Thứ Bảy, 28 tháng 3, 2015

Bình Tam Quốc: Lưu Chương mất Thục

Lưu Chương tự Quý Ngọc, con Lưu Yên, một trong các sứ quân hùng mạnh thời Hán Mạt cát cứ Ích Châu. Trong Long Trung Sách, Gia Cát Lượng cho rằng: Lưu Chương ngu hèn bất lực, do đó đặt mục tiêu cho Lưu Bị phải lấy Ích Châu chia ba thiên hạ.
Tuy nhiên, cần phải phân tích thêm nguyên nhân mất Thục của Lưu Chương. Kỳ thực, Lưu Chương không phải bất tài về quân sự. Trước khi Lưu Bị vào Ích Châu, Lưu Chương đã đánh dẹp được các tập đoàn quân sự lớn tại Ích Châu và các lực lượng của nhà Hán do Đổng Trác cử vào Ích Châu. Khi đó Lưu Chương có những biện pháp quân sự kiên quyết. Về mặt kinh tế, Ích Châu dân giàu nước mạnh, quân nhiều tướng khỏe, lương thảo đầy đủ, chắc chắn Lưu Chương cai trị Ích Châu không thua Lưu Bị, Gia Cát Lượng sau này. Về người tài, cả văn lẫn võ, Lưu Chương đều có đủ. Về tham vọng, Lưu Yên nhập Thục là đã có dã tâm cát cứ, cắt đường sạn đạo, sẵn sàng đối chọi với nhà Hán, tích lũy lương thực, tuyển binh tráng, chế tạo khí giới. Lưu Chương thừa kế cơ nghiệp của cha, không phải không muốn làm bá một phương. Bản thân Lưu Chương cũng là một người nhân nghĩa, biết thương dân. Khi Lưu Bị áp sát Thành Đô, binh lực, lương thảo của Lưu Chương vẫn còn đủ sức chống cự lâu dài, nhưng Chương nói "Ba năm chiến tranh, xương trắng đầy đồng, dân Ích Châu có tội gì, đều là lỗi tại ta chưa có ân đức gì với dân chúng." Điều đó thể hiện Lưu Chương biết nghĩ tới dân.  
Lưu Chương mất Ích Châu là do sai về phương lược, và thiếu tính chủ động cần thiết. Trong thời loạn, những kẻ sĩ dù giỏi và đã là chư hầu một phương nhưng lừng khừng, lười biếng, thiếu chủ động  như Công Tôn Toàn, Khổng Dung, Lưu Biểu,... đều thất bại. Bước đầu tụ thủ một phương, tích trữ thực lực, cắt đường sạn đạo, cắt rời Ích Châu khỏi Trung Nguyên là đúng. Nhưng áp dụng kế yên thân này mãi mãi, trong khi có nhiều kẻ nhòm ngó, mưu xâm chiếm như Tào Tháo, Lưu Bị lại là sai, không tính kế lấy tiến làm thủ thì cuối cùng "người là dao thớt, ta là thịt cá" để thiên hạ đến mổ xẻ.
Tín hiệu cho thấy là chính sách thủ một phương sai là ở việc để mặc Trương Lỗ xưng hùng ở Hán Trung. Trước đó mẹ Trương Lỗ, có nhan sắc, lại theo một tôn giáo mới, có qua lại giao thiệp với Lưu Yên. Do đó Lưu Yên để Trương Lỗ truyền bá tôn giáo Gạo tiến tới làm chủ Hán Trung với tư cách một chư hầu độc lập thuộc phạm vi cai trị của mình, trong khi đáng lẽ phải nắm lấy Hán Trung. Đây là một tâm lý lười biếng, nghĩ rằng dùng Lỗ làm bình phong chắn phương Bắc, để Lỗ lo việc cự Tào Tháo, nghĩ rằng mình sẽ không phải lo. Thực ra, xu thế sẽ là cá lớn nuốt cá bé để cuối cùng sẽ trở thành những tập đoàn lớn hơn. Nếu không biết nắm lấy thời cơ để trở thành một tập đoàn đủ lớn, sớm muộn cũng không thể tồn tại. Hán Trung vốn đã nằm trong tầm tay lại để vào tay Trương Lỗ, trở thành một ẩn số, không thể chủ động khống chế. Trong một thế cuộc hỗn loạn đã nhiều ẩn số, lại thêm một biến số không thế điều khiển, đó là sai.
Điều thứ hai, Lưu Chương lại dựa vào tập đoàn Đông Châu, là các lực lượng bên ngoài tới Ích Châu mà không nắm được tập đoàn hào mục Ích Châu. Nếu không nắm được thì phải cai trị bằng bàn tay sắt, rồi mới có ân huệ. Tuy nhiên, Lưu Chương lại thi hành một chính sách khoan dung, mà những kẻ được hưởng không hề biết ơn, trở nên kiêu căng phóng túng, không kiểm soát được, những kẻ sĩ đang đợi được trọng dụng, thay thế các quan chức cũ nằm trong tay hào mục,  như bọn Trương Tùng, Pháp Chính, Mạnh Đạt, Bành Dạng,... bất mãn.
Sai lầm trực tiếp là muốn dùng Lưu Bị để chống Tào Tháo, đó cũng là tâm lý lười biếng. Thực ra, kế sách này cũng không phải ngu dốt như La Quán Trung mô tả, mà là do cách thực hiện yếu kém. Khi đó, Lưu Bị đang không có đất cắm dùi, mới nắm được năm quận ở Kinh Châu với tư cách là mượn của Tôn Quyền, trong đó 3 quận phải dùng vũ lực để chiếm, không thu phục được quan dân, đe dọa bị mất bất cứ lúc nào. Thực tế, khi Lưu Bị vào Thục, Quan Vũ đã làm mất cả 3 quận này, do điều đình mới được Tôn Quyền nhường thêm cho quận Công An. Nắm được tâm lý đó, Lưu Chương muốn lợi dụng Lưu Bị để chống Tào Tháo, kể ra cũng không phải là không biết phân tích thời thế. Nếu thay vì hoàn toàn nhờ Lưu Bị, mà liên kết với Lưu Bị đánh Hán Trung, lợi dụng việc Lưu Bị đang khát chỗ ở mà lấy Hán Trung và tiến lên lấy toàn bộ Lũng (địa bàn sau này của Quách Hoài) và địa bàn của Mã Đằng Hàn Toại khi đó đã thất thế, tranh thủ mở rộng thế lực.
Sai lầm tiếp theo của Lưu Chương là không có chủ kiến, dễ bị ảnh hưởng bởi một số ý kiến lười biếng, hợp với tâm lý của mình, mà không chịu tiếp thu các ý kiến phải mất công, nỗ lực, khác với tư tưởng ngại khó của mình. Đã có tính cách lười biếng như vậy, thì không nên làm minh chủ, mà nên theo một người làm chỗ dựa vững chắc, làm một chức quan to, biết nghe lời là đủ. Khôn ngoan nhất vẫn là theo Tào Tháo, chắc chắn vẫn được làm thứ sử Ích châu. Sau này muốn vớt vát, thì theo Lưu Bị ngay từ đầu, không đến nỗi bị đày ra Công An. Cuối cùng, khi Tôn Quyền lấy Kinh Châu, Lưu Chương lại nhận chức Mục Ích Châu do Tôn Quyền phong mà không có một tấc đất Ích Châu, chẳng phải là lựa chọn ngu nhất hay sao.
Phàm là ở một vị trí nào đó trở lên, con người phải chọn giữa việc kiên quyết chủ động tiến lên hoặc lùi bước nương tựa vào một thế lực mạnh hơn, nếu thấy mình không đủ tư cách. Ví như Tào Sảng, nếu tiến lên một bước nắm lấy vua, hiệu triệu thiên hạ đủ làm Tư Mã Ý khốn đốn, gặp họa chu di tam tộc. Nhưng chí của Tào Sảng "chỉ làm một ông nhà giàu là đủ" để đến nỗi gặp họa diệt tộc. Nếu như vậy chi bằng ngay từ đầu, hùa theo Tư Mã Ý,  làm một chức đại tướng quân bù nhìn, rồi thoái lui làm Tam Công là đủ.
Chỉ tiếc thay cho những người kỳ tài như Hoàn Phạm, Trương Nhiệm đã đặt niềm tin vào những thủ lĩnh thiếu tính chủ động như Tào Sảng, Lưu Chương, chết mà không đáng.
Vì vậy, nói Lưu Chương mất Thục không phải do năng lực, tri thức và lực lượng mà là do sai ở tính thiếu chủ động, vì thiếu chủ động nên lười biếng, không có chủ kiến, lười biếng không có chủ kiến thì phụ thuộc vào người khác, nếu may, các đối thủ đều ngu thì có thể thoát, nhưng đụng vào Lưu Bị là tay kiêu hùng không thể thoát.

