Thứ Hai, 28 tháng 7, 2014

Ra hiệu lệnh cho thiên hạ

Người ta thường nói Tào Tháo được "thiên thời". Thực ra thế mạnh của Tào Tháo bắt đầu được gây dựng từ mưu kế của người, chứ không phải do gặp may hay trời cho. Người ta thường nói ba người có tầm chiến lược lớn nhất thời Tam Quốc là Gia Cát Lượng, Lỗ Túc và Tuân Úc đã thiết kế ra cục diện Tam Quốc. Thực ra mưu kế này vẫn chỉ là mưu kế hạng hai thuộc loại "bá đạo". Kế này dễ thuyết phục sứ quân, vì nó hiển nhiên là đề cập tới kế hoạch và biện pháp tranh giành ảnh hưởng và đất đai ngay trước mắt, là những cái phục vụ quyền lợi cho các sứ quân.
    Kế "dùng vua ra hiệu lệnh cho thiên hạ" là của Tuân Úc là kế sách thuộc hàng "vương đạo", xứng đáng là chiến lược số 1 ở đời Tam Quốc, tạo sức mạnh lâu dài ở vị trí số 1 cho tập đoàn Tào Ngụy, đến nỗi đời sau vẫn lầm tưởng là thiên thời.  Trước khi thực hiện kế sách này, Tào Tháo chẳng qua là một sứ quân hạng xoàng, về quân mã thanh thế đều không bằng Viên Thiệu, Viên Thuật, Lưu Biểu. Về địa thế lại ở vùng Từ Duyện Dự thụ địch bốn phía với các sứ quân thế lực chẳng hề thua kém như Lã Bố, Đào Khiêm, Trương Mạc. Sau khi thực hiện kế sách này, Tào Tháo mạnh dần lên, diệt Lã Bố, Trương Mạc, Đào Khiêm-Lưu Bị, Viên Thiệu, Viên Thuật, kiêm tính toàn bộ Trung Nguyên. Như vậy, Tuân Úc xứng đáng là chiến lược gia số 1 đời Tam Quốc.
     Sách Tam Quốc Chí của Trần Thọ chép lời của Tuân Úc khuyên Tào Tháo "Chính là thời thế, việc phụng giá chúa thượng để thỏa lòng mong mỏi của dân, đó là đại thuận; giữ lấy chí công để thu phục kẻ anh hùng hào kiệt, đó là đại lược; giúp việc xướng lên đạo nghĩa để thâu tóm người tài tuấn, đó là đại đức. Thiên hạ dẫu có kẻ chống lại tiết chế, hẳn chẳng thể làm ta phiền luỵ, ấy là điều rõ ràng vậy... Nếu chẳng định liệu lúc này, người bốn phương sinh dị tâm, sau này dẫu có tính việc ấy, cũng không kịp nữa." Không những mưu kế sâu xa, còn nói lên thời cơ và việc cấp bách phải thực hiện.
      Nói đến người bày mưu, cũng phải nói đến người nghe mưu. Cũng phải nói Tào Tháo là người lãnh đạo có tầm nhìn. Bởi vì, như Hàn Phi nói trong thuyết nan, những người lãnh đạo chỉ thích nghe những điều có lợi sát sườn và tỏ vẻ cao kỳ, hám được tiếng vô tư lợi "Nếu nói ích lợi cao xa, họ sẽ cho là viển vông, nếu nói điều lợi trước mắt, họ sẽ chê là thô bỉ, nếu nói đúng họ sẽ ngầm theo, nhưng sẽ mang lòng ganh ghét." Phải nói là mưu của Tuân Úc là ích lợi cao xa, hầu hết các sứ quân thời đó không thể thấy được, nhưng Tào Tháo có tầm nhìn xa nên nhận thức được ngay. Vì vậy, "thiên thời" của Tào Tháo chẳng phải là số trời mà là trí tuệ con người xây dựng nên. Mưu kế của kẻ sĩ và tầm nhìn của bậc vương giả đã làm nên sức mạnh.
     Đến sau nay, Tư Mã Ý, nhà chiến lược được Tào Tháo bồi dưỡng thay cho Dương Tu, cũng sử dụng kế sách "dùng vua ra hiệu lệnh cho thiên hạ" lần lượt lấn át Tào Chân, Tào Hưu diệt Tào Sảng, Vương Lăng, Quán Khâu Kiệm, Văn Khâm, Gia Cát Đản,... là những đại thần trụ cột, cầm những cánh quân trọng yếu của nhà Ngụy mà vẫn giữ được sức mạnh của phe Ngụy Tấn.    
      Ngày nay, không còn nhà vua nhưng "lòng dân", "kẻ hào kiệt", "người tài tuấn" và "đại thuận", "đại nghĩa", "đại đức",... vẫn còn đó.


Thứ Tư, 23 tháng 7, 2014

Nhàn đàm tin trong ngày

1. Tin một cậu bé lớp 7 say sưa thí nghiệm mạch vi điện tử và lập trình đã làm thiết bị tự động tắt điện cho mẹ và tra cứu kiến thức hóa học cho chị.
     Chuyện có vẻ như là nhỏ, không có tổ chức, trường nào có thể đứng ra nhận thành tích đào tạo, không có những giải thưởng quốc tế hay kỷ lục. Nhưng loại gương sáng này là mẫu hình đang thiếu và quan trọng đối với tương lai của dân tộc. Nếu trở thành phổ biến thì còn giá trị hơn các loại khoa học gia và giải thưởng tủ kính rất nhiều. Tri thức cho cùng quan trọng là nó phải rọi sáng được đến từng cá nhân
Xem tin ở đây

2.  Có tin ông Phạm Quang Nghị, Bí thư Thành Ủy Hà Nội đi thăm Mỹ, sau khi hủy bỏ chuyến đi của Bộ trưởng Bộ Ngoại Giao, Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh vào hồi tháng 6. Mà lại là "theo lời mời của Bộ Ngoại giao Mỹ". Về mặt Đảng, ông Nghị là cao cấp hơn, nhưng ở tầm hoạt động và đúng chức năng thì ông Phạm Bình Minh đi có ý nghĩa hơn và sẽ có quan chức cao cấp hơn của Mỹ ra tiếp. Nếu như thông lệ trước kia, ông Nghị sang cùng lắm sẽ được Thị trưởng New York tiếp. Không biết thông điệp của sự kiện này là thế nào?
Xem tin ở đây

Thứ Ba, 22 tháng 7, 2014

Các động lực phát triển của địa chính trị thế giới và tương lai cho Việt Nam (2)

