Thứ Tư, 4 tháng 3, 2015

Thảm họa điểm lùi và tình thế "lang bạt kỳ hồ"

Có những người dù cố sức đến mấy cũng không thể tiến lên được, có những xã hội có cố gắng bao nhiêu cũng không thế tiến hơn được. Có một số thuyết cho rằng những người đó, xã hội đó đã đến ngưỡng bão hòa. Điều lý thú hơn là ở chỗ, cũng những người đó, xã hội đó có những đặc trưng, thường được cho là các giá trị đánh giá, không khác gì những người, xã hội tiến bộ hơn. Vậy sự khác biệt là ở chỗ nào? Và quan trọng hơn là thái độ của chúng ta đối với những tình huống đó. Phải tìm cách tự hài lòng, đợi thời thế thay đổi do một thượng đế ban phát cho ư, hay lại nghĩ ra một thuyết gì mới để chứng tỏ ta ưu việt, hệ thống đánh giá có vấn đề.

Trong Toán học có một mô hình rất đơn giản để phân tích tình huống này gọi là Thảm họa điểm lùi (Cusp Catastrophe), rất giống hình tượng "lang bạt kỳ hồ" mà tôi đã phân tích một lần: Con cáo già tiến lên thì dẫm phải yếm ngực, lùi thì dẫm phải đuôi, tình hình kẹt cứng. Thảm họa điểm lùi được nhà toán học Zeeman đề xuất năm 1976, để mô tả trạng thái tâm lý, sau đó được nhiều người giải thích về sự phát triển của doanh nghiệp, xã hội và nhiều lĩnh vực khác.

Cơ sở của Thảm họa Điểm lùi là một nhánh rất phức tạp trong lý thuyết tô pô, với rất nhiều khái niệm phức tạp, tuy nhiên có một mô hình cụ thể rất dễ hiểu đối với mọi người có kiến thức phổ thông về toán như trong hình sau đây:


Giả sử một hệ thống (có thể là một con người, tổ chức hay một xã hội) được đặc trưng bằng 2 tham số năng lực nội tại trên mặt phẳng ở dưới đáy của hình vẽ trên.  Chỉ số giá trị khách quan về hệ thống đó nằm trên trục vuông góc với mặt phẳng đó. Và có một mặt gấp khúc như trong hình vẽ. Hệ thống đó xuất phát từ điểm thấp nhất và bắt đầu tiến lên, bằng cách phát triển năng lực của mình. Những hệ thống húc đầu vào nhánh dưới của mặt gấp khúc, cuối cùng sẽ tiến đến những điểm "lang bạt kỳ hồ" không tiến lên được nữa.

Một số người có thể so sánh năng lực nội tại của mình với những người thành công hơn nhiều và thấy mình không hề thua kém, có thể còn vượt trội hơn, nhưng cuối cùng giữa hai loại người vẫn là sự khác biệt lớn lao. Nói nghe có vẻ quá khích, nhưng thực tế có những kẻ dở hơi, cám hấp hay điên khùng, có những tố chất không khác gì thiên tài. Các hệ thống khác như tổ chức, doanh nghiệp, xã hội hay quốc gia cũng đều có thể vấp phải tình thế "lang bạt kỳ hồ" như vậy. Khi đó mọi nỗ lực tiến về phía trước đều vô nghĩa. Người ta có thể than thân trách phận, trách đời bất công, hoặc các thế lực bên ngoài chống phá. Thực ra vấn đề chính là nằm ở hệ thống đó. Không phải chỉ có năng lực là quan trọng mà con đường phát triển năng lực để đi lên cũng là quan trọng trong tình huống này. Một con đường khác sẽ dẫn tới nhánh trên của của diện Zeeman sẽ không có cản trở nào và có thể tiếp tục tiến lên dễ dàng và mãi mãi. Con đường đó đã tránh được nếp gấp trên diện Zeeman là nguyên nhân của "lang bạt kỳ hồ" khổ sở này.

Vấn đề là ở chỗ, người ta hay một xã hội không chọn trước được cho mình được đường đi mà hay bị dẫn dắt bởi các động cơ sáng tạo hoặc cảm tính, thấy tiện là đi. Điều đó cho thấy rằng những người chuyển động theo "second mover", giống như những người leo núi bám sát người đi trước có một chiến lược an toàn hơn so với những người tìm một con đường "đi tắt đón đầu" hay "sáng tạo trong hoàn cảnh" để húc đầu vào tình thế "lang bạt kỳ hồ". Vấn đề có lẽ quan trọng hơn là những người, tổ chức đã mắc vào trạng thái "lang bạt kỳ hồ" cần phải làm gì? Muốn tiến lên lâu dài chắc chắn phải lùi lại. Chắc chắn là đau buồn, tiếc nuối nhưng không có cách nào khác. Nếu có sức nâng được đuôi lên thì tốt, nếu không cũng đành phải cắt đuôi, hoặc ngồi ở đó cả đời. Sẽ không có ai, dù là Thượng đế hay Thần may mắn, đến cứu mình được.

Trong nhiều tình huống thực tế diện Zeeman có thể khác chút ít. Có thể từ xuất phát điểm hướng ngay về các điểm Thảm họa Điểm lùi sẽ tạo sự tăng trưởng nhanh hơn, trong khi theo hướng lên có thể tăng trưởng chậm hơn thậm chí có thể đi xuống. Mô hình này cho thấy với phát triển lâu dài, chọn con đường là quan trọng chứ không phải ở việc thể hiện các năng lực và đánh giá trước mắt.

Số phận của một dân tộc cũng vậy, có thể thỏa mãn, tự hào với những năng lực mình đang có, nhưng con đường đến được với những năng lực đó, thể hiện ở nền văn hóa, hệ thống giá trị cũng rất quan trọng. Theo một cách hiểu nào đó, văn hóa, hệ thống giá trị là những thứ mà một dân tộc nhặt nhạnh, tích lũy trên con đường đến hôm nay. Cố nhiên đã mang nặng đẻ đau sẽ có lòng yêu thương quyến luyến. Nhưng đôi khi cũng phải dứt bỏ để có thể tiến lên, đặc biệt khi đã ở trong tình huống Thảm họa Điểm lùi.

Có lẽ câu hỏi quan trọng hơn cả của mỗi người, tổ chức, xã hội hay quốc gia, là khó khăn trước mắt đã phải là "lang bạt kỳ hồ" hay chưa. Tôi xin để dành câu hỏi này cho mọi người cùng suy nghĩ.

Thứ Ba, 3 tháng 3, 2015

Bài học đắt giá cho một nhà công nghệ đỉnh cao

Trong lĩnh vực xử lý tiếng nói tự động (Automatic Speech Recognition - ASR), công nghệ Dragon Naturally Speaking (DNS) được xem như đứng hàng đầu, hạng hai và hạng ba. Các công nghệ khác đều sắp từ hạng tư trở lên. Hiện nay, về các dịch vụ thương mai, bên cạnh engine SIRI của Apple sử dụng DNS, còn có Google và Tellme của Microsoft. Google có ưu thế là có database lớn, vì vậy engine nhận dạng có thể kém hơn, nhưng hậu xử lý lại tốt hơn, nên vẫn có thể cạnh tranh. Microsoft cũng như Google nhiều khả năng sử dụng một engine nguồn mở với thuật toán Deep Learning và cũng tập trung vào hậu xử lý. Nói vậy để biết sau nhiều năm, engine nhận dạng tiếng nói của DNS với công nghệ đóng vẫn là một bí mật và đứng hàng đầu mà hai tập đoàn phần mềm đứng đầu thế giới vẫn phải sử dụng các thế mạnh vô cùng to lớn để chạy theo. Nhưng có lẽ ít ai biết DNS là tác phẩm cá nhân của một cặp vợ chồng đã bị cướp trắng, không thu được một đồng nào. Người ta ước tính giá trị của công nghệ DNS bây giờ giá trị hàng chục tỷ.