Thứ Ba, 24 tháng 3, 2015

Bình Tam Quốc: Chỉ có lên chứ không thể xuống một bậc

Đời Ngụy Chủ Tào Hoán, Tư Mã Chiêu ức hiếp vua, Ngụy chủ buồn bực mà làm ra bài thơ Rồng Lặn. Chiêu dặn Giả Sung: người này không tính sớm sẽ sinh chuyện. Giả Sung thưa: Tôi sẽ vì Chúa Công mà lo việc này.
Nhân có thiết triều, Tư Mã Chiêu đeo gươm lên điện. Ngụy Chủ run sợ. Quần thần đều nói: Nay Đại tướng quân công cao trùm thiên hạ, nên phong Tấn công, thụ cửu tích. Ngụy Chủ cúi đầu không nói gì. Tư Mã Chiêu quát: Cha con anh em tôi vì bệ hạ công lao không đáng Tấn Công sao. Ngụy Chủ nói: Đâu dám không nghe. Chiêu cười nhạt rồi lui.
Ngụy Chủ về cung buồn bực, bàn với Vương Kinh: Tư Mã Chiêu khinh rẻ thiên tử. Trẫm trước sau cũng bị hại. Chi bằng gọi thiên hạ cùng đánh nó. Bèn thu thập tả hữu được mấy chục người hò reo đánh trống, tiến ra cửa Nam để đánh Tư Mã Chiêu. Vương Kinh khóc: Bệ hạ đi chỉ có chết uổng thôi.
Giả Sung dẫn đầu quân ngự lâm gặp Ngụy Chủ. Binh lính đều sợ vua có ý chùn lại. Giả Sung hất hàm bảo Thành Tế: Ông Tư Mã nuôi các ngươi là dùng ở lúc này. Thành Tế vác kích đến trước mặt Ngụy Chủ. Ngụy chủ vừa kịp mở miệng mắng "Thằng thất phu to gan" đã bị Thành Tế đâm một kích xuyên người chết tại chỗ. Quân hầu chạy tán loạn. Vương Kinh mở miệng mắng Thành Tế giết vua cũng bị Tế giết chết.
Tư Mã Phu, ông chú của Tư Mã Chiêu, nghe tin, nằm gối đầu lên chân Tào Mao khóc: Bệ hạ bị thế này cũng là lỗi tại thần đây.
Tư Mã Chiêu gọi quần thần tới thương nghị thấy thiếu Trần Thái, bèn cho người đi gọi. Thái mặc áo tang vào khóc lóc thảm thiết. Chiêu hỏi Thái: Bây giờ nên làm thế nào. Thái nói: Bây giờ chém Giả Sung mới mong tạ tội với thiên hạ một chút. Chiêu hỏi: Liệu có xuống được một bậc không. Thái nói: Chỉ có thể lên chứ không thể xuống. Chiêu bèn ghép Thành Tế vào tội đại nghịch bất đạo, giết cả họ.
Mao Tôn Cương bàn: Ý Trần Thái nói Tư Mã Chiêu mới là thủ phạm chính. Ngày xưa, Triệu Chiên giết vua, Triệu Thuẫn còn ở trong triều, lại không giết Chiên, nên bị sử gia chép: Triệu Thuẫn giết vua. Khi Thuẫn trách quan thái sử, thái sử nói: Ngài là tướng quốc, cầm quyền lớn nhất, thân đang ở trong triều, Triệu Chiên là tay chân của ngài, giết vua làm sao ngài không biết, biết mà không trị tội Chiên, rõ ràng là ngài phải chịu trách nhiệm giết vua.  



Thứ Sáu, 13 tháng 3, 2015

Phiếm luận cuối tuần: Vòng tròn nhân quả và cách mở nút thắt Gordias của Alexander Đại Đế

Tìm ra mối quan hệ nhân quả (causality) là phương pháp tư duy quen thuộc để tìm hiểu thế giới. Giữa hai sự kiện hoặc hai sự vật, nếu có thể thiết lập một quan hệ nhân quả, một cái sẽ được xem là nhân, một cái sẽ được coi là quả. Nhân là cái có trước, sinh ra quả. Sư tồn tại của quả là tất yếu khi có nhân. Bằng cách đó, các nhà thông thái cho là giải thích được và tiên đoán được sự tồn tại của quả. Các nhà chính trị thích thú vì chỉ cần khống chế được nhân sẽ có thể nhào nặn quả như chơi đất sét. Trí thức được tưởng thưởng tốt hơn đám bình dân và có cơ hội gia nhập giới cầm quyền, chỉ để ngồi phát hiện ra các quan hệ nhân quả. Vận tốc đầu nòng súng và góc bắn là nhân, viên đạn bắn trúng đích là quả. Ném một người từ đỉnh Tháp Đôi New York, Tháp nghiêng Pisa hay Tháp Eiffel, bất kể sang tiện phú bần, tri thức, nhân cách, quan điểm ra sao đều có kết quả như nhau, và đều rơi với gia tốc trọng trường. Nhát cuốc trên cánh đồng bình thường hay trên Killing Field của Khmer Đỏ, đều tuân theo định luật Newton, có cùng phản lực và gây biến dạng tỷ lệ với xung lực. Khoa học và người sinh ra nó không có quan điểm, quan điểm và kết quả là do người dùng tạo ra. Động lực sử dụng tri thức lớn đến mức, nếu nó không được dùng cho một thế lực này, nó sẽ được sử dụng cho thế lực đối địch, giống như khương tuyến của chàng sĩ quan Hungari Feri được mời chào cho Nhà Thờ Chính giáo trước, nhưng rốt cuộc lại dùng để phá cổng thành Constantinople, thành trì của Chính giáo.