Nguyễn Ái Việt
3. Dòng chảy tài chính và dòng chảy thông tin
     Các chu kỳ không tự nhiên sinh ra. Đằng sau các chu kỳ bao giờ cũng có những động lực nhất định đẩy chúng vào vòng quay của chu kỳ. Đằng sau ngày, tháng, mùa màng là lực hấp dẫn của Mặt Trời đối với Trái Đất. Đằng sau các chu kỳ tuần hoàn của các nguyên tố hóa học là tương tác lượng tử của các hạt nhân và các điện tử quay quanh chúng. Đằng sau các chu kỳ kinh tế là các động lực đổi mới công nghệ, thay đổi thế hệ và các kỳ nợ. Tương tự như thế, ắt phải có những động lực thúc đẩy các quốc gia vào việc liên minh và đấu tranh với nhau.
       Trong vô số các tương quan, có thể thấy hai động lực có ảnh hưởng lớn nhất và đặc trưng cho thời đại ngày nay là dòng chảy tài chính và dòng chảy thông tin. Hai dòng chảy này được khơi thông bởi sự phát triển bùng phát của công nghệ thông tin theo định luật Moore [11]. Tuy nhiên, sẽ là đơn giản hóa vấn đề nếu nói rằng động lực của các chu kỳ lớn là công nghệ thông tin. Có thể nói công nghệ thông tin chỉ là màn dạo đầu của một kịch bản toàn cầu hóa hùng vĩ.
        Trước tiên phải nói về dòng chảy tài chính. Điểm nổi bật của thời đại ngày nay là việc huy động và rút những khối tài sản khổng lồ không phụ thuộc vào việc vận tải nguyên vật liệu thô và hàng hóa trong kinh tế chính trị truyền thống thời Carl Marx viết Tư bản luận [12]. Dòng chảy vốn đầu tư có thể làm phồn thịnh một quốc gia, một ngành công nghiệp và cũng có thể đưa quốc gia và ngành công nghiệp đó vào khủng hoảng. Điều đáng nói, là tốc độ giao dịch tài chính, đầu tư và rút vốn có thể diễn ra trong một thời gian ngắn tính bằng phút đồng hồ. Chính vì thế, tác động của các dòng tài chính hết sức mạnh mẽ, khó lường và không thể có biện pháp đối phó theo cách truyền thống, nếu không có một hệ thống chính sách phù hợp để ngăn ngừa, giảm xóc.
      Ở đây, một số người có thể nhìn nhận vấn đề theo quan điểm của học thuyết âm mưu (conspiracy theory) [13], về việc có những kịch bản toàn cầu hóa về tài chính được đạo diễn có tổ chức. Cách nhìn nhận đó có thể phức tạp hóa vấn đề và không dẫn tới hành động có ích lợi thực tế nào. Trong thực tế luôn luôn đã và sẽ có những kế hoạch và hoạt động do những nhóm quyền lợi thực hiện để lợi dụng sức mạnh của dòng lưu chuyển tài chính. Tuy nhiên, ngày nay đang có quá nhiều những hoạt động như vậy. Ở trong một trạng thái hỗn loạn, mọi hành động đều có thể đem lại những tác động lớn đến độ khó có thể nói bất cứ nhóm quyền lợi nào có thể kiểm soát được hoàn toàn các quá trình đang diễn ra. Chỉ có một quy luật bất biến: vốn không bao giờ chịu đứng yên và sẽ luôn luôn chảy tới nơi nào đem lại lợi nhuận cao nhất. Thị trường chứng khoán sau khi đạt được các điểm kỷ lục bao giờ có những làn sóng thu hồi vốn để đầu tư vào các thị trường khác còn tiềm năng sinh lợi nhuận lớn hơn như thị trường bất động sản và thị trường đầu tư tài chính thứ cấp. Có lẽ nên nhìn nhận các dòng tài chính này theo khía cạnh tích cực. Dù sao, chính chúng đã cho phép biến các tri thức mới thành tư liệu sản xuất vô cùng hùng hậu. Một hướng chảy khác của dòng tài chính là hướng đến các thị trường mới xuất hiện (emerging market) tại các quốc gia có tiềm năng. Hướng chảy này trong quá khứ đã tạo ra các nền kinh tế phát triển thần kỳ tại Brasil, Hàn Quốc và một số nước ở Đông Nam Á. Nói như thế không có nghĩa là phủ nhận năng lực của các nhà lãnh đạo tại các quốc gia này. Chính các dòng tài chính với mục tiêu ban đầu là lợi nhuận đã được các nhà lãnh đạo thông minh biến thành cơ hội để làm phồn thịnh đất nước của họ. Mặt khác, cũng có thể nói rằng các nhà đầu tư tài chính sẽ chỉ chọn điểm đầu tư ở các quốc gia có những nhà lãnh đạo có tầm nhìn và quyết đoán.
     Sau khi thu được lợi nhuận, nhà đầu tư tài chính sẽ luôn có nhu cầu thu hồi lợi nhuận để đầu tư vào các thị trường khác có sức hút mạnh hơn. Người ta thường trách móc George Soros về việc ông rút vốn đầu tư tại Thái Lan, gây ra sự sụp đổ có tính domino dẫn đến khủng hoảng tài chính Á Châu [14, 15]. Trong khi đó, thực ra, Soros chỉ là người đầu tiên nhận thức ra thời điểm thích hợp để rút vốn và hành động của ông đã chỉ ra cho các nhà đầu tư khác thấy thời điểm đó đã chín muồi. Số vốn của Soros so với quy mô của nền tài chính châu Á là một con số nhỏ, nếu không phù hợp với quy luật sẽ không đủ sức lay chuyển một cỗ máy hùng mạnh như vậy. 
      Khi có khủng hoảng luôn luôn phải có một số người tìm được lợi ích. Thị trường tài chính Mỹ là nơi được hưởng lợi đầu tiên. Làn sóng rút vốn ra khỏi Á Châu kéo theo cả vốn của các nhà đầu tư Á Châu, những người đã giàu lên nhờ sự phồn thịnh của kinh tế Châu Á. Nguồn vốn này được rót vào thị trường tài chính của Mỹ, thúc đẩy nó tiếp tục đi lên. Đóng góp chính của nó, là các công nghệ mới và các lĩnh vực kinh tế mới có thêm động lực phát triển. Để rồi sau đó, dòng vốn đó sẽ tìm đường quay lại Á Châu thông qua các quỹ đầu tư, mua lại các cơ sở sản xuất đang bị đình đốn với giá rẻ mạt vào một thời điểm thích hợp nhất. Sau một chu kỳ như vậy, sẽ có những người thua thiệt và những thế lực phất lên.
       Nền kinh tế Trung Quốc cũng hưởng lợi nhờ sự đi xuống của các thế lực kinh tế châu Á, tranh thủ ồ ạt bành trướng chiếm thị trường. Một cơ hội tương tự như thế cũng đã tới với Hàn Quốc ở vài thập kỷ trước khi Brasil quyết định tiết giảm nền kinh tế trong bối cảnh khủng hoảng. Nếu như Hàn Quốc dựa vào đà phát triển để phát triển công nghệ cao và tìm cách len lỏi vào ngành tài chính, để trở thành đại gia của thế giới, Trung Quốc chọn một cách đi mới tham vọng hơn nhiều và đỡ tốn thời gian công sức hơn, làm ngập lụt thị trường thế giới bởi hàng tiêu dùng giá rẻ. Cũng còn quá sớm để nói chiến lược này là đúng hay sai. Bên cạnh việc Trung Quốc tích lũy được một lượng vốn khổng lồ, khái niệm "hàng Trung Quốc" cũng đã gắn liền với hình ảnh chất lượng kém. Chưa từng có quốc gia nào trở thành thế lực kinh tế lâu dài bằng cách như thế. Trước mắt có thể nói Trung Quốc đã trải qua một chu kỳ phát triển thành công, dù đang phải đối mặt với một giai đoạn khủng hoảng trước mắt [16]. Trong tương lai gần, mọi vấn đề xã hội và kinh tế của Trung Quốc sẽ cùng bộc lộ cản trở sự phát triển tiếp tục, thậm chí đe dọa sự ổn định. Đối phó được với khủng hoảng này thành công hay không, còn phụ thuộc vào sự quyết đoán và khả năng xử lý vấn đề của tập đoàn lãnh đạo hiện thời. Chu kỳ tạm coi là thành công vừa qua có được chính là nhờ Trung Quốc trở thành được điểm đến có sức hút mạnh đối với dòng tài chính toàn cầu.
      Như vậy, dòng tài chính đang thay đổi diện mạo của thế giới, các tương quan lực lượng, có thể tạo ra các nền kinh tế phồn thịnh và cũng có thể đưa các nền kinh tế khác vào khủng hoảng kéo dài. Một số quốc gia có một chiến lược lớn lành mạnh, đều có thể thoát khỏi ảnh hưởng của khủng hoảng, hồi phục và đi lên. Nếu như dòng tài chính có tác động nhanh, mạnh mẽ, tạo những chuyển biến bất ngờ, dòng thông tin, tuy tác động chậm hơn, nhưng có tác động mạnh mẽ, sâu rộng, nhiều khi không thể đảo ngược.
       Dòng thông tin thường đi song song với dòng tài chính. Chưa bao giờ dòng thông tin dữ liệu trên thế giới lại có một sự bùng nổ tăng trưởng về quy mô như vậy. Tin tức ngày nay đến được tới mọi người qua đường Internet, quảng cáo, truyền thông đa phương tiện, trên mỗi mặt hàng tiêu dùng với tốc độ và khối lượng chưa từng có. Tuy nhiên, đó mới là phần bề nổi chiếm một phần rất nhỏ trong lưu lượng thông tin toàn cầu. Các thông tin kinh tế, văn hóa, xã hội cũng đang từng ngày từng giờ góp phần thay đổi xã hội. Cần phải nhận thức được sức mạnh ghê gớm của thông tin và phải có một chính sách đối phó như đang có một cuộc chiến tranh thực sự xảy ra ở đây.
         Trước hết, cần nhớ rằng hầu như mọi hệ thống phức hợp đều đi vào khủng hoảng và sụp đổ là vì không có khả năng xử lý kịp thông tin. Từ đế chế La Mã đến Liên Xô và khối Đông Âu, từ cơ thể con người đến các nền kinh tế đều già nua, suy thoái và tiến tới sụp đổ vì không có khả năng xử lý thông tin đáp ứng được yêu cầu tự điều chỉnh để phát triển.
      Trong các hệ thống này đều có một mẫu hình chung là việc không xử lý kịp thông tin sẽ tạo thành sự thối rữa của hệ thống. Quá trình thối rữa này diễn ra như sau: khi hệ thống không thể xử lý thông tin theo thiết kế tổng thể của hệ thống, việc xử lý thông tin sẽ mang tính đối phó, cục bộ và dẫn đến sự hình thành của các thế lực cát cứ theo chuẩn mực riêng, phá vỡ trật tự và nguyên tắc tổng thể của hệ thống. Đó chính là các mầm hoại tử, nếu không sớm kiểm soát được sẽ lan rộng gây ra sụp đổ liên hoàn. Đế chế La Mã sụp đổ không phải do sự tấn công của thế lực bên ngoài, cũng không phải do thiếu lương thực hay thiên tai, bệnh dịch. Đế chế đã phình ra quá lớn so với năng lực quản lý của nhà nước La Mã. Cho dù đế chế đã từ bỏ nền cộng hòa tập trung quyền lực vào tay hoàng đế, hay có những nỗ lực cải cách như dưới hoàng đế Diocletian, quyền lực dần dần rơi vào tay các thế lực địa phương [17]. Các địa phương này dần dần tách rời trung ương, có các chính sách riêng, đế chế dần dần không thu được thuế, không thể duy trì được quân đội lớn, trở nên suy yếu.
     Tình hình này cũng đã xảy ra với các triều đại ở Á Đông, khi bộ máy hành chính trở nên cồng kềnh, vượt quá khả năng xử lý thông tin của chính quyền trung ương, sẽ hình thành các thế lực địa phương, chẳng hạn như cuối đời Đông Hán. Sự cố xảy ra ở Đông Âu và Liên Xô cũ có tính quy luật không thể cứu vãn, khi bộ máy trở nên quan liêu và các cải cách của Andropov tỏ ra quá muộn màng. Trong khi đó, đã có một luồng thông tin cực lớn đến từ phương Tây không được xử lý kịp thời do năng lực công nghệ và cả do nhận thức của bộ máy lãnh đạo không còn đáp ứng được yêu cầu thực tế, để có thể định hình được cách ứng xử phù hợp. Chiến tranh lạnh kết thúc không phải bằng quân sự, kinh tế mà chủ yếu bằng vũ khí thông tin. Điều này tương tự như một trận đấu võ mà đối thủ trên cơ đã tung ra hàng loạt động tác giả, tạo ra một luồng thông tin lớn áp chế làm đối thủ yếu hơn tê liệt không thể có hành động đối phó.
      Cơ chế già cỗi của cơ thể sống cũng bắt đầu bằng việc rối loạn thông tin di truyền vì cơ thể tích tụ ngày càng nhiều các phần tử gốc tự do ô xy hóa. Các phần tử này làm rối loạn thông tin di truyền trong quá trình  sinh ra và sắp xếp các tế bào mới. Các tế bào này do nhận thông tin sai lạc không tuân thủ theo mã di truyền, dần sinh ra bệnh tật. Các khối ung thư, hoại tử thực chất là sự "sáng tạo ra chính sách địa phương" phá vỡ thiết kế tổng thể của tạo hóa. Sự sụp đổ của các doanh nghiệp lớn ở Việt Nam và ở trên thế giới cũng đều có nguyên nhân chung là sự quan liêu hóa quy trình xử lý thông tin ra quyết định, bất kể là do sự thoái hóa của một vài cá nhân hay của cả hệ thống, dẫn tới việc không nhận thức được thay đổi của thế giới xung quanh, các hiểm họa và cơ hội mới. 
       Chiến tranh thông tin ngày nay là sự cạnh tranh về năng lực xử lý thông tin và tạo một luồng thông tin lớn có áp lực vượt quá năng lực xử lý của đối phương. Ở một tầng thấp hơn, các tin tặc cũng sử dụng ý tưởng tương tự trong các đợt tấn công từ chối dịch vụ để đánh sập các hệ thống thông tin [18]. Chính vì vậy, nâng cao năng lực xử lý thông tin là vấn đề thiết yếu đối với an ninh quốc gia.
       Một trong những cách hành xử sai lầm thường dẫn tới diệt vong là việc cô lập hệ thống ra khỏi nguồn thông tin. Điều đó cũng tương tự như việc bế quan tỏa cảng, tự cách ly mình với văn minh phương Tây dẫn tới mất nước của các quốc gia phong kiến Á Đông. Thay vào đó cần phải dũng cảm đối diện để giải quyết vấn đề này. Dù nguyên nhân từ đâu, theo kịch bản nào, có ai đứng đằng sau, với âm mưu gì, dòng chảy thông tin cũng đang là quy luật của thời đại. Thông tin ngày nay len lỏi bằng mọi cách, đang tràn vào mọi quốc gia, mọi gia đình và mọi cá thể. Vấn đề là phải xử lý để biến thông tin thành tri thức, thế mạnh để phục vụ cho việc canh tân đưa quốc gia tới phồn thịnh.
       Chính hai dòng chảy tài chính và thông tin đang là động lực chính chi phối mọi tương quan địa chính trị trên thế giới và đẩy thế giới vào các chu kỳ lớn, thông qua các chu kỳ nhỏ ngày một gia tăng về cường độ. Có thể xem đây là một cuộc chiến tranh thực sự đối với an ninh quốc gia. Quốc gia suy vong hay cường thịnh là ở việc xây dựng thành công năng lực đối phó với hai dòng chảy này. Tuy nhiên, nên nhìn nhận vấn đề với một thái độ thực tế hơn. Nếu hai dòng thông tin là quy luật không thể loại bỏ, cần phải tìm cách để biến chúng thành các cơ hội phát triển. Đó chính là nội dung của hầu như tất cả các Chiến lược lớn trên thế giới ngày nay.
       Trước khi xem xét các kịch bản có ảnh hưởng đến tương lai của Việt Nam, chúng ta cần phân tích một yếu tố quan trọng nữa là văn hóa. Các đặc trưng văn hóa mới tuy được hình thành và thay đổi dưới ảnh hưởng của các dòng chảy tài chính và thông tin, nhưng sẽ tác động lâu dài trở lại các tương quan nói trên. Nói một cách khác, tác động của các dòng chảy tài chính và thông tin là tức thời và được lắng đọng tích tụ trong các giá trị văn hóa, để có những tác động lâu dài đối với diễn biến tương lai của thế giới. Bức tranh thế giới ngày nay chính là tổng hòa của ba khối màu chủ đạo này. (Còn nữa)

[11] Định luật Moore (Moore's law) dựa trên quan sát trong một thời gian dài sự tăng trưởng về năng lực xử lý thông tin của các thiết bị phần cứng sẽ tăng gấp đôi với giá thành còn một nửa sau 18 tháng. Tham khảo N. Myhrvold  "Moore's Law Corollary: Pixel Power"New York Times (7 June 2006).
[12] Karl Marx, Capital:Critique of Political Economy (1867); (bản dịch tiếng Việt) Tư bản luận, Nhà xuất bản Tiến bộ (1964).
[13] C.Hodapp and A.V.Kannon, Conspiracy Theories & Secret Societies For Dummies, John Wiley & Sons (2008)
[14] P.Krugman, Balance Sheets, the Transfer Problem, and Financial Crises, International Tax and Public Finance, 6, 459–472 (1999)
[15]M. Goldstein, The Asian Financial Crisis: Causes, Cures, and Systemic Implications, Institute for International Economics (1998)
[16] F.L.Lavin, Four Issues Facing China, Lecture 1225, The Heritage Foundation (2013)
[17]The Cambridge Ancient History, Volume XII: The Crisis of Empire
[18] E.Zuckerman, H.Roberts, R.McGrady, J. York and J. Palfrey, "Distributed Denial of Service Attacks Against Independent Media and Human Rights Sites", The Berkman Center for Internet & Society at Harvard University (2011)

Chủ Nhật, 20 tháng 7, 2014

Lỗ pho mát và đầu bên phải cái gậy

1. Những cái lỗ trong cục pho mát cười sằng sặc vì thích thú. Lỗ càng nở to thì pho mát càng nhỏ đi một cách khốn khổ. Cho đến khi pho mát hoàn toàn biến mất, lỗ cũng biến mất.

2. Thằng Tèo không thích bên phải, vì bên phải là nơi thuận tay của nó. Cái gậy có hai đầu. Đầu bên phải thật là đáng ghét. Tèo bẻ đầu gậy bên phải đến gần phần ở giữa. Nó thỏa mãn nhìn khúc gậy bị bẻ đi và phần gậy còn lại. Chợt nó phát hiện ra khúc gậy bị bẻ đi cũng có đầu bên trái và khúc gậy còn lại vẫn có đầu bên phải.


Đào tạo lãnh đạo trẻ

    Mục Luận Tam Quốc tuần này nói về vấn đề đào tạo lãnh đạo trẻ. Về phương diện quốc gia dân tộc, lãnh đạo trẻ cần được sớm quy hoạch, đảm bảo tính liên tục trong chính sách. Thực ra, tới đích thường có rất nhiều đường đi. Nhưng hôm lắc sang phải hôm sang trái như trên một tuyến đường xóc đầy ổ voi ổ trâu, làm mệt mỏi sức dân vô ích. Mặt khác, bị đào luyện trong một môi trường "mẹo chọi gà, mưu cờ bạc", nhân tài trẻ có giỏi mấy cũng bị cùn đi, chí lớn hoài bão lớn bị thiêu tàn lục trong những cuộc tranh hơn vô ích. Rồi thì lòng hướng thiện, mong làm việc tốt rồi cũng sẽ bị biến dạng. Về mặt quyền lợi của nhóm cầm quyền, người thừa kế trẻ là đảm bảo cho việc hạ cánh an toàn, quyền lợi của tập đoàn được kéo dài.
      Lưu Bị tìm đến Gia Cát Lượng tại Long Trung là muốn tìm người lãnh đạo trẻ cho tập đoàn của mình. Vào giai đoạn này, đối với tập đoàn Lưu Bị, đánh trận, cướp đất, tài quân sự có tầm quan trọng hàng đầu đến mức sống còn. Trái với mô tả của La Quán Trung, Gia Cát Lượng không phải là một tài năng quân sự, khả năng cầm quân đánh trận rất khiêm tốn. Ngay cả sau này ông có toàn quyền trong tay, là chủ soái của toàn thể quân đội, nhưng cầm quân bảy lần ra Kỳ Sơn không có một tấc công lao, làm suy yếu quốc lực. Ưu điểm của Gia Cát Lượng là trẻ và có tầm nhìn chiến lược, có tư duy phù hợp với thời kỳ sau. Chính vì vậy, các chiến dịch giữ Giang Lăng, cướp Kinh Châu, bình định Ích Châu, thôn tính Hán Trung, đều phải do những người khác chủ trì. Gia Cát Lượng, tiếp tục sự nghiệp của Tiên Chủ, cũng chú ý đào tạo lớp trẻ, sau khi đặt kỳ vọng sai lầm vào Mã Tốc lại đặt kỳ vọng vào Khương Duy. Khương Duy là một người giàu quyết tâm, biết biến báo, nhiều tài vặt, nhưng không có chủ thuyết, không có sáng kiến ở tầm chiến lược như Ngụy Diên. Sau khi thay thế Gia Cát Lượng cũng chỉ biết hùng hục tiến ra Kỳ Sơn, lo múa giáo đánh trận như một anh võ biền. Công tích lớn nhất là giết được Quách Hoài cũng là do La Quán Trung bịa ra. Kết cục kéo quân ra Kiếm Các, mắc mưu Đặng Ngải, không lo phòng bị để mất Thành Đô. Trách nhiệm của người lãnh đạo cao nhất trong quân đội, tội đáng chết không thể tha. Sau đó, lại bày đặt mưu trá hàng, mưu kế phiêu lưu, để đến thân bị giết cũng là đáng. Điều đáng nói, khi đó Thục hoàn toàn không có nhân tài trẻ. Khương Duy, cũng nâng đỡ được hai người là Tưởng Thư và Phó Thiêm, thì một tên hèn đớn, một tên hữu dũng vô mưu đâm đầu vào tên đạn để chết uổng, làm mất cửa ải.
        Tôn Quyền, cũng tìm kiếm người tài, nhưng vất vả hơn nhiều. Khi đầu đặt kỳ vọng vào Lục Tốn, nhưng anh này chỉ có tài quân sự, chẹn đường cướp đất, nhưng kinh bang tế thế, quản lý đất nước không có một ý tưởng nào được ghi nhận. Cuối cùng ông phải đặt kỳ vọng vào thế hệ F2 là Gia Cát Khác. Tuy nhiên, Gia Cát Khác kiêu ngạo cậy tài cuối cùng thấy bại rơi vào thảm họa tru di cả ba họ, may còn một giọt máu còn sót gửi ở bên Thục để nối dòng Gia Cát Cẩn. Sau đó bên Ngô cũng chỉ còn có Trương Bố là còn một chút chí khí, nhưng kém cỏi, không chống đỡ nổi cho tập đoàn.
         Tào Tháo là người có ý thức đào tạo nhân tài trẻ hơn cả. Trước tiên ông đặt kỳ vọng vào Quách Gia, nhưng chẳng may Quách Gia chết sớm. Ông lấy Dương Tu, một người trẻ tuổi thông minh, vào làm chức chủ bạ làm việc ngay bên cạnh mình để dạy bảo cẩn thận. Dương Tu cũng vì ngông nghênh cậy tài, vi phạm quân luật nên bị giết. Tào Hưu, Tào Chân cũng được coi là hai tướng trẻ "thiên lý mã" của họ Tào, cũng bị thất bại trên các mặt trận chống Thục và Ngô nên cũng không trở thành được thế lực mới. Cuối cùng binh quyền dần rơi vào tay Tư Mã Ý, người thay Dương Tu là chủ bạ, chứng tỏ được năng lực. Sau Tư Mã Ý, Tư Mã Viêm thực sự là nhân tài trẻ sáng nhất của phái Ngụy-Tấn, nhưng kèm theo cả một thế hệ tài năng như Chung Hội, Đặng Ngải, Vệ Quán, Giả Sung, Đỗ Dự, Vương Tuấn.
       Chính vì vậy, có thể thấy cốt lõi của vấn đề trong đấu tranh chính trị là phải chuẩn bị một cuộc chạy tiếp sức. Nhân tài luôn luôn sinh ra, người trẻ luôn luôn có, nhưng quan trọng nhất là khơi nguồn cho nhân tài tiếp nối. Sau khi chinh phục được Thục, phía Ngụy Tấn mất ngay hai nhân tài sáng giá nhất là Chung Hội và Đặng Ngải, nên phải mất một thế hệ mới có thể diệt Ngô. Nhân tài trẻ nhưng nếu tự mãn có thể mất mạng như Gia Cát Khác, Dương Tu, Mã Tốc. Nhân tài trẻ không biết nghe, không có viễn kiến, hay chuộng học phiệt, thì cũng như Gia Cát Lượng tin dùng bọn học trò mặt trắng Dương Nghi, Tưởng Uyển, Phí Vỹ vô tích sự, hay một tên tài vặt chỉ chuyên cuốc đất bổ củi như Khương Duy. Trong khi đó một tài năng như Ngụy Diên thì đã sắp sẵn mưu kế trừ diệt.

