban đầu không tin Lượng, vì yêu tài cầm quân của Dạng. Nhưng sau khi Chính qua đời, dần dần Bị ngả theo Lượng mà ít dùng Dạng. Cuối cùng, cử Dạng ra ngoài làm quan Thái thú Giang Dương.
Khi đó, trong triều có Mã Siêu, vốn theo Tiên Chủ sau cùng, nhưng do dòng dõi thế gia, nên được Bị kính trọng cho đứng đầu các tướng võ. Siêu tự cho mình có công lấy được Ích Châu, nên khi đầu coi mọi người không ai bằng mình. Lại coi Bị như người nhà, thường gọi Bị bằng tên tự là Huyền Đức. Siêu nghĩ bụng mình trước vốn cũng là một Sứ Quân, không chịu gọi Bị là Chúa Công, tự coi mình là khách khanh. Các tướng đều khó chịu. Riêng Trương Phi nóng tính, muốn giết Siêu vì ngông nghênh vô lễ. Việc tới tai Quan Vũ. Vũ hỏi Siêu tài nghệ ra sao mà dám kiêu ngạo, muốn cùng Siêu tỷ thí, để nhân đó mà giết đi.
Bị bèn hỏi Lượng. Lượng bèn khuyên bày tiệc mời Siêu tới dự. Trong tiệc, Trương Hoàng Triệu Ngụy, 4 tướng đều kính cẩn đứng hầu. Siêu thấy vậy bèn chột dạ và kinh sợ, bèn cẩn thận giữ lễ tới mức thái quá. Có người nói với Tiên Chủ "Mã Siêu, sức mạnh có thừa. Tranh trận luôn thắng, nhưng kết cục toàn thất bại. Liên minh với ai chưa bao giờ thủy chung đến cùng. E có rủi ro." Bị tuy không nghe lời dèm pha, nhưng cố ý để câu chuyện đến tai Siêu. Siêu lại càng lo sợ cẩn thận giữ mình từng li.
Lúc tan triều, Siêu gặp Bành Dạng trên đường về, bèn mời Dạng về nhà uống rượu. Rượu được vài tuần, Dạng sảng khoái uống tràn cung mây, lời nói có phần buông thả. Siêu bèn ướm lời "Siêu vốn hâm mộ Tiên Sinh, vốn cùng với Hiếu Trực, Sĩ Nguyên và Khổng Minh cùng một hàng tứ trụ, gánh vác việc nước. Nay Hiếu Trực và Sĩ Nguyên đã mất, nhân tài khan hiếm. Tưởng rằng ông sẽ cùng Khổng Minh lo việc nước, nay lại đi làm quan ở châu Quận. Tuy phong lưu nhàn nhã, nhưng phụ lòng mong mỏi của chúng tướng. Lại phụ cả tài cầm quân của Tiên Sinh, mong ngài nghĩ lại."
Dạng gạt đi "Đó không phải là việc của ông. Ta ra trị nhậm ở quận cũng là việc lớn. Sau này, khi Chúa công cần thu phục Trung Nguyên, ông lo cầm quân ở ngoài, ta bày mưu kế bên trong, vượt Vị Hà, khôi phục Hán Thất mới là việc sảng khoái đáng để tâm."
Siêu lại nói "Trước kia Chúa Công yêu quý Tiên Sinh như vậy. Nay có ý lạnh nhạt là làm sao."
Dạng cười lớn "Lão đại lớn tuổi rồi, suy nghĩ cũng khác, ta không thể kiểm soát được chuyện đó, hơi đâu nhọc công suy nghĩ." Đoạn lăn ra ngủ.
Siêu bèn lượm lặt các câu nói của Dạng làm tờ tố cáo Dạng mưu phản, cho rằng Dạng muốn làm "nội ứng" thông mưu với mình và có lời bất kính với Tiên Chủ gọi Bị là "lão già".
Bị nhất thời nổi giận bèn bắt Dạng tống ngục. Trong ngục, Dạng biết mình khó qua khỏi tai kiếp này, bèn viết thư biện bạch, nhờ Gia Cát Lượng can thiệp với Lưu Bị.
Lượng nhân đó khuyên Bị giết Dạng để trừ hậu họa. Dạng chết mới ba bảy tuổi. Đến lúc tả hữu mang đầu Dạng lên nộp, Bị nhìn phong thái của Dạng tiêu sái như còn sống. Lại nhớ khi còn cùng lo việc binh nhung, bình Ích Châu, lấy Hán Trung lập quốc, còn đủ 3 người Dạng, Chính, Thống, mà chảy nước mắt. Nhưng hối tiếc cũng đã muộn.
Lệnh Lỗi Dương bàn:
Khi thể chế hình thành, quyền lực và chính trị là chỗ tiềm ẩn họa sát thân. Cậy tài khinh suất chết như Bành Dạng không đáng. Xét công thần nước Thục, cao như phụ chính đại thần là Lý Nghiêm, thân với Tiên Chủ như Lưu Phong, tài như Liêu Lập hơn 10 người đều kết cục xấu do Gia Cát Lượng. Đâu có phải là ngẫu nhiên. Như thế lại than trách Thục vì không có nhân tài mà suy tàn là làm sao?