Không phải quan hệ nhân quả luôn luôn hoạt động tốt với tư duy con người. Nó cũng có thể lừa gạt con người, làm cho số phận của họ khốn khổ hơn. Ở đây, chúng tôi sẽ không bàn tới những tên bồi thông thái, chuyên tìm ra các mối quan hệ nhân quả giả tạo để kiếm chác và sẽ bàn tới các tính huống có vòng tròn nhân quả (causality cycle). Thực ra quan hệ nhân quả phần lớn chỉ có thể áp dụng được trong một giai đoạn nhất định, con gà là nhân đẻ ra quả trứng là quả chỉ trong giai đoạn con gà sinh ra và lớn lên đẻ trứng. Khi đã có quả trứng, đưa vào lò ấp và nở ra con gà con, đó lại là một giai đoạn với quan hệ nhân quả khác. Thói xấu của tư duy trí thức là tổng quát hóa, lấy kinh nghiệm cục bộ, áp dụng cho toàn thể. Cũng như đem tư duy Toán học áp dụng cho các vấn đề công nghiệp, đem tư duy triết học, chính trị bàn giấy áp dụng cho cuộc sống. Thành công của tính nhân quả là với các chu kỳ dài, thường là trong thế giới cơ học. Tuy nhiên có những trường hợp một quá trình diễn ra là một chuỗi liên tiếp quả và nhân đổi chỗ cho nhau. Điều đó rất thường xảy ra trong thực tế xã hội. Chẳng hạn, chúng ta hãy xem tính nhân quả trong việc một người nhân viên nói thẳng làm sếp nổi giận lôi đình. Có thể xem nói thẳng là nhân, lôi đình là quả. Nhưng thực ra, nếu sếp không có quyền nổi giận lôi đình, thì sẽ không có cơn lôi đình đó. Cơ chế của giận lôi đình không phải là xảy ra ngay tức thì và phát triển một cách tất định (deterministic) đến cao trào. Các nhà tâm lý đã chỉ ra cơ chế như sau, ban đầu sếp thấy hơi khó chịu, khó chịu sinh ra hơi giận, cơn giận đó lại gây là khó chịu hơn, khó chịu hơn sẽ gây giận hơn, và cứ như thế các vòng tròn khó chịu- giận sẽ xoay với tốc độ ngày càng tăng, nhân quả liên tục bị vi phạm để đổi vai với tốc độ ngày càng cao và bùng phát thành một cơn giận lôi đình. Nếu có cách gì chặn ngay vòng tròn đó lại thì sẽ không có cơn lôi đình. Con chó hung hăng sủa cũng bắt đầu từ tâm trạng sợ hãi, muốn trấn an sợ hãi phải hung hăng và sủa, Sủa hung hăng lại thấy sợ hãi thêm, lông gáy dựng đứng lên.
Các vòng tròn nhân quả trong thượng tầng kiến trúc đã gây ra những tranh luận rất tốn kém, "con gà -quả trứng", "vật chất-tinh thần", "văn học-cuộc sống", "nghệ thuật-nhân sinh". Cố công xác định cho được đâu là nhân là quả, thực là vô bổ, khi nhân quả chỉ là một vai trò có tính giai đoạn là một chức năng mà tư duy tạm gán để có thể giúp đỡ cho sự hoạt động của nó dễ dàng hơn, để suy luận, tư biện. Nhìn rộng ra, xã hội, cuộc sống hàng ngày, thế giới, vũ trụ có vô số vòng tròn nhân quả đang đánh lừa các tư duy thông thái sa vào vòng xảo biện, mất thời gian. Nhiều vấn đề rơi vào việc tranh luận nhân quả mà không bao giờ kết thúc tranh luận, không ai chịu ai, rồi phải dùng nắm đấm, súng ống, bom liều chết, vũ khí nguyên tử,... Vì vậy, trước khi bắt đầu một cuộc tranh luận, cần phải xem xét chúng ta có đang bị một vòng nhân quả đánh lừa hay không. Cố nhiên, trong phần lớn các trường hợp, các bên đều bị khóa chết vào vòng tròn đó, và có ảo giác là nếu vấn đề không ngã ngũ sẽ không làm được việc gì khác. Người ta thường nhầm tưởng xã hội tiến lên nhờ đấu tranh. Thực ra, đấu tranh là tất yếu khi xã hội tiến lên, nhưng khi đấu tranh thì xã hội sẽ dừng lại, thậm chí thụt lùi. Đấu tranh là cái giá phải trả chứ không phải động lực cho sự tiến lên. Đấu tranh là bắt buộc, nhưng không phải đấu tranh càng nhiều càng tốt, các xã hội chỉ biết đấu tranh không ngơi nghỉ là các xã hội chậm tiến. Tổ chức đấu đá quanh năm là tổ chức tụt hậu.
Alexander Đại đế, từ năm 333 trước Công Nguyên đã có cách giải quyết các tình trạng "tiến thoái lưỡng nan", "lang bạt kỳ hồ" cắt đứt vòng nhân quả như thế.
Tương truyền rằng, tại xứ Gordium, nhà vua Gordias đã để lại một cái nút thắt Gordias (Gordian Knot) với lời nguyền "ai cởi được nó sẽ có quyền lực bao gồm cả châu Âu và châu Á". Nhiều thế hệ trôi qua, rất nhiều người đã cố gắng nhưng không ai cởi được cái nút thắt  Gordias. Mùa Đông năm 333, nhà vua Alexander của xứ Macedoin, dừng chân lại Gordium và thử gỡ nút thắt này. Sau một hồi loay hoay không thành công, một tư tưởng vĩ đại chợt lóe lên, nhà vua tuốt kiếm chém nút làm đôi. Theo truyền thuyết, lời giải của Alexander làm Zeus chúa tể của các chư thần thích thú đến nỗi cầm lưỡi tầm sét vung lên lung tung. Suốt cả đêm đó trời đầy giông bão, sấm chớp ầm ầm. Chúa tể của chư thần đưa Alexander từ một công vương Macedoin hẻo lánh lên tầm Đại Để làm chủ cả hai châu lục.
Thông điệp của Alexander có thể bắt đầu chỉ đơn giản là "nếu ta không làm được cũng đừng hòng có ai làm được". Tuy nhiên, điều đó đã đưa đến một lời giải tuyệt vời, cho đến nay chúng ta vẫn còn phải học để chặt phăng nhưng vòng nhân quả vô tích sự kéo giãn bên này thì thít chặt bên kia. Cứ ngẫm mà xem, lời giải vung gươm chặt phăng những cái nút luẩn quẩn sẽ giải quyết vô khối vấn đề của cuộc sống do chính chúng ta tạo ra với ảo tưởng của mình.

  

EM TÔI Thơ của Huy Phương

Bài thơ của cha tôi gửi tặng cô tôi là nhà văn Thanh Hương

Thuở ấy miền Hương Ngự
Dịu dàng như một lá thư xanh
Một dòng sông xinh
Đôi bờ thông nhỏ
Có con đường ngát gió
Về Nam Giao bóng nắng chênh chênh.
Em tôi áo biếc hiền lành
Lòng vui bước rộn nhanh nhanh đường dài
Phấn thông tỏa xuống lưng đồi
Lòng em cùng với hương đồi lâng lâng
Em thích bóng trăng
Vờn trên trang sách ngỏ
Em thích nghe tiếng gió
Ngân dài trong đêm sương
Mùa qua dệt mộng bình thường
Lững lờ trong nhịp dòng Hương khoan hò.\
Nhưng rồi có một mùa thu
Nắng không vàng xao xác
Súng nổ, đô thành tan tác
Máu hồng hoen ố đường xanh
Hướng về núi Ngự chênh chênh
Mịt mù khói tỏa, dập dềnh súng ngân
Em tôi cũng lên đường
Một sáng mùa thu ấy
Trong tiếng gọi mười phương
Cả đô thành bừng dậy hiên ngang.
Mẹ già đưa tiễn bên nương
Ngùi ngùi tóc trắng, vương vương lệ sầu
Em cười: “Năm bảy tháng sau
Con về với mẹ, có sao mẹ buồn?”
Nắng vàng ngả bóng nẻo thôn
Em đi, bước rộn trên đường vui vui.
Rồi từ đấy xa xôi
Em ra miền Bắc Việt
Trập trùng cao núi biếc
Ngàn ngạn dải sương xanh
Bốn mùa áo biếc hiền lành
Em vui gian khổ, vui tình núi sông
Em mơ một thuở phản công
Trở về Hương Ngự miền Trung với mẹ già
Với trang sách nhỏ đơn sơ
Chiều chiều có bóng trăng mờ nghiêng nghiêng.
Đêm nay gió lạnh mênh mang
Em tôi có nhớ nẻo đường chênh chênh
Một mùa thông ngát màu xanh
Mai sau cờ đỏ rung rinh sao vàng.
                               Hà Tĩnh, 4.1950

