Thứ Năm, 26 tháng 8, 2021

MONG MANH TRÍ THỨC VIỆT

Không phải ông nào không biết làm gì ngoài đọc sách, hoặc có bằng cấp đều đã là trí thức theo nghĩa mà tôi hiểu. Khi một người bắt đầu suy nghĩ về ý nghĩa thực sự đằng sau kiến thức trong sách vở, tìm cách kết nối chúng lại với nhau và với sự tồn tại của chính bản thân mình, khi đó hắn mới có thể được gọi là trí thức, khác với đám thợ chữ trộn bê tông chữ, xây trát chữ để mưu sinh. Nước Nga có nhiều nhà khoa học, Viện sĩ lỗi lạc, nhưng điển hình trí thức là Perelman không hề có danh hiệu gì. Tính cách Perelman càng nhiều thì độ trí thức sẽ càng cao. Lăng xăng quan quyền lắm danh hiệu như Lysenko, Sedov, Mitchourin hay Fadeev không thể gọi là trí thức. Tuy rằng hành động tự sát của Fadeev cũng có chút phảng phất hơi hướng trí thức Nga theo kiểu Yesenin.

Trong làng khoa bảng Việt Nam, tỷ lệ trí thức khá thấp. Nếu chọn điển hình thời phong kiến có thể lấy Chu Văn An và Nguyễn Bỉnh Khiêm, thời Pháp thuộc có thể lấy Nguyễn Khuyến, thời xã hội chủ nghĩa có thể lấy Nguyễn Tuân. Đó là các hình tượng mà giới sĩ phu cùng thời tôn sùng nhất. Tính cách bao trùm các vị này là yếm thế và không có hành động cụ thể. Liên hệ những chuyện các cụ nói với nhau đã khó, vì các cụ không có học thuyết gì cụ thể, chỉ lập ngôn vụn vặt. Liên hệ những gì các cụ nói với bản thân các cụ còn xa xỉ hơn vì các cụ hầu như không hành động gì. Hành động đối với hệ thống đánh giá của dân ta đều là ty bỉ. Vì thế khối người lăn lưng ra làm đều bị dè bỉu không được sùng bái. Các cụ cứ ngự trong mây mà hé lộ tý râu, tý vuốt, tý vảy để được sùng bái. Còn sau mây là gì chúng ta chịu không có bằng chứng để suy đoán.
Cụ Chu Văn An, không thấy nghe nói làm gì cụ thể ngoài việc dâng sớ chém 7 người bị gọi là gian thần. Nhưng cụ thể không biết là ai, tên tuổi thế nào, tội trạng gì. Riêng về mặt pháp lý điều đó không ổn tý nào. Nếu là vua, tôi sẽ không bao giờ chém người, cho dù tôi không ưa đến mấy, theo đề nghị trái quy trình và đạo lý như thế. Khái niệm về gian thần của sĩ phu Bắc Hà cũng rất cảm tính, công thức và theo chủ nghĩa lý lịch: các hoạn quan Lương Đăng, Đinh Thắng, Đinh Phúc bị Nguyễn Trãi chỉ măt là gian thần hại nước, đều có những lời bàn hữu lý về cải cách lễ nhạc và có khí tiết, thậm chí bênh Nguyễn Trãi khi ông bị hàm oan. Về mặt chính trị, nếu quả cụ An muốn chém ai đó thật, hoặc việc chém đó có ích nước lợi dân thật, cụ tất phải bày mưu tính kế với Lê Quát, Phạm Sư Mạnh đều là bậc tể tướng, học trò cụ, nghe cụ răm rắp. Sắp đặt dày công, gài bẫy cho cá kình vào lưới sắt, chém dễ như bỡn. Nhưng xây dựng một chương trình thực hiện cụ thể mất thời gian không phải là mặt mạnh của trí thức ta. Các cụ trí thức tỏ ra thanh cao không làm việc cụ thể như thế. Vì thế mà có truyện tiếu lâm: thầy ngoại khoa cắt xong đuôi mũi tên phủi tay xong việc, nói còn lại là việc của thày nội khoa. Thực ra, mục tiêu của cụ An chỉ là làm truyền thông, mượn 7 tên đặt ra chuyện chém để tạo dư luận xã hội mà thôi. Có lẽ từ "chém gió" nên lấy chuyện Chu Văn An làm điển tích từ nguyên. Thơ phú trước tác của cụ An để lạị cũng không thấy gì thật xuất chúng.
Nguyễn Bỉnh Khiêm có thể nói là trí thức Việt Nam đầu tiên có uy tín quốc tế. Cụ đã thoát khỏi các vấn đề chính trị quốc nội để nghiên cứu lý số là đỉnh cao khoa học chung của các nước Tứ Đại Hoa. Cụ được được một nhà tổ sư dịch lý tán tụng "ở nước Nam có ông Trình là có biết dịch lý". Thế là ghê lắm rồi. Tuy kiểu khen này khá trịch thượng, hỗn láo, như thầy xoa đầu khen trò trung bình. Cụ được vua Mạc trọng vọng, nhưng không thấy bàn được mưu nào ích quốc lợi dân. Mưu kỳ bí nhất của cụ là bày cho Nguyễn Hoàng cát cứ Đường Trong. Mẹo mực để phân tranh đất nước không thể gọi là ích nước lợi dân. Sấm Trạng Trình thì kỳ bí, không biết có nghĩa thật như người ta tán hay không. Có lẽ nên mở rộng thành ngữ "vịt nghe sấm Trạng".
Nguyễn Khuyến, đỗ đầu liền ba kỳ thi Hương Hội Đình, có thể coi là có giấy thông hành trí thức. Tuy nhiên, người thi rớt nhiều lần cùng thời như Trần Tế Xương không thể gọi là không trí thức. Về công tích của cụ toàn bộ đều là thái độ phân vân, thấy nói ngang, móc máy, xỏ xiên nhiều chứ không có quan điểm gì tường minh để dân tình có thể lấy làm chủ thuyết mà theo hay xả thân vì lợi ích cộng đồng. Thậm chí, thái độ sống của một biểu tượng được tôn sùng như thế còn làm cho các nỗ lực của các chí sĩ như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thượng Hiền thành trò công cốc, đáng cười. Thơ của cụ tinh những chữ, cầu kỳ nhưng không thấy ý nào cho cứng cỏi, nguyên khôi. Cái gì cũng tí tẻo tèo teo. Việc cụ trở thành thần tượng một thời của sĩ phu Bắc Hà cũng cho thấy trí thức của ta mong manh thế nào. Có lẽ cụ Yên Đổ đáng là biểu tượng của "trí thức trùm chăn".
Nguyễn Tuân được nhiều người gần đây tôn sùng, do tính cách lập dị và cầu kỳ. Văn ông đọc cũng thích nhưng đọc một vài bài thì chán vì không thấy ý tưởng nào tích cực, lặp đi lặp lại na ná như nhau. Văn của ông thấy mường tượng giống như có một ông thánh ngồi trong nhà phán về thời sự quốc tế. Có vài công thức mẫu thì phán chuyện gì cũng được, nhưng nó cứ meo méo không thật thế nào đó.Tư tưởng của ông cũng không được sắc bén như Nam Cao. Cái tinh tế của ông quay đi quay lại thấy là Phở, Trà. Nghe nói, ăn uống của ông cũng cầu kỳ, giò lụa phải mua ở chợ Hàng Da. Thấy nói ông "ngẳng" với các quan văn nghệ như Tố Hữu, Hà Xuân Trường, nhưng thái độ ông không rõ ràng và chưa thấy bao giờ bênh vực đàn em, bạn hữu được như các "đại ca" Nguyễn Huy Tưởng, Tô Ngọc Vân. Tâm huyết với nghệ thuật của cụ thì không được như Văn Cao, Nguyễn Sáng. Công tích với xã hội không thể so với Nguyễn Hữu Đang, Nguyễn Văn Tố. Việc ông trở thành biểu tượng vượt bậc với những người kia cũng cho thấy cái gọi là trí thức Việt thật mong manh. Cụ Tuân đáng gọi là "trí thức giả điếc cầu an".
Như vậy, có thể tạm khắc họa hình tượng trí thức Việt xuyên thời đại là "chém gió, phán sấm, trùm chăn và giả điếc cầu an". Ôi mong manh.