Thứ Bảy, 19 tháng 7, 2014

Các động lực phát triển của địa chính trị thế giới và tương lai cho Việt Nam (1)

Nguyễn Ái Việt
Tóm tắt
    Thế giới đã bước vào một chu kỳ phát triển để hình thành một trật tự mới. Trong pha đầu tiên của chu kỳ phát triển này, trọng tâm là việc phải sớm hình thành được các liên minh Chiến lược. Chậm trễ và sai lầm trong việc chọn liên minh chiến lược sẽ dẫn tới nguy cơ tụt hậu và hứng chịu những thiệt thòi. Việt Nam dường như vẫn lúng túng trong việc chọn liên minh trong suốt ba thập kỷ vừa qua, và do đó chưa hình thành một tư duy Chiến lược lớn trong xã hội. Việc xác định được các yếu tố động lực và nhận thức được thời điểm sẽ gợi mở cho những suy nghĩ về những vấn đề hôm nay của dân tộc. 

1. Chiến lược lớn và tương lai của dân tộc
      Chiến lược lớn (Grand Strategy) là tập hợp các kế hoạch và chính sách và bao gồm các nỗ lực của một quốc gia trong việc phát triển và phối hợp các công cụ chính trị, quân sự, ngoại giao và kinh tế nhằm đạt được lợi ích của quốc gia.
      Do một quốc gia bao giờ cũng phải đối diện với các khó khăn và hạn chế về nguồn lực, Chiến lược lớn là nghệ thuật dung hòa giữa phương tiện và mục đích, bao gồm ý chí của những người có suy nghĩ tiên phong trong xã hội, những cân nhắc và cảm xúc của những nhà lãnh đạo và những dự cảm có chiều sâu về bức tranh địa chính trị thế giới. Chiến lược lớn cần được bắt đầu bằng việc hiểu thế giới ngày nay vận động thế nào và xác định vị thế của quốc gia trong thế giới đó. Chiến lược lớn bao gồm cả chính sách và nguyên tắc hoạt động thực tiễn: các hành động và phản ứng của chính phủ đối với những đe dọa hoặc các cơ hội thực tế [1].
     Trong lịch sử, từ thời cổ đại đã có Chiến lược lớn, phối hợp sức mạnh quân sự, tổ chức xã hội với các giá trị văn hóa, đạo đức và sức mạnh kinh tế. Trong cuộc chiến tranh giữa Athens và Sparta, mặc dù Athens có trình độ phát triển văn minh, khoa học kỹ thuật, thậm chí kinh tế mạnh hơn, đã thất bại, vì Sparta có tổ chức xã hội, phương thức huy động sức mạnh quân sự, kinh tế trong một tổng thể Chiến lược lớn phù hợp hơn. Sự sụp đổ của đế chế La Mã cũng là do thiếu một Chiến lược lớn để đối phó kịp thời với những vấn đề mới nảy sinh từ các vấn đề nội tại của đế chế, chứ không phải do thiên tai địch họa hay thiếu thốn tài nguyên [2].
     Đa số các quốc gia trên thế giới ngày nay đều có Chiến lược lớn của mình để có một chính sách phát triển và phản ứng với các sự kiện quốc tế một cách nhất quán. Đặc biệt, từ sau Chiến tranh lạnh, các quốc gia đều đã có những điều chỉnh về Chiến lược lớn của mình, do tương quan và trật tự trên thế giới đã thay đổi. Đáng chú ý, là các Think Tank của RAND Corp như Huntington và Fukuyama đã đưa ra các kiến giải mới về trật tự thế giới sau thời Chiến tranh lạnh. Hungtington đưa ra mô hình Va chạm giữa các nền văn minh [3], Fukuyama thì cho rằng thời kỳ mới gọi là Kết thúc của Lịch sử sẽ có một trật tự thế giới duy nhất [4]. Các học thuyết một thời là xương sống của chính sách đối ngoại của Mỹ này, ngày nay đã không ngừng được phát triển và điều chỉnh để phù hợp với thời kỳ mới.
      Trong khi đó, từ nhiều thập kỷ Việt Nam có vẻ lúng túng trong việc hình thành một chiến lược lớn. Trong giai đoạn 1990-2005, những thành công về cải cách kinh tế và hội nhập quốc tế làm người ta tin rằng một cách đi ngắn hạn, có tính đối phó theo thời điểm có thể đủ để duy trì một trạng thái cân bằng và dung hòa để phát triển. Có nhiều quan điểm cho rằng, các vấn đề xã hội, văn hóa có thể tạm thời gác lại để phát triển kinh tế và khoa học công nghệ.
      Tuy nhiên, những diễn biến gần đây hơn, bắt đầu thúc đẩy một nhận thức xã hội mới, cho rằng việc bị động trong việc hoạch định chính sách đối ngoại, có căn nguyên trong chính sách đối nội, đã làm Việt Nam thua thiệt trong việc nắm bắt các cơ hội phát triển, và có thể phải trả giá bằng một giai đoạn trầm lắng trong phát triển, thậm chí có thể tụt hậu.
      Khó khăn trong việc hình thành một nhận thức chung về tính cấp thiết của một chiến lược lớn thường là ở trong việc cởi mở tranh luận và có tính xây dựng trong giai tầng quyền lực cao nhất của quốc gia. Tránh né các vấn đề có tính sống còn để bảo vệ một bề ngoài đồng thuận hình thức đã che khuất những vấn đề trọng đại và sự cần thiết của những cá nhân có bản lĩnh chính trị (charisma) và năng lực quyết đoán. Khó khăn thứ hai thường xảy ra ở các quốc gia trên các lục địa già Á-Âu là xu hướng giữ các tranh luận này trong môi trường quyền lực hoặc trong các salon chính trị hẹp. Trong khi đó tại các quốc gia có tầm nhìn trẻ trung hơn và động lực phát triển mạnh hơn như Mỹ, các vấn đề về Chiến lược lớn đều có sự tham gia của các trí thức trẻ, thông qua các chương trình tranh luận học đường tại các trường đại học hàng đầu (Ivy League) [5]. Các chương trình tranh luận đó đóng góp đã cho Chiến lược lớn của quốc gia cả về những cách nhìn trẻ trung và những trí thức tinh hoa của thế hệ mới tham gia vào nội các. Ngay tại Trung Quốc là một quốc gia còn nhiều thế lực trì trệ và bảo thủ, các trí thức trẻ cũng chủ động quan tâm nhiều đến những vấn đề trọng đại của đất nước và có nhiều quan điểm mới mẻ. Điều đó thể hiện hết sức rõ trên báo chí và các hoạt động trong đời sống văn hóa của Trung Quốc. 
    Đã đến lúc Việt Nam cần có một tầm nhìn, chuẩn bị hình thành Chiến lược lớn, để có thể chủ động hơn trong việc quyết định tương lai của chính mình.
    Bài viết này, dựa trên một bài viết khác của chúng tôi từ năm 1995 [6], chỉ chia sẻ cho một số thân hữu, ngày nay vẫn còn chút tính thời sự. Cần phải nói thêm, nó không có tham vọng ngay lập tức trở thành một học thuyết hoàn chỉnh hay một giáo điều nào đó, mà chỉ nhằm gợi mở một số suy nghĩ ban đầu.

2. Bức tranh phát triển của thế giới
     Thế giới ngày nay đang phát triển ở một tốc độ cao chưa từng thấy, đầy rẫy những sự kiện bất ngờ. Một sự kiện đơn giản cũng có thể tạo ra những dư chấn đủ sức đảo lộn các trật tự đã được thiết lập từ lâu. Chẳng hạn việc rút vốn của nhà đầu tư George Soros ở Đông Nam Á có thể kéo tới sự sụp đổ hàng loạt doanh nghiệp, một số nền công nghiệp đang phát triển và đưa cả hệ thống tài chính thế giới vào khủng hoảng. Những hoạt động của những nhóm khủng bố nhỏ như sự kiện 11/9 đã gây ra những xung đột quân sự với quy mô lớn mà hậu quả sẽ còn kéo dài trong nhiều thế hệ. Các kịch bản này có vẻ tương tự như một "hiệu ứng cánh bướm" (butterfly effect) trong một hệ thống đã bước vào pha phát triển hỗn loạn (chaos). Điều đó báo hiệu cho một chu kỳ hình thành các trật tự mới [7].
     Trong những hệ thống như vậy, việc dự báo các tương lai ngắn hạn và trung hạn là không khả thi, thậm chí các số liệu đều là vô nghĩa. Tương tự như trong việc tiên đoán về diễn biến của thị trường chứng khoán hay số phận của một con người, dự báo ngắn hạn về diễn biến thời sự, đều nhuốm phương pháp tâm linh và niềm tin vào các động lực siêu nhiên, nơi trí tuệ, phán đoán và phân tích đều trở nên bất lực.
      Để có thể phân tích trên cơ sở khoa học, bên cạnh các biện pháp kinh nghiệm mang đậm những dấu ấn cá nhân, cần có một tầm nhìn dài hạn hơn, mới có thể có những số liệu thống kê ổn định và đúng đắn. Một trong những phương pháp để có dự báo tầm xa về diễn biến toàn cầu là lý thuyết về các Chu kỳ Dài (The theory of Long Cycles):
      Mặc dù các tiến trình diễn ra trong thực tế đều có những thăng giáng ngẫu nhiên, nhiều sự kiện chỉ xảy ra một lần rồi không bao giờ trở lại, vẫn có những quy luật mang tính chu kỳ. Chẳng hạn Kepler đã nhận thức ra các chu kỳ để làm cơ sở cho việc phát hiện ra hệ Nhật tâm, phá vỡ các giáo điều của Nhà thờ đã xây dựng hàng thế kỷ. Mendeleev, xây dựng bảng tuần hoàn cho các nguyên tố hóa học chỉ trên cơ sở niềm tin mãnh liệt vào tính quy luật của tự nhiên, đã mở đường cho nhân loại nhìn thấy cấu trúc nguyên tử của vật chất. Cuộc sống của con người, sự sống, năm tháng, ngày đêm, mùa màng, thời tiết đều chứa đựng những chu kỳ như thế. Trong kinh tế học, các chu kỳ Kondratiev [8] cho phép người ta nhận thức được tính quy luật của phát triển kinh tế. Các chu kỳ này tuy kéo dài hàng chục năm vẫn là các chu kỳ ngắn so với các chu kỳ phát triển của địa chính trị thế giới.
      George Modelski [9] là người phát triển học thuyết Chu kỳ dài dựa trên việc phân tích các số liệu từ thời Trung đại, và nhận thấy rằng lịch sử thế giới phát triển theo chu kỳ gồm có 4 pha như sau: Trong pha thứ nhất, trật tự thế giới cũ đã trở nên lạc hậu và sớm muộn cũng bị phá hủy, các liên minh mới sẽ ra đời nhằm cạnh tranh để giành quyền áp đặt một trật tự thế giới mới. Trong pha này, các quốc gia sẽ tìm kiếm các liên minh mới, tập trung  và chuẩn bị lực lượng cho một cuộc đụng độ lớn. Pha thứ hai: Là pha đụng độ giữa các liên minh. Khi những thỏa hiệp, những biện pháp ngoại giao của pha thứ nhất không còn hiệu lực. Các liên minh sẽ ra mặt đối đầu quyết liệt. Những quốc gia trong phe thắng thế sẽ hưởng mọi quyền lợi, những quốc gia trong phe thất bại sẽ chịu mọi thiệt thòi. Trước khi đối đầu trực tiếp, các liên minh sẽ phải thẳng tay trấn áp các lực lượng nhỏ lừng chừng. Pha thứ ba: Thế lực thắng thế sẽ áp đặt trật tự mới ở phạm vi toàn cầu và chia sẻ thành quả của thắng lợi. Trật tự mới sẽ thể hiện ở kinh tế, chính trị và văn hóa. Pha thứ tư: Khi trật tự thế giới mới trở nên lạc hậu và ngày càng suy yếu, sẽ hình thành thế lực đối trọng thách thức với trật tự thế giới đang tồn tại. Dần dần, sẽ ngày càng có nhiều thế lực trỗi dậy hơn đẩy thế giới về pha đầu của chu kỳ mới.  Sự phát triển theo các chu kỳ như vậy mở ra những cơ hội phát triển mới cho các quốc gia. Một nhận thức sai lầm của một quốc gia về chính sách liên minh và chỗ đứng của mình sẽ làm đất nước tụt hậu và phải chịu thiệt thòi.
       Ở châu Á, sử gia Tư Mã Thiên [10] cũng đã có một quan điểm về Chu kỳ lớn. Ông cho là triều đại nhà Hạ, lấy "Trung thực" làm quốc sách. Khi "Trung thực" suy thoái trở thành "thô bạo", nhà Hạ bị thay thế bởi nhà Thương lấy quốc sách là "Lễ nghĩa" để bổ khuyết. Khi "Lễ nghĩa" suy thoái trở thành "mê tín", nhà Chu phải lấy "Văn hóa" để bổ khuyết. Tư Mã Thiên cho rằng khi "Văn hóa" suy thoái trở thành "xảo trá", lại phải quay lại "Trung thực", nhà Tần trái quy luật nên nhanh chóng sụp đổ. Điều đó, chứng tỏ việc sử dụng các Chu kỳ lớn là một phương pháp khá tự nhiên và phổ quát để hiểu sự vận động của xã hội.
      Bức tranh về Chu kỳ lớn của Modelski có ích trong việc mô tả thế giới và chứng nghiệm những gì đã xảy ra. Tuy nhiên, để hoạch định các chính sách tương lai để có chương trình hành động thực tiễn cần nhận thức được các động lực thúc đẩy thế giới vận động theo các pha nói trên. Chúng tôi đã đặt câu hỏi này cho giáo sư Modelski: làm thế nào để xác định được những động lực nào đang thúc đẩy thế giới. Nhận thức được các động lực này, sẽ cho phép xác định được chúng ta đang ở thời kỳ nào, cần liên minh với ai và cần làm gì để đảm bảo cho liên minh đó bền vững và đem lại các quyền lợi thiết yếu cho quốc gia. Giáo sư Modelski chỉ có một số chỉ dẫn rất tổng quát về phát triển về khoa học công nghệ là động lực phát triển. Không thỏa mãn với cách lý giải đơn giản đó, chúng tôi đã tự phát triển bức tranh về ba yếu tố động lực: tài chính, thông tin và văn hóa. Theo chúng tôi, sự phát triển của thế giới trong thời đại này, các xung đột, liên minh đều bị chi phối bởi ba yếu tố trên. Bức tranh về trật tự thế giới theo cách nhìn ý thức hệ đã quá khứ và chỉ còn là kỷ niệm của thời kỳ trước. Phân tích rõ các yếu tố này, chúng ta sẽ có cơ sở để tìm lời giải đúng cho một bài toán cấp thiết: Xây dựng Chiến lược lớn và tìm đồng minh chiến lược. (Còn nữa)