SA MẠC Truyện ngắn của Huy Phương

Image result for Desert
Anh vừa ngồi vào bàn, viết được mấy dòng thì điện tắt. Cơ sự sẽ ra sao nếu sáng hôm nay anh không nộp được bài bình luận thời sự cho ông thư ký tòa soạn? Từ cửa miệng anh bật ra một tiếng nguyền rủa. Căn buồng bỗng tối như bưng. Anh rủa ai. Rủa cái anh nhà máy điện tùy tiện cửa quyền hay rủa số phận đã đem nhốt anh vào cái căn buồng không có cửa sổ này? Dẫu chỉ là viết một bản tin, việc đó cũng cần đến lòng say mê và cảm hứng. Nhưng có ai cần đến cảm hứng của anh kia chứ. Hai bàn tay anh sờ soạng trên cái mặt bàn ram ráp những vết mọt nhấm, giống như bàn tay một pháp sư lần tìm phép lạ. Cái bao diêm đây rồi. Một tia lửa bật lên vừa đủ hắt ánh sáng lên một cái thông phong đèn ám khói. Nhưng anh chưa kịp mừng rỡ vì cái điều may mắn đầu tiên trong một ngày thì từ phía ngoài sân đã nghe những chiếc xô sắt loảng xoảng va vào nhau và có tiếng hét bai bải của chị hàng xóm: Đứa nào trút xô nước của tao? Tiên sư cái con đĩ nào? Anh thở dài, ném que diêm xuống đất. Làm sao anh còn có thể quan tâm đến cuộc chiến tranh bên cái vịnh Ba Tư xa lắc ấy, một khi những cuộc chiến tranh vẫn cứ diễn ra hàng ngày, trong cái sân nhỏ kia, ngay trước cửa buồng anh.
Xứ Mêdôpôtami ở vùng Trung Á xưa kia vốn là một vùng đất phì nhiêu. Vậy mà do nạn phá rừng và khô kiệt nguồn nước, chỉ trong vòng mấy trăm năm, quá nửa đã trở nên một miền sỏi đá cằn cỗi. Hai hôm nay, kể từ lúc đi thăm ông bạn họa sỹ ấy trở về, không biết vì sao cái ý nghĩ về những vùng sa mạc xa xôi cứ luôn ám ảnh anh. Đã đến lúc, ngoài Đức ra, anh không có một người bạn nào khác trong cái thành phố này. Anh yêu Đức, chẳng phải vì những bức tranh của anh ta mà chỉ vì những gì anh trông thấy đằng sau những bức tranh ấy: một tài năng, một tâm hồn nghệ sỹ bẩm sinh. Chỉ có điều, luôn trong hàng chục năm trời này, Đức đã ra công cắt xén, nhào nặn tài năng ấy vào trong một cái khuôn tưởng tượng nào đó. Và tâm hồn anh, anh đã chà xát, vắt kiệt nó như một người thợ giặt tận tụy với nghề. Là bạn của Đức từ ngày còn trên ghế nhà trường phổ thông, từ những buổi đầu, khi Đức đang là một họa sỹ không có tên tuổi gì, anh biết rõ như thế. Nhưng thoạt tiên, điều ấy đối với anh mới đang là một linh cảm, một nỗi lo ngại mơ hồ. Hai ngàn năm trước Công nguyên, trên vùng đất Mêdôpôtami đúng là đã có một vương triều hùng mạnh, và năm trăm năm sau Công nguyên là cả một đế quốc cường thịnh. Sự suy sụp có thể là do một thái độ khinh suất đối với thiên nhiên, hoặc giả là lòng ham mê võ công và danh vọng đã làm hỏng tất cả. Còn đối với Đức, thì mọi biến đổi đã bắt đầu theo một lối khác. Những bạn bè gần gũi nhất của anh ở cái thành phố này hồi ấy hẳn vẫn chưa quên ba bức tranh sơn dầu ký tên Hoàng Đức, trưng bày ngay ở lối ra vào của phòng triển lãm tranh toàn quốc. Bức thứ nhất là một bức tĩnh vật và hai bức sau là hình ảnh của ngõ phố Hà Nội một chiều mưa với lối đi lầy lội, những gốc bàng già cỗi, những em bé nép bên vỉa hè ngước đôi mắt thơ ngây nhìn lên bầu trời, cả hai cùng một đề tài nhưng ở hai khung cảnh và sắc độ khác nhau. Báo chí nghệ thuật bình luận nghiêm khắc về ba bức tranh đó mà họ cho là đen tối về nội dung và suy đồi về phong cách. Thời kỳ đó, mỗi tác phẩm nghệ thuật, dẫu thuộc thể loại nào đều được xem như là một tuyên ngôn về chính kiến của tác giả. Hai bức “mưa chiều” mang ẩn ý bi quan của tác giả điều đó là khó chối cãi. Còn bức tranh tĩnh vật, chính vì nó từ chối không nói điều gì, nên ắt là một lời nói che giấu và đáng ngờ… Hoàng Đức thấy choáng váng vì bất ngờ khi đọc mấy bài báo ấy. Nhưng một con người như anh không chịu thất bại dễ dàng, sau một lần va vấp. Mình sẽ làm lại từ bước đầu tiên, Đức nói với anh như thế. Và quả thực anh đã làm, như anh nói. Anh mang giá vẽ lên Tây Bắc, lặn lội vào các tỉnh miền Trung, đến những nơi có chiến sự gay go nhất. Hai năm liền, gần như anh bặt tin, chỉ có vợ anh là thỉnh thoảng nhận được một lá thư, không có địa chỉ rõ ràng gửi về từ một nơi nào đó. Trên một trang giấy xé từ sổ tay ra, Đức nhắn anh một dòng ngắn ngủi: “Mình đang làm lại tất cả. Cuộc sống thật là lớn lao và đó là cái nguồn vô tận của nghệ thuật. Cậu hãy chờ xem những tác phẩm của mình”. Quả nhiên, cuối năm ấy, áp Tết, Đức đã trở về với những cuộn tranh bột màu, những phác thảo và ký họa, xếp đầy trong hai chiếc ba lô lớn. Căn nhà của Đức trở nên một phòng trưng bày suốt ngày nườm nượp khách ra vào, trong đó có đại diện quan trọng của các ngành văn hóa, những giáo sư mỹ thuật lão thành. Mọi người kinh ngạc trước hình ảnh mới mẻ và sống động mà tác giả đã ghi lại trên những tờ giấy như còn phảng phất mùi khói súng và cái màu nắng gió rực rỡ từ những dốc núi, bến sông, những công trường dã chiến trong hang đá. Anh cũng ngạc nhiên, nhưng với cái cảm giác bỡ ngỡ như chợt bắt gặp trên những bức tranh của bạn một con người khác hẳn, sắc sảo, tinh tường trên từng nét bút thật là khác lạ với người bạn họa sỹ mà anh từng biết lâu nay. Cũng không hẳn là như thế. Ở những ký họa chép lại một gương mặt thiếu nữ, một lối mòn gập ghềnh ven đồi, ánh đèn trong đêm hắt lên đôi mắt người lính trẻ, đây đó anh vẫn còn nhận ra cái sức rung cảm bí ẩn bắt nguồn từ một bản năng cảm nhận tinh tế và bộc trực nó vốn là cái nét tài hoa riêng biệt của Đức. Nhưng khi được bố cục thành những bức tranh thì tất cả đều mất đi, mà chỉ còn lại là những hình khối, mảng màu hướng về một ý định nào đó vừa chung chung mà lại vừa quá lộ liễu, làm tan biến hết những ấn tượng mạnh mẽ mà người xem vừa thấy nhóm lên khi nhìn vào tranh. Cảm giác ấy anh không thể nói với Đức. Vả chăng điều ấy phỏng có ý nghĩa gì? Sa mạc cũng có cái nét hùng vĩ riêng của nó. Và sỏi cát là cái gì, nếu không phải cũng chỉ là đất bị phong hóa, bị xói mòn mặt trời nung đốt hàng trăm, hàng ngàn năm mà hóa thân. Ai biết được xung quanh những thành cổ Babylon, một trong bảy kỳ quan thế giới, xưa kia đã từng có cuộc sống rực rỡ đến thế nào? Đức đã tìm thấy nghệ thuật trong lòng cuộc sống. Nhưng cuộc sống chỉ riêng nó phải chăng đã là cái khuôn của nghệ thuật? Đức không cần đặt câu hỏi đó vì anh tin vào tay nghề tài hoa của anh. Những năm sau đó, Đức vẽ tranh ngày một nhiều hơn, liên tiếp đi từ thành công này đến thành công khác. Bức sơn dầu “Bình minh rực rỡ” của anh, vẽ về nông trường chăn nuôi Tam Đảo được giải nhất trong cuộc triển lãm liên tỉnh. Bộ tranh thuốc nước “Ráng hồng” lấy đề tài từ một hợp tác xã đánh cá miền Trung được in lại trên các họa báo. Nhiều câu lạc bộ và cơ quan nhà nước đặt mua tranh của Đức. Các tờ báo hàng tuần và hàng ngày của thành phố coi như là một vinh dự được in tranh của Đức trên trang đầu vào những ngày lễ lớn. Anh hiểu Đức và mừng cho bạn. Người viết Thánh Kinh vẫn có thể là một nhà thơ lớn. Sự tích Phật tổ trên những bức phù điêu Ăngkovát là tác phẩm của những nghệ sĩ thực sự. Và Maia đã từng làm thơ về những chiếc đinh và thanh củi lò. Chỉ có điều, Hoàng Đức cứ mỗi ngày càng đi xa hơn. Anh sợ hãi cái lãnh đạm của dư luận. Anh sợ nỗi cô đơn và cái vắng lặng nhiều khi chính là dòng sữa thầm kín nuôi dưỡng những thai nhi nghệ thuật. Có nhà sử học nói những người Khơme xưa kia phải rời bỏ Ăngko vì nạn hạn hán đe dọa. Nhưng cũng có người nói đó chỉ là vì một nỗi sợ hãi bí ẩn, trong bước phát triển tột cùng của vương quốc. Để có những bức tranh tươi đẹp, Đức đã chưng cất tâm hồn anh thành một tinh dầu, một thứ nước thánh chỉ cần dùng cho các lễ hội. Cuộc sống rời bỏ dần những họa phẩm của anh, nơi đó hình ảnh cuộc đời và con người chỉ còn là đồ trang sức. Những năm về sau, hình như Đức cũng cảm thấy điều đó. Nhưng anh đã quá mệt mỏi để thay đổi. Cái công việc tự chưng cất mình đã làm anh kiệt sức. Và ở dưới đáy chiếc bình cất, qua năm tháng đã đọng lại nhiều tạp chất đục khoét cái cơ thể vốn không phải là khỏe mạnh của anh. Anh trở nên hoang tưởng. Anh đọc các bài nghiên cứu mỹ thuật và nổi giận khi người ta quên nhắc tới một bức tranh của anh. Anh mất ngủ nhiều đêm khi nghe một lời nói đùa vô tình của bè bạn. Anh nổi gai lên như một con nhím khi thấy báo chí tâng bốc có phần quá lời đối với một họa sỹ trẻ tuổi mà anh cho là bất tài. Rồi để khuây khỏa, anh lại vác ba lô lên đường. Nhưng những chuyến đi của anh cứ ngắn dần. Đức than thở là anh không vẽ được dễ dàng như trước nữa. Bởi vì, mình không thể lặp lại mình, anh nói thế. Chiếc bút vẽ của mình thì có hạn mà cuộc đời thì biến đổi quá nhanh. Đức đã gặp lại cô du kích năm xưa nay trở nên một cô mậu dịch viên đanh đá và tham lam. Người anh hùng lái xe hồi nào từng làm mẫu cho nhiều ký họa của Đức thì nay đang là một anh phó ty Giao thông trưởng giả và xảo quyệt. Thần thoại chỉ là vĩnh cửu trên những bức phù điêu, còn bên cạnh các kim tự tháp từ mấy ngàn năm con người đã tàn phá thiên nhiên, biến đất màu thành sỏi đá. Đức muốn con đà điểu rúc đầu trong cát. Anh cấm ngặt vợ con không nói đến chuyện giá rau, giá thịt trong bữa ăn. Mà không biết mỗi quả trứng, lá rau trên mâm cơm gia đình, vợ anh đấy thôi cũng phải xoay xở lo liệu bằng bao mưu tính. Mùa đông năm ấy bàn tay tài hoa của Hoàng Đức đã không thể giữ vững được bút vẽ. Anh là người đầu tiên nhận thấy triệu chứng căn bệnh của Đức mỗi lần đến chơi khi thấy Đức nâng chén mời nước anh mà run rẩy đến mức để nước sánh ra, lênh láng trên mặt bàn.