Jim và Janet Baker bắt đầu làm về ASR cho IBM, nhưng họ nhanh chóng bỏ việc này để phát triển thàng công DNS. Lúc bấy giờ DNS được định giá cỡ $600M, Jim và Janet muốn bán công ty và nhờ một tập đoàn tài chính lớn là Goldman Sachs tư vấn. Goldman Sachs đã tìm được cho Jim và Janet một công ty tại Âu Châu là Lernout & Hauspie. Đầu tiên, vợ chồng nhà Baker chỉ muốn bán một phần, nhưng Lernout&Hauspie một mực muốn mua lại và muốn hai ông bà này tiếp tục lãnh đạo công ty. Thương vụ này được bàn với phương thức thanh toán bằng tiền mặt. Đến phút cuối cùng, Lernout & Hauspie lại đưa lên bàn phương án trả bằng stock của mình. Có lẽ do đã mệt mỏi với cuộc thảo luận kéo dài và mặt khác cũng tin tưởng ở Goldman Sachs, vì vậy Jim và Janet đã đồng ý với phương án này. Tại thời điểm này giá trị thị trường của Lernout & Hauspie là nhiều chục tỷ đô la. Tuy nhiên, ngay sau khi giao dịch hoàn tất, Lernout&Hauspie bị phát hiện ra không có giá trị thật, vỡ nợ, tài sản bị phát mại để trả nợ. DNS bị bán cho công ty Nuance Communications, hai vợ chồng Baker tay trắng.

Năm 2012, Jim và Janet Baker phát đơn kiện Goldman Sachs vì đã nhận tiền và tư vấn sai. Goldman Sachs lại cho rằng nhiệm vụ của mình chỉ là tư vấn cho giao dịch thành công. Tháng 6/2013 tòa án xử cho Goldman Sachs thắng kiện.
Bài học dưới đây đáng chú ý:
http://masslawblog.com/contracts/93a-opinion-in-baker-v-goldman-sachs-what-happens-when-you-mix-in-equal-parts-a-start-up-a-fraudulent-purchaser-a-tech-bubble-and-a-new-york-investment-banker/
The Investment Bankers Are Not Your Friend, So Get Their Opinions and Assurances in Writing
Ngân hàng đầu tư không phải là bạn bè của bạn, vì vậy phải lấy mọi ý kiến và bảo lãnh của họ dưới dạng văn bản



Thứ Tư, 25 tháng 2, 2015

Dụng công tìm hiểu chữ nghĩa qua một cặp câu đối đang có nhiều bàn luận

Mấy hôm nay không hiểu sao trên mạng lại rộ lên chiến dịch ném đá cụ giáo sư già Vũ Khiêu. Là người nổi tiếng, có nhiều danh vọng, tước vị, thiết tưởng cũng phải đủ sức chống chọi. Vì vậy bênh vực cụ Vũ Khiêu là không cần thiết. Không khéo người ta lại tưởng mình xu phụ quyền thế, nịnh hót Thủ tướng chưa biết chừng.
Dù đúng dù sai việc phản biện các nhân vật lớn cũng là đáng khen. Tuy nhiên, lý luận gì cũng phải đúng và chính xác. Nhân Tuấn Công Thư Phòng, một blog cá nhân của Hoàng Gia http://tuancongthuphong.blogspot.com/2014/09/ve-oi-cau-oi-thu-tuong-tang-gs-vu-khieu.html giải thích về một cách hiểu một cặp "câu đối" của Thủ tướng tặng Giáo Sư Vũ Khiêu, tôi muốn đưa ra một cách hiểu khác.
Theo các bình luận trên mạng được Tuấn Công Thư Phòng (TCTP) phân tích lại cho có vẻ có cơ sở chữ nghĩa một chút thì "cặp câu đối" "Sơn Hà Linh Khí Tại/ Kim Cổ Nhất Hiền Nhân" vừa không chỉnh lại vừa sai về ý, đề cao quá đáng một cách dốt nát thành ra ý phúng viếng. Theo TCTP thì 99,9% khả năng mặt chữ Hán của cặp câu đối trên là 山河靈氣在, 今古一賢人 và phải hiểu với các nghĩa từ điển như sau:
     1. Sơn hà 山河= núi sông
     2. Linh khí 靈氣=“Khí thiêng” tương đương với từ Hán Việt "linh khí".
    3. Tại = "ở,còn"
    4. Kim cổ 今古: từ xưa tới nay. 
    5. Nhất : đứng đầu; một; duy nhất.
    6. Hiền nhân 賢人: bậc tài đức kiêm toàn.
Cần phải nói ngay, nếu luận ra mặt chữ thế này, thì không cần kiến thức cao siêu, học sinh lớp 6 ngày nay ở trường làng cũng biết là câu đối không chỉnh. Nhưng chuyện này sẽ phân tích sau. Tạm công nhận cách suy đoán mặt chữ này, thì việc dịch nghĩa đã có không khách quan mà ngả theo dư luận chung trên mạng. Đặc biệt, TCTP đã chọn nghĩa cho chữ nhất là "đứng đầu, duy nhất" và Kim cổ là "từ xưa tới nay" là một trạng từ, làm việc suy tôn có phần thái quá và làm "câu đối" càng không chỉnh. Thực ra, dù theo cách luận mặt chữ này, nhất chỉ có nghĩa là "một", kim cổ nếu là một danh từ chỉ "(Chuyện) Xưa Nay" hay "Di sản" (Heritage, theo từ điển Trung-Anh). TCTP không hiểu vô tình hay cố ý không chọn nghĩa "hãy còn" cho chữ tại  và chọn chữ ở rồi kết luận vế một có nghĩa là "ở trong khí thiêng của núi sông" để kết luận là văn phúng viếng cho một chủ thể ẩn (người được tặng???). Nếu chọn chữ "hãy còn" thì ý vế đầu chỉ là "Linh khí núi sông hãy còn" hoặc "Núi sông hãy còn linh khí" tùy theo phân tích câu chủ vị "Sơn hà Linh khí - Tại" hay "Sơn hà - Linh khí tại". Vế thứ hai dù phân tích ra sao cũng chỉ là "một nhà thông thái (chuyện) kim cổ"  chứ không phải là "bậc tài đức kiêm toàn đứng đầu từ cổ chí kim" (Nếu quả như thế thì cần phải viết rõ "Cổ kim đệ nhất hiền nhân"). Xem ra, TCTP luận văn tự chẳng khác mấy tay đề lại thời Thanh xử án văn tự về câu "Thanh phong bất thức tự". TCTP cũng có bàn luận những khả năng 0.1% râu ria như "hà" có thể là "ráng mây chiều", "cổ" là trống để kết luận là vô lý. Nếu theo cách đó thì còn hàng trăm tổ hợp với nhiều nghĩa khác nhau của mỗi âm tiết nữa.
   Tuy nhiên, tôi xuất phát từ ý tưởng là mấy chữ Hán Việt này cũng không có gì là cao siêu, luật đối cũng không phải là điều gì quá khó với một người có kiến văn trung bình. Việc Thủ tướng tặng chữ, ắt phải có chuyên gia không tồi phụ trách và thẩm định kỹ càng. Vì vậy, nếu giả thiết đây là một cặp câu đối thì mặt chữ phải là 山河靈氣在,今古一賢因 và Kim Cổ phải là một danh từ. Đặc biệt, chữ Nhân có nghĩa là "nhờ vào". Như vậy có ứng với hay cách phân tích chủ vị nêu trên chỉ có hai cách hiểu khá đối nhau về cả ý và chữ "Linh khí núi sông hãy còn / Nhờ cậy một người thông kim cổ"  hoặc "Núi sông hãy còn linh khí/Chuyện xưa nhờ cậy một người hiền". Tuy là ý tán dương, nhưng không đến nỗi độc tôn phạm thượng.
    Về luật bằng trắc chỉ có mỗi âm tiết Sơn và Kim không đối vận. Nhưng luật bằng trắc ngay cả trong văn tự Hán cũng không đòi hỏi 100%. Chẳng hạn, có thể xem một sưu tập 500 câu đối chữ Hán được cho là "hay nhất" http://www.vnthidan.com/500-cau-doi-chu-han-suu-tam-t6361.. thì có rất nhiều câu không đối bằng trắc 100%. Kể cả âm vận thì câu đối trên cũng không phải tồi. Đó là vấn đề kỹ thuật, còn nội dung hay hay dở, thâm thúy hay vụng dại, tôi xin dành cho các bậc cao nhân. 
   Thế mới biết trong việc dịch thuật, giải thích chữ nghĩa, định kiến, suy đoán (nói cho đúng là "bịa") có hại đến mức nào. Định kiến làm người ta không còn thận trọng tra cứu kỹ càng và đặc biệt không còn tỉnh táo, tôn trọng người viết nữa. 
     Vấn đề này phân tích ra không phải để phục vụ một mục đích "vị nhân sinh" nào ngoài chuyện chuyên môn về dịch thuật, chữ nghĩa kể cả bênh cụ giáo sư, xu nịnh Thủ tướng hay lấy oai. Tuy nhiên, sau khi tìm hiểu mới biết. Mặt khác, tôi cũng muốn nêu vai trò của công nghệ thông tin: Một người trình độ chữ nghĩa Hán và Việt rất hạn chế như tôi, với sự giúp đỡ của các công cụ phần mềm (và tất nhiên có cả chịu khó) có thể phân tích vấn đề chữ nghĩa ở một mức nào đó.
    Sau khi tìm hiểu câu đối này tôi mới được biết, việc ném đá GS Vũ Khiêu không chỉ ở câu đối này mà còn có cả việc ông tặng một cặp câu và hôn má hoa hậu Nguyễn Cao Kỳ Duyên. Vì thế tôi mới vỡ lẽ ra rằng "ném đá" mới là nội dung chính, còn việc chữ nghĩa chẳng qua là công cụ tiện tay vớ được thì dùng chứ đâu có phải là nghiêm chỉnh. Vì vậy, tôi cũng xin phép không bàn luận thêm ở đây, chỉ xin nói thêm một câu "Chân lý chỉ có thể có được với các lý lẽ hoàn toàn trong sạch".

Chủ Nhật, 22 tháng 2, 2015

Suy nghĩ tản mạn về hệ thống giá trị

Thất bại lớn nhất của trí thức Việt Nam không phải là không có tác phẩm lớn, công trình lớn hay sản phẩm cụ thể như một con ốc vít. Nói đến tác phẩm lớn của Việt Nam có lẽ còn là xa xỉ. Công trình lớn có lẽ cũng có thể có nếu như các công trình của các giáo sư, chuyên gia gốc Việt có thể xem là của Việt Nam để đem lại một cảm giác dễ chịu. Không có một sản phẩm hoàn toàn của mình dù nhỏ như ốc vít, có thể chống chế là quá nhỏ không đáng làm hay lớn như xe hơi có thể biện minh là quá khó trong hoàn cảnh đất nước hiện nay. Không sao, chúng ta có thể tạm thời đọc các tác phẩm lớn của thời đại, cho dù phải dùng tới trí tuệ máy của Google. Chúng ta hoàn toàn có thể xoa dịu tâm lý thua thiệt bằng các tên tuổi đang mang chuông đi đấm ở xứ người hoặc các công trình lớn ở dạng tiềm năng như các giải thưởng Olympics. Không có ốc vít, xe hơi, tạm thời có thể nhập, để làm quen dần với khái niệm về chất lượng.
Thất bại lớn nhất của trí thức Việt Nam là sau 70 năm đã không cùng nhau xây dựng được một hệ thống giá trị phù hợp và ổn định. Xây dựng hệ thống giá trị là quyền lực của giới trí thức trong mọi hoàn cảnh, từ bỏ nó là một tội không thể biện minh hay đổ lỗi cho hoàn cảnh. Vậy thì hệ thống giá trị là gì?
Thuật ngữ hệ thống giá trị (value system) được nhà tâm lý học Clare W. Graves tiên phong sử dụng một cách hệ thống bao gồm đạo đức, mĩ học, chuẩn mực, sở thích, niềm tin và thế giới quan được gắn kết với nhau theo một hệ thống phân tầng, định hình mỗi cá nhân, nhóm người hay nền văn hóa.
Thực ra, hệ thống giá trị đã có từ thời Aristotles với các hình thức sơ khai ban đầu như đạo đức nhân cách (virtue ethics) và quy tắc ứng xử (code of conduct). Một xã hội không có hệ thống giá trị ổn định là một xã hội "ông nói gà bà nói vịt", người nọ chê người kia, khen người nọ mà không cần tham chiếu tới một chuẩn mực nào. Ngày hôm nay nói thế này theo lý sự này, mai nói thế khác theo lý sự khác, như những đứa trẻ thay đồ chơi. Xã hội như thế sẽ có các trí thức kiểu David Cooperfield, đưa ra các thuyết như nặn đất sét theo ý mình, nhưng chủ yếu là bợ đỡ theo ý người khác để có được sự tôn vinh phù phiếm dễ dàng, Các học thuyết đất sét như thế không đủ cứng rắn để làm nền tảng cho việc đánh giá của xã hội. Phong cách trí thức này sẽ dẫn tới việc đo mọi vật bằng một cái thước cao su, tưởng rằng bằng sự thông minh khéo léo vặt vãnh này mình đang khệnh khạng làm xiếc với tri tuệ của xã hội, biết đâu, đáng thương thay, đang bị lợi dụng như một con rối theo sự điều khiển của người khác.
Đã đành rằng thế giới ngày nay là đa chiều, con người cần biết sống với những quan điểm khác nhau, thậm chí xung đột. Nhưng tối thiểu tổ chức xã hội phải có một nền tảng giá trị chung đề hình thành các tính cách đặc trưng của mình để còn tiến bộ. Các nhà khoa học Việt Nam chép luận văn của người khác một cách hồn nhiên và không hề biết đến khái niệm đạo văn. Không có hệ thống giá trị, con người sẽ còn xảo biện và tranh cãi không thôi và quay đi quay lại với những vấn đề cũ rích. Không có hệ thống giá trị, con người không biết phân biệt  đúng sai, không có mục tiêu để tiến tới, xoay xở chạy rối rít như kiến bò trên miệng chén, chẳng đi đến đâu.
Theo Graves, ngày nay chúng ta có thể thấy được 8 mức phát triển khác nhau của hệ thống giá trị:
1. Hệ thống giá trị sinh tồn
2. Hệ thống giá trị bộ lạc, làng xóm
3. Hệ thống giá trị anh hùng cá nhân phong kiến
4. Hệ thống giá trị trật tự độc tôn
5. Hệ thống giá trị tổ chức doanh nghiệp, khoa học và chiến lược
6. Hệ thống giá trị nhân bản bình quân
7. Hệ thống giá trị bức tranh lớn tích hợp theo quá trình vận động
8. Hệ thống giá trị toàn cầu
Mỗi người chúng ta lại đều phải  chịu ảnh hưởng bới hai hệ thống giá trị khác nhau: hệ thống giá trị cộng đồng và hệ thống giá trị cá nhân. Không thể đòi hỏi hai hệ thống này phải giống nhau hoặc hoàn toàn không có xung đột.Tuy nhiên, cần có một sự cân bằng giữa tính khác biệt của cá nhân để kích thích sự sáng tạo, nhân cách độc đáo, khai phóng và có một chuẩn mức chung để hạn chế xung đột tạo điều kiện cho sự phát triển.
Trong một xã hội phát triển ở mức độ cao, cần chấp nhận các ý kiến đa chiều, hệ thống giá trị cho phép các nhóm, cá nhân khác nhau bên cạnh việc chia sẻ những giá trị chung, có thể có những đánh giá khác nhau như bóng bầu dục hay hơn bóng đá, trà xanh ngon hơn cà phê, tinh thần có trước vật chất, nghệ thuật vị nghệ thuật hay trứng có trước gà. Một hệ thống giá trị vững vàng có thể cho phép những khác biệt như vậy mà không gây ra xung đột xã hội hay ám toán cá nhân bằng những thủ đoạn mờ ám hay tung hỏa mù đánh lộn nhèo giữa ngọc và bùn.
Chẳng hạn, xung đột ý thức giữa chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tập thể có thể dung hòa nếu xã hội có nền tảng giá trị về tính người. Cũng giống như cái lỗ trong miếng pho mát vẫn cần có pho mát để tồn tại, một thiên kiến cực đoan về cá nhân và tập thể đều dẫn đến một xã hội phi nhân tính, mặc dù đề cao tính cách cá nhân hoặc đề cao con người sống vì tập thể đều bắt đầu bằng các mục tiêu nhân đạo và bác ái.
Một hệ thống giá trị đủ lớn sẽ đủ vững vàng để dung hòa mọi dị biệt, ngăn ngừa xung đột không cần thiết. Một hệ thống giá trị như vậy sẽ tạo ra cho dân tộc một tính cách để có thể thẳng lưng, ngẩng đầu mà nhìn tới mai sau, tới  những thiên hà xa xôi và tự suy nghĩ để mưu cầu hạnh phúc. Đó là việc tối thiểu mà những kẻ đọc sách phải cùng nghĩ tới. Ngay bây giờ. Không chậm trễ.