[1] P. Feaver, What is grand strategy and why do we need it, Foreign Policy (2009)
[2] J.A.Tainter, The collapse of complex societies,  Cambridge University Press (1988)
[3] S.Huntington, The clash of civilizations and the Remaking of World Order, Free Press (1996)
[4]  F.Fukuyama, "The End of History?"The National Interest (Summer 1989) và The End of History and the Last Man, Free Press (2002).
[5] Xem các chương trình về An ninh Quốc tế và Chiến lược lớn tại Yale, Duke và một số đại học Ivy Leagy của Mỹ. Chẳng hạn http://globalscholars.yale.edu/programs/studies-grand-strategy-program-gs
[6] Nguyễn Ái Việt, Các yếu tố động lực trong phát triển địa chính trị thế giới và tương lai của Việt Nam (1996) (unpublished)
[7] S.H. Kellert, In the Wake of Chaos: Unpredictable Order in Dynamical Systems. University of Chicago Press (1993).
[8] V. Barnett, Kondratiev and the Dynamics of Economic Development. London: Macmillan (1998). 
[9] G. Modelski. Long Cycles in World Politics. Seattle: University of Washington Press, (1987) 
[10] Tư Mã Thiên, Sử Ký (91 TCN)

Thứ Ba, 15 tháng 7, 2014

Đầu tư 35 nghìn tỷ thế nào?

     Bộ Giáo dục & Đào tạo đề xuất dự án làm sách giáo khoa với chi phí 35 nghìn tỷ. Nhiều khả năng sẽ ném tiền qua cửa sổ với cách tổ chức hội đồng như hiện nay. Nếu quả thật có số tiền này có nhiều cách tiêu hiệu quả hơn nhiều. Tác dụng không chỉ giới hạn ở ngành giáo dục với hiệu quả vượt bậc mà còn tác động sang nhiều ngành khác, thúc đẩy công nghiệp, tăng GDP, giải quyết các vấn đề xã hội.

     Trước hết, cần ban hành một văn bản pháp lý quy định mọi ấn phẩm bao gồm sách giáo khoa, sách tham khảo, chuyên khảo, giáo trình được xây dựng bởi ngân sách sẽ phải có giấy phép mở (Creative Commons). Sản phẩm làm ra bởi ngân sách, từ tiền thuế của người dân, rõ ràng là sở hữu của xã hội, của nhân dân. Chúng ta cứ hiểu nhầm đây là sở hữu của nhà nước, nên các đơn vị sự nghiệp có quyền kiếm siêu lợi nhuận, như kiểu vắt sữa từ túi tiền kiệt quệ của người dân. Ở đây chúng ta đang nói về một thị trường hàng tỷ đô la Mỹ với siêu lợi nhuận. Nếu một thị trường như vậy mà không có siêu lợi nhuận, vấn đề sẽ còn nghiêm trọng hơn. Quy định này hoàn toàn không tốn một xu nào, hoàn toàn hợp lý, hợp pháp và hợp tình, đến mức không làm thế mới là vô lý.

     Có lẽ cần tóm lược ngắn gọn giấy phép mở là gì? Giấy phép mở (Creative Commons), là quyền được sử dụng toàn văn hay một phần ấn phẩm để phân phối, chế tạo các ấn phẩm khác, thậm chí cả các ấn phẩm không có giấy phép mở, miễn là ấn phẩm mới phải nêu công lao của tác giả bằng cách trích dẫn đầy đủ nguồn gốc các tư liệu đã sử dụng. Đối với các sách giáo khoa và các loại giáo trình, sách được biên soạn bởi ngân sách, việc cho phép các cá nhân, tổ chức sử dụng để tạo ra các sản phẩm khác không những hợp lý mà còn xóa bỏ rào cản để có thể có các sản phẩm có chất lượng tốt hơn, như các sách tham khảo, hướng dẫn ôn tập, giáo cụ trực quan, phần mềm,... Việc sử dụng giấy phép mở đang càng ngày càng phổ biến trên thế giới. Nếu nhà nước thực sự quan tâm, có lẽ nên có một dự án cỡ khoảng 100 tỷ, một số tiền không đáng gì so với 35 nghìn tỷ, nhưng là một số tiền đủ lớn để khuyến khích phát triển học liệu mở đến tầm thế giới. Trên một nền tảng học liệu mở, việc chọn lọc các nội dung tốt nhất để làm sách giáo khoa sẽ có chất lượng tốt hơn, do huy động được toàn thể tri thực của xã hội vào công việc này, thay vì chỉ hạn chế với các hội đồng rất nghèo nàn về tính sáng tạo.

     Khi đã có giấy phép Creative Commons, sẽ có các cộng đồng những người nhiệt tình số hóa và đưa toàn bộ sách giáo khoa hiện nay và các sách giáo khoa cũ lên mạng. Việc này cũng sẽ không tốn kém, nhưng tác dụng sẽ vô cùng to lớn. Các doanh nghiệp, các nhà phát triển công nghệ sẽ có động lực để phát triển các phần mềm, sản phẩm nghe nhìn có tương tác và các sản phẩm phục vụ cho học tập sáng tạo. Thực ra, nếu trước mắt có trở lực không ra được một văn bản pháp lý về việc này, nếu có một đại gia chịu chơi, tài trợ cho việc số hóa và đưa sách giáo khoa lên mạng, hoàn toàn có thể đấu về pháp lý tại pháp đình để giành quyền này, căn cứ vào luật pháp và hệ thống chính sách hiện hành, nếu bị đưa ra kiện về "vi phạm bản quyền". 

      Nhà Xuất bản Giáo dục Việt Nam, vẫn sẽ được giao chủ trì việc tổ chức biên soạn sách và in sách giáo khoa do nhà nước tài trợ. Nếu chưa có ai làm sách thì ít ra cũng có một bộ đầu tiên. Trước hết, tôi xin dùng 20-50 tỷ để quy hoạch sách giáo khoa. Nghe có vẻ tiêu hoang tốn tiền, nhưng chắc chắn một quy hoạch như thế sẽ đỡ các tốn kém không cần thiết, nhất là những giấy bút thảo luận và tiền phong bì cho các hội đồng vô bổ. Quy hoạch này sẽ quy định các nguyên tắc, yêu cầu chính cho chương trình phổ thông, cũng như các nội dung chính của các môn học, được phân thành các mức độ khác nhau để sách giáo khoa có thể phát triển trong 10 năm tới. Sau đó là khoảng 20 tỷ để dịch và chỉnh lý 200 bộ sách giáo khoa về khoa học tự nhiên, địa lý, lịch sử thế giới tốt nhất ra tiếng Việt. Bản quyền hoàn toàn có thể không đáng kể, nếu chúng ta yêu cầu các quốc gia trên thế giới hỗ trợ qua con đường ngoại giao hoặc hợp tác văn hóa. Phần còn lại là chừng 50 bộ sách tiếng Việt, lịch sử, địa lý, văn hóa Việt Nam, giáo dục công dân, đạo đức,... có thể dùng 50 tỷ để biên soạn.  Hàng năm, các sách này có thể được chỉnh lý, bổ sung thêm các nội dung chọn lọc từ nguồn học liệu mở.

      Bộ Giáo dục Đào tạo chỉ cần ban hành một thông tư cho phép các tổ chức các cá nhân được soạn sách giáo khoa, sách tham khảo bằng kinh phí của mình, có ưu tiên tượng trưng nào đó cho các sách có giấy phép mở và đăng ký thẩm định hợp chuẩn với Bộ theo một quy trình minh bạch và đơn giản. Thông tư này cũng cho phép các trường, các thầy lựa chọn sách giáo khoa và đăng ký công khai với Bộ trước khi bắt đầu năm học.

       Cho đến bây giờ tôi vẫn chưa tiêu hết nhiều tiền. Không biết tiêu tiền cũng thể hiện hạn chế về năng lực. Thì đây, tôi đề nghị một chương trình 20 triệu máy tính bảng. Mỗi máy tính bảng hiện nay có thể sản xuất với chi phí $50 tức là 1 triệu đồng. Với quy mô 20 triệu máy tính là đủ để một đại gia như Viettel hay VNPT xây dựng hẳn một nhà máy quy mô, hiện đại có khả năng dập vỏ, lắp ráp, kiểm soát chất lượng tự động, đóng hộp và một mạng lưới hỗ trợ kỹ thuật. Nhà nước sẽ tài trợ miễn phí cho mỗi học sinh và nửa giá cho các đối tượng khác để mua một máy tính bảng loại rẻ tiền này. Cố nhiên số tiền này không phải tài trợ trực tiếp cho các nhà sản xuất để họ không có động lực cạnh tranh về chất lượng, cũng không phải đưa cho người dùng để họ tiêu vào việc khác không kiểm soát được. Mỗi người sẽ được phát một phiếu mua máy tính bảng, có thể dùng để mua từ bất cứ nhà sản xuất nào, thậm chí có thể bù thêm tiền để mua các loại máy tốt hơn. Nhà sản xuất sẽ đem voucher đó thanh toán với nhà nước. Như vậy các nhà sản xuất sẽ phải cạnh tranh để có sản phẩm có chất lượng tốt nhất. Các nhà sản xuất như Viettel hay VNPT sẽ có động lực để làm ra các máy tính bảng kiêm điện thoại di động để phát triển thị trường cho mình. Chương trình này dự kiến sẽ cần đầu tư khoảng 25 nghìn tỷ.

      Trước hết, học sinh, thầy giáo sẽ dùng các máy tính bảng này để truy cập vào các kho sách giáo khoa, sách tham khảo, thư viện số, giáo trình điện tử của thầy.  Học sinh sẽ không phải gò lưng ra thồ cả chục cân sách đến trường. Các khoa chữa vẹo cột sống sẽ vắng người hơn, nhường giường bệnh cho các bệnh nan y khác. Máy tính bảng có thể dùng để truy cập các ứng dụng trên Internet do toàn thể xã hội chung sức làm ra phục vụ học tập, chăm sóc sức khỏe, giải trí lành mạnh. Cả một dân tộc sẽ được xóa mù tin học và tiếp cận với công nghệ hiện đại, hình thành văn hóa đọc, viết chủ động, sáng tạo. Các kỹ năng hợp tác, làm việc theo nhóm, sử dụng ngoại ngữ sẽ phát triển tự nhiên và ngoạn mục, không cần sức ép bởi các chỉ tiêu chết và khô cứng. Học sinh sẽ làm bài tập, dự án nghiên cứu, trình bày các đề án, bài tập trên máy tính bảng. Việc học sinh được tiếp cận với các nguồn tài liệu phong phú sáng tạo đa dạng sẽ gây sức ép lên các thầy phải đổi mới cách dạy, vì cách nhồi sọ dựa trên việc thầy đọc trò chép sẽ trở nên vô duyên, không thể chấp nhận.

      Trẻ dùng máy tính bảng trong học tập, sẽ hướng dẫn cha mẹ dùng máy tính để vào Internet, dùng email và các ứng dụng khác. Ý thức xã hội sẽ được nâng lên một bậc. Người dân sẽ có ý thức và tự giác hơn đối với những vấn đề trọng đại của quốc gia. Đặc biệt, thị trường CNTT cả phần cứng, phần mềm và hạ tầng mạng sẽ phát triển hết sức mạnh mẽ. Tại các bệnh viện, bác sĩ sẽ dùng máy tính bảng để ghi y bạ điện tử kết hợp với các hệ thống chuyên gia để có được các liệu pháp tốt nhất. Các nhân viên ngành công an, tư pháp, thống kê sẽ dùng máy tính bảng để nhập liệu vào các cơ sở dữ liệu quốc gia. Các thiết bị máy tính bảng sẽ được đầu tư để ngày càng thông minh, có thể dùng như phương tiện liên lạc, truy cập Internet, thư viện, công cụ học tập, làm việc, công cụ giải trí, mua sắm, nghe nhạc xem phim, có thể kết nối với các thiết vị ngoại vi như in, trình chiếu, thu thập dữ liệu về sức khỏe, ý thích cá nhân để phục vụ con người cho tốt hơn, không phải chỉ ở trên giấy tờ, nghị quyết, mà trên một thực thể vật lý hiện hữu. Thiết bị này cũng sẽ kết nối con người lại gần nhau để tạo ra giá trị mới cho xã hội. 
          Chúng ta sẽ có một ngành công nghiệp sản xuất thiết bị truy cập hiện đại, nội dung số trong thời gian ngắn nhất. Chúng ta còn mong gì hơn thế. Tất cả mới chưa tới 26 nghìn tỷ.
         

Thứ Hai, 14 tháng 7, 2014

Nhà xuất bản giáo dục sẽ giúp Bộ quản lý, thẩm định các bộ sách giáo khoa ?

     Hôm nay là ngày giữa tuần, đang làm việc. Lý ra thì không có thời gian nhàn phiếm. Nhưng thấy quan chức và báo chí "nói nhịu" mỗi lúc một nhiều, phải bỏ thời gian ăn sáng có chút ý kiến.

      Bài báo Đọc ở đây đưa tin về việc bổ nhiệm một số quan chức mới của Nhà Xuất bản Giáo Dục. Phần kết có đoạn viết: "Chủ trương của Chính phủ cũng hướng tới xã hội hóa công tác biên soạn SGK; Điều đó có nghĩa là trong xã hội sẽ có nhiều nhóm biên soạn SGK; Trong đó NXBGDVN sẽ đóng vai trò hạt nhân của hoạt động này. Do vậy, NXBGDVN sẽ có thêm vai trò giúp Bộ quản lý, thẩm định các bộ sách SGK."
     Thật là mừng về chủ trương mới này của Chính phủ. Đáng lẽ điều này phải làm từ cách đây mấy chục năm. Không phải vì Chính phủ chưa biết việc này. Bao nhiêu người đã góp ý việc này từ rất lâu. Trên thế giới người ta cũng đã làm việc này từ lâu. Vì vậy, mừng không phải là "được mừng" vì Chính phủ ta sáng suốt. Mừng là mừng cho dân, cuối cùng kêu ca mấy chục năm cũng có chút ít kết quả. Tại sao một vấn đề giản đơn thế này mà công luận báo chí bàn rất ít, Chính phủ thì không muốn nghe?
     Nhà Xuất bản Giáo dục độc quyền về sách giáo khoa, cố nhiên là kiếm tiền rất dễ dàng, không phải cố gắng cải tiến chất lượng, cạnh tranh. Làm sách đã có dự án khổng lồ của Bộ trả tiền, họ chỉ in, tái bản, thị trường hàng năm lớn như vậy. Họ muốn tiếp tục độc quyền, cũng dễ hiểu. Nếu độc quyền có thể đảm bảo chất lượng tốt, giảm giá sách mà người dân đang phải è cổ ra chịu, luôn luôn có cải tiến, thì nó cũng đi một nhẽ.  Nếu không làm được điều đó, và cũng đã cho ông cơ hội thử mấy chục năm rồi, xin để cho xã hội cùng làm.
     Có một số người nói xã hội ta là xã hội chủ nghĩa, phải quản chặt những dịch vụ công cộng như y tế, văn hóa, giáo dục không thể chạy theo kinh tế thị trường. Xin thưa, nguyên lý, chí ít là trong sách vở kinh điển, xã hội chủ nghĩa không có nghĩa là "quản chặt" hay không phát triển theo định hướng "kinh tế". Xã hội chủ nghĩa chỉ có ý nghĩa, và thực tế đã được xây dựng bằng mồ hôi, xương máu của nhiều thế hệ, vì nó hướng tới một xã hội công bằng và phục vụ quyền lợi của người dân tốt hơn.
       Ở Mỹ, nơi xã hội được xây dựng theo nguyên lý của chủ nghĩa tư bản, kinh tế thị trường, trẻ em không phải mua sách giáo khoa. Mỗi khi vào năm học, các em đều được mượn sách từ thư viện của nhà trường. Sách in đẹp, bền, có thể dùng hàng chục năm, chất lượng rất tốt, ổn định. Gia đình sẽ phải đền, nếu sách bị làm mất hoặc hư hại đáng kể.
       Có thể có người nói "Mỹ giàu hơn ta, nên họ làm được". Đúng là Mỹ giàu hơn ta, nhưng chúng ta không làm tốt hơn có phải thực là vì nghèo hay không hay vì không quan tâm làm. Ở đây, trước hết hãy nói đến sự quan tâm tới quyền lợi của học sinh. Dù nghèo, việc quan tâm tới quyền lợi của người dân vẫn phải luôn luôn được chú trọng trong xã hội ta. Tôi muốn thấy ít nhất có một vài nỗ lực thực tế và thường xuyên thể hiện sự quan tâm đó.
       Trở lại vấn đề  xã hội ta có thực chưa làm được như Mỹ vì nghèo hay không. Nếu chúng ta tính ở mức hiện nay, mỗi người đi học phải trả một năm từ $25-50 cho sách giáo khoa. Với 20 triệu người đi học, mỗi năm sẽ có một thị trường khoảng 500 triệu tới 1 tỷ đô la. Trong 10 năm, sẽ có 5-10 tỷ đô la biến thành rác thải hàng năm. Với 5 tỷ đô la chúng ta có thể là dư dả cho những gì nước Mỹ đang làm.
     Lý do làm được sách giáo khoa tốt, rẻ, không phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, ý thức hệ, mà phụ thuộc vào cách làm, và đáng buồn hơn là phụ thuộc vào ý muốn làm việc tốt cho học sinh, người dân, xã hội của một số người.
     Nếu sách giáo khoa được xã hội hóa, điều đó có nghĩa là mọi tri thức tinh hoa nhất của xã hội đều được huy động, sẽ không bị bó hẹp vào những hội đồng không có cách nào thay đổi cách làm cách nghĩ như hiện nay vì đã bị đóng khuôn vào những chức danh, danh hiệu, bằng cấp. Sẽ không có một dự án soạn sách giáo khoa 35 nghìn tỷ nào cả. Các trí thức có năng lực, có tầm nhìn, nhiệt huyết sẽ hết lòng đóng góp vào việc đó.
      Nếu việc in, xuất bản, phân phối quản lý sách giáo khoa được xã hội hóa sẽ tiết kiệm chi phí cho người dân. Các chi phí đó có thể được đầu tư vào các sách tham khảo và các sách vở khác, tạo một thói quen học và dạy mới khác cách nhồi sọ như hiện nay.  Hơn nữa, ngày nay, công nghệ thông tin đã phát triển sẽ tiếp tục làm cho sách giáo khoa sống động hơn nữa, có nhiều tương tác đa phương tiện, giá thành, giá quản lý, phân phối, cập nhật rẻ xuống rất nhiều. Hàng ngày, các em học sinh sẽ không phải gù lưng vẹo cột sống thồ sách đến trường. Trong cặp các em luôn sẽ có cả một thư viện sách để tham khảo, trong một thiết bị máy tính bảng, để học với thói quen sáng tạo vừa tiếp cận với công nghệ cao.
     Liệu có khó khăn gì về việc kiểm tra chất lượng sách giáo khoa khi xã hội hóa? Nếu làm theo đoạn trích ở trên "NXBGDVN sẽ giúp Bộ quản lý, thẩm định chất lượng các bộ SGK", quả thật sẽ không có bước tiến nào đáng kể. Đó vẫn là tư duy cũ, thay đổi chỉ là miễn cưỡng đối phó với sức ép của xã hội chứ chưa thực lòng muốn thay đổi, chưa bỏ thời gian nghĩ đến kế hoạch thay đổi thế nào.
     Thứ nhất, có một nguyên tắc mà loài người phát hiện ra từ thời còn ở trong rừng nguyên thủy:Nếu có một miếng ăn phải chia, thì người chia không phải là người được chọn. Nguyên tắc này được phổ biến khắp nơi trong các nền kinh tế văn minh. Nếu NXBGDVN muốn giúp Bộ quản lý, thẩm định chất lượng SGK, xin hãy trở thành một Vụ hoặc Cục chuyên môn, không làm công tác xuất bản sách giáo khoa nữa, để tránh xung đột lợi ích.
      Xin bình luận thêm về một kết luận có trong bài báo NXBGDVN vẫn sẽ là "đàn anh" của các nhà xuất bản trong nước. Nghe khẩu khí có vẻ chưa muốn từ bỏ vai trò độc quyền, làm "đàn anh" có siêu lợi nhuận. Nếu vậy, thì cái gọi là đám mây, dịch vụ SDK điện tử cũng chỉ là tiêu tiền dự án ngân sách khổng lồ và công cốc mà thôi.
     Cuối cùng, phản bác đã nhiều, nếu không có phương án nào thay thế cụ thể, thức giả có thể lại nghĩ rằng người viết cũng là một loại sĩ phu Bắc Hà, vào cuộc họp thì ngậm miệng thin thít, ra ngoài thì đàm tiếu chê bai phản biện mà không có một đề xuất thiết thực nào. Thực ra, cũng không phải sáng tạo gì cho lắm, lạc hậu như tôi đây cũng có thể nghĩ được dăm ba kế quèn, ít ra cũng hơn cách làm hiện tại. Kế sách hiển nhiên nhất chẳng phải đâu xa, cứ xem trên thế giới có những cách làm thế nào.
     Trước hết, trên thế giới hiện nay, có một xu thế gọi là học liệu mở, với giấy phép Creative Common. Giấy phép này cho phép sách vở được tự do sử dụng lại để làm ra các sách vở khác với điều kiện trích nguồn. Các sách giáo khoa do NXBGDVN làm ra đều là dùng thuế của dân, và là tài sản của xã hội. Đề nghị có ngay một đạo luật tuyên bố, mọi sách giáo khoa hiện tại và quá khứ của NXBGDVN đều có giấy phép Creative Common, mọi cá nhân tổ chức doanh nghiệp đều có quyền sử dụng để làm ra các sách giáo khoa mới. Vẫn tiếp tục cấp tiền cho NXBGDVN để làm SGK mở với giấy phép Creative Common. Bộ GDĐT có chức năng thường xuyên thẩm định và công bố danh sách các sách giáo khoa được công nhận đạt chuẩn bằng một quy trình minh bạch. Mọi tổ chức, cá nhân đều có quyền làm sách giáo khoa. Các thầy có quyền lựa chọn sách giáo khoa và sách tham khảo, cho mỗi năm học sau khi đăng ký với nhà trường, Bộ (?) và công bố minh bạch. Các doanh nghiệp được khuyến khích đưa sách giáo khoa lên mạng, xây dựng các hình thức sách tương tác, đa phương tiện.

     Đơn giản, không khó, không cần chuẩn bị các dự án tiêu tiền ngân sách khổng lồ. Kết quả sẽ vô cùng mạnh mẽ. Đáng nói là như vậy, chúng ta sẽ trở thành một quốc gia phát triển bình thường, suy nghĩ một cách bình thường như mọi quốc gia trên thế giới.

Thứ Bảy, 12 tháng 7, 2014

Luận Tam Quốc: Số phận của mưu sĩ

Trong mục luận Tam Quốc, tuần này, chúng tôi sẽ điểm qua số phận của các mưu sĩ-thầy dùi-nhà tư vấn.
Chỉ có hai trường hợp đặc biệt cho các mưu sĩ kiệt xuất thời Tam Quốc là Gia Cát Lượng, người sau này trở thành chính khách, chủ soái nhiều hơn và Quách Gia, người đã chết sớm, là thoát khỏi số phận thảm thương. Các mưu sĩ kiệt xuất nhất, có kế sách và công tích lớn nhất  đều có số phận đáng buồn.

Mưu sĩ có ảnh hưởng lớn nhất thời Tam Quốc chính là Tuân Úc, tác giả đầu tiên của thế cục Tam Quốc. Đặc biệt hơn chính Tuân Úc đã bày mưu cho Tào Tháo giương cao ngọn cờ tôn phù công thất để dùng vua sai khiến thiên hạ, đưa nhà Ngụy từ tư cách một chư hầu loại trung bình trở thành thế lực mạnh nhất thời Tam Quốc. Người ta thường nói "Công cao khó báo" chính là vì vậy. Kết cục của Tuân Úc là bị Tào Tháo cho uống thuốc độc chết.

Mưu sĩ có ảnh hưởng cao nhất bên Thục là Phượng Hoàng Nhỏ Bàng Thống. Trong Tam Quốc Diễn Nghĩa, La Quán Trung đã quy công lao lấy Ích Châu cho Gia Cát Lượng, cho rằng sau khi Bàng Thống mất, quân Lưu Bị lâm nguy, Gia Cát Lượng, Triệu Vân, Trương Phi phải vào Xuyên mới bình định được Trương Nhiệm và Lưu Chương. Thực sự, khi Gia Cát Lượng vào Thục, Ích Châu đã bình định xong, Phượng Hoàng Nhỏ đã hy sinh vì tên lạc trong đợt công kích cuối cùng trước khi thắng lợi. 

Một mưu sĩ khác có công lớn là Bành Dạng đã cứu toàn bộ quân đội của Lưu Bị khỏi chết chìm, kết thúc với số phận bị Lưu Bị giết trong ngục. Ngoài ra còn số phận của Hứa Du, người bạn cũ đã bày mưu cho Tào Thào diệt Viên Thiệu, bị Tào Tháo mượn tay Hứa Chử giết, Điền Phong, người mưu sĩ thông minh nhất của Viên Thiệu bị chính Viên Thiệu giết vì đoán trước được diễn biến. Trần Cung có lẽ còn khá hơn, khi cùng chết với Lã Bố.

Cho đến Ngụy Diên, vốn là một võ tướng, bắt đầu bày mưu tính kế cho Gia Cát Lượng và trở thành Tiền Quân Sư, mặc dù có một kế sách quân sự hay nhất bên Thục cũng phải chết oan, khi Gia Cát Lượng mất đã sắp sẵn cho ông một cái chết.

Như vậy, số phận của mưu sĩ-thầy dùi-nhà tư vấn có phải là quy luật hay không?  Nếu xem lại trước đó, Phạm Lãi và Văn Chủng bày mưu cho Câu Tiễn làm nên nghiệp bá. Phạm Lãi sớm rút lui đi chơi Ngũ Hồ nên bảo toàn được mạng sống, Văn Chủng đến khi bị giết hối hận thì đã quá muộn.

Hàn Phi trong Thuyết Nan đã nói về những khó khăn của mưu sĩ: Nói cao thì bị vua chê viển vông, nói thấp thì bị chê là ti tiện, nói đúng thì ngoài mặt dùng như trong lòng đã nảy sinh ghen ghét bỏ rơi. Ông nói: nhà vua như con rồng có vảy ngược, động vào tất bị nó giết. Biết trước là như vậy mà Hàn Phi cũng không tránh khỏi số phận bi thảm bị Tần Thủy Hoàng giết, mặc dù trước đó Tần Thủy Hoàng đã hâm mộ ông tới mức khi đọc tác phẩm của ông đã than rằng: được làm bạn, chuyện trò với người này dù chết cũng không oán hận gì. Đế vương không thể có bạn, cô độc biết bao nhiêu. Mưu sĩ cũng không bao giờ tìm được tình bạn ở bậc đế vương.


Hội chứng ký ức giả tạo của Trung quốc

Cả một dân tộc đã bị giáo dục sai lầm rằng người Trung quốc đã phát hiện và đặt tên cho các đảo của Biển Nam Trung Hoa.
Bill Hayton / 10 Tháng Bảy, 2014    Người dịch: Lệnh Lỗi Dương


“Chìa khóa đến tương lai hòa bình ở Châu Á nằm ở việc xem lại quá khứ một cách trung thực và có tính phê phán.”
Biển Nam Trung Hoa là nơi những tham vọng của Trung Quốc gặp phải lo ngại của toàn thể Châu Á và sức mạnh của Mỹ. Trên lãnh hải của mình Trung Quốc đã vứt bỏ trò vờ vĩnh về “sự vùng lên hòa bình” để theo đuổi chính sách ngoại giao pháo hạm. Những con tàu tuần bờ biển của Trung Quốc được vũ trang đã đâm húc vào các đối thủ Việt Nam, phong tỏa các điểm tiền tiêu của Philippine, ngăn cảnh các cuộc khảo sát về dầu khí của Malaysia và đe dọa các tàu của Indonesia đang bảo vệ ngành đánh cá của nước này.  Để đáp lại, tất các nước này đang mua nhiều vũ khí hơn và cải thiện các quan hệ quân sự với các chính phủ khác đang lo ngại về sự quả quyết ngày càng tăng của Trung Quốc— trước hết là Mỹ và còn có cả Nhật, Hàn Quốc, Ấn Độ và Úc.
Căn nguyên của khó khăn này là việc Bắc Kinh đưa ra “yêu sách lịch sử không thể tranh cãi” của mình tới 80 phần trăm của Biển Nam Trung Hoa: suốt từ cảng Hồng Kông đến tận gần bờ biển Borneo, cách xa tới 1500km. Vấn đề với cái yêu sách này là không có bằng chứng tin cậy nào ủng hộ cho nó.  Và cái hư cấu lịch sử này sẽ đe dọa hòa bình và an ninh Á Châu và sẽ trở thành sàn đấu cho cuộc tranh đấu giữa Trung Quốc và Mỹ với các hệ quả mang tính toàn cầu. Dường như khó mà tin được việc đối đầu tiềm tàng một cơn chấn động toàn cầu, về căn nguyên, lại là việc tranh giành những vệt đất hầu như hoàn toàn không có người ở.
Có hai tập hợp “các đảo” chính ở Biển Nam Trung Hoa. (Chỉ có rất ít đảo thực, đa số chỉ là các bãi san hô, dải cát hay đá). Ở phía bắc, quần đảo Paracel đang bị tranh chấp giữa Trung Quốc và Việt Nam. Về phía Nam, quần đảo Spratly rộng lớn hơn rất nhiều đang bị Trung Quốc, Việt Nam, Malaysia, Brunei và Philippine đòi hỏi chủ quyền. Hầu hết những địa điểm cách biệt này đều mang tên tiếng Anh,  thường được đặt bởi các tàu và thủy thủ đoàn đã vẽ chúng trên bản đồ. Richard Spratly là một thuyền trưởng săn cá voi đã xác định vị trí hòn đảo mang tên ông vào năm 1843, Chiến hạm hoàng gia Iroquois đã đặt tên cho bãi san hô Iroquois trong công tác khảo sát vào năm 1920, và vân vân.
Khi một ủy ban chính phủ của Trung Quốc lần đầu đặt tên tiếng Trung Quốc cho các hòn đảo này vào năm 1935 họ chỉ làm mỗi một việc là dịch hoặc phiên âm các tên Anh đã có. Ở quần đảo Paracels, ví dụ,  bãi san hô Antelope trở thành Linh Dương (từ tiếng Trung quốc của antelope) và ở quần đảo Spratlys, bãi san hộ North Danger trở thành Bắc Hiểm (tiếng Trung Quốc cho “mối nguy hiểm phương bắc”),  đảo Spratly trở thành Si-ba-la-tuo (phiên âm tiếng Trung Quốc của tên tiếng Anh).  Ủy ban Trung Quốc đã đơn giản sao chép các bản đồ của Anh, và kể cả các lỗi. Các tên đó sau này được sửa chữa hai lần. Bãi ngầm Scarborough, được mang tên một con tàu Anh vào năm 1748, ban đầu được phiên âm là Si ge ba luo vào năm 1935, được gọi là bãi san hô Dân Chủ bởi Trung Hoa Dân Quốc vào năm 1947 và sau này được đặt một cái tên bớt nhạy cảm chính trị là Hoàng Nham (Đá vàng) bởi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa vào năm 1983.
“Chưa hề có bằng chứng khảo cổ nào được tìm thấy về việc có bất cứ con tàu Trung quốc nào đã đi qua vùng biển này trước thế kỷ 10”
Ngày nay, có vẻ như các nhà chức trách Trung Quốc hoàn toàn không biết gì về điều này. Lý lẽ bảo vệ chính thức được chuẩn hóa về chủ quyền “không thể tranh cãi” của Trung  Quốc trên Biển Nam Trung Hoa bắt đầu  với cụm từ, “người Trung Quốc là người đầu tiên phát hiện và đặt tên cho quần đảo  Nam Sa.” Trong thực tế, “người Trung Quốc” đã sao chép các tên từ người Anh. Thậm chí từ “Nam Sa” (có nghĩa “cát phía nam”) đã di chuyển lòng vòng trong các bản đồ Trung Quốc. Vào năm 1935 tên này được dùng để mô tả vùng biển nước nông gọi bằng tiếng Anh là “Bờ Macclesfield” (vâng, cũng lại mang tên một con tàu Anh khác). Vào năm 1947 cái tên Nam Sa đã bị di chuyển về phía Nam trên các bản đồ Trung Quốc để chỉ quần đảo Spratly.

Việc khảo sát đầy đủ mỗi chứng cớ mà phía Trung Quốc đưa ra có thể cần rất nhiều trang giấy, nhưng đã đủ để nói rằng không hề có chứng cứ nào đã được tìm thấy về việc có bất cứ con tàu Trung Quốc nào đã đi qua vùng biển này trước thế kỷ 10. Cho đến lúc đó mọi việc giao thương và thám hiểm đều được thực hiện bởi các con tàu Malay, Ấn Độ và Ả Rập. Chúng có thể, thỉnh thoảng, đã mang theo hành khách Trung Quốc. Những chuyến đi được bàn đến rất nhiều về các “đô đốc thái giám” Trung Quốc bao gồm cả Trịnh Hòa, chỉ kéo dài tổng cộng khoảng 30 năm, cho đến những năm 1430. Sau đó, mặc dù các thương nhân và các ngư đoàn đã đi lại khá nhộn nhịp trên những vùng biển này, quốc gia Trung Hoa không bao giờ lai vãng đến vùng nước sâu này lần nữa cho đến khi chính phủ dân quốc được Mỹ và Anh tặng các tàu vào cuối Chiến tranh Thế giới thứ hai.
Lần đầu tiên có bất cứ quan chức chính phủ Trung Quốc nào đặt chân lên bất cứ đảo nào trong quần đảo Spratly là vào 12 Tháng Mười Hai năm 1946, vào lúc mà các đế quốc Anh và Pháp đã đưa ra các tuyên ngôn vể chủ quyền trên vùng biển này. Một phái đoàn cấp tỉnh của Trung Quốc đã đến được quần đảo Paracels vài thập kỷ trước đó, vào mùng 6 Tháng Sáu năm 1909, hình như thực hiện một chuyến dã ngoại trong một ngày, được dẫn đường bởi các thuyền trưởng người Đức mượn từ hãng buôn Carlowitz. Những đụng độ ở tầm quốc tế đang dựa trên các tuyên bố yếu ớt như vậy.
Bức tranh lịch sử này được hình thành từ các nghiên cứu độc lập tốt nhất. Nhưng nếu nói điều này với bất cứ người Trung Quốc nào, họ sẽ phản ứng với sự ngờ vực. Từ phòng học tới các pháp đình ngoại giao một ký ức chính thức về chủ quyền của Trung Quốc trên vùng biển này đã trở thành một sự thực được xác lập. Làm thế nào một cảm xúc dân tộc về chủ quyền đối với Biển Nam Trung Hoa phát triển mạnh mẽ từ những nền tảng quặt quẹo thế này?
Câu chuyện có thể bắt đầu từ Chiến tranh Nha phiến lần đầu vào năm 1840 và cái mà người Trung Quốc bây giờ gọi là “thế kỷ nhục nhã của dân tộc”  tiếp theo đó. Trung Quốc rõ ràng đã phải rên xiết đau thương dưới bàn tay của các đế quốc phương Tây và Nhật: hàng ngàn người bị giết, các thành phố bị biến thành thuộc địa và chính phủ trở thành con nợ của các ngân hàng quốc tế.
Nhà địa lý William Callahan và những người khác đã vạch rõ bằng cách nào, như là một bộ phận của cuộc đấu tranh chống áp bức của ngoại bang, những người quốc dân đảng và cộng sản đã vun đắp cho một cảm giác bị vi phạm lãnh thổ để vận động nhân dân. Từ những năm 1900 trở đi, các nhà địa lý Trung Quốc như Bạch Mi Sơ, một trong những người sáng lập ra Hội Địa lý Trung Quốc, đã bắt đầu vẽ những bản đồ để cho dân chúng thấy có bao nhiêu lãnh thổ bị xé khỏi Trung Quốc bởi bọn đế quốc.
“Những bản đồ quốc sỉ” này đã giả định rằng lãnh thổ hợp pháp của Trung Quốc bao gồm mọi chư hầu đã từng cống nạp cho hoàng đế Trung Hoa. Chúng bao gồm bán đảo Triều Tiên, phần lớn nước Nga, Trung Á, Himalayas và nhiều phần của Đông Nam Á. Các đường đã được vẽ ra trên các bản đồ này để làm tương phản các vùng rộng lớn của các đế chế trước đây với tình trạng bị thu hẹp của đất nước. Kết quả tất yếu là, sau khi ủy ban hữu quan của Trung Quốc đã đặt tên mới cho các quần đảo ở Biển Nam Trung Hoa vào năm 1935, một trong những đường này được vẽ ra vòng quanh vùng biển này. Đây chính là cái mà bây giờ được gọi là đường “ hình chữ U” hoặc “9-đoạn” thâu tóm  80 phần trăm của vùng biển này và tất cả các quần đảo trong đó. Một sự cố về công tác bản đồ, dựa trên việc đọc sai lịch sử Đông Nam Á, chính là cơ sở cho tuyên bố chủ quyền lãnh thổ hiện nay của Trung Quốc.
Trung Quốc rõ ràng đã bị cưỡng đoạt dưới tay của người ngoại quốc áp bức nhưng trạng thái hiện tại xuất hiện từ đống đổ nát của nhà Thanh và các cuộc nội chiến sau đó đã tìm được sự an ủi ở các ký ức giả tạo có rất ít quan hệ với những gì đã xảy ra trong thực tế. Như bất cứ khách tham quan nào đến triển lãm “Con đường sống sót” mới đây ở Bảo tàng Dân Tộc Trung Quốc tại quảng trường Thiên An Môn nào đều có thể nhận thấy, hội chứng ký ức giả này là một thành phần quan trọng trong huyền thoại của Đảng Cộng Sản để hợp pháp hóa vị thế:  chính Đảng đã cứu đất nước khỏi nỗi ô nhục.
Các học viện và ủy ban chính phủ quốc dân đảng trong nửa đầu thế kỷ 20 đã di chúc lại cho Đảng Cộng sản một “lịch sử chính thức” rõ ràng là bịa đặt. Chính điều này, chứ không phải nguy cơ của bọn côn đồ dân tộc chủ nghĩa trên đường phố đã làm cho các tranh chấp về Biển Nam Trung Hoa trở nên căng thẳng và nguy hiểm. Nhưng chấp nhận điều sai này có thể sẽ xóa bỏ một hòn đá tảng về vị thế của Đảng trong thượng tầng của xã hội Trung Quốc.
Không may, không có lựa chọn nào khác để tiếp tục tranh đoạt ở Biển Nam Trung Hoa. Chẳng có bên nào muốn khiêu khích để bùng nổ xung đột nhưng không ai muốn giảm sức ép bằng cách giảm đi các yêu sách về lãnh thổ. Một số quan chức Trung Quốc về phương diện cá nhân cũng nhận ra sự vô nghĩa về mặt pháp lý của việc duy trì yêu sách về “đường chữ U”. Nhưng cũng các quan chức đó nói rằng họ không thể điều chỉnh yêu sách này vì các nguyên nhân chính trị—do các phê phán trong nước sẽ vô cùng ghê gớm. Làm thế nào để sau đó có thể thuyết phục nhân dân Trung Quốc chấp nhận quan điểm khác về lịch sử của Biển Nam Trung Hoa?
Có lẽ một câu trả lời nằm ở phía Đài Loan. Cơ hội cho một cuộc tranh luận tự do hơn về lịch sử Trung Quốc là lớn hơn nhiều ở Đài Loan so với trong lục địa
Đã có một số học giả “lạc loài” đã suy nghĩ lại về các khía cạnh về lịch sử của thế kỷ 20. Đài Loan cũng là nơi có các lưu trữ của Trung Hoa Dân quốc, chính phủ đầu tiên đã vẽ là “đường chữ U”. Một cuộc khảo sát cởi mở và cần thận về quá trình lộn xộn mà cái đường này được vẽ ra có thể thuyết phục được những người tạo ra công luận sẽ xem xét lại một huyền thoại quốc dân đảng mà họ đã tuyên bố là chân lý kinh thánh.
Có lẽ lý lẽ mạnh nhất cho việc bắt đầu ở Đài Loan là các quan chức ở Bắc Kinh đang sợ rằng nếu họ có chấp nhận bất cứ thỏa hiệp nào đều sẽ bị phê phán ầm ĩ ở Đài Bắc. Nếu các quan chức này xuống thang với các xung đột lịch sử địa lý ở Biển Nam Trung Hoa, sẽ dễ dàng hơn cho chính quyền Bắc Kinh làm việc giống như vậy. Chìa khóa của tương lai hòa bình ở Á Châu nằm ở việc xem xét lại quá khứ một cách trung thực và có tính phê phán.

Thứ Tư, 9 tháng 7, 2014

Lý Quang Diệu viết về Hoa Kỳ

Biên dịch: Nguyễn Việt Vân Anh | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp


HOA KỲ: Nhiều trở ngại nhưng vẫn giữ vị trí số 1



Cân bằng quyền lực đang chuyển đổi. Về phía châu Á của Thái Bình Dương, theo thời gian Hoa Kỳ sẽ gặp nhiều khó khăn hơn trong việc gây ảnh hưởng. Mọi chuyện sẽ không còn như trước. Địa lí là điểm mấu chốt trong trường hợp này. Trung Quốc có lợi thế hơn vì nằm trong khu vực và có khả năng phô trương sức mạnh dễ dàng hơn ở châu Á. Đối với Hoa Kỳ, gây ảnh hưởng từ cách xa 8.000 dặm là một điều hoàn toàn khác. Sự bất bình đẳng về ý chí, hậu cần và chi phí là rất đáng kể. Chỉ riêng dân số của Trung Quốc, 1,3 tỉ người, so với 314 triệu người Mỹ, cũng góp phần vào khó khăn của Hoa Kỳ. Nhưng sự chuyển giao quyền lực sẽ không xảy ra một sớm một chiều do ưu thế vượt bậc của Hoa Kỳ về công nghệ. Người Trung Quốc dù có thể chế tạo tàu sân bay nhưng vẫn không thể đuổi kịp người Mỹ một cách nhanh chóng về công nghệ tàu sân bay với sức chứa 5.000 quân và đầu máy hạt nhân. Nhưng cuối cùng, những bất lợi của Hoa Kỳ do khoảng cách địa lý dần sẽ mang tính quyết định. Hoa Kỳ sẽ phải điều chỉnh thế đứng của mình và chính sách của họ trong khu vực này.

Chính quyền Obama tuyên bố vào năm 2011 rằng Hoa Kỳ dự định tiếp cận khu vực châu Á-Thái Bình Dương với một trọng tâm mới. Họ gọi đây là Sự Xoay Trục về Châu Á. Trên tờ Foreign Policy, ngoại trưởng Hillary Clinton giải thích tư duy đằng sau chính sách mới này như sau: “Các thị trường mở ở châu Á là những cơ hội chưa từng thấy đối với Hoa Kỳ về đầu tư, thương mại và tiếp cận với các công nghệ tiên tiến… Về mặt chiến lược, việc gìn giữ hoà bình và an ninh ở khắp khu vực Châu Á – Thái Bình Dương ngày càng trở nên thiết yếu đối với sự tiến bộ trên toàn cầu, dù là thông qua bảo vệ tự do hàng hải trên Biển Đông, chống lại việc phổ biến vũ khí hạt nhân ở Bắc Triều Tiên hay đảm bảo sự minh bạch trong các hoạt động quân sự của các nước lớn trong khu vực.” Vào tháng 4 năm 2012, 200 lính thuỷ đánh bộ Mỹ đầu tiên đã được triển khai tới Darwin, Úc trong một phần nỗ lực nhằm tăng cường hiện diện của Hoa Kỳ trong khu vực.

Nhiều quốc gia Châu Á chào đón cam kết mới này từ người Mỹ. Trong nhiều năm, sự hiện diện của Hoa Kỳ là một nhân tố quan trọng giúp ổn định khu vực. Kéo dài sự hiện diện này sẽ giúp duy trì ổn định và an ninh. Kích thước của Trung Quốc có nghĩa là cuối cùng chỉ có Hoa Kỳ – kết hợp với Nhật Bản và Hàn Quốc, đồng thời hợp tác với các quốc gia ASEAN – mới có thể đối trọng lại được nước này.

Tuy nhiên, chúng ta còn phải xem liệu người Mỹ có thể biến ý định thành cam kết trong lâu dài được hay không. Ý định là một mặt, tài trí và khả năng là một mặt khác. Hiện nay Hoa Kỳ có quân ở Úc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Guam. (Người Philippines đã không khôn ngoan khi mời người Mỹ rời khỏi vịnh Subic vào năm 1992. Họ quên mất hậu quả về lâu dài của hành động này và bây giờ họ bảo rằng “Hãy làm ơn quay lại.”) Người Mỹ tin rằng họ có sẵn một dàn xếp quân sự trong khu vực cho phép họ cân bằng lại được với hải quân Trung Quốc. Hơn nữa, vì các vùng nước trong khu vực tương đối nông, người Mỹ có thể theo dõi hoạt động của các tàu thuyền Trung Quốc, kể cả tàu ngầm. Nhưng liệu lợi thế này có thể kéo dài được bao lâu? Một trăm năm? Không thể nào. Năm mươi năm? Không chắc. Hai mươi năm? Có thể. Rốt cuộc, cân bằng quyền lực có thể thực hiện được hay không còn phải chờ vào nền kinh tế Hoa Kỳ trong một vài thập niên tới. Cần có một nền kinh tế vững mạnh thì mới có thể phô trương quyền lực – đầu tư xây dựng tàu chiến, tàu sân bay và các căn cứ quân sự.

Khi cuộc chiến tranh giành quyền bá chủ trên Thái Bình Dương giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc diễn ra, những quốc gia nhỏ hơn ở châu Á bắt buộc phải thích ứng với cục diện mới. Thucydides đã từng viết rằng “kẻ mạnh làm những gì mà họ có thể và kẻ yếu phải chịu đựng những gì họ phải chịu đựng”. Các quốc gia nhỏ hơn ở châu Á có thể không phải có một kết cục bi thảm như thế, nhưng bất cứ góc nhìn hiện thực chủ nghĩa nào về sự suy giảm ảnh hưởng của Hoa Kỳ tại Châu Á Thái Bình Dương đều sẽ khiến các quốc gia phải điều chỉnh chiến lược đối ngoại của mình. Người ta sẽ phải quan tâm hơn đến những gì người Trung Quốc thích hoặc không thích khi Trung Quốc ngày càng lớn mạnh về kinh tế lẫn quân sự. Nhưng điều quan trọng không kém là không để cho Trung Quốc hoàn toàn thống trị. Cuối cùng, tôi không cho rằng viễn cảnh người Trung Quốc hất cẳng hoàn toàn người Mỹ ra khỏi Tây Thái Bình Dương có thể diễn ra.

Ví dụ như Việt Nam, là một trong những quốc gia không an tâm nhất về sự bành trướng sức mạnh của Trung Quốc. Đặng Tiểu Bình ra lệnh tấn công miền Bắc Việt Nam vào năm 1979 để trả đũa việc Việt Nam can thiệp vào Campuchia. Đặng phá hủy một vài làng mạc và thị trấn rồi sau đó rút lui, chỉ nhằm đưa ra một lời cảnh cáo với người Việt: “Tôi có thể tiến thẳng vào và tiếp quản Hà Nội.” Đây không phải là bài học mà người Việt có thể quên được. Một chiến lược có lẽ đã được chính phủ Việt Nam bàn đến là làm thế nào để có thể bắt đầu thiết lập các mối quan hệ an ninh lâu dài với người Mỹ.

Tôi cũng cảm thấy rất tiếc rằng sự thay đổi cân bằng quyền lực đang diễn ra vì tôi cho rằng Hoa Kỳ là một cường quốc hoà bình. Họ chưa bao giờ tỏ ra hung hãn và họ không có ý đồ chiếm lãnh thổ mới. Họ đưa quân đến Việt Nam không phải vì họ muốn chiếm Việt Nam. Họ đưa quân đến bán đảo Triều Tiên không phải vì họ muốn chiếm bắc hay nam Triều Tiên. Mục tiêu của các cuộc chiến tranh đó là chống lại chủ nghĩa cộng sản. Họ đã muốn ngăn chủ nghĩa cộng sản lan tràn trên thế giới. Nếu như người Mỹ không can thiệp và tham chiến ở Việt Nam lâu dài như họ đã làm, ý chí chống cộng ở các nước Đông Nam Á khác chắc đã giảm sút, và Đông Nam Á có thể đã sụp đổ như một ván cờ domino dưới làn sóng đỏ. Nixon đã giúp cho miền Nam Việt Nam có thời gian để xây dựng lực lượng và tự chiến đấu. Nam Việt Nam đã không thành công, nhưng khoảng thời gian gia tăng đó giúp Đông Nam Á phối hợp hành động với nhau và tạo dựng nền tảng cho sự phát triển của ASEAN.



Singapore khá thoải mái với sự hiện diện của người Mỹ. Chúng ta không biết Trung Quốc sẽ quyết đoán hay hung hăng như thế nào. Vào năm 2009 khi tôi nói chúng ta phải cân bằng lực lượng với Trung Quốc, họ dịch từ đó sang tiếng Trung thành “kìm hãm”. Điều này làm nổi lên một làn sóng phẫn nộ trong cư dân mạng Trung Quốc. Họ cho rằng làm sao tôi lại dám nói như thế trong khi tôi là người Hoa. Họ quá là nhạy cảm. Thậm chí sau khi tôi giải thích rằng tôi không hề sử dụng từ “kìm hãm”, họ vẫn không hài lòng. Đấy là bề mặt của một thứ quyền lực thô và còn non trẻ.

Trong cục diện đang thay đổi này, chiến lược chung của Singapore là đảm bảo rằng mặc dù chúng ta lợi dụng bộ máy tăng trưởng thần kì của Trung Quốc, chúng ta sẽ không cắt đứt với phần còn lại của thế giới, đặc biệt là Hoa Kỳ. Singapore vẫn quan trọng với người Mỹ. Singapore nằm ở vị trí chiến lược ở trung tâm của một khu vực quần đảo, nơi mà người Mỹ không thể bỏ qua nếu muốn duy trì ảnh hưởng ở Châu Á – Thái Bình Dương. Và mặc dù chúng ta xúc tiến các mối quan hệ với người Trung Quốc, họ cũng không thể cản chúng ta có các mối quan hệ kinh tế, xã hội, văn hoá và an ninh bền chặt với Hoa Kỳ. Người Trung Quốc biết rằng họ càng gây áp lực với các quốc gia Đông Nam Á thì các quốc gia này càng thân Mỹ hơn. Nếu người Trung Quốc muốn đưa tàu chiến đến viếng thăm cảng của Singapore khi có nhu cầu, như là người Mỹ đang làm, chúng ta sẽ chào đón họ. Nhưng chúng ta sẽ không ngả về phía nào bằng cách chỉ cho phép một bên và cấm đoán bên kia. Đây là một lập trường mà chúng ta có thể tiếp tục duy trì trong một thời gian dài.

Chúng ta còn liên kết với phần còn lại của thế giới thông qua ngôn ngữ. Chúng ta may mắn được người Anh cai trị và họ để lại di sản là tiếng Anh. Nếu như chúng ta bị người Pháp cai trị, như người Việt, chúng ta phải quên đi tiếng Pháp trước khi học tiếng Anh để kết nối với thế giới. Đó chắc hẳn là một sự thay đổi đầy đau đớn và khó khăn. Khi Singapore giành được độc lập vào năm 1965, một nhóm trong Phòng Thương Mại người Hoa gặp tôi để vận động hành lang cho việc chọn tiếng Hoa làm quốc ngữ. Tôi nói với họ rằng: “Các ông phải bước qua tôi trước đã.” Gần 5 thập niên đã trôi qua và lịch sử đã cho thấy rằng khả năng nói tiếng Anh để giao tiếp với thế giới là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong câu chuyện tăng trưởng của Singapore. Tiếng Anh là ngôn ngữ của cộng đồng quốc tế. Đế quốc Anh đã truyền bá thứ ngôn ngữ này ra khắp thế giới, nên khi người Mỹ tiếp quản, đó là một sự chuyển đổi dễ dàng sang tiếng Anh kiểu Mỹ. Đây cũng là một lợi thế rất lớn đối với người Mỹ khi trên toàn thế giới đã có nhiều người nói và hiểu ngôn ngữ của họ.

Khi sự trỗi dậy của Trung Quốc tiếp diễn, Singapore có thể nâng cao chuẩn mực tiếng Hoa trong nhà trường để cho học sinh của chúng ta có một lợi thế, nếu họ chọn làm việc hoặc giao thương với Trung Quốc. Nhưng tiếng Hoa vẫn sẽ là ngôn ngữ thứ hai, vì thậm chí nếu GDP của Trung Quốc có vượt qua Hoa Kỳ, họ cũng không thể cho chúng ta được mức sống mà chúng ta đang hưởng thụ ngày nay. Đóng góp của Trung Quốc vào GDP của chúng ta ít hơn 20%. Phần còn lại của thế giới sẽ giúp Singapore duy trì phát triển và đạt được thịnh vượng – không chỉ là người Mỹ, mà còn là người Anh, người Đức, người Pháp, người Hà Lan, người Úc, vv…. Các nước này giao dịch kinh doanh bằng tiếng Anh, không phải tiếng Trung. Sẽ là rất ngu ngốc nếu chúng ta xem xét chọn
 tiếng Trung làm ngôn ngữ làm việc tại bất kì thời điểm nào trong tương lai, khi mà chính người Hoa cũng rất cố gắng học tiếng Anh từ khi mẫu giáo cho đến bậc đại học.

Cuộc cạnh tranh cuối cùng

Hoa Kỳ không phải đang trên đà suy thoái. Uy tín của Hoa Kỳ đã chịu nhiều tổn thất do việc đóng quân lâu dài và lộn xộn tại Iraq và Afghanistan cũng như do cuộc khủng hoảng tài chính nghiêm trọng. Nhưng những sử gia giỏi nhìn nhận sẽ chỉ ra rằng một Hoa Kỳ dường như yếu đi và trì trệ đã từng phục hồi ra khỏi những tình huống còn tệ hại hơn. Đất nước Hoa Kỳ đã đối mặt nhiều thử thách lớn trong những thời kỳ chưa xa: cuộc Đại Suy thoái, chiến tranh Việt nam, thời kì trỗi dậy của các cường quốc công nghiệp hậu chiến như Nhật Bản và Đức. Mỗi lần như vậy, Hoa Kỳ đã tìm thấy ý chí và sức mạnh để phục hồi vị trí dẫn đầu cùa mình. Hoa Kỳ đã áp đảo. Nó sẽ thực hiện được điều này một lần nữa.
Thành công của Hoa Kỳ nằm ở nền kinh tế năng động, được duy trì không chỉ bằng khả năng đặc biệt sản xuất ra cùng một thứ với chi phí ít hơn mà còn là liên tục đổi mới sáng tạo – tức là sáng chế ra một mặt hàng hay dịch vụ hoàn toàn mới mà thế giới sớm cảm thấy hữu dụng và đáng khát khao. Chiếc iPhone, iPad, Microsoft, Internet – tất cả đều được tạo ra ở Hoa Kỳ chứ không phải nơi nào khác. Người Trung Quốc có thể có nhiều nhân tài so với người Mỹ, nhưng sao họ không có những phát minh tương tự? Rõ ràng họ thiếu một sự sáng tạo mà người Mỹ sở hữu. Và tia sáng đó cho thấy người Mỹ thỉnh thoảng thể có sáng tạo đột phá thay đổi cục diện, điều cho họ vị trí dẫn đầu.

Thậm chí nếu những người theo thuyết suy thoái đúng, và thật là Hoa Kỳ đang trên đà xuống dốc, ta phải nhớ rằng đây là một nước lớn và cần có một thời gian dài thì mới suy thoái. Nếu Singapore là một nước lớn, tôi sẽ chẳng lo lắng lắm nếu chúng ta chọn chính sách sai lầm, vì hậu quả sẽ xuất hiện chậm. Nhưng chúng ta là một nước nhỏ và một quyết định sai lầm có thể gây hậu quả kinh khủng trong một thời gian ngắn. Mặt khác, Hoa Kỳ như là một con tàu chở dầu lớn. Họ sẽ không thể chuyển hướng nhanh như một chiếc thuyền. Nhưng tôi tin rằng các cá nhân tin vào thuyết suy thoái đã sai lầm. Hoa Kỳ sẽ không suy thoái. So sánh tương đối với Trung Quốc, Hoa Kỳ có thể ít uy lực hơn. Có thể khả năng phô diễn sức mạnh ở Tây Thái Bình Dương của Hoa Kỳ bị ảnh hưởng và có thể Hoa Kỳ không thể sánh với Trung Quốc về dân số và GDP, nhưng lợi thế chính yếu của Hoa Kỳ – sự năng động của họ – sẽ không biến mất. Hoa Kỳ, nếu đem ra so sánh đến giờ, là một xã hội sáng tạo hơn. Và khi mà trong lòng nội bộ nước Mỹ đang có một cuộc tranh luận về việc liệu họ có đang xuống dốc hay không thì đó là một dấu hiệu tốt. Điều đó có nghĩa rằng họ không ngủ quên trên đỉnh cao.

Tại sao tôi lại tin vào thành công về dài hạn của Hoa Kỳ?

Đầu tiên, Hoa Kỳ là một xã hội thu hút đến độ mà Trung Quốc khó lòng bì kịp. Mỗi năm, hàng nghìn người nhập cư đầy tham vọng và có trình độ được cho phép vào Hoa Kỳ, định cư và trở nên thành công trong nhiều lĩnh vực. Những người nhập cư này sáng tạo và thường mạo hiểm hơn, nếu không thì họ đã chẳng rời khỏi quê hương của mình làm gì. Họ cung cấp một nguồn ý tưởng dồi dào và tạo nên một chất men nào đó trong lòng xã hội Mỹ, một sức sống mà ta không thể tìm thấy ở Trung Quốc. Hoa Kỳ sẽ không thành công được đến như vậy nếu như không có người nhập cư. Trong hàng thế kỉ, Hoa Kỳ thu hút nhân tài từ châu Âu. Ngày hôm nay, họ thu hút nhân tài từ châu Á – người Ấn, người Hoa, người Hàn, người Nhật và thậm chí là người Đông Nam Á. Vì Hoa Kỳ có thể dung nạp người nhập cư, giúp họ hoà nhập và cho họ một cơ hội công bằng để đạt được giấc mơ Mỹ, luôn có một nguồn chảy tài năng hướng vào Hoa Kỳ và đổi lại Hoa Kỳ có được công nghệ mới, sản phẩm mới và cách làm ăn mới.

Trung Quốc và những quốc gia khác rồi sẽ phải tiếp thu vài phần của mô hình thu hút nhân tài của Hoa Kỳ phù hợp với hoàn cảnh của mình. Họ phải đi tìm người tài để xây dựng các doanh nghiệp. Đây là cuộc cạnh tranh tối hậu. Đây là thời đại mà chúng ta không còn có các cuộc đua quân sự giữa các cường quốc vì họ biết rằng họ sẽ huỷ hoại nhau bằng cách ấy. Đây sẽ là cuộc cạnh tranh về kinh tế và kĩ thuật và tài năng là nhân tố chính.

Hoa Kỳ là một xã hội thu hút và giữ chân được nhân tài. Họ chiêu dụ được những tài năng bậc nhất từ Châu Á. Hãy nhìn vào số lượng người Ấn trong các ngân hàng và trường đại học của họ — lấy ví dụ như Vikram Pandit, cựu CEO của Citibank. Nhiều người Singapore chọn lựa ở lại Hoa Kỳ sau khi du học. Đó là lí do mà tôi ủng hộ việc cho sinh viên học bổng đi du học Anh, vì tôi chắc rằng họ sẽ trở về Singapore. Ở Anh, bạn không ở lại vì bạn không được chào đón. Và vì nền kinh tế của Anh không năng động như Mỹ, ở đấy có ít công ăn việc làm hơn.
Một lí do tại sao Trung Quốc sẽ luôn kém hiệu quả hơn trong việc thu hút nhân tài chính là ngôn ngữ. Tiếng Hoa khó học hơn tiếng Anh nhiều. Nói tiếng Hoa rất khó nếu như không học từ nhỏ. Đây là ngôn ngữ đơn âm tiết và mỗi từ có tới 4 hay 5 thanh. Khi mà bạn không biết tiếng thì bạn không thể giao tiếp. Đây là một rào cản rất lớn. Đây là kinh nghiệm bản thân tôi. Tôi đã vật lộn trong suốt 50 năm và đến giờ mặc dù tôi có thể nói tiếng Hoa và viết theo kiểu bính âm (pinyin), nhưng tôi vẫn không thể hiểu được tiếng Hoa một cách thành thục như người bản ngữ. Đấy là tôi đã rất cố gắng. Trung Quốc trở nên hùng cường vào tương lai không thay đổi sự thật cơ bản là tiếng Hoa là một ngôn ngữ cực kì khó học. Có bao nhiêu người đến Trung Quốc, ở lại và làm việc ngoại trừ những người Hoa, người Châu Âu và người Mỹ trở thành những chuyên gia nghiên cứu Trung Quốc? Người Trung Quốc cố gắng truyền bá ngôn ngữ của mình ra nước ngoài bằng việc xây dựng các Viện Khổng Tử trên toàn thế giới, nhưng kết quả không được tốt lắm. Người ta vẫn đến Hội đồng Anh và những cơ sở của Hoa Kỳ. Chính phủ Hoa Kỳ thậm chí không cần phải cố gắng. Một thời họ có Trung tâm Dịch vụ Thông tin Hoa Kỳ, nhưng đã bị đóng cửa vì không cần thiết nữa. Đã có hàng loạt ấn phẩm, chương trình truyền hình và phim ảnh làm công việc đó. Nên về quyền lực mềm thì Trung Quốc không thể thắng.

Một nguồn lực khác mang lại sức cạnh tranh cho Hoa Kỳ là nhiều trung tâm xuất sắc cạnh tranh lẫn nhau khắp cả nước. Ở bờ Đông có Boston, New York, Washington, và ở bờ Tây có Berkeley, San Francisco, và ở miền Trung nước Mỹ thì có Chicago và Texas. Bạn sẽ thấy sự đa dạng và mỗi trung tâm lại cạnh tranh với nhau, không ai nhường ai. Khi người Texas thấy rằng mình có nhiều dầu mỏ, James Baker – cựu ngoại trưởng Hoa Kỳ và là người Texas – đã cố gắng thành lập một trung tâm ở Houston để cạnh tranh với Boston hoặc New York. Jon Huntsman, cựu đại sứ Hoa Kỳ ở Singapore và Trung Quốc và là bạn của tôi, là một ví dụ khác. Gia đình ông có tiền sử bệnh ung thư tuyến tiền liệt. Vì vậy khi ông thừa hưởng gia tài từ cha, ông mang những nhà khoa học giỏi nhất trong lĩnh vực ung thư tuyến tiền liệt về quê nhà ông là bang Utah để nghiên cứu vấn đề này.

Mỗi trung tâm tin rằng mình tốt như các trung tâm còn lại, chỉ cần tiền và nhân tài, điều có thể kiếm được. Không ai cảm thấy phải tuân theo Washington hay New York. Nếu bạn có tiền, bạn có thể xây dựng một trung tâm mới. Bởi vì khía cạnh này, có sự đa dạng trong xã hội và một tinh thần cạnh tranh cho phép sản sinh ra những ý tưởng và sản phẩm mới hữu ích dài lâu. Trung Quốc thì lại chọn một cách tiếp cận khác. Người Trung Quốc tin rằng khi trung ương  mạnh thì Trung Quốc sẽ giàu mạnh. Đây là một thái độ cứng nhắc, yêu cầu mọi người phải tuân theo một trung tâm duy nhất. Mọi người phải hành quân theo cùng một điệu trống. Ngay cả Anh và Pháp đều không thể cạnh tranh với Hoa Kỳ về mặt này. Ở Pháp ai là nhân tài cuối cùng đều vào các viện đại học nghiên cứu lớn. Ở Anh thì đó là Oxbridge (Đại học Oxford và Đại học Cambridge). Những quốc gia này tương đối nhỏ, gọn vì vậy cũng đồng bộ hơn.

Kể từ cuối thập niên 1970 cho đến thập niên 1980, Hoa Kỳ mất vị trí dẫn đầu nền công nghiệp về tay những nền kinh tế mới phục hồi như Nhật Bản và Đức. Họ bị vượt mặt về đồ điện tử, thép, hoá dầu và ngành công nghiệp xe hơi. Đây là những ngành công nghiệp sản xuất quan trọng huy động nhiều nhân công, kể cả những người lao động phổ thông được các công đoàn bảo vệ.

Ở một số nước châu Âu, các công đoàn chống đối các cải cách lao động bằng việc đe dọa tiến hành các hành động công nghiệp có thể mang lại tổn thất nghiêm trọng trong ngắn hạn. Nhưng ở Mỹ điều ngược lại đã xảy ra. Các tập đoàn áp dụng những biện pháp thay đổi khó khăn nhưng cần thiết. Họ giảm qui mô, giảm biên chế và cải tiến năng suất qua việc sử dụng công nghệ, trong đó có công nghệ thông tin (IT). Nền kinh tế Hoa Kỳ trỗi dậy trở lại. Các doanh nghiệp mới được mở ra để giúp các công ty tối ưu hoá hệ thống IT của mình, như là Microsoft, Cisco và Oracle. Sau một khoảng thời gian điều chỉnh đầy đau đớn, các công ty có thể tạo ra nhiều việc làm mới trả lương tốt hơn. Họ không thích thú với nhưng công việc lỗi thời mà Trung Quốc, Ấn Độ hay Đông Âu có thể làm được. Họ thấy được một tương lai mà của cải không phải được tạo ra bởi việc chế tạo đồ dùng hay xe hơi, mà bằng sức mạnh trí óc, sức sáng tạo, tính nghệ thuật, kiến thức và bản quyền trí tuệ. Hoa Kỳ đã trở lại cuộc chơi. Họ giành lại được vị trí là nền kinh tế phát triển nhanh nhất trong các nước đã phát triển. Tôi thật sự khâm phục sự năng động và tin thần khởi nghiệp của người Mỹ.

Bạn tiếp tục chứng kiến điều đó ngay lúc này đây. Người Mỹ vận hành một hệ thống gọn gàng hơn và có sức cạnh tranh hơn. Họ có nhiều bằng sáng chế hơn. Họ luôn cố gắng tạo được thứ gì đó mới hoặc làm điều gì đó tốt hơn. Tất nhiên, điều này cũng có một cái giá của nó. Chỉ số thất nghiệp của Hoa Kỳ lên xuống như một cái yoyo. Ở thời kì suy thoái, chỉ số thất nghiệp từ 8 đến 10 phần trăm là chuyện hiển nhiên. Kết quả là một tầng lớp dưới hình thành. Giữa những xa hoa, lấp lánh, các cửa hàng đẹp đẽ ở New York, bạn cũng có thể dễ dàng thấy người Mỹ vô gia cư nằm trên vệ đường. Họ không có gì ngoài tấm áo khoác thân và miếng thùng carton để nằm ngủ. Một số người, kể cả nhà kinh tế học đoạt giải Nobel Paul Krugman, đã lên án khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn ở xã hội Mỹ.
Điều này có chấp nhận được không? Tôi không thể nói được. Có những tổ chức tôn giáo và từ thiện giúp đỡ. Một số thành lập những quán ăn tình thương cho người thất nghiệp, vv…. Nhưng mà bạn không thể vừa muốn có chiếc bánh trong tay, vừa muốn ăn nó. Nếu bạn muốn tạo nên sự cạnh tranh mà Hoa Kỳ đang có, bạn không thể tránh được việc tạo nên khoảng cách đáng kể giữa tầng đỉnh và tầng đáy, và không thể tránh khỏi việc tạo nên một tầng lớp dưới. Nếu như bạn chọn một nhà nước phúc lợi, như châu Âu sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, bạn tự nhiên sẽ không còn năng động.
Cuối cùng, Hoa Kỳ có một nền văn hoá tôn vinh những người dám tự làm tự chịu. Khi họ thành công, họ được ngưỡng mộ như là một nhà khởi nghiệp tài năng và có được sự công nhận và vị trí xã hội họ đáng được hưởng. Khi họ thất bại thì điều này được coi là một giai đoạn tạm thời, tự nhiên và cần thiết để rốt cuộc thành công. Vì vậy họ có thể đứng lên và bắt đầu lại. Nền văn hoá này khác với Anh, một xã hội tĩnh hơn – nơi mà mọi người biết vị trí phù hợp của mình. Nước Anh rất mang tính châu Âu về điểm này. Người Anh từng có nhiều khám phá vĩ đại – máy hơi nước, máy kéo sợi và động cơ điện. Họ cũng có nhiều giải Nobel khoa học. Nhưng rất ít khám phá trong số này của họ trở nên thành công về mặt thương mại. Tại sao lại như thế? Những năm dài của 2 thế kỉ đế chế đã hình thành một xã hội nơi mà giới thượng lưu cũ và những quý tộc có ruộng đất được kính trọng. Giới nhà giàu mới bị xem thường. Các sinh viên trẻ ưu tú mơ ước trở thành luật sư, bác sĩ và trí thức – những người được ngưỡng mộ vì trí tuệ và đầu óc của họ hơn là lao động cực nhọc hoặc lao động tay chân. Hoa Kỳ thì lại khác, là một xã hội mới không có khoảng cách tầng lớp. Mọi người đều ngưỡng mộ việc làm giàu – và muốn trở nên giàu có. Đây là một động lực rất lớn để tạo nên các công ty mới và của cải. Thậm chí ở các công ty của Mỹ, người trẻ có tiếng nói lớn hơn ở các cuộc họp, và sức trẻ của họ được định hướng để giúp công ty trở nên sáng tạo hơn.