Thứ Ba, 17 tháng 8, 2021

Vua sáng nhất đời Tam Quốc

1. Vua Á Đông sướng hơn vua Âu Mỹ. Điều đó cũng như ong, kiến, mối chúa sướng hơn trâu, ngựa đầu đàn. Hoàng đế Trung Hoa lại càng sướng. Món ngon, vật lạ, mỹ tửu, giai nhân, thậm chí mỹ nam (tin tôi đi, ngày xưa ở Trung Quốc, gay và lesbian còn nhiều hơn ở Mẽo bây giờ) loại thượng hạng, vưu vật bao nhiêu cũng có. Làm vua về nguyên lý sướng như vậy nên tranh nhau làm vua. Bạn bè, đồng liêu tranh đoạt không nói. Cha con, anh em cũng giết nhau như ngoé. Lên được ngôi rồi lại suốt ngày suy nghĩ lo giữ ngôi. Nghe nói Tần Thuỷ Hoàng, Hán Cao Tổ đọc và phê tấu chương từ sáng sớm đến khuya, rượu ngon, gái đẹp không hề sờ tới. Vài năm là lăn ra chết.

2. Một số ông vua chợt ngộ ra một điều: Trải qua vô lượng kiếp từ ngạ quỷ súc sinh, cửu vạn, đồ tể đi lên mới thành hoàng đế một lần, bỏ rượu ngon gái đẹp để duyệt tấu chương thì ngu quá sức. Chẳng tội gì không ăn chơi. Người phát minh ra chân lý đó có lẽ là Thái Khang, cháu nội vua Đại Vũ, vị hoàng đế đầu tiên theo thể chế cha truyền con nối. Sau đó quán được thượng thừa chân lý này là hai anh vua Kiệt và Trụ. Người ta hay chê hai anh này bạo ngược tàn ác. Tôi chắc là sử quan đời sau thêu dệt. Hoàng đế mà ở trong cung, rượu chè thiết gì đến giết chóc. Giá phỏng có giết vài lão đại thần hủ nho và vài chục cung nữ thái giám sao so được với các “minh quân” giết cả vạn người.
3. Vì vậy không rõ hôn quân là ngu tối hay sáng suốt, minh quân là sáng suốt hay ngu tối. Đừng tưởng bọn hôn quân là xuẩn ngốc thiểu năng. Tuỳ Dạng Đế văn võ toàn tài, Trần Hậu Chủ thơ ca nhạc hoạ trác tuyệt, thừa hiểu việc chính trị đổ nát sẽ diệt vong, nhưng cứ đánh chén chơi bời cho sướng một khoảng khắc trong chín vạn ba ngàn kiếp. Biết kiếp nào mới lại có cơ hội.
4. Chân lý này sớm muộn cũng phô bày, như cái kim trong bọc ắt thòi ra. Vì thế chỉ có vài đời vua sáng như Cao Tổ, Văn Đế, Vũ Đế, thức khuya dậy sớm, cóp công, tích đức là đến đời các ông con láu cá ngộ ra đạo lý xuyên thời gian, thấy không tội gì bận tâm tới chính trị. Muốn rảnh thời gian, trước tiên vua sẽ giao quyền cho một vị hoàng thân. Cũng có những ông hoàng chân chỉ hạt bột, bỏ cả sinh thú để thay vua làm những chuyện chán phè như Chu Công, Thiệu Công. Nhưng rồi cũng có người ngộ ra chân lý, nhân đó phế luôn anh vua. Mày và tao cũng phụ hoàng sinh ra, mày không muốn làm vua tao ngu gì không làm. Thế là vua dần dần sợ anh em, chú bác mình hơn sợ người ngoài. Vì thế vua bắt đầu tin dùng họ ngoại, vừa thân vừa khác họ, không đương nhiên thành vua. Một lựa chọn khác là kiếm một tay đại thần cho một cái chức thái sư, thừa tướng gì đó đổ lên đầu thằng cha đó cả núi tấu chương. Nói chung thiên hạ cũng không phải là ngu cả. Vì thế quyền thần và ngoại thích đều manh tâm cướp ngôi. Làm gì có chuyện tao gánh xương xẩu cho mày để mày xơi món ngon dùng đồ tốt mãi. Tao cũng phải nếm một lần trong chín vạn ba ngàn kiếp khổ nhục.
5. Anh vua tìm cách để phòng, chỉ có cách bàn với cung nữ và hoạn quan. Thế là lại sinh ra nạn yêm hoạn và nữ nhân bại quốc. Cuối cùng thì anh vua cứ ngả nghiêng giữa anh em cùng họ, ngoại thích, quyền thần, hoạn quan và hồ ly. Toàn bộ phong kiến Trung Hoa chỉ có mấy món đó đảo đi đảo lại.
6. Trước đời Tam Quốc có hai anh vua Hoàn Linh là hôn quân ngộ cái đạo lý đó và cũng rang 5 cái món trên đảo đi đảo lại, vừa phong hoa tuyết nguyệt đã đời. Bất chợt có anh đại thần nghĩ ra được một kế tìm mấy anh sáng sủa phương phi, phong cho chức quan Mục, phong tước hầu ( đại khái như chức uỷ viên trung ương ở ta bây giờ) cầm quyền Thứ sử, nắm quyền sinh sát, tiền trảm hậu tấu, cắt cử bộ máy ( đại khái như Bí thư Tỉnh uỷ bây giờ). Ý tưởng là thay vì đổ việc lên đầu một anh, thì đổ lên đầu 10 anh. Thế là sinh ra nạn quân phiệt cát cứ. Anh Thừa tướng Thái Sư ở trung ương còn có Ngự sử đài, các loại Tam Tư, Tam Thái, Tam Thiếu đàn hặc khống chế, không khéo mất mạng như Đổng Trác bị Vương Doãn thịt. Mấy ông Mục một khi nắm được quyền rồi không ai dám ho he. Các ông đánh giết nhau nhưng đều vâng mệnh thiên tử, ngang nhiên truyền chức cho con, như một hoàng thất nhỏ. Rồi ông nào giết được một ông quan Mục lại tự mình lĩnh chức châu Mục, chỉ tâu về triều, vua cũng chẳng làm gì nổi, Tào Tháo, Viên Thiệu, Lưu Bị, Tôn Sách đều do cướp đất mà tự lĩnh chức Mục Duyện, Ký, Từ, Dương.
7. Đâm qua chém lại cuối cùng còn lại ba anh Tháo, Bị và Quyền. Vậy anh nào là vua sáng. Nếu may mắn thiên hạ về một mối thì nên chọn anh nào? Tôi thích nhất anh Quyền. Anh Tháo tuy thông minh, nhưng cái gì cũng tự làm từ đâm chém, nghĩ mưu, kinh tế, chính trị đều làm tất. Tuy nắm được phần to, có vua, nhưng giết Dương Tu, Thôi Diễm, Tuân Úc là chỗ kém. Vì thế Tháo không là hoàng đế, cũng không đáng làm vua. Bị cũng là một anh võ biền, lúc nào cũng ngứa ngáy chân tay, thua ở Hào Đình ức mà chết. Cũng không phải là vua sáng. Anh Quyền đối xử với cấp dưới rất chân tình. Dùng người là uỷ thác tất cả. Anh sống lâu, thể chế mạnh mẽ, đoàn kết là đúng.