*
Cát còn có sức chảy dữ dội hơn nước nhiều lần. Người ta nói ở Ai Cập đã từng có nhiều thành phố cổ bị chôn vùi trong cát. Còn anh, hồi còn bé anh đã thấy ở bờ biển quê anh những đụn cát cao như núi mỗi ngày đêm có thể xê dịch hàng trăm mét và đã có những làng mạc bị quét đi dưới bước chân khổng lồ của cát. Nay thì cái ngôi nhà anh đang ở đây, giữa lòng thành phố, cũng đang có nguy cơ trở thành sa mạc. Khuôn sân vuông vắn xưa kia có hòn giả sơn, có chậu cảnh kê một dãy dài bên tường hoa nay chỉ còn là một mặt đất lát gạch, trơn nhão những rêu và rác rưởi mục nát trộn lẫn với nước xà phòng, nước gạo. Những viên gạch cũng chẳng còn nguyên vẹn. Từ hai tháng nay, những người sống quanh sân đã đào bới chúng lên để vét cống và tìm nguồn nước. Cái vòi nước công cộng bị bẻ cụt dần và nay thì người ta đang moi xuống mãi lòng đất để cưa, để cắt, để đục, hy vọng có thể làm bật lên cái dòng chất lỏng, thiếu nó thì cuộc sống không tồn tại trên trái đất. Sa mạc làm gì có chim muông và cá. Thậm chí cũng hiếm thấy có loài động vật nào ngoài lạc đà, các con vật thuộc bộ gặm nhấm và giống kỳ nhông mình đầy gai nhọn. Riêng ở Xahara, gần các ốc đảo, thỉnh thoảng người ta cũng nghe thấy tiếng rú của loài linh cẩu còn hung tợn hơn chó sói. Chiến tranh hàng ngày xảy ra trên cái sân con này. Và khi anh nhóm được lửa, nấu xong ấm nước thì tiếng la hét đã dậy lên bốn phía, tiếng tru tréo của đàn bà lẫn với tiếng giẫm chân thình thịch. Trên hành lang, không một ai động cựa. Trời đã đủ sáng để soi rõ những chuồng gà, chuồng vịt, những chạn ăn, những tủ bếp dầu kê ngổn ngang bên lối đi. Chị bác sỹ vừa đi xuất khẩu lao động ở Ăngôla về nửa năm nay, như thường lệ, vẫn ngồi đeo kính, trang trọng nhặt từng hạt thóc trong cái rá gạo nấu cơm sáng của chị. Xa hơn một chút, ông hàng xóm làm nghề phê bình văn học, gầy như một chiếc giá áo ở hiệu may, đang bình thản múa bài nhu quyền theo phép dưỡng sinh. Chị bác sỹ đã đủ giàu để trở nên keo kiệt và ích kỷ chẳng thiết để ý gì đến các bệnh tật của người đời. Còn nhà phê bình chuyên nghiệp kia, ông đã đủ thấm thía cái nghèo khó của nghề văn để chẳng thừa hơi quan tâm đến cái đúng cái sai trong những vụ tranh giành vì một xô nước trên cái sân gạch nhão này. Cũng như ở vịnh Ba Tư và nhiều nơi trên thế giới, chiến tranh cứ việc diễn ra và tự kết thúc, dẫu có ý kiến của Hội đồng Bảo an hay là không có. Vả chăng, ai mà can thiệp nổi vào một cuộc chiến tranh khi mỗi người đều có mang một cuộc nội chiến ở trong lòng. Giây lát đó, choáng váng vì những la lối, chính anh cũng đang bàng hoàng như trong một giấc mơ. Anh chỉ sực tỉnh, khi từ căn phòng ngay phía trước mặt, anh thấy nhao ra cái thân hình nhỏ nhắn của một người con gái. Trong chùm ánh nắng rọi chếch từ góc tường hoa sạt lở, anh thấy gương mặt tái nhợt của cô với đôi mắt đỏ ngầu bên dưới một mái tóc bù rối. Huệ! Anh chỉ kịp kêu to lên một tiếng thì cô gái đã lao vào giữa đám đông, chiếc gậy lớn trong tay vung lên. Chị hàng xóm to béo đứng ở góc sân trượt chân, ngã xoài về phía sau cũng là lúc cây gậy nện choang vào chiếc xô sắt, nước tung tóe lên giữa những tiếng hò la, chửi rủa. Ba bước chân, anh đã ở bên cạnh cô gái, tay níu chặt lấy hai vai cô. Huệ ngước lên, mắt đã dại đi, trắng dã, không còn nhận ra anh nữa. Bỏ tôi ra, giời ơi, ông có bỏ tôi ra không nào? Tiếng hét líu lại trên đôi môi tím ngắt, sít chặt thành một vạch rúm ró. Giống như tiếng gió rít qua một khe đá.

*
Anh dắt xe đạp ra sân, buồn bã. Một người nào đó cưỡi chiếc Honda đỏ chói vút qua bên cạnh anh, chiếc mũ lưỡi trai quay ngoắt lại; một tiếng quát chát chúa hắt vào mặt anh: Thằng già kia mù à? Mày đi thế hả? Không, anh không mù. Anh chỉ đang điếc và câm. Anh như đi trong một đám sương mờ dày đặc, giống như thứ ảo giác mà những kẻ lữ hành thường gặp trên sa mạc. Ừ, không biết Huệ, cô giáo nhỏ nhắn ấy có bao giờ xem tranh của Hoàng Đức không? Cô có bao giờ mơ ước đến một “Bình minh rực rỡ” hoặc trông thấy “Ráng hồng” giữa bầu trời? Cô chưa có người yêu và vẫn sống một mình trong căn phòng nhỏ ấy kể từ ngày ông bố góa vợ của cô trở về miền Nam. Cô ham đọc sách, bởi vì không đủ tiền mua sách, thỉnh thoảng cô vẫn sang hỏi mượn anh những cuốn mới nhất: Con tàu trắng, Trăm năm cô đơn và Cõi người ta. Cô đọc ngấu nghiến những cuốn tiểu thuyết đó, và khi anh dò hỏi cảm tưởng của cô, Huệ chỉ đỏ bừng mặt, đôi mắt long lanh. Một chiếc tàu lênh đênh ở chân trời, góc biển, những con người thân phận mỏng manh trong một làng xa Nam Mỹ, cánh bay giữa những vì sao và sa mạc: những chuyện đó đã đem gì đến trong cái tâm hồn đang khép kín của một cô giáo cấp hai? Anh biết sao được nơi cái khung trời chật chội phía trên mảnh sân lầy lội này, mỗi đêm ngồi bên chiếc bàn ghép bằng gỗ thùng, bê bết những vết mực xanh, mực đỏ, cô gái kia đã trông thấy những gì? Gương mặt của một kẻ tử vì đạo còn chưa tự hiểu mình kia có thể được ghi lại trong những bức ký họa nào của Đức. Và đó là gương mặt thật của Huệ hay là gương mặt của cô khi ngước lên nhìn anh với tiếng la hét và chiếc gậy trong tay? Con chó bông hiền lành nằm ở thềm nhà phải chăng có tổ tiên là chó sói. Con linh cẩu hung dữ vì bản tính hay chỉ vì nó sống lưu đày trên sỏi đá?
Anh tạt vào một quán cà phê bên đường. Bà chủ quán ngạc nhiên thấy anh gọi liền một lúc hai cốc cà phê. Ôi, sao lúc này anh thèm khát có một người bạn bên cạnh mình. Hai cốc cà phê đặt trước mặt giúp anh dịu bớt cái cảm giác cô đơn quay quắt, đến gần như nhục nhã. Dẫu sao, anh phải viết cho xong bài bình luận thời sự về cuộc chiến tranh vùng vịnh Ba Tư trước khi đến trụ sở, phải nhìn thấy gương mặt nhạt nhẽo và nghiêm nghị của ông thư ký tòa soạn. Viết cho xong, trước đôi mắt nghi hoặc của bà chủ quán có lắm nhẫn vàng, ngay trên chiếc bàn đầy vệt tàn thuốc lá và cáu bẩn này. Ước sao anh có được cái bình tĩnh của Đức mỗi lần anh ta khoác ba lô lên vai để lên đường và cái tự tin của anh ta nữa, mỗi lần đứng trước giá vẽ, ngày nào…
*
Hoàng Đức không khá lên được bao nhiêu sau ba tháng nằm bệnh viện. Anh uể oải ngồi dậy khi thấy bạn bước vào, tay chống lên những tờ tạp chí bỏ vương vãi khắp đầu giường.
Người mới tới ngồi vào chiếc ghế bành bên cửa sổ. Anh cố ý ngồi đó, để có thể ngắm nhìn Đức một cách kỹ lưỡng hơn. Đức có sắc mặt đỏ đắn hơn trước một chút, nhưng đôi mắt lại có vẻ mệt mỏi, thẫn thờ hơn.
- Thế nào? Đỡ nhiều chứ? - Anh hỏi, mắt vẫn theo dõi từng cử chỉ của Đức.
- Chẳng hơn gì! - Cái đầu của Đức khẽ lúc lắc trên một thân hình bất động - Vẫn nhức đầu, tức ngực và đau bụng từng cơn. Chỉ có điều, chắc là chưa thể chết.
Anh phì cười:
- Ờ, ờ, thì mình vẫn nói mãi với cậu như thế mà. Rốt cuộc thì mình vẫn là người chẩn đoán đúng nhất cho mà xem. Cậu chẳng có thứ bệnh tật nào giống như các ông thầy thuốc họ nghĩ ra cho cậu đâu.
Đức ốm lay lắt đã hơn một năm trời. Anh không muốn đi khám bệnh, một phần vì không tin, phần khác là vì anh sợ các bác sỹ sẽ nói lên cái sự thật mà anh muốn giấu giếm ngay cả với chính mình. Anh uống hầu hết các thứ thuốc những người quen biết mách cho anh. Thuốc đau gan, dạ dày, đường ruột. Và nhiều nhất là những liều thuốc an thần giúp anh ngủ được và khuây khỏa những cơn đau vô cớ cứ thường dằn vặt anh về đêm. Và khi đã cho anh uống đủ các thứ thuốc thì tuy không nói ra mà, kể cả vợ anh, mọi người đều nghĩ rằng anh đang mắc cái chứng bệnh hiểm nghèo mà cả loài người đều lo sợ, cái chứng bệnh nó là bản án tử hình đối với kẻ bất hạnh. Chỉ có riêng bạn anh, người đang ngồi trước mắt anh đây là chưa bao giờ tin như thế. Anh đến thăm Đức đều đều mỗi tuần, sau mỗi kỳ báo, nộp bài xong cho tòa soạn. Câu chuyện giữa hai người vẫn thế: những suy nghĩ, những băn khoăn bất tận về đời sống, về thời cuộc. Anh cố tình nói trêu chọc để khuấy động cái tâm trạng mỗi ngày một thêm u uẩn, giống như một lớp cặn xuống ngày một dày thêm trong con người của Đức. Anh muốn bạn mình có cảm giác là đối với anh ta, mọi sự đều bình thường. Nhưng cái công việc ấy mỗi ngày một thêm khó khăn. Trái ngược hẳn với bản tính xưa kia của anh, Đức trở nên ít lời, giống như anh đang thu mình lại, xa cách với mọi biến đổi ở xung quanh. Rồi ngay đến nghệ thuật cũng không làm anh quan tâm nữa. Ngồi trước mặt bạn, đôi mắt của Đức là đôi mắt của con người quay về phía bên trong, nơi đó là những dằn vặt, những cơn đau lặng lẽ, do một chứng bệnh mà không một ai, kể cả Đức có thể biết được. Ở bệnh viện, người ta đã soi quang tuyến, chụp hình từng ngóc ngách trong ổ bụng anh, thử máu hàng chục lần, làm sinh thiết gan, ruột, dạ dày, thử phân, nước dãi, sục tìm bất cứ nơi nào có thể nghi ngờ tìm thấy một khối u nào đó. Cái công việc vô hiệu ấy trong ba tháng trời ròng rã chỉ làm cho các đường dây thần kinh của Đức thêm rệu rã. Người ta lại trả anh về nhà sau khi đã bón thúc cho cái cơ thể suy kiệt của anh bằng một loạt các thứ thuốc tăng lực và sinh tố. Vợ con anh mừng rỡ. Bè bạn trong giới nghệ thuật đến tặng hoa mừng anh. Mọi người coi anh như vừa thoát hiểm trở