Thứ Bảy, 31 tháng 1, 2015

Các bài toán về khoa học máy tính (1) Dùng biểu thức chính quy hay tìm kiếm nhị phân

Nguyễn Ái Việt - Từ tuần này sẽ đề ra một số bài toán không khó về mặt kỹ thuật, nhưng có tính gợi mở những ý tưởng ứng dụng mới và đòi hỏi sáng tạo về kỹ thuật.

Tuần này sẽ bắt đầu bằng một bài toán về xử lý ngôn ngữ tự nhiên, nhưng xử lý đặc thù tiếng Việt. Lý do 1: xử lý tiếng Việt là lĩnh vực công nghệ mà người Việt phải quan tâm hàng đầu, vì không thể chờ đợi người nước ngoài làm hộ. Lý do 2: Một kỹ sư lập trình trước tiên phải thành thạo xử lý chuỗi text. Bài toán này vừa là một bài tập xử lý chuỗi, đánh giá tốc độ tính toán có quy mô một dự án nhỏ, nhưng có thể áp dụng cho xử lý tiếng Việt

 Bài toán: So sánh tốc độ tính toán xác định một chuỗi ký tự có phải là âm tiết tiếng Việt hay không theo hai cách:
   i) Sử dụng một danh sách các âm tiết tiếng Việt (gồm khoảng gần 70 nghìn âm tiết, theo cơ sở dữ liệu của công ty VIEGRID JSC) đã được sắp xếp theo trật tự từ điển và sử dụng tìm kiếm nhị phân để xem chuỗi ký tự có nằm trong danh sách hay không.
  ii)  Sử dụng một biểu thức chính quy (REGEX) về một âm tiết tiếng Việt và một thuật toán match biểu thức chính quy.

Chủ Nhật, 18 tháng 1, 2015

Ngụy biện và Charlie Hebdo

Thế giới chia làm hai phần. Có những người lên án việc bọn khủng bố Hồi giáo tàn sát những họa sĩ châm biếm làm việc cho tờ Charlie Hebdo, đa số là những người tử tế và những người cực đoan, bênh vực bọn này.
Số những người lên án bọn khủng bố lại chia làm hai. Có những người kịch liệt ủng hộ Charlie Hebdo, cho Charlie Hebdo đúng hoàn toàn và những người không nghĩ thế. Hai nhóm người này lại chia tiếp tục chia thành các nhóm nhỏ hơn. Việc đó không có gì đáng nói. Thế giới này sở dĩ thú vị vì kể từ khi biết thế nào là tự do, người ta chấp nhận các cách nhìn nhận khác mình. Loài người là một loại động vật tồi tệ nhất kể từ khi cho phép mình tiêu diệt đồng loại chỉ vì khác biệt ý kiến về một vấn đề.
Tuy vậy, ít ai để ý tới sự gian manh, quỷ biện của Charlie Hebdo. Tờ báo này cố tình dùng phép ngụy biện, đồng nhất một số vấn đề, một cách vô lương. Trước hết họ đánh đồng việc châm biếm, khiêu khích tín đồ Hồi giáo của họ với bảo vệ tự do. Tự do của nắm đấm của chúng ta bắt đầu ở ở chỗ mũi của người khác chấm dứt. Nếu chúng ta hoa chân múa tay đấm đá vào khoảng không trước mũi của người khác 1mm, tuy vẫn là việc tự do cho phép, nhưng đã là một việc khiêu khích, người văn minh yêu tự do, không nên làm. Hãy tưởng tượng, một người giả bộ khập khiễng trước mặt người què để làm vui, nhai mỡ lợn sấy nhồm nhoàm trong nhà thờ Hồi giáo, hay in ảnh người thân đã khuất của bạn lên giấy vệ sinh và cho rằng đó là hài hước là tự do. Đó chính là khiêu khích. Khiêu khích không những vô văn hóa mà còn ngu xuẩn. Trêu chọc một kẻ điên khùng, kích động một con bò điên hay chó dại, giơ đầu ra đi dưới giàn giáo có đá rơi, rồi cho mình là tự do hay anh hùng. Khiêu khích để người ta phạm tội, chính mình cũng sẽ có tội.
Ngụy biện thứ hai có phần bất lương hơn là Charlie Hebdo đồng nhất bản thân tòa báo với những họa sĩ bị giết. Các họa sĩ bị giết là người làm công cho Charlie Hebdo, họ bị giết gia đình của họ mất người thân. Charlie Hebdo nhờ sự kiện mà thu hút người quan tâm tăng vọt, khả năng thu lợi khổng lồ. Quyền lợi khác, vì thế khác làm sao là một được. Điều bất lương ở chỗ Charlie Hebdo có biết trêu chọc con bò điên, đi dạo dưới đá rơi hay khiêu khích Hồi giáo là nguy hiểm tới tính mạng hay không. Sau sự kiện 11/9, nếu ai không biết đến sự nguy hiểm của các tín đồ Hồi giáo cực đoan, có lẽ họ sống trongg rừng hay trên hành tinh khác chứ không phải ở Paris. Nếu đã biết điều đó, Charlie Hebdo vẫn đang tâm bỏ mặc các nhân viên của mình đi vào chỗ chết. Đó là hành động gì.
Điều bất lương thứ ba là việc Charlie Hebdo vẫn cố tình ngụy biện nhân danh tự do, dùng những người đã chết để kiếm lợi ích truyền thông.
Tôi không nói về nhận thức của Charlie Hebdo về tự do, về tôn giáo và văn hóa. Tôi không hy vọng có cái gì như thế. Nhưng những người hôm nay tự xưng "Tôi là Charlie" hãy nghĩ về phép ngụy biện và tự do chân chính.

Giải toán, làm toán và kỹ năng thực tế

Tôi chưa bao giờ cảm thấy sung sướng khi giải được một bài toán như các bạn cùng lứa. Dù là bài toán tính hay là một bài chứng minh. Năm lớp 4-5, tính toán một dãy số dài là một kỷ niệm hãi hùng đối với tôi. Kỳ thi học sinh giỏi Toán thành phố, tôi suýt được điểm tuyệt đối, nhưng ở bước cuối cùng tính sai công thức giải phương trình bậc 2, bị trừ 1.5 điểm. Năm lớp 6, khi các bạn học tới các tam giác, phân giác, đường cao, tôi vẫn loay hoay không biết thế nào là chứng minh, để hiều được hai góc đối đỉnh bằng nhau.

Sau này, khi để ý học Toán tôi bắt đầu tích cóp các mẫu bài tập khó. Tuy nhiên, tôi không cho rằng việc học cách giải một bài toán có gì là sáng tạo. Tôi chỉ thấy đó là việc biết và không biết, còn chuyện biết một vài mẹo rồi áp dùng cho các biến thể hơi khác hoặc các tổ hợp phức tạp, chỉ là kỹ năng phân tích. Từ khi đó, tôi thấy việc đi giải bài toán là nhạt nhẽo, vì có hàng vạn bài toán trên đời.

Năm lớp 7, đọc Tư Mã Thiên Sử Ký đến đoạn Hạng Vũ nói: Học kiếm giỏi lắm cũng đánh được vài người, ta muốn học cái đánh vạn người, bèn học binh pháp, tôi hỏi cha: có môn học nào học cách giải tất cả các bài toán không. Cha tôi nói không biết, phải chăng là Triết học. Tôi mầy mò đọc Triết, thấy chỉ là một mớ lý lẽ u minh, chẳng liên quan gì tới thực tế. Tình cờ tôi có bà bác làm thủ thư ở Thư viện Hà Nội cho mượn cuốn Giải bài toán thế nào và Toán học và những suy luận có lý của G.Polya. Phải nói là tôi không thể hiểu hết được những điều trong đó, phần vì sách mượn không thể giữ lâu, phần vì kiến thức còn sơ sài. Nhưng đọc xong, đúng là có thể giải hàng loạt bài toán. Đặc biệt là việc đưa ra các phương pháp luận như xét trường hợp riêng, tổng quát hóa, xét tính đối xứng,... Khi học đến hình học không gian, nhiều người chới với vì hầu như không có mẫu bài tập, làm bài nào biết bài đó. Tôi cố gắng suy nghĩ và tự phát hiện ra một bí mật: rất nhiều bài toán hình không gian đều có mấu chốt là một bài toán hình học phẳng trên một mặt phẳng nào đó. Vấn đề chỉ là việc nhìn ra mặt phẳng nọ mà thôi. Tôi luyện kỹ năng theo hướng này và trở thành chuyên gia hình không gian với rất ít khổ luyện giải bài toán. Tất nhiên, có những bài hình không gian mà phương pháp này không áp dụng được thì tôi đầu hàng luôn sau khi xoay đủ kiểu.

Nhưng từ đó tôi bắt đầu đọc các sách lý thuyết như Hình Giải Tích, Đại số cao cấp, thậm chí đọc một sách chuyên khảo và viết một bài nghiên cứu về các đường conic từ lớp 8. Hầu như bài vở bài tập trên lớp không hề ngó tới, thậm chí chẳng biết thế nào là đạo hàm, loga, công thức sin cos cộng góc. Khi nào đi thi bỏ 2 ngày đọc một quyển bài tập có sẵn lời giải, cũng nhiều lần điểm đạt tối đa, cũng có khi bỏ 1-2 bài, nhưng tôi thấy tạm đủ.

Lên đại học, cố nhiên không thể học theo cách giải từng bài toán được. Rất nhiều bạn của tôi bị sốc, và cho rằng Toán Đại học khác và Toán Sơ cấp khác. Tôi chỉ thấy nghiên cứu Toán và giải Toán là hai việc khác nhau. Tôi không cho rằng học toán sẽ có ích lợi nếu chỉ bằng cách rèn luyện kỹ năng giải Toán. Tôi cho rằng nắm được các concept chính, vạch ra mối quan hệ và đặt ra một lớp các bài toán cùng với phương pháp chung cho lớp đó quan trọng hơn nhiều. Có lẽ đây là tư duy của Vật lý lý thuyết, chứ không phải là tư duy của Toán lý thuyết. Chẳng hạn như phương trình Einstein hay bài toán nhiều vật là những bài toán không có lời giải tổng quát. Vấn đề là phải thêm các điều kiện để có bài toán giải được, nhưng không đặc biệt để có thể bao gồm "hàng vạn bài toán" có thể giải bằng một phương pháp thống nhất. Tôi giải ra nhiều bài toán vào lúc ngủ mơ màng, có lẽ là khi đó tư duy không bị nhiễu bởi các tạp niệm, các khái niệm trở nên sạch và các mối quan hệ trở nên rõ ràng hơn.

Sau này, con trai tôi, khi lên lớp 5 tình cờ có nói một câu: cuộc đời có nhiều việc phải làm, nếu phải làm toán thì thà giải hàng vạn bài toán dễ còn hơn làm một bài toán khỏ. Việc tách một bài toán khó thành nhiều bài toán dễ với mẹo mực có sẵn hoặc ai đó đã giải chính là làm toán. Khác biệt giữa làm toán và giải toán theo cách hiểu sơ cấp chính là như vậy. Làm Toán là hình thành phương pháp, nếu giỏi chuyển sang ứng dụng không có vấn đề gì. Chỉ chăm chăm giải các bài toán riêng rẽ lầ tự giam mình trong hũ nút, chính là căn bệnh của một số mọt Toán học mãi không thành tài, mặc dù tư chất không phải là ngu độn.

Tất nhiên là ứng dụng không có nghĩa là là bắt buộc phải giỏi làm Toán. Nhưng Toán học sẽ đem lại sự khác biệt, chí ít là đối với người Việt Nam, không có điều kiện thực nghiệm, kém về phương pháp luận và thiếu nền tảng triết lý.

Tào Tháo bỉ mặt Trương Tùng mất Thục - Lệnh Lỗi Dương

Cuối tuần này, các việc gấp đã tạm thư, tiếp tục mục Luận Tam Quốc

   Cuối đời Hán Linh Đế, nạn mua quan bán chức lan tràn, những kẻ bất tài hối lộ làm quan đầy rẫy, đè nén dân gian trục lợi, oán thán đầy đồng, điêu dân làm loạn theo bọn Khăn Vàng mong đổi đời. Công khanh dâng biểu tiến cử các đại thần có danh vọng, phẩm cách thanh cao làm chức Mục ở các châu. Các quan Mục đều được phong hầu, được dùng màn trướng y phục sắc đỏ. Vào chầu được được đi xe công xa tứ mã, đãi ngộ đặc biệt, địa vị tôn quý, quyền thay thiên tử sinh sát một phương. Ích Châu có Lưu Yên, Kinh Châu có Lưu Biểu, U Châu có Lưu Ngu đều là tôn thân nhà Hán.
Lời bình của Lệnh Lỗi Dương
  Loạn là do thể chế yếu, chứ không phải thể chế yếu do loạn. Loạn bắt đầu từ việc không dùng hiền tài. Quan lại chạy theo lợi riêng, bỏ bê việc phải chăm sóc đời sống và giáo hóa cho dân. Xét Linh Đế muốn cải cách, cũng là đáng khen, nhưng thay vì tăng quyền lực Trung ương lại tăng quyền lực địa phương để đến nỗi sau này các sứ quân tự chuyên đánh giết lẫn nhau không kiểm soát nổi, đến nỗi thiên hạ chia ba, chẳng phải là sai lầm từ gốc sao. 

Lưu Yên vốn dòng dõi Lỗ Cung Vương Lưu Giao, gia tộc được phong ở Huyện Cánh Lăng, Giang Hạ, thuộc Kinh Châu. Cha Yên là bậc đại nho đời Hán mạt là Lưu Hướng. Do là tông thất nên từ trẻ đã được bái làm Trung Lang, rồi dần trải qua các chức Huyện lệnh, Thái thú, Thứ sử rồi đến bậc công khanh như Tông Chính, Thái thường. Khi triều đình có chính sách cử quan Mục, Lưu Yên muốn tránh loạn đảng trong triều bèn xin làm quan Mục ở Giao Chỉ. Sau nghe lời quan Thị Trung là Đổng Phù, thạo giảng sấm ký, nói Ích Châu có khí tượng đế vương bèn xin vào Thục. Được phong Dương Thành Hầu, Giám quân Sứ giả, lĩnh Mục Ích Châu. Đổng Phù và Triệu Vĩ là các quan lại có tiếng tăm đi theo Yên làm vây cánh. Yên đến châu, giết thứ sử cũ là Khích Kiệm, thu nạp lưu dân làm vây cánh gọi là quân Đông Châu. Ích Châu giàu có và trở thành một sứ quân mạnh. Yên nghe lời sấm ký, nói chân mệnh thiên tử có hoàng hậu họ Ngô, bèn cưới thêm vợ là Ngô thị, chế xe cộ nghi trượng thiên tử. Phía bắc cấu kết với bọn Mã Đằng làm phản, phía Đông sai Trương Lỗ nắm lấy Hán Trung. Phía Nam ngăn đường sang Kinh Châu. Lại cắt đường sạn đạo, tuyệt tin tức với nhà Hán. Những kẻ chống lại Yên tại châu đều bị Yên giết chết.
Lời bình của Lệnh Lỗi Dương 
   Lưu Yên là tôn thân nhà Hán, vốn là người có học đậu khoa Hiền lương Phương Chính, có danh vọng. Nhưng tham hư danh mà đắm vào mê tín dị đoan. Nắm trong tay Ích Châu giàu mạnh mà mưu đồ cá nhân đen tối. Sau này Lưu Bị lên ngôi Hoàng Đế lấy con gái của Ngô Ban làm hậu. Chân mệnh đế vương đâu chỉ vì một việc lập hậu.

Lưu Chương nối cơ nghiệp của cha, giả mệnh thiên tử lĩnh Ích Châu Mục. Triều đình lắm việc không xét tới lại gia phong Phấn Uy tướng quân. Ích Châu, binh nhiều lương lắm, lại thu nạp được kẻ sĩ từ Kinh Tương bất đắc chí về theo. Võ thì có bọn Bàng Hi, Trương Nhiệm, Hoàng Quyền, Lý Nghiêm, văn thì có bọn Trương Tùng, Pháp Chính, Bành Dạng, Mạnh Đạt. Chương bản tính khoan hòa, tuy thích nói chuyện nhân nghĩa nhưng không có uy để ngăn quân Đông Châu tàn hại bách tính. Tuy có nhiều nhân tài nhưng do dự không dám hành động, lại khăng khăng cố chấp những điều nhỏ mọn, nên lòng người dần chia lìa muốn tìm chủ khác để thực hành tài học của mình.
Lời bình của Lệnh Lỗi Dương 
  Người có chân mệnh thiên tử phải có viễn kiến, không câu nệ tiểu tiết. Đâu phải chỉ nói chuyện giống bậc vương giả mà thành vương giả. Sau này rước quân Kinh Châu vào Thục rồi lại đổi ý gây hấn, đánh nhau với Lưu Bị ba năm, xương dân chất trắng đầy đồng. Mới biết do dự, u mê là do tư chất ngu độn mà ra, thà về đuổi gà cho vợ, ôm đống của làm anh trọc phú còn hơn. Sau này Chương lại theo Tôn Quyền, được phong Thứ sử Ích Châu hữu danh vô thực ở Kinh Châu.

Tào Tháo bôn ba nhiều năm, lao tâm khổ tứ đã dẹp được bọn Viên Thuật, Viên Thiệu, Lã Bố, Mã Đằng, thống nhất Trung Nguyên, củng cố chính quyền địa phương, đem quân xuống phía Nam, bình định Kinh Châu.  Lưu Bị đem quân bỏ chạy, liên hợp với Tôn Quyền, chống Tào, thế yếu. Quân Tào chỉ chờ một trận dẹp yên phương Nam, nên tạm không hỏi đến Hán Trung và Ích Châu. Lưu Chương kinh sợ bèn sai người mang lễ vật xin theo hiệu lệnh của Tháo. Lại cử quan Biệt giá là Trương Tùng đến xin nội thuộc nhà Hán.
Lời bình của Lệnh Lỗi Dương 
  Sau khi lấy Kinh Châu, nếu Tháo đem một cánh quân bình định Hán Trung thu nạp Ích Châu, lấy thế ép Giang Nam, đã không còn nhà Thục. Nhưng chắc Tháo coi thường Trương Lỗ, Lưu Chương là bọn ngu dốt, lúc nào cũng có thể lấy Thục như lấy đồ trong túi. Phàm việc đời, cái gì dễ phải lấy trước, tạo thanh thế cho đại cục, không cần dùng sức mà yên thiên hạ, giữ tính mạng cho trăm quân. Tháo đọc kỹ binh thư mà vẫn còn thích động binh chém giết, chưa nắm được tuyệt học của đạo đánh dẹp.  Nhưng chưa lấy Thục ngay cũng chưa phải là thất sách nếu biết trọng vọng Trương Tùng

Trương Tùng là quan Biệt Giá, một bậc rất cao của Ích Châu, thông minh trác tuyệt, kiến thức uyên thâm, biện bác ít người theo kịp, có tham vọng giúp đời, chỉ tiếc không gặp minh chủ để làm nghiệp lớn. Tùng tướng mạo cổ quái, xấu xí, râu thưa, trán ngắn, cao chưa tới 6 thước. Tháo gặp Tùng, không cho vào trong mắt, tỏ ý khinh bỉ, lại khoe khoang tài chinh phạt để áp đảo. Dương Tu khi đó là thư ký riêng của Tào Tháo, nhìn ra tài của Tùng, cho rằng Tùng có tài lạ, khuyên Tháo nên trọng vọng, nhưng Tháo không nghe. Tùng thất vọng mà dèm pha với Chương đoạn tuyệt với Tháo. Kịp khi Tháo thua ở Xích Bích, Chương bèn nghe theo Tùng. Tùng biết rằng Chương sớm muộn cũng để mất Ích Châu vào tay Tháo, bèn cùng bọn Pháp Chính, Mạnh Đạt bày mưu đón Lưu Bị vào Xuyên.
Lời bình của Tập Tạc Xỉ:
    Xưa Tề Hoàn một lần khoe công mà chín nước làm phản, Tào Tháo kiêu ngạo trong chốc lát mà thiên hạ chia ba, mấy chục năm chuyên cần bên trong đều đem vứt bỏ trong một thoáng cử động, há chẳng tiếc lắm hay sao!  Vì thế nên bậc quân tử phải hết sức khiêm cung đến trưa, lo nghĩ cho kẻ dưới, công cao mà phải ở vào chỗ nhún nhường, được tôn kính vẫn phải giữ lễ với kẻ hèn mọn. Tình gần với vật, nên dù quý hiển mà người ta không ghét mà trọng; đức hòa hợp với cuộc sống của mọi người, nên công nghiệp to lớn mà thiên hạ vẫn vui mừng hân hoan. Người như thế, có thể được phú quý, giữ được công nghiệp, đương thời được hiển hách, truyền phúc lại cho trăm đời, sao lại kiêu căng làm gì! Thế nên bậc quân tử biết Tào Tháo chẳng thể là người thâu tóm được thiên hạ vậy.

Lời bình của Lệnh Lỗi Dương: 
     Kiêu ngạo là tật chung của kẻ sĩ, kiêu nên mới cao khỏi đắm mình vào cái tầm thường. Nhưng Tháo kiêu, Tùng cũng kiêu. Nếu Tùng cẩn thận giữ được mạng về với Lưu Bị như Pháp Chính, công nghiệp có khác gì bọn Chính, Lượng. Có thể nói Tùng kiêu chẳng mất gì. Tháo kiêu, mất Thục, vứt bỏ công sức hàng chục năm, sau này thua ở Hán Trung mất cả huynh đệ. Mới biết rằng, cái kiêu không đúng chỗ, phải trả bằng thời gian, công sức và tính mệnh. Kiêu như Hán Cao Tổ với bọn Kình Bành, hay như Ngọa Long bắt Lưu Bị bâ lần cầu kiến mà thu phục được thiên hạ lại là việc khác.
 

Thứ Bảy, 27 tháng 12, 2014

Nhớ thời kỳ Phục Hưng Việt Nam

     Trên đường đi đến đích, người ta có thể trì hoãn việc rẽ ngang, nhưng sớm muộn vẫn sẽ phải rẽ một số lần nhất định, nếu con đường của họ đòi hỏi phải như thế. Tôi thường nghĩ về một thời đại Phục Hưng cho Việt Nam với hình ảnh liên tưởng này. Con người sẽ mãi mãi không trở thành người lớn và mãi sẽ sống với những thói ấu trĩ, cho dù được nhồi nhét tri thức uyên thâm đến mấy, nếu không trải qua thời kỳ dậy thì và trưởng thành. Nếu không có thời kỳ Phục Hưng, loài người chúng ta mãi phải sống với những thói ấu trĩ đó dù có làm ra bom nguyên tử hay phát minh ra máy tính. Phục Hưng là thời kỳ dậy thì để trưởng thành của nhân loại, khi chúng ta dám phủ nhận những tín điều phức tạp để trở lại với những chân lý đơn sơ như nền dân chủ Hy Lạp, luật La Mã và tính người.
     Tâm thức Việt Nam giống như một đứa trẻ, không thiếu điều tốt đẹp, nhưng đầy bản năng và thiếu duy lý. Chúng ta đã sa vào những cuộc tranh luận bất tận trên những khái niệm không có ranh giới hình thành dựa trên trực giác, những thói hoang dã bướng bỉnh khó thay đổi nếu không dùng tới sức mạnh của roi vọt hay gói quà Tết, những xét đoán không gắn với một hệ thống giá trị ổn định nào, không lối thoát từ nhiều thế hệ. Tranh luận bằng trực giác, bướng bỉnh hoang dã và không có giá trị ổn định chính là các phản ánh của sự ấu trĩ.
     Ấu trĩ là một điều tha thứ được với một đứa trẻ, nhưng sẽ đem lại một số phận bất hạnh với một người lớn. Khi lớn lên, với những năng lực tự chủ mạnh mẽ, con người ấu trĩ sẽ đủ sức tàn phá xã hội một cách vô thức, ngu xuẩn như một con King Kong. Làm thế nào để đánh thức một con King Kong đang say máu tàn phá? Có lẽ không còn cách nào khác phải dùng sức mạnh đánh quỵ nó, để nó thấy được rằng sức mạnh của nó chỉ là một trò cười so với thế giới này. Dù sao đi nữa, những kẻ ỷ vào sức mạnh luôn khiếp sợ sức mạnh khác hơn mình. Sau đó, phải thức tỉnh con King Kong ra khỏi thế giới ảo giác của nó. Hứng khởi tinh thần của con King Kong bắt nguồn từ men say trong máu, khiến con King Kong nhìn thế giới như một kẻ nghiện ngập, vừa bướng bỉnh vừa nhát nhúa không dám trở lại với thế giới thực. Bước tiếp sau, phải áp đặt một hệ thống giá trị cho con King Kong, để nó biết hành xử phù hợp với thế giới văn minh, cho dù phải trải qua một cuộc hành xác, tẩy não khổ đau. Cuối cùng, mới có thể giải phóng các sức mạnh đặc biệt của King Kong phục vụ cho thế giới văn minh và mang đến hạnh phúc cho chính nó.
    Phục Hưng là một phong trào văn hóa bắt nguồn ở Ý rồi lan rộng khắp châu Âu từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 17. Động lực của Phục Hưng có lẽ là các phát minh công nghệ làm giấy và in typo đã thay đổi đến gốc rễ ngành công nghiệp xuất bản. Nhờ đó các ý tưởng mới được giao lưu, tích lũy và lắng đọng thành nền tảng của một hệ thống giá trị mới, có sức phát triển tới tương lai, khai phá các giá trị cổ điển đồng thời cũng phá dỡ hệ thống tư biện nhiều tầng lớp của thời Trung cổ.
    Một sự trùng hợp có vẻ như ngẫu nhiên là Phục Hưng bắt đầu sau khi Thành Constantinople thất thủ. Đó là một thất bại đau đớn nhưng rất cần thiết với con King Kong châu Âu, khi sức mạnh bị đè bẹp bởi một sức mạnh khác. Sự ưu việt của hệ thống phòng thủ thành Constantinople dựa trên hệ thống khoa học kinh điển của châu Âu bị đánh sập bởi những kẻ mọi rợ vốn không cần biết các nguyên lý khoa học là gì, nhưng biết sử dụng một ứng dụng tinh tế của chính tri thức khoa học Âu châu là đường khương tuyến. Sức mạnh về công nghệ, sự thiện chiến của các chiến binh thành chiến từ Ý, tinh thần Thiên chúa giáo, đã trở thành trò cười trước đạn đại bác xoay tròn theo thiết kế của một sĩ quan công binh vô danh người Hungari nào đó. Có lẽ quan trọng nhất là niềm tin trực giác, bướng bỉnh và không có một cơ sở nào là Chúa luôn ở cạnh để phù hộ cho con chiên của mình, đã tan nát. Con King Kong bị đánh quỵ trở nên khiếp sợ lần đầu tiên thấy được sức mạnh của mình chỉ là trò cười trong thế giới mới. Không biết do cơ may hay do tính ưu việt, nền châu Âu đã biết sống lại và làm bá chủ thế giới, bắt đầu từ Phục Hưng. Những nhà bác học Hy Lạp tinh hoa nhất, đã rời bỏ Constantinople quy tụ ở Ý và đem lại cho Ý những tư tưởng mới mẻ. Trên nền tảng đó đã sinh ra những nhà bách khoa khổng lồ như Leonardo da Vinci hay Michelangelo. Đã có một cuộc tranh luận giữa việc coi Phục hưng là một bước tiến về văn hóa từ thời Trung cổ hay nên coi đó là một giai đoạn buồn đau, yếm thế, hồi tưởng dĩ vãng của Âu Châu. Tuy nhiên, thất bại, buồn đau là cần thiết để tiến lên, nếu như biết giữ những giá trị thực sự và dám từ bỏ những ảo tưởng, thiết nghĩ cuộc tranh luận đó không cần thiết. Vả lại, sau Phục Hưng, sự phát triển của châu Âu không còn là một bước đi ngẫu nhiên mà đã dẫn đầu toàn thế giới cho đến tận ngày nay.
     Câu hỏi đặt ra là liệu các dân tộc không có cơ may được ở trong trào lưu Phục Hưng thế kỷ 14-17, muốn tìm hạnh phúc của mình liệu có phải trải qua thời kỳ Phục Hưng của mình? Có thể lấy một ví dụ của nước Mỹ. Nước Mỹ có thời kỳ Phục Hưng của mình với danh xưng American Renaissance từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20 quy tụ được đông đảo các nhà sáng chế, nhà văn, kiến trúc sư, nghệ sĩ, chính trị gia,... tại New York với tư tưởng hình thành một hệ thống giá trị của một Đế chế mới. Kết quả, nước Mỹ sau đó trở nên cường quốc số 1 thế giới cho đến tận hôm nay. Có lẽ đó không phải là một điều ngẫu nhiên
    Việt Nam có cần một phong trào Phục Hưng hay không? Dù không thể đưa ra các lý lẽ để xác quyết, nhưng từ nhiều năm tôi vẫn mong đợi điều đó. Trước hết, thói mê tín, tính áp đặt niềm tin thô bạo đang lồng lên  như một con ngựa hoang của người Việt chỉ có thể trấn áp bởi một phong trào Phục Hưng, cổ võ những giá trị nguyên sơ và khuyến khích suy nghĩ độc lập. Một dân tộc loay hoay tìm chỗ đặt niềm tin của mình từ nơi này qua nơi khác mà không dám đặt vào chính mình sẽ còn phải đối diện với vô số khó khăn do chính mình tạo ra cho bản thân. Ngược lại, việc đơn giản hóa và thanh lọc các niềm tin, chính là để hình thành tính cách cá nhân, bước đầu trở trở thành một con người văn minh trưởng thành.
      Năm 2014 có thể coi như một bước ngoặt lớn trong tâm thức người Việt, trong một số lĩnh vực nhận thức của người Việt có bước phát triển bằng nhiều thế hệ. Tuy nhiên, sẽ không thừa, nếu chúng ta cần cảnh giác về hướng đi, say sưa bẻ lái có thể làm người ta quay trở lại vị trí xuất phát nhiều lần. Có thể đường tới phồn vinh có nhiều lối, nhưng Phục Hưng có lẽ là một con đường chắc chắn nhất.

Thứ Bảy, 29 tháng 11, 2014

Dấu vết của Bàn Cổ

Hầu như các thần thoại, thần tích Việt Nam đều có bóng dáng nhang nhác trong thần thoại Trung Quốc. Để giải thích điều đó có hai thuyết trái ngược.  Có một thuyết cho rằng người Việt Nam đã tiếp nhận tôn giáo, thần thoại Trung Quốc trong thời Bắc thuộc với cố gắng của Nhâm Diên, Sĩ Nhiếp, Cao Biền,... Các thần thoại này được thay đổi đôi chút cho phù hợp với thần thoại địa phương. Vào khoảng thời kỳ giành độc lập, từ thời Ngô Quyền tới đầu đời Lý, đã có những nỗ lực có ý thức, có thể gắn với tên tuổi cá nhân, nhằm tạo ra một hệ thống thần thoại riêng. Và sau này hệ thống thần thoại vẫn không ngừng được bổ sung thêm bởi các yếu tố mới du nhập từ Trung Quốc. Gần đây có một thuyết cho rằng thần thoại Trung Quốc bắt nguồn từ thần thoại Bách Việt, do người Hán là sự hòa huyết của Bách Việt với các chủng Mongoloid. Chính các phần tử gốc Bách Việt này đã mang các yếu tố thần thoại nói riêng và văn hóa nói chung vào văn hóa Trung Hoa. Thực tế có thể là tổng hòa của hai thuyết này. Trước hết, đã có những bằng chứng về các luồng di dân xuất phát từ Miến Điện-Vân Nam. Cũng có những bằng chứng về các luồng di dân muộn hơn từ vùng hạ lưu sông Dương tử về phía Nam và trở lại Vân Nam. Các yếu tố văn hóa được mang theo, sáng tạo thêm rồi du nhập trở lại là điều dễ hiểu. Tuy nhiên, nếu lần lượt phân tích có hệ thống các yếu tố thần thoại, sẽ thấy rõ được nguồn gốc của các yếu tố thần thoại được sinh ra như thế nào. Điều đó có thể phản biện và phòng ngừa một trào lưu khoa học mang tính dân tộc chủ nghĩa, tự tôn thái quá mà gốc gác của nó lại là một tâm lý tự ty dân tộc ở dạng bán khai. Bài viết này sẽ tập trung vào thần thoại về Bàn Cổ, nhân vật sinh ra đầu tiên trong thần thoại Trung Quốc và dường như không có vết tích trong thần thoại Việt Nam.

     Bàn Cổ là nhân vật sinh ra từ Hỗn mang nguyên thủy, khi chưa có Trời Đất, Âm Dương chưa phân biệt, Ngũ Hành chưa sinh. Bàn Cổ vừa là sinh vật đầu tiên vừa là người sáng tạo ra vũ trụ, nhưng không mang tính tối cao như Thượng Đế, mà có sinh có diệt như mọi sinh vật. Bàn Cổ mang hình hài của một người nguyên thủy, lông lá, cơ bắp, đầu đội trời, chân đạp đất, tay cầm lưỡi búa. Ông tách trời ra khỏi đất, tách âm dương, tạo ra ngày đêm, tinh tú, vạn vật. Bàn Cổ tồn tại 16 vạn năm,  rồi chết. Hình hài của ông để lại thành rừng núi, sấm chớp, sông biển,... Trong thần thoại của người Việt không có Bàn Cổ, có thể vì người Việt không quan tâm tới những vấn đề trừu tượng như Sáng thế. Văn bản cổ nhất nói tường minh về Bàn Cổ là của Từ Chỉnh, người thời Tam Quốc. Gần đây người ta cũng đã tìm thấy bia mộ có khắc tên Từ Chỉnh có niên đại phù hợp. Tuy nhiên, các văn tự về Bàn Cổ đã có dấu vết trong các sách như Chu Ngữ, sách Quốc ngữ từ thời Xuân Thu, Chiến Quốc.
 Bàn Cổ cũng tồn tại trong thần thoại của người Miêu và người Dao. Trong thần thoại của người Bố Y (một nhánh của người Choang, sống ở vùng Quý Châu) Bàn Cổ là hai người, một nam, một nữ cũng tạo ra thế giới như Bàn Cổ. Gần đây, các nhà nghiên cứu cho rằng Bàn Cổ cũng tồn tại trong thần thoại Ấn Độ, thần thoại Lưỡng Hà, thần thoại Hy Lạp, trên tuyến đường di cư từ châu Phi của các nhóm người cổ Nam Á. Điều đó chứng tỏ sau khi qua vượt dãy Himalaya, sau thời đại băng hà, nhóm người cổ thông minh đến Nam Á đã dừng lại ở vùng  Miến Điện Vân Nam. Khi đó họ còn mang theo các ý tưởng về Sáng thế-Bàn Cổ từ các vùng đất cũ. Các tư tưởng này có thể mai một trong những nhóm người tràn xuống các châu thổ sông Hồng và sông Cửu Long, các nhóm người đi lên phía Bắc và còn ở lại vùng Vân Nam Quý Châu, còn giữ lại các câu chuyện có khác nhau chút ít về Bàn Cổ.