Thứ Ba, 17 tháng 8, 2021

Vua sáng nhất đời Tam Quốc

1. Vua Á Đông sướng hơn vua Âu Mỹ. Điều đó cũng như ong, kiến, mối chúa sướng hơn trâu, ngựa đầu đàn. Hoàng đế Trung Hoa lại càng sướng. Món ngon, vật lạ, mỹ tửu, giai nhân, thậm chí mỹ nam (tin tôi đi, ngày xưa ở Trung Quốc, gay và lesbian còn nhiều hơn ở Mẽo bây giờ) loại thượng hạng, vưu vật bao nhiêu cũng có. Làm vua về nguyên lý sướng như vậy nên tranh nhau làm vua. Bạn bè, đồng liêu tranh đoạt không nói. Cha con, anh em cũng giết nhau như ngoé. Lên được ngôi rồi lại suốt ngày suy nghĩ lo giữ ngôi. Nghe nói Tần Thuỷ Hoàng, Hán Cao Tổ đọc và phê tấu chương từ sáng sớm đến khuya, rượu ngon, gái đẹp không hề sờ tới. Vài năm là lăn ra chết.

2. Một số ông vua chợt ngộ ra một điều: Trải qua vô lượng kiếp từ ngạ quỷ súc sinh, cửu vạn, đồ tể đi lên mới thành hoàng đế một lần, bỏ rượu ngon gái đẹp để duyệt tấu chương thì ngu quá sức. Chẳng tội gì không ăn chơi. Người phát minh ra chân lý đó có lẽ là Thái Khang, cháu nội vua Đại Vũ, vị hoàng đế đầu tiên theo thể chế cha truyền con nối. Sau đó quán được thượng thừa chân lý này là hai anh vua Kiệt và Trụ. Người ta hay chê hai anh này bạo ngược tàn ác. Tôi chắc là sử quan đời sau thêu dệt. Hoàng đế mà ở trong cung, rượu chè thiết gì đến giết chóc. Giá phỏng có giết vài lão đại thần hủ nho và vài chục cung nữ thái giám sao so được với các “minh quân” giết cả vạn người.
3. Vì vậy không rõ hôn quân là ngu tối hay sáng suốt, minh quân là sáng suốt hay ngu tối. Đừng tưởng bọn hôn quân là xuẩn ngốc thiểu năng. Tuỳ Dạng Đế văn võ toàn tài, Trần Hậu Chủ thơ ca nhạc hoạ trác tuyệt, thừa hiểu việc chính trị đổ nát sẽ diệt vong, nhưng cứ đánh chén chơi bời cho sướng một khoảng khắc trong chín vạn ba ngàn kiếp. Biết kiếp nào mới lại có cơ hội.
4. Chân lý này sớm muộn cũng phô bày, như cái kim trong bọc ắt thòi ra. Vì thế chỉ có vài đời vua sáng như Cao Tổ, Văn Đế, Vũ Đế, thức khuya dậy sớm, cóp công, tích đức là đến đời các ông con láu cá ngộ ra đạo lý xuyên thời gian, thấy không tội gì bận tâm tới chính trị. Muốn rảnh thời gian, trước tiên vua sẽ giao quyền cho một vị hoàng thân. Cũng có những ông hoàng chân chỉ hạt bột, bỏ cả sinh thú để thay vua làm những chuyện chán phè như Chu Công, Thiệu Công. Nhưng rồi cũng có người ngộ ra chân lý, nhân đó phế luôn anh vua. Mày và tao cũng phụ hoàng sinh ra, mày không muốn làm vua tao ngu gì không làm. Thế là vua dần dần sợ anh em, chú bác mình hơn sợ người ngoài. Vì thế vua bắt đầu tin dùng họ ngoại, vừa thân vừa khác họ, không đương nhiên thành vua. Một lựa chọn khác là kiếm một tay đại thần cho một cái chức thái sư, thừa tướng gì đó đổ lên đầu thằng cha đó cả núi tấu chương. Nói chung thiên hạ cũng không phải là ngu cả. Vì thế quyền thần và ngoại thích đều manh tâm cướp ngôi. Làm gì có chuyện tao gánh xương xẩu cho mày để mày xơi món ngon dùng đồ tốt mãi. Tao cũng phải nếm một lần trong chín vạn ba ngàn kiếp khổ nhục.
5. Anh vua tìm cách để phòng, chỉ có cách bàn với cung nữ và hoạn quan. Thế là lại sinh ra nạn yêm hoạn và nữ nhân bại quốc. Cuối cùng thì anh vua cứ ngả nghiêng giữa anh em cùng họ, ngoại thích, quyền thần, hoạn quan và hồ ly. Toàn bộ phong kiến Trung Hoa chỉ có mấy món đó đảo đi đảo lại.
6. Trước đời Tam Quốc có hai anh vua Hoàn Linh là hôn quân ngộ cái đạo lý đó và cũng rang 5 cái món trên đảo đi đảo lại, vừa phong hoa tuyết nguyệt đã đời. Bất chợt có anh đại thần nghĩ ra được một kế tìm mấy anh sáng sủa phương phi, phong cho chức quan Mục, phong tước hầu ( đại khái như chức uỷ viên trung ương ở ta bây giờ) cầm quyền Thứ sử, nắm quyền sinh sát, tiền trảm hậu tấu, cắt cử bộ máy ( đại khái như Bí thư Tỉnh uỷ bây giờ). Ý tưởng là thay vì đổ việc lên đầu một anh, thì đổ lên đầu 10 anh. Thế là sinh ra nạn quân phiệt cát cứ. Anh Thừa tướng Thái Sư ở trung ương còn có Ngự sử đài, các loại Tam Tư, Tam Thái, Tam Thiếu đàn hặc khống chế, không khéo mất mạng như Đổng Trác bị Vương Doãn thịt. Mấy ông Mục một khi nắm được quyền rồi không ai dám ho he. Các ông đánh giết nhau nhưng đều vâng mệnh thiên tử, ngang nhiên truyền chức cho con, như một hoàng thất nhỏ. Rồi ông nào giết được một ông quan Mục lại tự mình lĩnh chức châu Mục, chỉ tâu về triều, vua cũng chẳng làm gì nổi, Tào Tháo, Viên Thiệu, Lưu Bị, Tôn Sách đều do cướp đất mà tự lĩnh chức Mục Duyện, Ký, Từ, Dương.
7. Đâm qua chém lại cuối cùng còn lại ba anh Tháo, Bị và Quyền. Vậy anh nào là vua sáng. Nếu may mắn thiên hạ về một mối thì nên chọn anh nào? Tôi thích nhất anh Quyền. Anh Tháo tuy thông minh, nhưng cái gì cũng tự làm từ đâm chém, nghĩ mưu, kinh tế, chính trị đều làm tất. Tuy nắm được phần to, có vua, nhưng giết Dương Tu, Thôi Diễm, Tuân Úc là chỗ kém. Vì thế Tháo không là hoàng đế, cũng không đáng làm vua. Bị cũng là một anh võ biền, lúc nào cũng ngứa ngáy chân tay, thua ở Hào Đình ức mà chết. Cũng không phải là vua sáng. Anh Quyền đối xử với cấp dưới rất chân tình. Dùng người là uỷ thác tất cả. Anh sống lâu, thể chế mạnh mẽ, đoàn kết là đúng.