về. Mà không một ai để ý đến đôi mắt thất thần, cái dáng đi thờ thẫn của người mộng du và gương mặt bì bì, bất động của anh. Ở sa mạc, khi con người uống hết giọt nước cuối cùng, bắt đầu trông thấy trước mắt hiện lên những hồ nước, những dòng sông, những thành phố lộng lẫy, đó là khi con người đó sắp lìa đời. Cái chết làm nên những ảo ảnh. Và ảo ảnh, đến lượt nó lại làm nên cái chết, ảo ảnh về một đế quốc thuần chủng đã tạo nên Hitle. Ảo tưởng đã từng một thời gieo rắc bao tang tóc lên đất nước Khơme cổ kính. Còn nghệ thuật khi nó rời bỏ cuộc sống thực, cũng có thể tạo nên những ảo giác nguy hiểm. Đôi mắt thất thần của Đức đã từng nhìn thấy ráng hồng ở nơi chỉ có màu xanh, và thấy tráng lệ, rực rỡ ở nơi chỉ có cuộc sống bình thường, hồn hậu. Căn phòng với bốn bức tường la liệt những bức tranh nhiều màu sặc sỡ vây quanh gương mặt của Đức lúc này, anh chợt thấy rờn rợn cái khung cảnh của một điện thờ. Và từ đáy lòng, anh thấy nhói lên một nỗi lo âu đến choáng váng cả đầu óc:
 Anh nói buột ra điều đó, như phải cất một gánh nặng. Như người thầy thuốc phải bấm một cái huyệt cốt tử trên thân thể người bệnh. Và anh trông thấy gương mặt của Đức tái nhợt đi. Anh ta đặt tay lên ngực, rên lên một tiếng khe khẽ. Rồi lập cập đứng dậy, nói như nói một mình: Muộn rồi, tất cả đều muộn rồi!- Này Đức, cậu có bao giờ hối tiếc là đã vẽ nhiều tranh đến thế không? Có bao giờ cậu nghĩ cho thật kỹ là những bức tranh như thế có lợi và có hại gì cho những người xem tranh của cậu không?
*
Anh đến cơ quan trưa hôm ấy, vẫn còn kịp gặp ông thư ký tòa soạn để nộp bài bình luận thời sự của anh. Các căn phòng đều đã vắng tanh. Chỉ có cô thường trực và cô y tá cơ quan đang ngồi ghếch chân lên chiếc bàn ở phòng khách, chụm đầu vào tờ tạp chí thời trang, vừa chỉ trỏ vừa cười rúc rích. Anh muốn tạt vào gọi điện thoại cho vợ Đức nhưng sợ làm phiền hai cô gái. Mốt áo quần quả là cái trò ngốc nghếch. Nhưng nói cho đúng, thời trang cũng như thời sự, nó lôi cuốn chỉ vì nó thay đổi hàng ngày. Trong đời anh, anh đã đọc kể có đến hàng ngàn bản tin. Chẳng ai nghĩ là nên làm một bộ tổng tập các bản tin. Nếu như thế, người ta sẽ có cả bộ biên niên sử khổng lồ trong đó dễ thường có đến quá nửa là sự tích những việc làm rồ dại nhất của loài người, có phải thế không nhỉ. Theo thói quen mỗi ngày, anh ghé vào phòng tư liệu, lật qua những bản tin nhanh đã được cặp lại thành từng tập. Tin mới nhất: ở thành phố X, quận 8, một cô gái vào nhà người yêu rút chốt lựu đạn. Lựu đạn nổ, cô gái chết ngay tức khắc. Toàn bộ căn nhà bị thiêu hủy. Ở tỉnh Y, cô Nguyễn Thị Loan 17 tuổi, tự thiêu vì không chịu nổi cuộc sống chung với người dì ghẻ khắc nghiệt. Không một ai trong khu nhà vào dập tắt ngọn lửa. Cũng ở tỉnh Y: cuộc chạm súng giữa một toán cướp và nửa tiểu đội công an đi tuần tra trên quốc lộ 4. Một đại úy cảnh sát hy sinh, ba tên cướp bị bắn chết tại chỗ. Ở Atlanta, bang Georgia, Hoa Kỳ: năm vạn tấn dầu chảy tràn xuống sông. Các đội phòng chống ô nhiễm đang làm việc 24 giờ trên 24 để cứu con sông. Ở Trieste, Italia: một nhóm khủng bố đặt mìn trong phòng đợi nhà ga. Hai mươi tám hành khách bị thương nặng và thiệt mạng... Chỉ trong một ngày đã có bao tin tức như thế trong nước và trên thế giới. Đầu anh thấy ong ong cái nắng oi ả của một ngày hè muộn và cả cái nóng từ những dòng tin giống như thứ gió lửa thường thổi qua các sa mạc Bắc Phi. Giữa lúc ấy, mái tóc đen nhánh của cô thường trực chợt nhô vào ở khung cửa: A, chú vẫn còn ở đấy à? Có điện thoại gọi chú gấp từ bệnh viện. Anh ném tập bản tin xuống bàn chạy vội theo cô thường trực. Ở đằng kia dây nói, anh nghe vẳng đến cái giọng nói hổn hển của vợ Hoàng Đức.
Với chiếc thẻ phóng viên, anh tìm đến được ngay phòng cấp cứu mà không gặp khó khăn gì. Vợ Đức ngồi trên chiếc ghế dài ở hành lang lưng gập xuống, hai gò má ướt nước mắt. Trong phòng bệnh, lố nhố nhiều chiếc áo choàng trắng xúm quanh cái giường sắt, mùi cồn, ête nồng nặc. Qua những vai áo, anh trông thấy đôi mắt nhắm nghiền của Đức, cái thân hình gầy gò, giống như thân hình trẻ con chỉ còn hơi phập phồng ở nơi vùng ngực. Mà thật lạ, trên gương mặt của Đức lúc này là một dáng vẻ điềm đạm, hồn nhiên, gần như ngây thơ mà anh đã trông thấy một lần nào đó. Đó là gương mặt của con người sắp lìa đời hoặc đang tái sinh, gương mặt mà anh đã bắt gặp ở Đức hơn ba mươi năm trước trong một lòng khe cạn bên chân dốc Ba Rền, Quảng Bình. Trong chuyến đi lần ấy của hai người, từ Bình Trị Thiên ra, cơn sốt ác tính đã quật ngã Đức ở giữa đường. Năm ngày liền, dưới một mái lán bỏ hoang, dột nát, anh đã nuôi Đức với ít nước cháo nấu bằng mấy lon gạo cuối cùng dành cho cả hai người. Anh đã cố gắng cứu Đức bằng một thứ củ rừng giống như củ sả có mùi thơm hăng hắc mà cho đến nay anh vẫn chưa biết là loại củ gì. Nhiều đêm giữa cảnh hoang vắng đến tê lạnh của núi rừng, anh chợt thức giấc, nghe những con thú đi ăn đêm sục tìm mồi ngay dưới chân mình mà kinh hoàng với cái ý nghĩ chỉ cần anh thiếp đi chốc lát thì lúc tỉnh dậy anh sẽ không sờ thấy bạn ở bên cạnh mình nữa. Vậy mà, hết ngày thứ năm Đức đã hồi tỉnh. Và hai hôm sau, gặp một đơn vị bộ đội đi qua, họ đã giúp cáng Đức đi theo và cũng kịp cứu sống chính anh, lúc này đã lả đi vì đói.
Dẫu thế nào thì những con người như anh và Đức cũng không thể chết được vì những chứng bệnh thông thường. Chiến tranh đã không giết được họ. Bây giờ, cuộc sống bình thường này cũng đang ấp ủ trong lòng nó một thứ chiến tranh khác, giữa những con người với chính mình. Họ sẽ không bị loại bