Có những người cộng sản hy sinh
Chân lê vòng xích sắt
Nụ cười sáng trong đôi mắt
Bước lên đoạn đầu đài
Anh ngẩng nhìn mặt trời
Một giải mây trôi
xa tắp
Anh gửi theo mây trời tiếng hát
Yêu thương,
tha thiết,
làm người
Trời quê hương đẹp lắm hôm nay
Có những em bé sơ sinh
khóc trong lòng mẹ
Miệng xinh xinh liếm từng giọt sữa
Kỷ niệm đầu tiên
thơm ngọt vị đời
Sáng hôm nay - cũng sáng hôm nay
Có những tình yêu chớm nở
Những tuổi hai mươi hôm qua còn bỡ ngỡ
Vụt lớn lên vì có lứa đôi
(- Ta với mình tuy một mà hai!)
Anh còn thấy giờ đây
khi đầu rời khỏi hai vai
Những khối thép đang đúc liền cuộc sống
Những nhịp cầu vươn qua sông rộng
Một vì sao
chói sáng.
Từng chiếc đinh
mối hàn
nóng bỏng
Ríu rít
theo nhau
nối những chân trời.
Và khắp nơi ...
trên những luống cày,
Những tầng mỏ
nặng nề, tăm tối
Triệu triệu bàn tay
nắng sương còm cõi
Ghì xuống thép gang,
Giữa trái tim mình, kính cẩn
"Thêm một người hy sinh
cho tất cả
giờ đây..."
Cuộc sống bắt đầu
buổi sáng hôm nay
Như những buổi ban đầu trên quả đất!
Anh yên tâm
mỉm cười nhắm mắt
Chờ lưỡi dao
khép cánh cửa đời anh
Mái tóc xòa bay
trong nắng mông mênh
lần cuối
Như cánh buồm đen
phập phồng
vẫy gọi
Một vì sao
chói lọi
xa xôi
Ánh nắng năm xưa
đã tắt đâu rồi
Trong đôi mắt của anh
đời đời vĩnh biệt
Cuộc sống cần lao
- yêu thương, giận ghét -
Còn mênh mông
trong tim óc con người
*
* *
Có những kẻ ĐÃ QUÊN ANH
- Những người đãng-trí-thiên-tài -
Yên ngủ trong lòng cuộc sống
Kĩu kịt
à ... ơi tiếng võng
Lim dim giấc mộng trưa hè
Có những người quen "tụng niệm nam mô"
Nửa kiếp trước
gật gù say tỉnh
Nặng nợ trần gian
chuyên ngành "Cách Mịnh"
Rắp ranh quan lớn
ngày nay
Họ nhẩm tên anh thành kính
mê say
Như kẻ hiếm con
lâm râm
cầu tự
- "Ơn đồng chí ...
siêu sinh tịnh độ ...
Rủ lòng phù hộ chúng tôi!"
Có những kẻ
mang tên anh
đi giữa cuộc đời
Như một chiếc
thẻ ngà
trên ngực
Cô gái nhỏ
lặng lời ca.
- Chim ngừng
tiếng hát
Nghe bước chân đi
của hắn
nghênh ngang
Như tên cai thầu
mang thước ngọc
khuôn vàng
Đo đạc những bầu tim khối óc
Còn biết bao nhiêu
Những con chiên
Đi trong hàng ngũ chúng ta
Lở lói trăm tầng mụn chốc:
Những kẻ buôn dân trong Cải cách
Như bán lẻ thuốc cam sài
giữa chợ
công khai
Chính sách Đảng ta quý trọng con người
Âu yếm mỗi bàn tay mái tóc
Chúng ăn bớt từng câu - nuốt trôi từng mục
Đem làm thang,
làm bục,
công danh
Phê án tử hình
như những lang băm
Kê đơn thuốc
"Sống chết mặc ai,
tiền thầy bỏ túi !"
Trên mồ
những người đã chết từ lâu
Cỏ ùn - lạc lối
Những người cộng sản vô danh
Sống cho con người
Chết đi không tên không tuổi
Tôi muốn viết một bài thơ
Ghi bằng mồ hôi
Và máu chúng tôi
nóng hổi
BÀI THƠ CỦA CHÚNG TÔI
- Công dân của nước Cộng hòa mười một tuổi -
Những đôi vợ chồng
con vừa tập nói
("Ta với mình nay đã là ba")
Những em bé
nghe tiếng trống làng bên
nhẩm tiếng i tờ
Chân bước vội giữa hàng tre rợp bóng
Những người cán bộ
ôm vai
thức vừa trọn sáng
Cúi đầu
trên kế hoạch quốc gia
Tay đặt trên tim
nhức nhối
xót xa
Tưởng trong ngực mặt trời trỗi dậy
1957
Chủ Nhật, 13 tháng 4, 2014
NGUYỄN QUANG HÀ -Nhớ anh Huy Phương
NGUYỄN QUANG HÀ: Tôi nhớ sau thời gian luyện tập miệt mài, chuẩn bị lên đường chi viện cho miền Nam, trong lúc đang nơm nớp đoán già đoán non, không biết mình sẽ vào Tây Nguyên hay đi Nam Bộ thì đại đội trưởng đi họp về báo tin vui rằng chúng tôi được tăng viện cho chiến trường Bác Đô.
Nhà thơ Huy Phương
Ai cũng quay ngang quay ngửa hỏi nhau: Bác Đô là đâu? Thì chính trị viên cho biết ngay: Bác Đô chính là Huế, ôi, chúng tôi mừng quá, nhiều đứa bạn hét vào tai nhau: “Chúng mình sẽ vào Huế các bạn ơi”.
Sau gần ba tháng đi bộ, chúng tôi vào đến chiến khu Huế. Dẫu chưa được đặt chân vào cố đô, nhưng những câu thơ cứ dắt chúng tôi đi: “Thuở ấy miền Hương Ngự/ Dịu dàng như một lá thư xanh Một dòng sông xinh/ Đôi bờ thông nhỏ Có con đường ngát gió Về Nam Giao bóng nắng chênh chênh…” (Em tôi) Những tên đất Vĩ Dạ, Sông Hương, Chợ Dinh, Cồn Hến, Nam Giao… như hút hồn chúng tôi. Chúng tôi thì thầm với nhau: “Con gái Huế dịu dàng lắm”, tức thì cũng có một câu thơ cứ gợi ý tò mò của chúng tôi: “ Vành mũ sắt vương làn tóc rối”. Người thiếu nữ có làn tóc rối vương bên mũ sắt ấy đã rung động một tâm hồn chiến sĩ rồi: “Súng đạn giờ đây câm lặng đợi chờ/ Như trái tim anh chờ nghe em nói Một lời hứa anh mang vào lửa khói”. Có điều gì đó không nói lên lời cứ thôi thúc chúng tôi cầm súng vào cuộc chiến như thế hệ trước đã in dấu vào trong thơ: “Tôi lại về đây với thành phố tuổi thơ yên tĩnh/ Nơi hai chúng mình Từng đổ máu trên những thềm cung điện/ Cho một dòng sông xanh” (Bình yên) Đã cầm súng lên đường, dòng máu chúng tôi lúc nào cũng thắm đỏ, mang sẵn trong đó một lời thề: “Chết xanh cỏ, sống đỏ ngực”. Không một phút giây nào nghĩ chuyện quay đầu tháo lui. Và ai cũng biết vào cuộc chiến là quyết liệt: “Đây một nhà tranh không bóng người/ Chơ vơ như một nấm mồ ai Giường trơ nét lạnh ngàn thu hận/ Dăm xác trần truồng tay bỏ xuôi”. (Đây miền chiếm đóng) Chúng tôi là người lính, những câu thơ ấy như một niềm mê hoặc. Nói rất đúng những điều chúng tôi đang suy nghĩ. Rõ ràng người viết nên những câu thơ này phải là người từng trải trong chiến tranh. Hỏi những câu thơ ấy do ai viết? Chúng tôi được trả lời rằng đó là thơ của Huy Phương. Chúng tôi muốn gặp mặt nhà thơ ấy, nhưng hiện anh đang ở Hà Nội. Tiếc thật. Anh Huy Phương ở xa quá. Nếu không chúng tôi đã quấn lấy anh rồi. Phải là người từng đi chiến trận, Huy Phương mới có nỗi đau khi đứng trước xác đồng đội mình: “Sáng hôm nay có con chim nó hót líu lo/ Tai anh không còn nghe được nữa Con sông Hương nắng hồng rực rỡ/ Mắt anh còn thấy được bao giờ.” (Giòng máu đầu tiên) Huy Phương đã khái quát sự quyết liệt của một chiến trận, mà chúng ta đã trả giá cho chiến công: “Áo biếc hiền lành Súng nổ, Đô thành tan tác Máu hồng hoen ố đồng xanh” (Em tôi) Người Huế rất thuộc thơ Huy Phương. Những câu thơ tôi chép lại trên đây là nghe được đọc lại. Không hòa mình vào với nhân dân, không hóa thân vào cuộc chiến làm sao có được những câu thơ có hồn vậy. Sau này tôi có được đọc 4 câu thơ của anh Huy Phương trong bài “Những ngày không thể quên”, anh đã khái quát được những mất mát đau thương, tôi cảm thấy kẻ nào quên những điều đó thì không còn là người nữa. Đây nhé: “Bao mất mát đau thương, đằng đẵng đêm dài Đào những hố sâu trên mắt Bao đám mây đi trên trời đất nước Còn để lại bóng đen trên những nụ cười”. Tôi đồng cảm với Trần Thanh Đạm khi anh nói về thơ Huy Phương: “Huy Phương đã lên tiếng một cách tự nhiên và hồn nhiên biết bao. Thơ anh đã nhanh chóng tìm được công chúng của mình, cùng với công chúng ấy hòa mình vào một không khí chung của đất nước, của thời đại. Một nghệ thuật không bắt đầu từ những hình thức mới. Nó bắt đầu với những con người mới”. Thơ Huy Phương xứng đáng là những trang thơ đầu tiên của cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc chúng ta. Ngay cả đến khát khao của người lính chiến đấu trên đất núi Ngự, sông Hương cũng rất giản dị: “Em mơ một chiều phản công/ Trở về Hương Ngự miền Trung với mẹ già Với trang sách nhỏ đơn sơ/ Chiều chiều có bóng trăng mờ nghiêng nghiêng”. (Em tôi) Là những người chiến đấu, hy sinh trên đất Huế, rõ ràng Huy Phương đã nói hộ cho tâm trạng chúng tôi, nên chúng tôi rất quý thơ anh. Thơ anh đúng như những gì chúng tôi đã sống trên vùng đất núi Ngự sông Hương này. Sống trên đất Huế, dần dần tôi mới được các bậc đàn anh kể cho nghe về anh Huy Phương. Anh tên thật là Nguyễn Huy Phương. Quê gốc ở Nghi Tân, Nghi Lộc, Nghệ An. Nhưng cha anh đỗ đạt cao, làm việc và sau dạy học tại Huế, nên Huy Phương sinh tại Huế vào ngày 4-10-1927. Do vậy lớn lên Huy Phương được dạy dỗ, đào tạo ở tại nơi có một vùng văn hoá đặc sắc này. Đó là văn hóa Huế, sông Hương. Trước tổng khởi nghĩa Huy Phương đã tổ chức và phụ trách tổ thanh niên cứu quốc Phường Thái Trạch và Thành nội Huế. Tham gia in và rải truyền đơn chống Nhật và chính quyền thân Nhật, ủng hộ Việt Minh. Anh và đồng đội anh chuẩn bị băng cờ và vận động quần chúng tham gia biểu tình, tham gia tổng khởi nghĩa 23-8-1945 tại Huế, tham gia giành chính quyền ở công sở. Anh được cử vào làm ở ban quản trị bộ tư pháp. Khi cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ Huy Phương là ủy viên chính trị phụ trách tự vệ chiến đấu thành phố Huế. Năm 1947 anh là cán bộ vụ quân giới liên khu 4. Từ năm 1950 trở đi anh Huy Phương chuyển hẳn sang hoạt động ở lĩnh vực văn nghệ. Đầu tiên anh là cán bộ văn nghệ liên khu 4. Sau chuyển sang báo Văn Nghệ. Rồi qua Nhà xuất bản Văn học, qua ban đối ngoại Hội Nhà văn, làm ủy viên thường trực hội đồng văn học công nhân, tiếp đến làm giảng viên trường viết văn Nguyễn Du, là chuyên viên cao cấp của Hội Nhà văn. Ngay từ thời phụ trách tự vệ chiến đấu tại thành phố Huế; Huy Phương đã có thơ đăng trên báo Quyết Thắng, và có tiểu luận đăng trên tạp chí Ánh Sáng rồi. Rõ ràng từ bẩm sinh, Huy Phương đã có máu văn chương. Sau này tôi được ra Hà Nội học trường bồi dưỡng viết văn do Hội Nhà văn tổ chức tại Quảng Bá, Hà Nội thì tôi mới được gặp anh Huy Phương, anh rủ tôi về nhà anh ở đường Ngô Quyền, một ngôi nhà giản dị và đầm ấm, nhưng số sách anh viết đã khá đồ sộ. Có thể kể ra đây: Tiểu thuyết anh đã có: “Xi măng”, “Nơi anh sẽ đến”. Truyện, truyện ngắn, bút ký, phải kể đến: “Đầu sóng ngọn gió”, “Tầm sáng”, “Những ngôi sao đỏ”, “Đường chân trời”, “Đất đỏ”, “Ngã ba”… Đứng trước anh, tôi thấy ngột. Biết tôi ở Huế ra, anh hỏi đủ chuyện về núi Ngự, sông Hương, lăng tẩm, chùa chiền, cung điện, phố xá. Những kỷ niệm thời trai trẻ của anh gắn với vùng đất ấy không hề quên. Anh đọc thuộc lòng cho tôi nghe bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử. Anh kể cho tôi nghe những chuyến anh thả thuyền xuôi sông Hương, lang thang trên Phá Tam Giang, ăn tôm rằn nướng, ăn cháo cá kình và cá dìa hấp như thế nào. Những kỷ niệm về Huế không thể nào dứt ra được. Tôi trở thành bạn vong niên tâm tình của anh. Anh tìm sách tặng tôi, và cứ dần dà dẫn tôi vào con đường văn chương mà anh đã trải qua. Tôi không quên lời anh dặn dò: - Đúng như Nguyễn Du nói: “Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài” em ạ. Có tài mà không có đức thì không ai thèm đọc văn chương của mình đâu. Đã làm người thì không được quên quá khứ. Quên quá khứ là kẻ bội bạc vong ân, không còn là con người nữa. Còn tương lai là ở phía trước. Phải có ý chí thì mới hy vọng có tương lai. Đó là những bài học đời của tôi. Tôi nhớ mãi không bao giờ quên. Từ đó mỗi lần anh Huy Phương vào Huế, anh đều tìm tôi. Kể cả khi anh chuyển vào Sài Gòn, mỗi lần ra Huế, thế nào anh cũng gọi tôi bằng được. Ngồi với nhau anh em thủ thỉ suốt ngày không biết chán. Một kỷ niệm với anh ở Huế tôi không quên. Đó là lần tôi lên thắp hương cho nhà thơ Thanh Hải, mộ anh được đặt trong vườn cụ Phan Bội Châu. Một trong những điều đặc biệt ở Huế, là những danh nhân nào có tài và có đức, được xã hội kính trọng thì mới được đưa vào chôn trong vườn cụ Phan Bội Châu. Ví như Nguyễn Chí Diểu, như cụ Đạm Phương chẳng hạn. Sau này là anh Thanh Hải. Được đưa vào chôn trong vườn cụ Phan là một hãnh diện với thiên hạ. Hôm ấy tôi đang cắm cúi thắp hương cho anh Thanh Hải thì có tiếng lẹt xẹt người đi tới, tôi quay ra nhìn. Không ai khác, chính là anh Huy Phương. Tôi hỏi: - Anh đi đâu mà lên vườn cụ Phan này. Lúc ấy tôi mới nhận ra, trên tay anh Huy Phương có một thẻ hương. Thật không ngờ anh Huy Phương trả lời: - Mình lên thắp hương cho ông Thân của mình. Hóa ra mộ cụ thân sinh anh Huy Phương cũng nằm trong vườn cụ Phan, ngay bên cạnh mộ anh Thanh Hải. Thì ra cụ cũng là một nhân sĩ được nhân dân Huế kính trọng. Tôi chợt hiểu ra, anh Huy Phương đúng là con nhà nòi. Anh là người nổi tiếng mà vẫn giữ chữ Hiếu trọn vẹn như vậy. Đó là một bài học ở đời cho tôi. Anh Huy Phương thắp hương cho anh Thanh Hải rồi dắt tôi qua thắp hương cho ông thân sinh ra anh. Hai anh em ngồi nói chuyện quá trưa mới về. Mỗi lần ngồi với anh Huy Phương, tôi như được anh dẫn đi những chuyến thảo du dài. Gần đây nghe anh đau ở trong Sài Gòn, tôi rất băn khoăn không có dịp nào vào thăm anh. Đùng một cái chị Thái Thị Thu Lan vợ anh điện ra cho Thùy Mai, nhờ Thùy Mai báo tin cho tôi biết rằng anh Huy Phương đã về cõi vĩnh hằng! Anh Huy Phương mất vào trưa ngày mồng 2 tháng 12 năm 2009, tức ngày 16-10 năm Kỷ Sửu. Hôm nay là ngày anh em bạn bè và gia đình đưa anh đến nơi an nghỉ cuối cùng. Tôi ngồi một mình bâng khuâng nhớ biết bao điều về anh, và ngồi cầm bút viết những dòng này, như một nén hương thắp lên mộ anh vậy. Tôi lẩm nhẩm nói một mình: “Anh Huy Phương ơi, mong anh về chốn an lạc, cầu mọi sự bình yên cho anh”. Huế ngày 4-12-2009N.Q.H (251/01-2010) |
Thứ Bảy, 12 tháng 4, 2014
Về hành trình di cư và định cư của tổ tiên người Việt
ÔNG CHA TA TỪ ĐÂU ĐẾN? Theo các sách sử cũ thì người Việt vốn là một bộ phận của người Bách Việt sống ở miền Nam sông Dương Tử. Sau đó lại có các đợt sóng người Hán vào Việt Nam vào thời Đông Hán, Ngũ Đại Tùy Đường Tống hòa huyết mà thành. Tất nhiên, việc giao lưu, hòa huyết giữa các dân tộc láng giềng, luôn luôn có. Nhưng, các bằng chứng khoa học về gien, các bộ nhiễm sắc thể đã chứng minh rằng vào khoảng 80 nghìn năm trước đây (tức là khoảng 20 lần lâu hơn toàn bộ lịch sử nước Việt mà chúng ta có thể tưởng tượng ra được), có một đàn người tiền sử (loại người có trí thông minh) đã xuất phát từ bờ Tây của Hồng Hải, bán đảo Sừng Phi, bao gồm Etiopi và Somalia. Một bộ phận ở lại vùng Vịnh Ba Tư, bộ phận khác tiếp tục Đông tiến đến vùng Đông Á. Trong một thời gian dài họ bị cái lạnh khắc nghiệt và những dãy núi cao (có thể là Himalaya) cản lại, nhưng sau đó họ đã tràn xuống phía nam qua vùng Miến Điện-Vân Nam. Bộ phận đi lên phía bắc chia tay nhau ở lưu vực sông Dương Tử. Một bộ phận tiếp tục Bắc tiến vào châu thổ Hoàng Hà, Hồ Nam, Thiểm Tây để thành người Hán cổ. Những người này sẽ hòa huyết với các chủng Hung Nô, Mông Cổ để thành người Hán sau này. Một bộ phận khác là người Miêu-Dao đã lạc nhau tại lưu vực sông Dương Tử. Trong đó, một bộ phận xuôi dòng về hạ lưu di cư vào một địa bàn trải dài từ Thượng Hải đến Quảng Đông, chính là ngành phát tích chính của Bách Việt. Bộ phận đi về phía Nam tràn vào lãnh thổ Thái Lan, Việt Nam, Lào, Campuchia và dọc theo biên giới Việt Trung. Một nhóm chiếm lĩnh châu thổ sông Hồng. Nhóm này lại tiếp tục tách ra thành các nhóm nhỏ. Một nhóm lại Bắc tiến dọc theo bờ biển đi mãi đến tận Phúc Kiến, Thượng Hải lại hòa vào Bách Việt. Như vậy Bách Việt bao gồm nhóm Miêu-Dao, nhóm đi vòng qua phía Nam và có cả những người Hoa Hạ đến sau hòa huyết.
Sau này Bách Việt, dưới sức ép của Hoa Hạ, Mông Cổ lại Nam tiến theo hai hướng Tây Nam và Nam.
Năm 2008, tôi có dịp sang Etiopi, tự nhiên tôi có một giao cảm thân thiện với vùng đất này, như mình đã biết vùng đất này từ lâu. Ban đêm, tôi cũng có những giấc mơ kỳ lạ nhưng hết sức dễ chịu trong suốt thời gian ở đây. Âu cùng là một điều kỳ lạ.
Bài này post nguyên bản tiếng Anh đã lâu. Cho đến hôm nay mới dịch, cắt bớt râu ria và viết thêm vài đoạn tóm lược cho rõ nghĩa.
Trích dịch từ bài của J.A.Edmondson, "Sức mạnh của ngôn ngữ đối với quá khứ: định cư của người Thái và ngôn ngữ Thái ở Nam Trung Hoa và Bắc Việt Nam" ("The power of language over the past: Tai settlement and Tai linguistics in southern China and northern Vietnam")
Tóm lược ý tưởng chính: Trong khi các nghiên cứu ban đầu về gien đã đưa ra các bằng chứng về sự di cư của các chủng tộc ở Đông Nam Á và Trung Hoa, nghiên cứu về ngôn ngữ đưa ra một số thông tin bổ sung khác về quan hệ họ hàng huyết thống của các tộc dân vùng Đông Nam Á. Qua đó chúng ta hiểu rõ thêm khái niệm người Việt và người Bách Việt. Bài tiếp sau sẽ nói về các thông tin nguồn gốc chủng tộc cất dấu trong ngôn ngữ.
Phần 1 Quá khứ xa xưa được đổi tên mới và lược bớt phần cuối tóm lược những thông tin hành trình di cư và định cư của tổ tiên người Đông Á dựa trên các bằng chứng về gien.
Về hành trình di dân và định cư của tổ tiên người Việt
Sau này Bách Việt, dưới sức ép của Hoa Hạ, Mông Cổ lại Nam tiến theo hai hướng Tây Nam và Nam.
Năm 2008, tôi có dịp sang Etiopi, tự nhiên tôi có một giao cảm thân thiện với vùng đất này, như mình đã biết vùng đất này từ lâu. Ban đêm, tôi cũng có những giấc mơ kỳ lạ nhưng hết sức dễ chịu trong suốt thời gian ở đây. Âu cùng là một điều kỳ lạ.
Bài này post nguyên bản tiếng Anh đã lâu. Cho đến hôm nay mới dịch, cắt bớt râu ria và viết thêm vài đoạn tóm lược cho rõ nghĩa.
Trích dịch từ bài của J.A.Edmondson, "Sức mạnh của ngôn ngữ đối với quá khứ: định cư của người Thái và ngôn ngữ Thái ở Nam Trung Hoa và Bắc Việt Nam" ("The power of language over the past: Tai settlement and Tai linguistics in southern China and northern Vietnam")
Tóm lược ý tưởng chính: Trong khi các nghiên cứu ban đầu về gien đã đưa ra các bằng chứng về sự di cư của các chủng tộc ở Đông Nam Á và Trung Hoa, nghiên cứu về ngôn ngữ đưa ra một số thông tin bổ sung khác về quan hệ họ hàng huyết thống của các tộc dân vùng Đông Nam Á. Qua đó chúng ta hiểu rõ thêm khái niệm người Việt và người Bách Việt. Bài tiếp sau sẽ nói về các thông tin nguồn gốc chủng tộc cất dấu trong ngôn ngữ.
Phần 1 Quá khứ xa xưa được đổi tên mới và lược bớt phần cuối tóm lược những thông tin hành trình di cư và định cư của tổ tiên người Đông Á dựa trên các bằng chứng về gien.
Về hành trình di dân và định cư của tổ tiên người Việt
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ, khi kiến thức về quá khứ xa xưa (hơn 40.000 năm trước) bùng nổ. Nhờ việc giải mã bộ gien người, hiện nay chúng ta đã ở vị thế để biết rõ về nguồn gốc của mình, chúng ta đến từ đâu và hành trình di cư của tổ tiên chúng ta. Như Spenser Wells đã mô tả trong cuốn Cuộc hành trình của con người: một cuộc phiêu lưu di truyền (2002) của mình đã mô tả, toàn thể nhân loại bên ngoài châu Phi đều xuất thân từ một nguồn cội duy nhất và sự mở rộng quần thể dân cư đã xuất phát từ Vùng Sừng Phi (Người dịch: Bán đảo ở Đông Bắc châu Phi, bao gồm lãnh thổ Etiopi và Somalia ngày nay) vào khoảng 80.000 năm trước đây. Giả thuyết Nguồn gốc Châu Phi này khẳng định có một giống người duy nhất xuất hiện ở Châu Phi khoảng 80.000-100.000 năm trước và bắt đầu di cư về phía đông để kiếm sống. Có những nhóm khác đã rời khỏi Châu Phi từ trước đó, nhưng họ không phải là Homo sapiens (người thông minh), mà chỉ là Homo erectus (Người đứng thẳng).
Trong các học thuyết cũ người ta cho rằng những khác biệt về kiểu hình giữa người với người về da, tóc, mắt, vân vân là do sự phát triển các hình thức độc lập có tính khu vực của các loại người tiền sử truyền lại thành các nòi giống nhỏ khác nhau được tìm thấy ở vị trí địa lý khác nhau ngày nay. Quan điểm này có thuật ngữ là Nhiều nguồn gốc (Polygenesis) và đi ngược lại quan điểm Một nguồn gốc của Giả thuyết Nguồn gốc Châu Phi. Bằng chứng về nhiễm sắc thể, tuy nhiên, đã nghiêng cán cân về phía ủng hộ thuyết Một Nguồn gốc một cách rất rõ rệt. Trong khi đã có bằng chứng di truyền chắc chắn về Một Nguồn gốc của dân tộc Thái và các dân tộc anh em, lại có một bằng chứng quan trọng khác làm cột trụ cho Giả thuyết Nguồn gốc Châu Phi. Các mẫu hóa thạch ở Đông Á hoàn toàn khác với các mẫu tìm thấy ở Châu Âu, nơi có rất nhiều bằng chứng minh chứng cho việc định cư và phát triển của Homo erectus qua các dạng người Neanderthal.
Những "người trong hang" đến định cư ở Châu Âu trước Homo sapiens và còn tồn tại về thời gian và địa lý chồng chéo với việc sinh sống của người Homo sapiens, phải cho đến khoảng 25.000 trước đây, khi mọi dấu vết về người Neanderthal đã biến mất. Ở châu Á tình hình rất khác; Hài cốt hóa thạch của vượn người được tìm thấy trước cả 100.000 trước đây, nhưng không còn tồn tại trong khoảng thời gian từ 100.000 đến 40.000 trước đây, cho thấy rằng Homo erectus như một loài đã bị tuyệt diệt trong thời Băng Hà khi các bằng chứng hóa thạch cho thấy một thời kỳ gián đoạn, (Xem công trình của Higham 2001: 3-5, và cũng tham khảo www.ankhoaagency.com/prehistory%20of%.htm, về quan điểm nhiều nguồn gốc trong các đoạn gọi là “ Các tổ tiên xa của người Trung Quốc").
Những phát hiện tiếp theo sau thời kỳ Đỉnh Điểm Băng Hà 25.000 năm trước đây có thể xem như thuộc về Homo sapiens. Chúng ta biết về sự di cư của nòi giống của chúng ta vì đã có (1) đột biến di truyền ngẫu nhiên và tiếp theo là (2) những động lực và hiệu ứng trôi ngẫu nhiên có chọn lọc đã xác định được một mã DNA rõ ràng mới của một gen sau đó trở thành cố điểm định trong quần thể dân số.
1. Như vậy, trong trường hợp này, một đột biến, có lẽ tương tự như sự khác biệt về nhóm máu, dẫn đến các đơn bội hình M168 của nhiễm sắc thể Y ở nam giới có ở một nhóm người Homo sapiens Châu Phi. Chính những người mang đột biến này đã rời bờ phía đông của Hồng Hải vào khoảng 80 thiên niên kỷ trước đây.
Các bộ sưu tập của các đơn bội hình như thế, gọi là các nhóm đơn bội hoặc các đánh dấu đa phôi một nucleotide (SNP) đánh dấu, có thể được nghiên cứu trong các quần thể dân cư ngày nay bằng cách thu thập mẫu di truyền của các nhóm dân cư và xác định tỷ lệ phần trăm của chúng về các nhóm đơn bội cụ thể. Sau đó, dữ liệu nhiễm sắc thể Y này có thể được sử dụng để phân tích phân bố tần suất của các đánh dấu trên khắp một khu vực địa lý và để tạo ra bản đồ đường bao, cho phép chúng ta biết về con đường và niên đại di cư của họ.
Những phát hiện tiếp theo sau thời kỳ Đỉnh Điểm Băng Hà 25.000 năm trước đây có thể xem như thuộc về Homo sapiens. Chúng ta biết về sự di cư của nòi giống của chúng ta vì đã có (1) đột biến di truyền ngẫu nhiên và tiếp theo là (2) những động lực và hiệu ứng trôi ngẫu nhiên có chọn lọc đã xác định được một mã DNA rõ ràng mới của một gen sau đó trở thành cố điểm định trong quần thể dân số.
1. Như vậy, trong trường hợp này, một đột biến, có lẽ tương tự như sự khác biệt về nhóm máu, dẫn đến các đơn bội hình M168 của nhiễm sắc thể Y ở nam giới có ở một nhóm người Homo sapiens Châu Phi. Chính những người mang đột biến này đã rời bờ phía đông của Hồng Hải vào khoảng 80 thiên niên kỷ trước đây.
Các bộ sưu tập của các đơn bội hình như thế, gọi là các nhóm đơn bội hoặc các đánh dấu đa phôi một nucleotide (SNP) đánh dấu, có thể được nghiên cứu trong các quần thể dân cư ngày nay bằng cách thu thập mẫu di truyền của các nhóm dân cư và xác định tỷ lệ phần trăm của chúng về các nhóm đơn bội cụ thể. Sau đó, dữ liệu nhiễm sắc thể Y này có thể được sử dụng để phân tích phân bố tần suất của các đánh dấu trên khắp một khu vực địa lý và để tạo ra bản đồ đường bao, cho phép chúng ta biết về con đường và niên đại di cư của họ.
Các nhóm đơn bội hình (đối với các nhiễm sắc thể Y) được đặt tên bắt đầu bằng các chữ cái từ A đến R trước các số được sử dụng cho các phân loại nhỏ mịn hơn. Nhóm đơn bội hình tên là M168 có ý nghĩa đặc biệt, bởi vì nhiễm sắc thể Y của mọi nam giới ở ngoài Châu Phi đều sở hữu đánh dấu SNP này.
Khoảng 35.000 năm sau đó, nhóm đơn bội F (M89) đã xuất hiện ở Châu Phi và có thể cả Trung Đông. Nhiều người ở lại đó nhưng những người khác tiếp tục di chuyển về phía đông để kiếm sống. Nhóm này có ý nghĩa quan trọng đối với chúng ta, vì người ta tin rằng họ đại diện cho một "làn sóng phát triển thứ hai" từ Châu Phi. Do đó, một nhóm hậu duệ của những người đánh dấu bằng M89 SNP mang đánh dấu M9, xuất hiện khoảng 35.000 năm trước đây trong một người ở Iran.
Đơn bội hình này ngày nay đã được tìm thấy trong mọi người Châu Á. Một hậu duệ sau nữa của đơn bội hình M9 là M175, chỉ tìm thấy được ở nam giới Châu Á; người mang đánh dấu di truyền này đã được sinh ra khoảng 30.000 năm trước đây. Người này đã đi cùng với với một nhóm tới Đông Á, nơi họ bị ngăn cản việc tiếp tục di chuyển bởi các dãy núi cao và nhiệt độ vẫn còn lạnh cóng.
Một số con cháu của người này vẫn còn lại ở Đông Nam Á và phát triển thành các quần thể thổ dân vẫn còn tìm thấy ở đó, ví dụ như các quần thể Austro-Asiatic, xen kẽ với các chủng "Phi" ("Negritos") đã có mặt từ trước ở Malaysia, Andamans, và Philippines, những người đã đến trong "làn sóng đầu tiên" của những người Phi đến định cư ở châu Á, có lẽ vào 80 ngàn năm trước hay hơn nữa, xem công trình của Leroi (2005).
Khoảng 35.000 năm sau đó, nhóm đơn bội F (M89) đã xuất hiện ở Châu Phi và có thể cả Trung Đông. Nhiều người ở lại đó nhưng những người khác tiếp tục di chuyển về phía đông để kiếm sống. Nhóm này có ý nghĩa quan trọng đối với chúng ta, vì người ta tin rằng họ đại diện cho một "làn sóng phát triển thứ hai" từ Châu Phi. Do đó, một nhóm hậu duệ của những người đánh dấu bằng M89 SNP mang đánh dấu M9, xuất hiện khoảng 35.000 năm trước đây trong một người ở Iran.
Đơn bội hình này ngày nay đã được tìm thấy trong mọi người Châu Á. Một hậu duệ sau nữa của đơn bội hình M9 là M175, chỉ tìm thấy được ở nam giới Châu Á; người mang đánh dấu di truyền này đã được sinh ra khoảng 30.000 năm trước đây. Người này đã đi cùng với với một nhóm tới Đông Á, nơi họ bị ngăn cản việc tiếp tục di chuyển bởi các dãy núi cao và nhiệt độ vẫn còn lạnh cóng.
Một số con cháu của người này vẫn còn lại ở Đông Nam Á và phát triển thành các quần thể thổ dân vẫn còn tìm thấy ở đó, ví dụ như các quần thể Austro-Asiatic, xen kẽ với các chủng "Phi" ("Negritos") đã có mặt từ trước ở Malaysia, Andamans, và Philippines, những người đã đến trong "làn sóng đầu tiên" của những người Phi đến định cư ở châu Á, có lẽ vào 80 ngàn năm trước hay hơn nữa, xem công trình của Leroi (2005).
Nhưng trong thời gian này, những người mang M175 di chuyển về phía đông và phía bắc. Một nơi nào đó gần biên giới Vân Nam / Myanmar đã có sự chia tách ra làm hai nhóm (a) một nhóm kết hợp 华夏族 Hoa Hạ, tên được sử dụng trong thời nhà Chu cho giống người sau này gọi là người Hán 汉 hoặc 中国 人 người "dân tộc" Trung Quốc cùng với những người 藏 缅 语 族 Tạng-Miến, tiếp tục đi về phía bắc và (b) nhóm người khác là các dân tộc 苗 瑶族 Miêu-Dao, những người này sau đó đã lạc nhau khi cả hai đến được lưu vực sông Dương Tử. Cả hai nhóm đều có đột biến M122 đặc trưng. Một số trong những người đã đến Vân Nam đã trải qua thay đổi, có lẽ ngay cả trước khi các nhóm người mang M122, rời khỏi đó; những người này, không giống như những người di chuyển về phía bắc, đã trở thành những người mang đánh dấu SNP M119. Quay trở lại thời điểm để những người có dấu M122, những người Miêu-Dao là những người đầu tiên tách ra từ nhóm này, trong khi bộ phận còn lại tiếp tục tiến về phía bắc đến nguồn sông Hoàng Hà, nơi họ tiếp tục phân chia, một nhóm - những người Tạng-Miến ở lại đó, trong khi người Hoa Hạ xuôi xuống hạ lưu theo dòng Hoàng Hà đến các tỉnh Hà Nam và Thiểm Tây.
Những người đã không quay về phía bắc và có dữ liệu nhiễm sắc thể Y mang đánh dấu M119, đã di chuyển về phía nam vào miền bắc Thái Lan, Lào và Việt Nam và vòng lên phía bắc qua lưu vực sông Hồng vào lãnh thổ phía bắc và phía nam của biên giới Trung-Việt và theo dọc bờ biển đến cửa sông Dương Tử gần Thượng Hải.
Those males who possessed the M119 SNP marker would
later be identified by Chinese historians as the groups known as the 百越Bai
Yue, who extended from Shanghai to the Sino-Vietnam border area in Yunnan
Province. These peoples undoubtedly spoke different languages from place to
place.
Những người nam giới sở hữu các đánh dấu SNP M119 sau này có thể được định danh bởi các nhà sử học Trung Quốc như các nhóm được gọi là người 百越 Bách Việt, trải rộng từ Thượng Hải đến khu vực biên giới Trung-Việt Nam tại tỉnh Vân Nam. Các dân tộc chắc chắn nói các ngôn ngữ khác nhau phụ thuộc vào địa điểm.
Những con cháu của họ, những người mang các đơn bội hình M119 bao gồm tất cả những người Thái, Đồng-Thủy, Ngật Ương, và Lê vẫn còn thấy được dọc theo vùng biên giới Việt-Trung cũng như những người ở Thái Lan, Lào, Myanmar, Việt Nam, và một số các thổ dân gốc Úc Đảo (Austronesian) của Đài Loan, ví dụ như người Amis, xem http://web.wenxuecity.com/BBSView.php?SubID=memory&MsgID=56818.
Tóm lại, bằng chứng nhiễm sắc thể Y cho rằng, kết quả của các lịch sử di cư khác nhau, các dân tộc đa dạng hơn ở xa về phía nam Trung Quốc ngày nay có một lịch sử di truyền rất khác so với các nhóm người đồng nhất hơn ở phía bắc Trung Quốc.
Những người ở gần vùng Thượng Hải, được gọi là 老 越 Lão Việt, được hấp thụ trong thế kỷ 4 trước công nguyên, bởi những người nhập cư Hoa Hạ / Miêu-Dao di chuyển vào khu vực này. Những người Hoa Hạ đến phương nam vào một thời điểm muộn hơn đã hòa trộn với các quần thể dân cư phía nam, như các tư liệu di truyền của những người con cháu họ cho thấy. Kết quả này là khẳng định của các tài liệu lịch sử nói rằng người Hoa Hạ, và các dân tộc T-B phía bắc đã di chuyển về phía đông nam và tây nam, người Hoa Hạ vào lãnh thổ Bách Việt, có lẽ sau khi đã hòa trộn sớm hơn với một số với quần thể dân cư Miêu-Dao của Hồ Bắc/Hồ Nam, xem Wen và đồng sự (2004).
Những người ở gần vùng Thượng Hải, được gọi là 老 越 Lão Việt, được hấp thụ trong thế kỷ 4 trước công nguyên, bởi những người nhập cư Hoa Hạ / Miêu-Dao di chuyển vào khu vực này. Những người Hoa Hạ đến phương nam vào một thời điểm muộn hơn đã hòa trộn với các quần thể dân cư phía nam, như các tư liệu di truyền của những người con cháu họ cho thấy. Kết quả này là khẳng định của các tài liệu lịch sử nói rằng người Hoa Hạ, và các dân tộc T-B phía bắc đã di chuyển về phía đông nam và tây nam, người Hoa Hạ vào lãnh thổ Bách Việt, có lẽ sau khi đã hòa trộn sớm hơn với một số với quần thể dân cư Miêu-Dao của Hồ Bắc/Hồ Nam, xem Wen và đồng sự (2004).
Thứ Ba, 8 tháng 4, 2014
Bui Xuan Phai, one of the big four Vietnamese painters
I have a hungarian friend, who asked question about my last post of my father short stories "The year's last night of the poet Do". The post was in Vietnamese, so I guessed that she was impressed by the illustration drawed by Bui Xuan Phai.
Bui Xuan Phai was known as the best painter of the Hanoian street in the much mentioned sentence "Lương (Tran Dong Luong) paints girls, Phai (Bui Xuan Phai) paints street". Bui Xuan Phai was also one of the vietnamese Big Four "First Sang (Nguyen Sang), second Nghiem (Nguyen Tu Nghiem), third Lien (Duong Bich Lien), fourth Phai (Bui Xuan Phai)".
In 1998, I went to Princeton and jumped into an art shop and talked to the owner for couple hours and he talked about the vietnamese painter school as the most significant school in Asia. He said it is special because it has the direct good influence from the French. The great french painter Tardieu was the person who made the school.
Here are the links to infos of Phai
http://en.wikipedia.org/wiki/Bui_Xuan_Phai
http://witnesscollection.org/the_collection/Pages/Bui_Xuan_Phai_%281920-88%29.html
https://www.google.com.vn/search?q=Bui+Xuan+Phai&source=lnms&tbm=isch&sa=X&ei=EqpEU9ugB4iGiQfhwIDIAw&ved=0CAYQ_AUoAQ&biw=870&bih=391
Here are the links to infos of Phai
http://en.wikipedia.org/wiki/Bui_Xuan_Phai
http://witnesscollection.org/the_collection/Pages/Bui_Xuan_Phai_%281920-88%29.html
https://www.google.com.vn/search?q=Bui+Xuan+Phai&source=lnms&tbm=isch&sa=X&ei=EqpEU9ugB4iGiQfhwIDIAw&ved=0CAYQ_AUoAQ&biw=870&bih=391
Chủ Nhật, 6 tháng 4, 2014
Huy Phương - Nhật ký đêm hè (thơ)
Những đêm hè
Khoác áo trăng sao trong vắt
Tôi ngồi bên bàn viết
Lòng phiêu lưu trên trang giấy mênh mông
Ngòi bút chờ thơ, như những dãy phím đàn
Chờ đợi bàn tay cuộc sống
Dưới hè phố, người đi
Những bước đi rộng lớn
Tiếng nói cười rung chuyển ánh đèn khuya
Tôi nhìn qua khung cửa gió lùa
Một ánh sao sa
Chân trời bát ngát…
Các bạn ơi, có bao nhiêu giây phút
Tất cả cuộc đời hé nở trong ta
Như hình ảnh người yêu
Đằm thắm thiết tha
Vụt trỗi dậy trong một giờ chiến đấu
Một câu hát
Một mắt nhìn
Một tiếng máy thì thầm to nhỏ
Là cả cuộc đời phập phồng hơi thở
Như trái mùa hè đang chuyển nhựa nồng thơm
Gạt ánh mặt trời
Ta kiêu hãnh ngước lên
Cả cuộc sống trĩu bàn tay rộng mở
Nhưng bao nhiêu lần
Trong những đường mòn lối nhỏ
Ta bước trên những dáng hình xưa cũ
Như dây leo quấn riết theo chân
Những loài dơi chưa tắt hẳn nắng đêm
Bay chập choạng trên chân trời rạng nắng
Đôi cánh màu tang u ám
Rũ bóng đen xuống những tâm hồn
Những người yêu nhau
Buổi gặp gỡ đầu tiên
Thấy quá khứ ngồi chồm hỗm bên lưng
Khoác áo thụng một quan toà nghiêm khắc
Nó hỏi: Đâu chứng minh thư
Và những bạn một vần thơ nhức nhối trong đầu
Lòng tin tưởng buổi đầu tiên ủ ấp
Muốn trút cả máu mình trên nét mực
Dâng phổi tim trọn vẹn cho cuộc đời
Quá khứ hiện lên trong bóng tối đêm dài
Chặn ấn tín lên dòng thơ nức nở…
Bóng tối ấy từ đâu
Mà hung hãn như một phường bạo chúa
Nhưng quen thân như bạn cũ lâu đời
Như cây đa che rợp ánh mặt trời
Hoa cỏ héo trong lối mòn râm mát
Bóng dáng ngàn xưa.
Nặng nề u uất
Giang hai tay trên những ngã ba đường
Những tượng thần meo mốc sơn long
Còn in bóng trên ruộng đồng đổi mới.
Các bạn mến yêu ơi có phải
Hai ngàn năm vinh quang
Của đất nước ta hùng vĩ
Chỉ còn lại ngày nay
Những khúc hát dở dang
Không, mặc cho những ai
Nâng kính trắng còn càn
Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương
Cao Bá Quát
Vẫn còn mãi
Trong lòng ta xa xót
Mỗi dòng thơ là cười, là khóc
Của dân tộc ta tha thiết tình yêu
Là xóm làng thánh thót tiếng ca dao
Là tiếng hát của sông dài biển lớn
Và hôm nay trên đường đi cuồn cuộn
Những gái trai vừa lứa tuổi hai mươi
Cánh tay xăn ửng đỏ ánh mặt trời
Đi xây dựng Tình yêu và Tổ quốc
Từ ruộng đồng đi lên
Người người lớp lớp
Nắm vững tương lai như nắm chắc tay cày
Ngẩng đầu lên, biết ơn Đảng đời đời
Hai giọt lệ long lanh trên khóe mắt
- Tất cả những ai đang cười
Đều đã từng biết khóc
Nước mắt vui mừng, nước mắt yêu thương
Họ nhìn Đảng phải đâu như một thánh nhân
Mà nhìn Đảng như nhìn con nhìn vợ
Khăng khít ruột già
Trong sướng vui cùng khổ
Chung thuỷ cùng nhau đến trọn cuộc đời
Đất nước đó đây, các bạn mến yêu ơi
Là câu hát là tiếng cười ướt đẫm
Lời cuối cùng sẽ dành cho cuộc sống
Trong lòng ta đuổi sạch bóng đêm dài
Đêm nay, mùa hè
Con tôi nằm ngủ trong nôi
Trong giấc ngủ con mỉm cười với bố
Nhưng có gì đây trên môi con hé nở
Có gì đây trên hàng mi nhỏ con tôi
Như nét đăm chiêu suy nghĩ cuộc đời
Như bóng tối nhiều lần tôi đã gặp…
Không, không phải, màn con tôi đã khép
Đó chỉ là bóng rợp ánh đèn khuya
Tôi cầm trang thơ nhè nhẹ tay đưa
Lùa ánh sáng cho môi con hé mở
Nhưng con ơi! Chú bé yêu của bố
Đời ta ngày mai như trái đỏ mùa hè
Bố muốn con sớm tha thiết say mê
Yêu đất nước và yêu cuộc sống
Bàn tay nhỏ của con sẽ cầm thanh sắt bỏng
Như cầm hoa tươi đi xây dựng cuộc đời
Trên vầng trán con, vầng trán hai mươi
Sớm in rõ những vệt hằn suy nghĩ
Con sẽ sống những ngày hè rực rỡ
Nắng chói loà đốt cháy bóng đêm đen
Thẳng hướng mặt trời con sẽ đi lên
Trăm đôi cánh trên vai đầy rộng mở
Và một đêm, một đêm hè nào đó
Lục chồng sách xưa con đọc mẩu thơ này
Con sẽ nhìn cha, mắt sáng môi cười
Con sẽ nói: đó chỉ là quá khứ!
(6-1956)
Khoác áo trăng sao trong vắt
Tôi ngồi bên bàn viết
Lòng phiêu lưu trên trang giấy mênh mông
Ngòi bút chờ thơ, như những dãy phím đàn
Chờ đợi bàn tay cuộc sống
Dưới hè phố, người đi
Những bước đi rộng lớn
Tiếng nói cười rung chuyển ánh đèn khuya
Tôi nhìn qua khung cửa gió lùa
Một ánh sao sa
Chân trời bát ngát…
Các bạn ơi, có bao nhiêu giây phút
Tất cả cuộc đời hé nở trong ta
Như hình ảnh người yêu
Đằm thắm thiết tha
Vụt trỗi dậy trong một giờ chiến đấu
Một câu hát
Một mắt nhìn
Một tiếng máy thì thầm to nhỏ
Là cả cuộc đời phập phồng hơi thở
Như trái mùa hè đang chuyển nhựa nồng thơm
Gạt ánh mặt trời
Ta kiêu hãnh ngước lên
Cả cuộc sống trĩu bàn tay rộng mở
Nhưng bao nhiêu lần
Trong những đường mòn lối nhỏ
Ta bước trên những dáng hình xưa cũ
Như dây leo quấn riết theo chân
Những loài dơi chưa tắt hẳn nắng đêm
Bay chập choạng trên chân trời rạng nắng
Đôi cánh màu tang u ám
Rũ bóng đen xuống những tâm hồn
Những người yêu nhau
Buổi gặp gỡ đầu tiên
Thấy quá khứ ngồi chồm hỗm bên lưng
Khoác áo thụng một quan toà nghiêm khắc
Nó hỏi: Đâu chứng minh thư
và đâu giấy phép
Cho các người quấn quít bên nhau? Và những bạn một vần thơ nhức nhối trong đầu
Lòng tin tưởng buổi đầu tiên ủ ấp
Muốn trút cả máu mình trên nét mực
Dâng phổi tim trọn vẹn cho cuộc đời
Quá khứ hiện lên trong bóng tối đêm dài
Chặn ấn tín lên dòng thơ nức nở…
Bóng tối ấy từ đâu
Mà hung hãn như một phường bạo chúa
Nhưng quen thân như bạn cũ lâu đời
Như cây đa che rợp ánh mặt trời
Hoa cỏ héo trong lối mòn râm mát
Bóng dáng ngàn xưa.
Nặng nề u uất
Giang hai tay trên những ngã ba đường
Những tượng thần meo mốc sơn long
Còn in bóng trên ruộng đồng đổi mới.
Các bạn mến yêu ơi có phải
Hai ngàn năm vinh quang
Của đất nước ta hùng vĩ
Chỉ còn lại ngày nay
Những khúc hát dở dang
Không, mặc cho những ai
Nâng kính trắng còn càn
Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương
Cao Bá Quát
Vẫn còn mãi
Trong lòng ta xa xót
Mỗi dòng thơ là cười, là khóc
Của dân tộc ta tha thiết tình yêu
Là xóm làng thánh thót tiếng ca dao
Là tiếng hát của sông dài biển lớn
Và hôm nay trên đường đi cuồn cuộn
Những gái trai vừa lứa tuổi hai mươi
Cánh tay xăn ửng đỏ ánh mặt trời
Đi xây dựng Tình yêu và Tổ quốc
Từ ruộng đồng đi lên
Người người lớp lớp
Nắm vững tương lai như nắm chắc tay cày
Ngẩng đầu lên, biết ơn Đảng đời đời
Hai giọt lệ long lanh trên khóe mắt
- Tất cả những ai đang cười
Đều đã từng biết khóc
Nước mắt vui mừng, nước mắt yêu thương
Họ nhìn Đảng phải đâu như một thánh nhân
Mà nhìn Đảng như nhìn con nhìn vợ
Khăng khít ruột già
Trong sướng vui cùng khổ
Chung thuỷ cùng nhau đến trọn cuộc đời
Đất nước đó đây, các bạn mến yêu ơi
Là câu hát là tiếng cười ướt đẫm
Lời cuối cùng sẽ dành cho cuộc sống
Trong lòng ta đuổi sạch bóng đêm dài
Đêm nay, mùa hè
Con tôi nằm ngủ trong nôi
Trong giấc ngủ con mỉm cười với bố
Nhưng có gì đây trên môi con hé nở
Có gì đây trên hàng mi nhỏ con tôi
Như nét đăm chiêu suy nghĩ cuộc đời
Như bóng tối nhiều lần tôi đã gặp…
Không, không phải, màn con tôi đã khép
Đó chỉ là bóng rợp ánh đèn khuya
Tôi cầm trang thơ nhè nhẹ tay đưa
Lùa ánh sáng cho môi con hé mở
Nhưng con ơi! Chú bé yêu của bố
Đời ta ngày mai như trái đỏ mùa hè
Bố muốn con sớm tha thiết say mê
Yêu đất nước và yêu cuộc sống
Bàn tay nhỏ của con sẽ cầm thanh sắt bỏng
Như cầm hoa tươi đi xây dựng cuộc đời
Trên vầng trán con, vầng trán hai mươi
Sớm in rõ những vệt hằn suy nghĩ
Con sẽ sống những ngày hè rực rỡ
Nắng chói loà đốt cháy bóng đêm đen
Thẳng hướng mặt trời con sẽ đi lên
Trăm đôi cánh trên vai đầy rộng mở
Và một đêm, một đêm hè nào đó
Lục chồng sách xưa con đọc mẩu thơ này
Con sẽ nhìn cha, mắt sáng môi cười
Con sẽ nói: đó chỉ là quá khứ!
(6-1956)
Huy Phương - Phê bình và đả kích, một mặt của chủ nghĩa hiện thực xã hội
Văn nghệ hiện thực nhằm miêu tả chân thực cuộc sống. Trong việc miêu tả đó có bao hàm thái độ của nhà văn nghệ đối với xã hội. Thái độ ấy gồm có hai mặt: khen và chê, hoặc nói một cách khác,ca ngợi và phê bình. Tác dụng tích cực của văn nghệ chính là ở chỗ đó. Chính vì chỗ đó mà chúng ta thường nói: văn nghệ là một vũ khí đấu tranh sắc bén.
Trước đây chúng ta thường phân biệt hai thứ hiện thực: hiện thực phê bình hoặc đả kích, xem như là một loại riêng của xã hội tư bản; và hiện thực xã hội chủ nghĩa có biểu hiện hướng đi lên, (v.v…) xem như là một kiểu hiện thực riêng của xã hội chủ nghĩa. Nếu do đó mà hiểu rằng hai thứ hiện thực ấy khác hẳn nhau về phương pháp và tính chất, hiểu rằng trong chủ nghĩa hiện thực xã hội không có yếu tố phê bình, đả kích thì đó là một nhận thức không đúng. Sự thực, hiện thực xã hội chủ nghĩa gồm có hai mặt: một là ca ngợi cuộc sống mới, con người mới, đề ra triển vọng và hướng đi lên của xã hội, v.v… đó là mặt tạm gọi là xây dựng và lãng mạn cách mạng; thứ hai là: phê phán những tàn tích của xã hội cũ, đả kích những tệ tục còn tồn tại hoặc mới nảy nở ngay trong quá trình phát triển của cách mạng v.v…, đó là mặt phê bình hoặc gọi là phê phán, đả kích.
Điều này hoàn toàn không phải do những người văn nghệ muốn hay không muốn, không phải do ý định tô hồng hay bôi đen này nọ của tác giả. Nó là một đòi hỏi của thực tế xã hội; thực tế ấy là sự đấu tranh giữa cái cũ và cái mới, giữa cái tiến bộ và cái thoái hóa, giữa cái tốt và cái xấu, một cuộc đấu tranh rất quyết liệt diễn ra hàng ngày trong cuộc sống. Cuộc đấu tranh ấy đã bắt đầu từ nghìn năm về trước qua các chế độ xã hội và sẽ còn tiếp tục lâu dài sau này nữa.
Do đó chúng ta thấy trong những tác phẩm hiện thực của xã hội phong kiến và tư bản không phải chỉ đơn thuần có một mặt vạch cái xấu, đả kích, phủ nhận mà không xây dựng gì. Hài kịch của Mô-li-e bên cạnh những nhân vật phản diện cũng có cả những nhân vật chính diện; tác phẩm của Ban-dắc vạch những tội lỗi của bọn địa chủ, bọn tư sản hãnh tiến nhưng đồng thời cũng bênh vực cho những nạn nhân của đồng tiền, ca ngợi những tâm hồn trong trắng bị xã hội vùi dập… Chỉ có một điều, tác dụng chủ yếu của các tác phẩm ấy vẫn là đả kích, vẫn là phủ nhận, không những chỉ là những thói hư tệ xấu của những con người mà thôi mà có khi còn gián tiếp lên án cả một chế độ, phủ nhận cả một thực tế xã hôi. Một mặt khác, hoàn cảnh lịch sử và ý thức tư tưởng của nhà văn lúc bấy giờ cũng chưa cho phép nhà văn có thể nêu lên một lối thoát nào, một hướng đi nào cho cái xã hội đương thời.
Trong hoàn cảnh xã hội chúng ta, mặc dầu đã có chế độ tốt đẹp, đã có một lý luận cách mạng soi đường cho bước tiến của quần chúng, như thế không có nghĩa là mọi thói hư tật xấu của xã hội và của con người đã có thể tự khắc chấm dứt ngay. Chế độ không phải là một đạo bùa linh nghiệm một lúc có thể cải lão hoàn đồng cả một xã hội. Vì xã hội và con người là một sự tiếp tục ; xã hội cũ, và xã hội mới cũng là một sự tiếp tục, một khối thống nhất đang phân hóa, đang biến đổi. Cho nên không có lý do gì nhà văn khi nhìn vào cuộc sống chỉ thấy toàn những điều tốt đẹp, thanh bình như ở một thời Nghiêu, Thuấn lý tưởng nào đó. Cái khác căn bản của hiện thực mới chỉ là ở chỗ chúng ta chỉ đả kích phê bình những thói hư, tệ xấu của xã hội nhưng vẫn tán thành chế độ, vẫn ca ngợi chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.
Nói như vậy, tôi muốn trình bày một điều: cần phải phân biệt phê bình xã hội với phê bình chế độ. Xã hội là thực tế của cuộc sống và con người có tốt, có xấu. Chế độ là một hình thức chính trị, một chủ nghĩa, một phương hướng cách mạng… Chế độ ta đang đấu tranh và tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho việc cải thiện xã hội. Nhưng không nên nghĩ rằng có chế độ tốt là hoàn cảnh xã hội đã tự khắc tốt ngay (ngay bản thân chế độ trong quá trình phát triển và trưởng thành của nó cũng không phải là không có những khuyết điểm sai lầm tạm thời). Hiện nay qua các cuộc tranh luận văn nghệ hoặc các bài phê bình trên mặt báo (nhân một số bài vở trong Giai phẩm mùa thu và báo Nhân văn), nhiều khi chúng ta vẫn còn lầm lẫn ở chỗ đó.
Theo ý tôi có phân biệt được điều này mới hiểu được tại sao dưới chế độ phong kiến và tư bản vẫn có thể xuất hiện một số tác phẩm đả kích vào một tập đoàn phong kiến hoặc một bộ phận nào đấy của giai cấp tư bản. Điều đó chính vì ngay bọn cầm quyền chính trị trong xã hội phong kiến và tư bản cũng không tán thành một số bộ phận thuộc tầng lớp phong kiến và tư bản. Những bộ phận này trong khi lộng hành, trong khi phát triển đến cao độ những thủ đoạn ngang ngược, trắng trợn của chúng chính cũng làm mất "nhân tâm" và có khi xâm phạm ngay đến cả cái trật tự an ninh của chế độ thống trị đương thời. Chính vì lẽ đó mà trong nhiều trường hợp và ở một mức độ nhất định, ta thấy hình như trong xã hội phong kiến và tư bản, nhà văn vẫn được hưởng một quyền tự do tư tưởng và tự do sáng tác nào đấy. Tất nhiên, ngoài ra còn nhiều lý do phức tạp khác nữa bắt nguồn từ cái cơ cấu đầy rẫy mâu thuẫn của bản thân chế độ phong kiến, tư bản mà chúng tôi chưa thể phân tích đầy đủ trong phạm vi bài này.
Lại nói đến xã hội ta. Trong hoàn cảnh hiện tại của xã hội chúng ta, bên cạnh những thành tựu lớn lao đã thu được trong sự nghiệp giải phóng con người, cải thiện cuộc sống tinh thần và vật chất của quần chúng, ngay trong lòng cuộc sống tươi vui đang trên đà phát triển và nẩy nở, vẫn song song tồn tại những tệ tục, những khuyết điểm nghiêm trọng luôn luôn tấn công và đe doạ sự phát triển của Cách mạng. Những tệ tục khuyết điểm ấy là những tàn tích của xã hội cũ để lại, hoặc là những hiện tượng mới do trình độ ấu trĩ của Cách mạng mà sinh ra, hoặc là những bệnh tật − theo ý tôi − nó là những bệnh kinh niên của con người của mọi thời đại, những bệnh tật mà loài người còn phải đấu tranh lâu dài lắm mới khắc phục được.
Sự phát triển của những tệ tục, những thói hư tật xấu ấy có khi công khai, có khi bí mật, khi tinh vi, khi trắng trợn. Người văn nghệ cần phải thật dũng cảm, cần phải kiên nhẫn đi sâu vào thực tế cuộc sống của quần chúng, mới lật được nó ra trong những ngóc ngách phức tạp của cuộc đời và của tâm hồn con người. Thái độ của nhà văn trước tác phẩm của mình phải là thái độ kiên quyết bảo vệ chân lý. Có như vậy thì nhà văn mới có được lòng yêu thương, giận ghét rành mạch, mới có được nhiệt tình cách mạng đầy đủ để tăng thêm chất đấu tranh cho tác phẩm của mình. Và cũng chỉ có như vậy thì nhà văn mới xứng đáng là người viết sử trung thực của thời đại và người kỹ sư tâm hồn, dùng con mắt của mình rọi chiếu vào mọi góc cạnh bí ẩn nhất của cuộc sống. Ở trên, tôi có nói đến tinh thần dũng cảm của nhà văn. Đúng như vậy, nhà văn nếu muốn làm được cái sứ mệnh phát hiện lên những vấn đề xã hội, tất nhiên không thể nào không phải đương đầu với những sóng gió của cuộc đời, đương cầu với sức phản ứng của những lực lượng phản tiến bộ, có khi ngụy trang dưới hình thức của công lý, và của chính nghĩa.
Ngay đến nhà thơ lớn Mai-a-cốp-ski ở Liên Xô, trong một chế độ dân chủ, cũng đã phải phấn đấu vô cùng gian khổ trong bao nhiêu năm với những tập quán, những tệ tục, những điều vu cáo, sỉ nhục của một số người xung quanh để bảo vệ lấy chân lý và bảo vệ những tác phẩm của mình.
Ở nước ta, trong 10 năm qua, có thể nói chúng ta đã thiếu cái tinh thần dũng cảm đó. Do chỗ thiếu cái tinh thần dũng cảm đó trước cuộc sống, cho nên chưa nói đến việc phê bình những phía đen tối trong xã hội, ngay đến việc ca ngợi chế độ này, cuộc sống mới này, chúng ta cũng chỉ làm được một cách hời hợt, sơ lược, và công thức. Tiếng nói của chúng ta chẳng những chỉ là tiếng nói một chiều, mà còn là một tiếng nói yếu đuối, vụng về. Cỗ xe văn nghệ thiếu hẳn một bánh xe đi từng bước dò dẫm, khập khểnh trên con đường khúc khuỷu của cách mạng. Biết bao nhiêu lần mỗi khi viết trọn một bài thơ, hoàn thành một tập truyện − tất nhiên cũng có cái thỏa mãn nói được một phần nào cái sự thực tốt đẹp của cuộc sống mới và những con người mới mà chúng ta yêu tha thiết − nhưng chúng ta không khỏi có lúc thấy nặng trĩu trong lòng một nỗi băn khoăn: bài viết hôm nay đã có những gì khác với bài viết hôm qua, đã đề xuất ra được một vấn đề gì mới cần phải suy nghĩ cho những người sẽ đọc chúng ta. Và khi buông bút, trở về với cuộc sống hàng ngày, chúng ta không khỏi thấy một cái gì gần như là một nỗi thất vọng, bực bội với chính mình, thấy rằng hình như chưa nói được những gì đang nóng bỏng trong lòng, những bất bình, những thắc mắc đối với cuộc sống còn nhiều bất công vô lý chung quanh. Nhưng nghĩ như thế nhưng chúng ta vẫn không dám làm, không dám viết như ý nghĩ. Mỗi lúc cầm bút ta lại vẫn không đủ can đảm nói lên sự thực: ngọn bút lại hiền lành đi vào cái nếp một chiều, lắm khi giả tạo, như một con cừu lười biếng quen theo lối cũ.
Và cứ như thế, qua tác phẩm của chúng ta, cuộc sống như không có gì đáng băn khoăn nữa cả, trong khi trong lòng chúng ta và ngay trong lòng cuộc sống, bao nhiêu va chạm, xung đột, bao nhiêu lo âu, thắc mắc, đang sục sôi.
Những tác phẩm một chiều ấy không thể đi sâu vào lòng quần chúng. Người đọc chép miệng thấy tác phẩm xa lạ với mình. Một mặt khác nó gieo rắc một tâm lý thỏa mãn và dễ dãi đến mức lười biếng, một tâm lý bưng bít và sợ hãi sự thực, tạo điều kiện cho những tệ tục càng mạnh mẽ phát triển trong bóng tối của công luận.
Lác đác gần đây trên báo Văn nghệ có thấy đăng một số thơ của Mai-a, truyện của Sê-khốp đả kích những kẻ nịnh hót, đạo đức giả. Rồi đến những mẩu châm biếm nhỏ trong mục Nụ cười. Những "nụ cười" này chỉ mới là những cái cười hiền lành cũng đã gây phản ứng trong một số người đọc. Phản ứng đối với một số bài vở trong Giai phẩm mùa thu và báo Nhân văn càng rộng rãi và kịch liệt hơn. Tôi không nói đến những khuyết điểm bản thân của những nụ cười, và những bài vở đó. Sự phản ứng của một số chúng ta đôi khi hơi khe khắt, thiếu độ lượng, thậm chí đi đến chỗ qui kết, chụp mũ cho nhau chứng tỏ chúng ta đã "mất thói quen" đối với loại văn đó.
Theo tôi quan niệm, hiện nay chúng ta cần chú ý nhiều hơn nữa đến yếu tố "phê bình" khi nói đến hiện thực xã hội chủ nghĩa và nên đặt thành vấn đề tranh luận rộng rãi để đi đến chõ thống nhất ý kiến.
Về cụ thể, trong tác phẩm chúng ta nên chú ý nhiều hơn đến những hiện tượng đấu tranh tư tưởng trong xã hội, sự xung đột giữa cái cũ và cái mới, cái xấu và cái tốt. Trước đến nay, nhân vật phản diện trong tác phẩm thường chỉ là đế quốc với phong kiến. Còn trong hàng ngũ nhân dân thì cơ hồ như đã đại đoàn kết cả rồi, không còn người nào, không có việc gì cần phê bình công kích nữa. Đó là một trong những nguyên nhân làm cho tác phẩm nào cũng ửng một màu hồng vô tội vạ mà người đọc đã bắt đầu không chịu được nữa.
Lại có những trường hợp, trong tác phẩm chúng ta chỉ nêu một hiện tượng xấu, một nhân vật xấu mà không cần giải quyết, không cần xây dựng hướng đi lên, có được không? Điều này gần đây chúng ta đã tranh luận nhiều và còn nhiều ý kiến đang phân tranh. Theo ý của tôi cái đó tùy theo tài năng, cá tính của tác giả và hoàn cảnh xã hội. Nếu bản thân tác giả thấy việc "xây dựng hướng đi lên" ấy giả tạo, gò ép đối với mình, hoặc ngay trong xã hội vấn đề mình đặt ra thực tế còn chưa được giải quyết thì cũng không cần thiết phải có một cái đuôi "vui vẻ cả, dĩ hòa vi quí" cho tác phẩm. Như thế, thì tác dụng giáo dục của tác phẩm sẽ như thế nào? Thiết nghĩ rằng: bất cứ một sự thực nào − dù là một sự thực xấu − khi đã dựng lên được một cách trung thực sinh động và có lý lẽ thì đều có tác dụng giáo dục. Nếu đưa lên một hiện tượng xấu bằng một cách nào đó làm cho người đọc phải phỉ nhổ nó, lên án nó và thấy rằng nó không thể có lý do tồn tại ở xã hội này nữa thì tác phẩm vẫn có tác dụng giáo dục sâu sắc. Loại truyện "đặt vấn đề" và không giải quyết này không ít ở Liên Xô. Một vài truyện ngắn của Ô-vet-kin chúng ta đã được đọc gần đây cũng thuộc về loại này.
Ngoài ra, còn có thể phát triển những loại văn thuần túy phê bình và đả kích. Theo ý tôi, vẫn có thể có một nhà thơ yêu tha thiết chế độ, yêu tha thiết cuộc sống này, nhưng suốt đời chỉ làm thơ đả kích, làm nhiệm vụ của "người công an và người y sĩ tinh thần", phòng ngừa những thói bất lương và bệnh tật cho xã hội. Nói như vậy, chúng ta không lo rằng rồi đây sẽ sinh ra một khuynh hướng chỉ toàn đi tìm những ngóc ngách tối tăm của cuộc đời, trong tác phẩm chỉ toàn thấy một giọng đả kích châm biếm. Cuộc sống hiện tại của chúng ta căn bản vẫn là một cuộc sống tốt đẹp, phong phú tình yêu và hy vọng, lớn lao và cũng phức tạp vô cùng, khả năng và cá tính của văn nghệ sĩ chúng ta cũng trăm hình muôn vẻ, mỗi người mỗi khác, nhất thiết chẳng phải vì có năm bảy người đả kích mà không còn ai muốn ca ngợi những phía tốt đẹp của xã hội nữa.
Trong vấn đề văn nghệ đả kích còn có một vấn đề phụ thuộc thường làm cho chúng ta suy nghĩ nhiều. Đó là vấn đề thái độ, phương pháp. Thái độ thế nào cho đúng "mức"? Phê bình thế nào cho sâu sắc mà vẫn còn giữ được tình nghĩa bạn bè? Đả kích thế nào để khỏi lầm lẫn giữa ta và địch?
Đó là một vấn đề phức tạp và khó khăn cần phải trao đổi nhiều giữa chúng ta. Chỉ có một điều đã gọi là phê bình đả kích thì về mặt thái độ cũng nên cho phép nhà văn được thật rộng rãi. Có điều chỉ đáng phê bình thân ái, vừa nói vừa mỉm cười với nhau, nhưng cũng có những điều cần mỉa mai, châm biếm, gay gắt, đập một cách không thương xót. Cái đó tùy theo trường hợp và tùy theo cá tính của nhà văn.
Truyện Sê-khốp có cái mỉa mai chua chát "càng lắng càng đau". Nhưng thơ Mai-a lại có cái khí thế giận dữ, sát phạt, khi Mai-a đánh vào những tên nịnh hót thì ai cũng thấy đó quả là "đánh một cái chết tươi"! Kẻ chết tươi đây không phải là cá nhân ai, nhưng chính là những tệ tục, những thói xấu thù địch của chủ nghĩa cộng sản. Cái khác nhau khi ta đả kích vào "ta" và đả kích vào "địch" cũng là ở chỗ ấy. Đả kích vào ta chỉ là đả kích vào bộ phận, vào cá nhân, vào hiện tượng cá biệt hoặc đột xuất của xã hội ; đả kích vào địch là nhân một trường hợp mà lên án cả một chế độ, một bản chất xã hội.
Chúng ta sẽ lại nghĩ nếu phát triển lối văn phê bình và đả kích có sợ địch lợi dụng không? Tất nhiên kẻ địch sẽ không từ chối chộp lấy bất cứ một cơ hội nào để xuyên tạc, vu cáo và nói xấu chế độ ta. Nhưng vấn đề là sự vu cáo, nói xấu của chúng có tác dụng bao nhiêu, có tác dụng thế nào trong quần chúng. Về chỗ này có thể nói rằng nhân dân miền Nam yêu chế độ miền Bắc nhất thiết không phải hoàn toàn chỉ vì họ nghĩ rằng ở miền Bắc tuyệt đối không còn có một tệ tục, một con người nào xấu xa, lầm lỗi nữa. Họ yêu chế độ miền Bắc chủ yếu vì họ tin rằng dưới ánh sáng của chế độ dân chủ nhân dân, xã hội miền Bắc đang đấu tranh để bài trừ mọi tệ tục và cải tạo những người xấu trở nên những người tốt. Còn miền Nam thì trái lại, đó là nơi chế độ phát xít của Mỹ Diệm đang khuyến khích mọi thứ bóc lột, đàn áp, bất công và vô lý, đó là nơi con người càng ngày càng bị đẩy vào trụy lạc, sa ngã, bóng tối đang có đủ điều kiện để chồm lên ngự trị hết mọi ngóc ngách của cuộc đời. Nếu chúng ta phê bình những sai lầm của ta một cách cụ thể, chính xác, quang minh chính đại, thì điều đó chỉ càng chứng tỏ cho mọi người rằng xã hội chúng ta đang lớn mạnh và chế độ chúng ta ngày càng tốt đẹp. Điều đó cũng là điều làm cho chúng ta càng phải suy nghĩ, phải thận trọng mỗi khi cầm bút để làm thế nào cho tác phẩm của chúng ta không trở thành chiếc gậy đánh con chuột nhắt mà làm vỡ cả chiếc lọ quí, trở thành "viên đá tảng của con gấu" vô tình giết chết cả bạn mình.
Vấn đề hiện thực xã hội chủ nghĩa là một vấn đề bao la, rộng rãi, vấn đề phê bình, đả kích cũng là một vấn đề rất lớn cần được tranh luận tập thể và lâu dài.
Nhân mấy vấn đề thời sự văn nghệ nóng hổi, và cũng nhân một số băn khoăn cá nhân tôi xin trình bày lên ở đây một số ý kiến lẻ tẻ, chưa đủ điều kiện sắp xếp thành lý luận, tạm gọi là nêu thắc mắc và đặt vấn đề. Mong các bạn chung quanh có nhiều kinh nghiệm hơn, cùng góp ý kiến.
Trước đây chúng ta thường phân biệt hai thứ hiện thực: hiện thực phê bình hoặc đả kích, xem như là một loại riêng của xã hội tư bản; và hiện thực xã hội chủ nghĩa có biểu hiện hướng đi lên, (v.v…) xem như là một kiểu hiện thực riêng của xã hội chủ nghĩa. Nếu do đó mà hiểu rằng hai thứ hiện thực ấy khác hẳn nhau về phương pháp và tính chất, hiểu rằng trong chủ nghĩa hiện thực xã hội không có yếu tố phê bình, đả kích thì đó là một nhận thức không đúng. Sự thực, hiện thực xã hội chủ nghĩa gồm có hai mặt: một là ca ngợi cuộc sống mới, con người mới, đề ra triển vọng và hướng đi lên của xã hội, v.v… đó là mặt tạm gọi là xây dựng và lãng mạn cách mạng; thứ hai là: phê phán những tàn tích của xã hội cũ, đả kích những tệ tục còn tồn tại hoặc mới nảy nở ngay trong quá trình phát triển của cách mạng v.v…, đó là mặt phê bình hoặc gọi là phê phán, đả kích.
Điều này hoàn toàn không phải do những người văn nghệ muốn hay không muốn, không phải do ý định tô hồng hay bôi đen này nọ của tác giả. Nó là một đòi hỏi của thực tế xã hội; thực tế ấy là sự đấu tranh giữa cái cũ và cái mới, giữa cái tiến bộ và cái thoái hóa, giữa cái tốt và cái xấu, một cuộc đấu tranh rất quyết liệt diễn ra hàng ngày trong cuộc sống. Cuộc đấu tranh ấy đã bắt đầu từ nghìn năm về trước qua các chế độ xã hội và sẽ còn tiếp tục lâu dài sau này nữa.
Do đó chúng ta thấy trong những tác phẩm hiện thực của xã hội phong kiến và tư bản không phải chỉ đơn thuần có một mặt vạch cái xấu, đả kích, phủ nhận mà không xây dựng gì. Hài kịch của Mô-li-e bên cạnh những nhân vật phản diện cũng có cả những nhân vật chính diện; tác phẩm của Ban-dắc vạch những tội lỗi của bọn địa chủ, bọn tư sản hãnh tiến nhưng đồng thời cũng bênh vực cho những nạn nhân của đồng tiền, ca ngợi những tâm hồn trong trắng bị xã hội vùi dập… Chỉ có một điều, tác dụng chủ yếu của các tác phẩm ấy vẫn là đả kích, vẫn là phủ nhận, không những chỉ là những thói hư tệ xấu của những con người mà thôi mà có khi còn gián tiếp lên án cả một chế độ, phủ nhận cả một thực tế xã hôi. Một mặt khác, hoàn cảnh lịch sử và ý thức tư tưởng của nhà văn lúc bấy giờ cũng chưa cho phép nhà văn có thể nêu lên một lối thoát nào, một hướng đi nào cho cái xã hội đương thời.
Trong hoàn cảnh xã hội chúng ta, mặc dầu đã có chế độ tốt đẹp, đã có một lý luận cách mạng soi đường cho bước tiến của quần chúng, như thế không có nghĩa là mọi thói hư tật xấu của xã hội và của con người đã có thể tự khắc chấm dứt ngay. Chế độ không phải là một đạo bùa linh nghiệm một lúc có thể cải lão hoàn đồng cả một xã hội. Vì xã hội và con người là một sự tiếp tục ; xã hội cũ, và xã hội mới cũng là một sự tiếp tục, một khối thống nhất đang phân hóa, đang biến đổi. Cho nên không có lý do gì nhà văn khi nhìn vào cuộc sống chỉ thấy toàn những điều tốt đẹp, thanh bình như ở một thời Nghiêu, Thuấn lý tưởng nào đó. Cái khác căn bản của hiện thực mới chỉ là ở chỗ chúng ta chỉ đả kích phê bình những thói hư, tệ xấu của xã hội nhưng vẫn tán thành chế độ, vẫn ca ngợi chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.
Nói như vậy, tôi muốn trình bày một điều: cần phải phân biệt phê bình xã hội với phê bình chế độ. Xã hội là thực tế của cuộc sống và con người có tốt, có xấu. Chế độ là một hình thức chính trị, một chủ nghĩa, một phương hướng cách mạng… Chế độ ta đang đấu tranh và tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho việc cải thiện xã hội. Nhưng không nên nghĩ rằng có chế độ tốt là hoàn cảnh xã hội đã tự khắc tốt ngay (ngay bản thân chế độ trong quá trình phát triển và trưởng thành của nó cũng không phải là không có những khuyết điểm sai lầm tạm thời). Hiện nay qua các cuộc tranh luận văn nghệ hoặc các bài phê bình trên mặt báo (nhân một số bài vở trong Giai phẩm mùa thu và báo Nhân văn), nhiều khi chúng ta vẫn còn lầm lẫn ở chỗ đó.
Theo ý tôi có phân biệt được điều này mới hiểu được tại sao dưới chế độ phong kiến và tư bản vẫn có thể xuất hiện một số tác phẩm đả kích vào một tập đoàn phong kiến hoặc một bộ phận nào đấy của giai cấp tư bản. Điều đó chính vì ngay bọn cầm quyền chính trị trong xã hội phong kiến và tư bản cũng không tán thành một số bộ phận thuộc tầng lớp phong kiến và tư bản. Những bộ phận này trong khi lộng hành, trong khi phát triển đến cao độ những thủ đoạn ngang ngược, trắng trợn của chúng chính cũng làm mất "nhân tâm" và có khi xâm phạm ngay đến cả cái trật tự an ninh của chế độ thống trị đương thời. Chính vì lẽ đó mà trong nhiều trường hợp và ở một mức độ nhất định, ta thấy hình như trong xã hội phong kiến và tư bản, nhà văn vẫn được hưởng một quyền tự do tư tưởng và tự do sáng tác nào đấy. Tất nhiên, ngoài ra còn nhiều lý do phức tạp khác nữa bắt nguồn từ cái cơ cấu đầy rẫy mâu thuẫn của bản thân chế độ phong kiến, tư bản mà chúng tôi chưa thể phân tích đầy đủ trong phạm vi bài này.
Lại nói đến xã hội ta. Trong hoàn cảnh hiện tại của xã hội chúng ta, bên cạnh những thành tựu lớn lao đã thu được trong sự nghiệp giải phóng con người, cải thiện cuộc sống tinh thần và vật chất của quần chúng, ngay trong lòng cuộc sống tươi vui đang trên đà phát triển và nẩy nở, vẫn song song tồn tại những tệ tục, những khuyết điểm nghiêm trọng luôn luôn tấn công và đe doạ sự phát triển của Cách mạng. Những tệ tục khuyết điểm ấy là những tàn tích của xã hội cũ để lại, hoặc là những hiện tượng mới do trình độ ấu trĩ của Cách mạng mà sinh ra, hoặc là những bệnh tật − theo ý tôi − nó là những bệnh kinh niên của con người của mọi thời đại, những bệnh tật mà loài người còn phải đấu tranh lâu dài lắm mới khắc phục được.
Sự phát triển của những tệ tục, những thói hư tật xấu ấy có khi công khai, có khi bí mật, khi tinh vi, khi trắng trợn. Người văn nghệ cần phải thật dũng cảm, cần phải kiên nhẫn đi sâu vào thực tế cuộc sống của quần chúng, mới lật được nó ra trong những ngóc ngách phức tạp của cuộc đời và của tâm hồn con người. Thái độ của nhà văn trước tác phẩm của mình phải là thái độ kiên quyết bảo vệ chân lý. Có như vậy thì nhà văn mới có được lòng yêu thương, giận ghét rành mạch, mới có được nhiệt tình cách mạng đầy đủ để tăng thêm chất đấu tranh cho tác phẩm của mình. Và cũng chỉ có như vậy thì nhà văn mới xứng đáng là người viết sử trung thực của thời đại và người kỹ sư tâm hồn, dùng con mắt của mình rọi chiếu vào mọi góc cạnh bí ẩn nhất của cuộc sống. Ở trên, tôi có nói đến tinh thần dũng cảm của nhà văn. Đúng như vậy, nhà văn nếu muốn làm được cái sứ mệnh phát hiện lên những vấn đề xã hội, tất nhiên không thể nào không phải đương đầu với những sóng gió của cuộc đời, đương cầu với sức phản ứng của những lực lượng phản tiến bộ, có khi ngụy trang dưới hình thức của công lý, và của chính nghĩa.
Ngay đến nhà thơ lớn Mai-a-cốp-ski ở Liên Xô, trong một chế độ dân chủ, cũng đã phải phấn đấu vô cùng gian khổ trong bao nhiêu năm với những tập quán, những tệ tục, những điều vu cáo, sỉ nhục của một số người xung quanh để bảo vệ lấy chân lý và bảo vệ những tác phẩm của mình.
Ở nước ta, trong 10 năm qua, có thể nói chúng ta đã thiếu cái tinh thần dũng cảm đó. Do chỗ thiếu cái tinh thần dũng cảm đó trước cuộc sống, cho nên chưa nói đến việc phê bình những phía đen tối trong xã hội, ngay đến việc ca ngợi chế độ này, cuộc sống mới này, chúng ta cũng chỉ làm được một cách hời hợt, sơ lược, và công thức. Tiếng nói của chúng ta chẳng những chỉ là tiếng nói một chiều, mà còn là một tiếng nói yếu đuối, vụng về. Cỗ xe văn nghệ thiếu hẳn một bánh xe đi từng bước dò dẫm, khập khểnh trên con đường khúc khuỷu của cách mạng. Biết bao nhiêu lần mỗi khi viết trọn một bài thơ, hoàn thành một tập truyện − tất nhiên cũng có cái thỏa mãn nói được một phần nào cái sự thực tốt đẹp của cuộc sống mới và những con người mới mà chúng ta yêu tha thiết − nhưng chúng ta không khỏi có lúc thấy nặng trĩu trong lòng một nỗi băn khoăn: bài viết hôm nay đã có những gì khác với bài viết hôm qua, đã đề xuất ra được một vấn đề gì mới cần phải suy nghĩ cho những người sẽ đọc chúng ta. Và khi buông bút, trở về với cuộc sống hàng ngày, chúng ta không khỏi thấy một cái gì gần như là một nỗi thất vọng, bực bội với chính mình, thấy rằng hình như chưa nói được những gì đang nóng bỏng trong lòng, những bất bình, những thắc mắc đối với cuộc sống còn nhiều bất công vô lý chung quanh. Nhưng nghĩ như thế nhưng chúng ta vẫn không dám làm, không dám viết như ý nghĩ. Mỗi lúc cầm bút ta lại vẫn không đủ can đảm nói lên sự thực: ngọn bút lại hiền lành đi vào cái nếp một chiều, lắm khi giả tạo, như một con cừu lười biếng quen theo lối cũ.
Và cứ như thế, qua tác phẩm của chúng ta, cuộc sống như không có gì đáng băn khoăn nữa cả, trong khi trong lòng chúng ta và ngay trong lòng cuộc sống, bao nhiêu va chạm, xung đột, bao nhiêu lo âu, thắc mắc, đang sục sôi.
Những tác phẩm một chiều ấy không thể đi sâu vào lòng quần chúng. Người đọc chép miệng thấy tác phẩm xa lạ với mình. Một mặt khác nó gieo rắc một tâm lý thỏa mãn và dễ dãi đến mức lười biếng, một tâm lý bưng bít và sợ hãi sự thực, tạo điều kiện cho những tệ tục càng mạnh mẽ phát triển trong bóng tối của công luận.
Lác đác gần đây trên báo Văn nghệ có thấy đăng một số thơ của Mai-a, truyện của Sê-khốp đả kích những kẻ nịnh hót, đạo đức giả. Rồi đến những mẩu châm biếm nhỏ trong mục Nụ cười. Những "nụ cười" này chỉ mới là những cái cười hiền lành cũng đã gây phản ứng trong một số người đọc. Phản ứng đối với một số bài vở trong Giai phẩm mùa thu và báo Nhân văn càng rộng rãi và kịch liệt hơn. Tôi không nói đến những khuyết điểm bản thân của những nụ cười, và những bài vở đó. Sự phản ứng của một số chúng ta đôi khi hơi khe khắt, thiếu độ lượng, thậm chí đi đến chỗ qui kết, chụp mũ cho nhau chứng tỏ chúng ta đã "mất thói quen" đối với loại văn đó.
Theo tôi quan niệm, hiện nay chúng ta cần chú ý nhiều hơn nữa đến yếu tố "phê bình" khi nói đến hiện thực xã hội chủ nghĩa và nên đặt thành vấn đề tranh luận rộng rãi để đi đến chõ thống nhất ý kiến.
Về cụ thể, trong tác phẩm chúng ta nên chú ý nhiều hơn đến những hiện tượng đấu tranh tư tưởng trong xã hội, sự xung đột giữa cái cũ và cái mới, cái xấu và cái tốt. Trước đến nay, nhân vật phản diện trong tác phẩm thường chỉ là đế quốc với phong kiến. Còn trong hàng ngũ nhân dân thì cơ hồ như đã đại đoàn kết cả rồi, không còn người nào, không có việc gì cần phê bình công kích nữa. Đó là một trong những nguyên nhân làm cho tác phẩm nào cũng ửng một màu hồng vô tội vạ mà người đọc đã bắt đầu không chịu được nữa.
Lại có những trường hợp, trong tác phẩm chúng ta chỉ nêu một hiện tượng xấu, một nhân vật xấu mà không cần giải quyết, không cần xây dựng hướng đi lên, có được không? Điều này gần đây chúng ta đã tranh luận nhiều và còn nhiều ý kiến đang phân tranh. Theo ý của tôi cái đó tùy theo tài năng, cá tính của tác giả và hoàn cảnh xã hội. Nếu bản thân tác giả thấy việc "xây dựng hướng đi lên" ấy giả tạo, gò ép đối với mình, hoặc ngay trong xã hội vấn đề mình đặt ra thực tế còn chưa được giải quyết thì cũng không cần thiết phải có một cái đuôi "vui vẻ cả, dĩ hòa vi quí" cho tác phẩm. Như thế, thì tác dụng giáo dục của tác phẩm sẽ như thế nào? Thiết nghĩ rằng: bất cứ một sự thực nào − dù là một sự thực xấu − khi đã dựng lên được một cách trung thực sinh động và có lý lẽ thì đều có tác dụng giáo dục. Nếu đưa lên một hiện tượng xấu bằng một cách nào đó làm cho người đọc phải phỉ nhổ nó, lên án nó và thấy rằng nó không thể có lý do tồn tại ở xã hội này nữa thì tác phẩm vẫn có tác dụng giáo dục sâu sắc. Loại truyện "đặt vấn đề" và không giải quyết này không ít ở Liên Xô. Một vài truyện ngắn của Ô-vet-kin chúng ta đã được đọc gần đây cũng thuộc về loại này.
Ngoài ra, còn có thể phát triển những loại văn thuần túy phê bình và đả kích. Theo ý tôi, vẫn có thể có một nhà thơ yêu tha thiết chế độ, yêu tha thiết cuộc sống này, nhưng suốt đời chỉ làm thơ đả kích, làm nhiệm vụ của "người công an và người y sĩ tinh thần", phòng ngừa những thói bất lương và bệnh tật cho xã hội. Nói như vậy, chúng ta không lo rằng rồi đây sẽ sinh ra một khuynh hướng chỉ toàn đi tìm những ngóc ngách tối tăm của cuộc đời, trong tác phẩm chỉ toàn thấy một giọng đả kích châm biếm. Cuộc sống hiện tại của chúng ta căn bản vẫn là một cuộc sống tốt đẹp, phong phú tình yêu và hy vọng, lớn lao và cũng phức tạp vô cùng, khả năng và cá tính của văn nghệ sĩ chúng ta cũng trăm hình muôn vẻ, mỗi người mỗi khác, nhất thiết chẳng phải vì có năm bảy người đả kích mà không còn ai muốn ca ngợi những phía tốt đẹp của xã hội nữa.
Trong vấn đề văn nghệ đả kích còn có một vấn đề phụ thuộc thường làm cho chúng ta suy nghĩ nhiều. Đó là vấn đề thái độ, phương pháp. Thái độ thế nào cho đúng "mức"? Phê bình thế nào cho sâu sắc mà vẫn còn giữ được tình nghĩa bạn bè? Đả kích thế nào để khỏi lầm lẫn giữa ta và địch?
Đó là một vấn đề phức tạp và khó khăn cần phải trao đổi nhiều giữa chúng ta. Chỉ có một điều đã gọi là phê bình đả kích thì về mặt thái độ cũng nên cho phép nhà văn được thật rộng rãi. Có điều chỉ đáng phê bình thân ái, vừa nói vừa mỉm cười với nhau, nhưng cũng có những điều cần mỉa mai, châm biếm, gay gắt, đập một cách không thương xót. Cái đó tùy theo trường hợp và tùy theo cá tính của nhà văn.
Truyện Sê-khốp có cái mỉa mai chua chát "càng lắng càng đau". Nhưng thơ Mai-a lại có cái khí thế giận dữ, sát phạt, khi Mai-a đánh vào những tên nịnh hót thì ai cũng thấy đó quả là "đánh một cái chết tươi"! Kẻ chết tươi đây không phải là cá nhân ai, nhưng chính là những tệ tục, những thói xấu thù địch của chủ nghĩa cộng sản. Cái khác nhau khi ta đả kích vào "ta" và đả kích vào "địch" cũng là ở chỗ ấy. Đả kích vào ta chỉ là đả kích vào bộ phận, vào cá nhân, vào hiện tượng cá biệt hoặc đột xuất của xã hội ; đả kích vào địch là nhân một trường hợp mà lên án cả một chế độ, một bản chất xã hội.
Chúng ta sẽ lại nghĩ nếu phát triển lối văn phê bình và đả kích có sợ địch lợi dụng không? Tất nhiên kẻ địch sẽ không từ chối chộp lấy bất cứ một cơ hội nào để xuyên tạc, vu cáo và nói xấu chế độ ta. Nhưng vấn đề là sự vu cáo, nói xấu của chúng có tác dụng bao nhiêu, có tác dụng thế nào trong quần chúng. Về chỗ này có thể nói rằng nhân dân miền Nam yêu chế độ miền Bắc nhất thiết không phải hoàn toàn chỉ vì họ nghĩ rằng ở miền Bắc tuyệt đối không còn có một tệ tục, một con người nào xấu xa, lầm lỗi nữa. Họ yêu chế độ miền Bắc chủ yếu vì họ tin rằng dưới ánh sáng của chế độ dân chủ nhân dân, xã hội miền Bắc đang đấu tranh để bài trừ mọi tệ tục và cải tạo những người xấu trở nên những người tốt. Còn miền Nam thì trái lại, đó là nơi chế độ phát xít của Mỹ Diệm đang khuyến khích mọi thứ bóc lột, đàn áp, bất công và vô lý, đó là nơi con người càng ngày càng bị đẩy vào trụy lạc, sa ngã, bóng tối đang có đủ điều kiện để chồm lên ngự trị hết mọi ngóc ngách của cuộc đời. Nếu chúng ta phê bình những sai lầm của ta một cách cụ thể, chính xác, quang minh chính đại, thì điều đó chỉ càng chứng tỏ cho mọi người rằng xã hội chúng ta đang lớn mạnh và chế độ chúng ta ngày càng tốt đẹp. Điều đó cũng là điều làm cho chúng ta càng phải suy nghĩ, phải thận trọng mỗi khi cầm bút để làm thế nào cho tác phẩm của chúng ta không trở thành chiếc gậy đánh con chuột nhắt mà làm vỡ cả chiếc lọ quí, trở thành "viên đá tảng của con gấu" vô tình giết chết cả bạn mình.
*
Vấn đề hiện thực xã hội chủ nghĩa là một vấn đề bao la, rộng rãi, vấn đề phê bình, đả kích cũng là một vấn đề rất lớn cần được tranh luận tập thể và lâu dài.
Nhân mấy vấn đề thời sự văn nghệ nóng hổi, và cũng nhân một số băn khoăn cá nhân tôi xin trình bày lên ở đây một số ý kiến lẻ tẻ, chưa đủ điều kiện sắp xếp thành lý luận, tạm gọi là nêu thắc mắc và đặt vấn đề. Mong các bạn chung quanh có nhiều kinh nghiệm hơn, cùng góp ý kiến.
Nguồn: Báo Văn nghệ, Hà Nội, s. 142 (11.10.1956), tr. 7, 9.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)