Thứ Bảy, 17 tháng 7, 2021

TAM GIÁC QUỶ CỐC

 TAM GIÁC QUỶ CỐC

Tiên sinh họ Vương tên Thiền, quán thông bách nghệ. Thời trẻ ông từng chu du thiên hạ, nhìn xem nhân tình thế thái, nắm tình người thói đời trong lòng bàn tay. Lại biết phân tích đạo đế vương, lẽ thịnh suy ở đời, nhìn thấu các mánh khóe tranh đoạt. Bất giác tiên sinh thấy lòng nguội lạnh. Bình sinh Vương chơi thân với Tôn Vũ, Mặc Địch, khinh bỉ bọn Lỗ Ban, Trâu Kỵ. Đến khi Vũ và Địch lần lượt qua đời, không còn ai tri kỷ, tiên sinh thở dài rồi phất tay áo vào ở trong hang núi Chung Nham trên đỉnh Tung Sơn, đọc sách tiêu dao qua ngày. Đạo càng sâu, học càng tinh. Người đời thấy thần bí bèn tôn xưng là Quỷ cốc tiên sinh. Nhiều người đến xin học, tiên sinh đều từ chối.
Một hôm có người khách cưỡi một con trâu xanh tới chơi. Người khách phong độ bất phàm, hình dung tả tơi nhuốm màu phong sương, nhưng tiếng nói trong trẻo như thác đổ, cặp mắt như cười, như mơ, phong độ nửa cao ngạo quý phái, nửa dân dã khinh bạc, chẳng giống ai. Vương lấy làm lạ, bèn mời ngồi chơi lấy nước khe suối sau nhà pha trà. Chuyện trò thập phần tương đắc. Tuy học thuật khác nhau, nhưng đạo lý thập phần tương đắc. Khách bàn về lẽ biến hóa của trời đất, Vương nói về gốc cái học của nhân sinh. Chuyện thao thao như nước chảy liền mấy ngày. Khách nói "Tôi xem tài học của tiên sinh đã trùm thiên hạ. Sao lại để mục nát nơi xó núi, không phù tá vương bá như bọn Quản Trọng, Nhạc Nghị thì cũng lập môn phái như lũ Khổng Khâu, Trang Chu, để tinh hoa lại cho đời?" Vương nói "Tôi cũng có ý tìm truyền nhân, nhưng chưa thấy ai có đủ tư cách. Đạo của tôi đã thông đạt tới dịch lý, căn cội sâu xa. Riêng âm dương ngũ hành nhiều kẻ học hàng chục năm mới hiểu. Thà để mục nát còn hơn truyền cho bọn ngu phu ngu phụ." Khách mỉm cười chỉ vạch trên bàn một hình tam giác, ngửa cổ cười ha hả mà nói "Hay lắm, hay lắm" Đoạn viết thêm mấy chữ "Nhĩ Đam Lai" rồi cất bước. Vương gọi theo hỏi tên họ. Chỉ nghe trả lời "Ta họ Lý" đã thấy trâu xanh vùn vụt đi xa.
Vài tháng sau chợt có bốn thanh niên tới xin học. Tô Tần, Trương Nghi có vẻ con nhà buôn bán ở chợ, tư cách bình thường, từ ngữ so đo hạ lưu, chấp nhặt câu chữ. Tôn Tẫn, Bàng Quyên con nhà gia giáo, anh tuấn, nho nhã, vũ dũng hơn người, phóng khoáng, thông đạt. Vương tiên sinh nói "Ta đây có bách nghệ muốn truyền. Xem tư chất các ngươi không thể học hết, mỗi người hãy chọn lấy một nghề. Cao thì có đạo, hạnh, trí, thấp thì có biện thuyết, binh pháp và buôn bán. Thứ nữa là bói toán, chế khí, thiên văn, địa lý".
Tần, Nghi xin học chính trị, thuật phù tá bá vương. Vương tiên sinh nói "Đó chẳng qua là chuyện biện thuyết, bẻm mép chắc hợp với các ngươi." Bèn truyền cho khoa du thuyết. Tẫn, Quyên đều xin học võ nghệ. Tiên sinh nói: " Học võ là thay trời hành đạo, bênh kẻ yếu, áp chế kẻ mạnh. Sao bằng học binh pháp đánh cả vạn người. Ta xem võ nghệ các ngươi cũng đã đủ phòng thân." Bèn truyền cho nghề binh pháp.
Tiên sinh đọc khẩu quyết rồi vẽ bốn hình tam giác lên giấy đưa cho nghiền ngẫm. Thấm thoắt mười năm, sáng nghe giảng, chiều đọc sách, tối tĩnh tọa nhìn tam giác. Mội bữa, Tần và Nghi chợt thấy lòng rung động, giác ngộ được lẽ lớn của thuật du thuyết bèn xin xuống núi "Nay bọn con đã hiểu mọi lẽ trong cái học của thầy, xin được thay thầy hành đạo". Tiên sinh cười "Các người mới đến mức Thuật. Hãy học thêm mười năm." Tần nói "Nay con đã hiểu công dụng kinh người của tam giác. Xin thầy cho con thứ khác để nghiền ngẫm." Tiên sinh nói "Tam giác, hình tròn, tứ giác cũng là một thứ. Ngươi chớ nghi ngờ. Hãy cứ nhìn tam giác mà nghiền cho sâu, ngẫm cho xa." Tần và Nghi đều xin vâng, miệt mài học tập thêm mười năm, đều lĩnh hội được phép biến hóa trong nghề du thuyết, việc gì nói trắng nói đen đều được. Tiên sinh bèn cho xuống núi và nói "Các ngươi tư chất tầm thường học đến mức Nghệ là được. Tam giác có thể xoay ngang xoay dọc. Các ngươi đã đến mức hô mưa gọi gió trong chính trị thời nay. Vinh hoa phú quý không kể xiết. Nhưng căn cơ chưa đủ hãy nhớ phòng họa, để lại phúc đức, kẻo chết không toàn thây."
Tần và Nghi xuống núi, chưa đến năm năm, Tần lập thuyết Hợp Tung làm Tướng Quốc sáu nước. Nghi lập thuyết Liên Hoành là Thừa tướng ba nước. Họ khuynh đảo chư hầu, quyền hành lấn át thiên tử. Rốt cuộc đều chết và bị xé xác ở Tề và Sở.
Tẫn và Quyên chăm chỉ học hành, đã đến mức có biến hóa khôn lường. Tuy học một nghề binh pháp nhưng có thể áp dụng vào chính trị, buôn bán, chế vũ khí, canh nông, không nghề gì không làm được. Nghe Tần và Nghi danh đã vang lừng thiên hạ, bèn xin thầy xuống núi. Tiên sinh nói "Nay các người đã thành Pháp. Ta muốn chỉ điểm thêm cho thành Đạo. Khi đó các người muốn xuống núi cũng chưa muộn. Ta xem tư chất các ngươi có thể đắc đạo bất hủ cùng trời đất, cùng ta tiêu dao thấy được lẽ nhiệm màu của vũ trụ. Lăn lê vào chỗ rừng tên mưa máu làm chi." Tẫn xin vâng. Riêng Quyên nói "Học đạo là để thi thố với đời lẽ nào lại để hủ bại cùng trời đất. Con đã nhìn tam giác này hơn một vạn lần, tự cho là tư chất không ngu độn, lẽ nào chưa quán thông được nó." Tiên sinh chiều theo ý, chỉ dặn thêm "Tài của ngươi nay đã vô địch thiên hạ. Nhưng chưa đắc đạo mà ỷ vào tiểu xảo, e rằng mất mạng cũng bởi tiểu xảo. Ngươi nhớ tu thân dưỡng tính để tránh đạo".
Quyên đến nước Ngụy, hiển lộ tài năng, được vua phong nguyên soái, đem quân đánh đâu được đấy. Các nước chư hầu Tề, Triệu, Ngụy, Tần, Sở, nghe danh Quyên đều khiếp vía, không ai dám đối địch. Một ngày kia, Quyên nhớ tới Tẫn, bèn viết thư mong gặp mặt cùng chung hưởng phú quý. Lúc bấy giờ đó là tình anh em đồng môn mấy chục năm đèn sách chân thật. Tẫn được thư, trình thầy. Tiên sinh nói "Ta biết không giữ được con, sớm muộn ắt sẽ có ngày này. Nay con còn chút nữa thì hiểu Đạo. Con sẽ gặp nguy nan, tàn tật nhưng không đến nỗi mất mạng. Con đã nghiễn ngẫm tam giác, nay ta cho con thêm vòng tròn." Nói đoạn tiên sinh khoanh một vòng tròn xung quanh tam giác của Tẫn và nói thêm "Vòng tròn bao tam giác, nhưng cũng nằm trong tam giác. Một vòng liền nhưng bao giờ cũng một nặng một nhẹ. Phép đối địch là lấy nặng của mình mà đối với cái nhẹ của địch. Phép hòa hợp là lấy nhẹ của mình đỡ cái nặng cho người khác." Tẫn xin vâng rồi xuống núi.
Quyên gặp Tẫn rất mừng, nghĩ rằng tài cũng như nhau hợp sức bình thiên hạ. Ai ngờ mới xa cách hai năm, tài nghệ đã biển trời cách trở. Quyên bèn sinh ghen ghét, đặt điều vu vạ mà chặt chân Tẫn, duy chỉ còn chút nhân tính nên chưa giết hại. Tẫn trốn được về Tề, trở thành quân sư. Chẳng bao lâu đem quân chinh phạt chư hầu. Tề Ngụy đối trận, Quyên mắc kế của Tẫn, binh bại tự vẫn.
Tẫn thấy lòng nguội lạnh, thấy chán nản mọi sự bèn trở về núi theo thầy tu đạo. Vương tiên sinh vui mừng khôn xiết bèn xé tam giác và vòng tròn. Sau này nghe nói, Tẫn cùng thầy đắc đạo, tiêu giao ngũ hồ, hồn phách còn phảng phất đến bây giờ ở vùng Tây Thái Hồ.
Like
Comment
Share

Thứ Sáu, 11 tháng 3, 2016

Luận Tam Quốc: Đệ tử như chó lợn

    Tào Tháo đem quân đánh Giang Đông, nhìn thấy Tôn Sách tấm tắc khen "Sinh con thì hãy sinh con như Tôn Văn Đài (trỏ Tôn Kiên) chớ sinh con như Lưu Cảnh Thăng (trỏ Lưu Biểu). Cha thì như hổ như báo mà sinh ra toàn chó lợn cả.

     Ngày nay, nhìn thấy con cháu một danh gia tư cách không ra gì, cha ông cũng được ví với Lưu Cảnh Thăng là do câu nói đó. Nếu ai bảo cha ông bạn là Lưu Biểu, họ có thể đang khen. Nhưng nếu họ nói là Lưu Cảnh Thăng có thể bạn đang làm ô danh người đi trước.

Thứ Bảy, 25 tháng 7, 2015

Tại sao Lưu Bị theo Đổng Thừa mưu giết Tào Tháo?

Có chi tiết ít ai biết, trước khi Tào Tháo mưu giết Đổng Trác không thành phải chạy trốn, đã có giao du với Lưu Bị, cũng đang làm một chức quan võ ở Tràng An.

Bị cũng chạy theo Tào Tháo về Tiểu Bái hưng binh thảo phạt Đổng Trác. Sau khi thua trận, bèn chạy về nương nhờ vào ông anh kết nghĩa, vừa là bạn học cùng thày Lư Thực là Công Tôn Toản, đang làm Thái Thú Bột Hải. Công Tôn Toản tiến cử Bị làm quan Biệt Bộ Tư Mã, dần thăng lên chức Bình Nguyên Tướng. Cảm ơn Công Tôn Toản, Bị phải dốc sức đánh nhau vì Toản, cũng chỉ đánh trận lằng nhằng như một võ quan nhỏ.

Đời của Lưu Bị chuyển, khi do cơ duyên và trượng nghĩa cứu Đào Khiêm, được Khiêm chỉ định làm quan Mục Từ Châu. Vị thế đó đưa Bị lên ngang hàng với các sứ quân trong thiên hạ. Từ Châu là địa bàn trong thiên hạ rất khó nuốt. Vì vậy Lưu Bị phải liên tục đánh nhau với Tào Tháo, Viên Thuật, Lã Bố, tinh những hổ báo.

Tuy vậy, bôn ba bao năm mới có được địa vị như thế, nên Bị phải cố giữ. Giữ mà luôn luôn đe dọa bị mất, thời gian sức lực chỉ nghĩ tới chuyện giữ thành, chẹn đường, cướp quân lương mà không lúc nào nghĩ tới việc rốt cuộc sẽ không giữ được mà không tích lũy được vốn liếng gì trong tay. Tướng thì mãi cũng chỉ có hai ông Quan, Trương võ nghệ cũng chưa đủ mức bạt thiên hạ, văn thì toàn bọn thư sinh mặt trắng như Tôn Càn, My Chúc. Chỉ có Trần Đăng là có vẻ hơi có mưu mẹo một chút.

Nói như vậy, việc Lã Bố cướp được Từ Châu là giải thoát cho Bị khỏi u mê và lòng tham danh. Bị buộc phải chạy về đầu hàng Tào Tháo. Tháo chắc vẫn còn giận Bị vì cứu Đào Khiêm, nhưng là người rất hiểu khát vọng làm quan của Bị, lại có chút tình xưa nghĩa cũ, nên dung nạp Bị.

Rất may cho Bị là nhờ Lã Bố vũ dũng trùm đời, Tháo rất kiêng sợ, nên tích lũy ngay được một cái vốn kha khá. Giá trị lợi dụng của Bị đối với Tháo là đi thảo phạt Lã Bố. Thực ra, Bị chưa phải là đối thủ của Lã Bố, nhưng về hình thức, Bị phải hết lòng đánh Lã Bố vì Bố đã cướp Từ Châu của Bị. Lòng trung thành vì quyền lợi có giá trị hơn năng lực nhiều. Giá trị lợi dụng thứ hai của Bị là ở Từ Châu còn nhiều dư đảng của Bị và Khiêm, có thể làm gián điệp cho Tháo chống lại Bố. Giá trị của Bị càng tăng, khi các tướng của Tháo như Hạ Hầu Đôn, Tào Hồng đã nhiều lần bị các tướng của Bố như Cao Thuận, Trương Liêu đánh cho thất điên bát đảo.

Với ngần đó vốn còn lại trong tay, Bị phải bày lại một ván bài mới để kiếm lợi nhiều nhất. Kết cục, Bố bị Trần Đăng xui dại, các tướng phản thùng mà bị bắt. Khi đó, Bố đã thương lượng với Tháo, tình nguyện đầu hàng, thề đem hết sức chinh phục thiên hạ vì Tào Tháo. Cổ phiếu của công ty Lưu Huyền Đức có nguy cơ rớt giá thê thảm. Do đó Bị phải ra tay xui Tào Tháo giết Lã Bố. Sở dĩ Bị dễ thành công là vì cách nói của Bố vừa  ngu vừa võ biền. Ngu ở chỗ nói tài chính trị của Tháo và vũ dũng của Bố là đều vô địch thiên hạ. Đúng là không hiểu sự kiêu căng này nói nguy hiểm cỡ nào. Vì Tào Tháo sẽ nghĩ ngay đến việc, bây giờ tao may mà túm được mày do thằng Hầu Thành nó cho mày uống rượu say, trói lại. Sau này mày khôn hơn, đem cái vũ dũng của mày ra phá cái chính trị của tao thì tổn thất cỡ nào. Võ biền ở điểm không thấy mày cam kết trung thành, mà chỉ nói chuyện đánh đá. Tao cần cái thằng bảo đánh đá là đánh đá, bảo hiền như thỏ là hiền như thỏ. Lại chẳng may gặp anh tai to, khích bác thêm nên Bố mất mạng, cũng đáng đời, không trách ai được.

Nếu thiên hạ không còn Mã Đằng-Hàn Toại, Tôn Sách, Lưu Biểu và hai anh em họ Viên thì sau khi bắt Lã Bố, cổ phiếu của Lưu Bị sẽ rớt giá thảm hại. Nhưng vì muốn quảng cáo cổ phiểu của mình để cạnh tranh, Tháo bắt buộc phải nâng giá Lưu Bị. Thế là Bị được phong Nghi Thành hầu, Dự châu Mục, Tả Tướng Quân mà sau này trên đường lưu vong, khi nào Bị cũng đem ra xưng. Rất được việc, nhất là đối với bọn nho sĩ.

Khi này đối với Lưu Bị sẽ có khả năng làm quan to, sống yên ấm ở kinh thành. Nếu phục vụ Tào Tháo cho tốt, Bị có thể được thăng dần lên Phiêu Kỵ, Xa Kỵ hay Đại Tướng quân chưa biết chừng. Liệu Bị có muốn như vậy không hay tiếp tục làm loạn bôn ba. Nhiều khả năng Bị muốn ở lại kinh thành hưởng xa hoa phú quý, chứ không muốn "luân chuyển cán bộ" miễn cưỡng. Bởi vì bằng tầm nhìn của Bị lúc bấy giờ không thể nào nhìn ra sẽ cướp được đất của ai, chưa nói chuyện lên ngôi Hoàng đế ở Xuyên.  Trương Phi thì đang chết mệt với cô con gái của Hạ Hầu Uyên. Quan Vũ thì đang chén tạc chén thù với Trương Liêu, Từ Hoảng, lại đang hy vọng Tháo thưởng cho cô vợ của Bố.  Nên chắc không ông nào muốn lăn vào chỗ đâm chém.

Tuy nhiên, trong màn kịch này có vai trò của Hiến Đế. Rõ ràng ông vua này sau khi thịt Đổng Trác, lại muốn làm thịt nốt Tào Tháo. Chẳng trách quan to phải bức hiếp vua để giữ mình. Ông này vừa gặp Lưu Bị đã nhận họ nhận hàng, gọi là hoàng thúc. Mặc dù vài trăm năm sau Tư Mã Quang phán một câu xanh rờn: đời đã xa, không có bằng cứ, thế là nhận xằng. Thực ra, Hiến Đế mới là anh nhận xằng. Còn Bị thì hiểu nhầm mà có lợi cho ta thì càng tốt.

Chính Hiến Đế đã ra lệnh cho Đổng Thừa bày mưu, khiến Bị không có cách nào thoát, đành nhắm mắt ký vào từ chiếu đai áo. Đó cũng là cái giá, khi được nhận làm chú vua. Khi tỉnh ra thì chỉ còn con đường trổ vách vườn rau mà chạy.

Chủ Nhật, 19 tháng 7, 2015

Gia Cát Lượng và bài Lương Phủ Ngâm

Người ta thường truyền tụng rằng, khi Gia Cát Lượng còn ẩn mình cày ruộng ở Long Trung, thường ngâm bài Lương Phụ ngâm, rồi ví mình như Quản Trọng, Nhạc Nghị. Nếu ngâm nga một bài từ ngày này qua tháng khác, ắt trong đó có những ý tưởng tâm đắc nào đó, có thể liên quan tới chí kinh bang tế thế. Hãy thử tìm hiểu xem bài Lương Phủ Ngâm có gì hay. 

Hiện nay còn có thể tìm được hai bài Lương Phủ Ngâm. Bài phổ biến hơn cả và được cho là Gia Cát Lượng hay ngâm là một bài nhạc phủ, theo âm luật, ngôn từ thì nhiều khả năng sáng tác vào thời Hán, trùng với thời Gia Cát Lượng đang sống. Khúc ngâm này có phong cách như ca dao. Nhiều người còn cho rằng chính Gia Cát Lượng là tác giả của khúc ngâm này. Cho đến gần đây, có học giả là Dư Quán Anh, đặt nghi vấn là khúc ngâm này không phải do Gia Cát Lượng sáng tác.

Nguyên văn:

梁父吟 

Lương Phủ ngâm

Bộ xuất Tề thành môn,
Dao vọng đãng âm lý.
Lý trung hữu tam phần,
Luỹ luỹ chính tương tự.
Vấn thị thuỳ gia trủng,
Điền Cương, Cổ Dã Tử.
Lực năng bài Nam sơn,
Văn năng tuyệt địa lý.
Nhất triêu bị sàm ngôn,
Nhị đào sát tam sĩ.
Thuỳ năng vi thử mưu,
Quốc tướng Tề Án Tử.


Dịch nghĩa

Đi bộ ra ngoài cổng thành nước Tề,
Từ xa nhìn về một ngôi làng mơ ảo nơi xa xa.
Ở trong làng có ba ngôi mộ,
Giống nhau tựa như xếp chồng lên nhau.
Hỏi là mộ của ai vậy ?
(Trả lời) Là mộ của những người Điền Khai Cương, Cổ Dã Tử (và Công Tôn Tiếp).
Tài võ của họ có thể lật đổ núi Nam,
Tài văn của họ có thể xoay chuyển đất trời.
Nhưng một sớm bị lời sàm ngôn,
Hai trái đào đã giết chết ba dũng sĩ.
Ai là người có thể nghĩ ra mưu kế đó?
Là tướng quốc nước Tề: Án Bình Trọng.

Bài thứ hai có trong Tam Quốc Diễn Nghĩa của La Quán Trung, tả cảnh Lưu Bị đến Long Trung tìm Gia Cát Lượng thì gặp Hoàng Thừa Ngạn, bố vợ của Gia Cát Lượng đang ngâm một bài. Hoàng Thừa Ngạn nói rằng bài này là "Lương Phủ Ngâm" do con rể là Gia Cát Lượng làm ra.

Nguyên văn

        一夜北风寒, 万里彤云厚.

长空雪乱飘, 改尽江山旧.

仰面观太虚, 疑是玉龙斗.

纷纷鳞甲飞, 顷刻遍宇宙.


骑驴过小桥, 独叹梅花瘦!

Phiên âm
         Nhất dạ bắc phong hàn, vạn lý đồng vân hậu.
Trường không tuyết loạn phiêu, cải tận giang sơn cựu.
Ngưỡng diện quan thái hư, nghi thị ngọc long đấu.
Phân phân lân giáp phi, khoảnh khắc biến vũ trụ.
Kỵ lư quá tiểu kiều, độc thán mai hoa sấu!

Dịch nghĩa
         Một đêm  gió bấc lạnh, vạn dặm mây mịt mù
         Trên không tuyết bay loạn, biến đổi cả giang sơn
         Ngửa mặt nhìn trời cao, thấy như rồng đang đấu
         Trùng trùng sư tử bay, chớp mắt biến vũ trụ
         Cưỡi lừa qua cầu nhỏ, một mình than mai gầy 

Về mặt thơ ca, bài thứ hai rõ ràng là hay hơn. Lời lẽ cũng hùng tráng, có chí khí vút tận trời cao, nhưng có tài hoa thi sĩ phảng phất như Tào Mạnh Đức. Anh hùng khí trùm trời đất, muốn nuốt cả trăng sao,nhưng thơ thẩn một mình đơn độc, thương một đóa hoa mai mảnh mai trong trời lạnh. Tuy nhiên không loại trừ, bài thơ do chính La Quán Trung sáng tác nên mới toàn bích như thế.

Gia Cát Lượng có lẽ không có được văn tài như thế. Bởi lẽ, trước tác để lại đúng là của Gia Cát Lượng chỉ có hai bài biểu là Xuất Sư Biểu và Hậu Xuất Sư Biểu, cũng không có gì đặc biệt về văn chương. Có một khả năng, bài này không phải do Gia Cát Lượng làm, mà ông chỉ ngâm nga do hợp chí của mình. Bài ngâm này hoàn toàn có thể phù hợp về nội dung.

Bài thứ hai thuật lại tích Nhị đào sát tam sĩ thời Chiến Quốc. Thời Chiến Quốc ở nước Tề có ba dũng sĩ, "Sức có thể dời Nam Sơn". Lịch sử chỉ ghi về sức mạnh của họ, nhưng bài Lương Phủ còn tán thêm là "Văn năng tuyệt địa lý". Án Anh, một trong những danh thần thời Chiến Quốc, lấy làm lo ngại, các dũng sĩ kiêu ngạo này có thể làm loạn lễ nghi. Ông dùng kế, dọn 2 quả đào, nói rằng ai là dũng sĩ mạnh nhất đáng ăn đào. Hai người ăn đào, một người thấy xấu hổ vì không được ăn đào bèn tự sát. Hai người kia thấy vậy cũng xấu hổ mà tự sát theo.

Bài ca rõ ràng là oán trách Án Anh, mưu sâu kế hiểm, giết oan người tài, mặc dù Khổng Tử trong kinh Xuân Thu thuật lại chuyện này có ý khen Án Anh mưu kế, vì nước. Khả năng Gia Cát Lượng ngâm nga bài này không nhiều. Thứ nhất, bài này không có gì hay về ngôn từ và nội dung, đến mức phải ngâm đi ngâm lại. Thứ hai, Gia Cát Lượng thuộc dòng Thanh Lưu, theo thói quen là sùng bái Án Anh, Nhạc Nghị, Quản Trọng,... không có lý gì lại oán trách Án Anh.

Một khả năng rất ít là Gia Cát Lượng có thù oán với các võ tướng nào đó đến tận xương tủy, mong có ngày xây dựng một thể chế không có bọn võ tướng. Điều đó cũng có khả năng vì Gia Cát Lượng hồi nhỏ mồ côi cha. Chú là Gia Cát Huyền, được Viên Thuật cho làm Thái Thú ở Hợp Phì. Có thể cả gia đình chú cháu rất hy vọng có một cuộc sống đầy đủ, no ấm. Nhưng chưa tới nơi, nhà Hán lại cử một võ tướng làm Thái Thú. Do đó Gia Cát Huyền phải đưa đàn cháu về Kinh Châu sống nương nhờ vào Lưu Biểu. Biểu cũng là văn quan, nổi tiếng trong đám Bát Tuấn thời Tam Quốc. Biểu cho Huyền một chức huyện lệnh nào đó, cũng đủ sống sung túc. Sau đó, Biểu nghe bọn võ tướng là Sái Mạo bỏ rơi Huyền. Chú cháu phải dắt nhau về cày ruộng ở vùng Long Trung. Có lẽ chính vì thế Gia Cát Lượng ghét bọn võ quan kiêu dũng. Sau này thái độ của Gia Cát Lượng với Quan Trương là áp chế. Đặc biệt với Ngụy Diên ông cư xử tương đối tàn độc, bất công.

Nhưng không lẽ một người như Gia Cát Lượng ngâm nga một bài thơ quèn ngày này qua tháng khác chỉ vì một mối thù vặt vãnh như thế.

Thứ Sáu, 10 tháng 7, 2015

Bình Tam Quốc: Có túi khôn cũng không biết dùng

Tào Phi chết. Các đại thần cố mệnh là Tào Chân, Tư Mã Ý và Chung Do. Tào Chân làm Đại Tướng Quân, Tư Mã Ý làm Thái Úy cùng giữ binh quyền. Chung Do làm Tư Đồ. Tào Chân chết, con trai là Tào Sảng lên thay, được nhiều người giúp rập, trong đó có Hoàn Phạm, nổi tiếng là túi khôn.

Hoàn Phạm xui Tào Sảng tâu với vua Ngụy thăng chức Tư Mã Ý lên Thái Phó, tước hết binh quyền. Dần dần, Tào Sảng đưa tay chân nắm hết các chức vụ xung yếu, quyền át vua. Sảng cử em trai coi cấm quân, nhất cử nhất động ở kinh thành đều kiểm soát. Tư Mã Ý phải giả ốm, không nhìn ngó gì tới triều chính. Sảng tưởng Ý già yếu lẩm cẩm không còn lo lắng gì nữa, bèn nghĩ đến chuyện ra ngoài thành đi săn.

Hoàn Phạm nói: Đại tướng quân đi săn lỡ ở nhà có chuyện gì thì làm thế nào? Sảng nói: Ta ra ngoài mang theo cả vua, hiệu lệnh thiên hạ ai dám chống. Bèn đưa vua, các quan văn võ và cấm quân xuất cung đi săn.

Ý nghe Sảng xuất cung bèn nai nịt gọn gàng, cùng hai con trai, cầm ấn Thái Phó đến mở kho vũ khí phát cho thân binh, rồi chia nhau phong tỏa tất cả các công sở và vị trí xung yếu, đóng cửa Kinh thành, ra lệnh nội bất xuất ngoại bất nhập. Lại cho người vào cung xin Thái Hậu ra chiếu chỉ bắt Tào Sảng vì tội chuyên quyền.

Hoàn Phạm nghe tin bèn lấy ấn Đại Tướng Quân và binh phù của Tào Sảng bỏ vào tay áo, một mình một ngựa phóng qua cửa thành mà đi. Vừa may, quan giữ thành lại là học trò Hoàn Phạm, không dám cản thầy.

Phe Tư Mã Ý nghe tin Hoàn Phạm chạy thoát đều biến sắc mặt nói: Túi khôn lọt ra ngoài mất rồi biết làm thế nào. Ý nói: Sảng tính tham lam, ngu dốt, lười biếng có túi khôn cũng không biết dùng. Nay đem lợi ra nhử chắc bắt được.

Lại nói Tào Sảng nghe tin Tư Mã Ý nổi loạn sợ luống cuống chân tay. Em Sảng chỉ huy cấm quân khóc hu hu "bây giờ biết làm thế nào". Ngay lúc đó Hoàn Phạm phóng ngựa tới nói "Tư Mã Ý làm loạn. Nhưng tôi đã mang ấn Đại Tướng Quân và binh phù tới. Nay ngài rước xa giá ra miền đông, hiệu triệu các châu đem quân về bắt Tư Mã Ý, ai dám không theo." Anh em Tào Sảng quen ăn chơi sung sướng, nghĩ chuyện xa kinh thành, đi xa mệt nhọc, ngại ngùng.

Hoàn Phạm lại nói: "Chuyện gấp lắm rồi. Xin ngài quyết định ngay, nếu không sẽ chết cả họ.". Sảng nói "Ngươi để ta suy nghĩ thêm." Sảng nghĩ suốt một đêm vẫn không quyết được gì. Đến sáng chợt có sứ của Tư Mã Ý đến nói chỉ muốn tước bớt binh quyền, vẫn cho Sảng giữ chức vụ và tài sản. Sảng mừng lắm. Em Sảng cũng nói: Thái Phó chắc không phụ ta đâu. Sảng nói: Cùng lắm bỏ binh quyền làm một ông nhà giàu.

Hoàn Phạm ngửa cổ lên trời khóc mà nói "Than ôi! Tào Tử Đan tự phụ tài trí hơn người lại sinh một lũ con toàn chó lợn."

Tào Sảng về đến thành, bị Tư Mã Ý sai bắt giết cả ba họ. Đồng đảng của Sảng, trong đó có Hoàn Phạm đều bị tận diệt. Quyền bính nước Ngụy từ đó rơi và tay họ Tư Mã.

Lời bình của Lệnh Lỗi Dương: Xét ra Hoàn Phạm vẫn chưa thể gọi là túi khôn. Khôn thì đã không bày kế cho kẻ ngu. Mưu hay, thì chúa phải cầu. Chúa không cầu mà tự mình phải bày mưu, thuyết phục chỉ có hai trường hợp. Chúa ngu không dùng như Tào Sảng, cùng như ngọc dưới chân trâu. Chúa sáng biết dùng như Tào Tháo dùng Tuân Úc, cũng không khỏi bị nghi ngờ chịu họa sát thân.
Đã gọi là chúa sáng phải tự biết tài và cầu lấy mưu hay. Cố tình bày mưu cho vua, đều không có kết cục tốt.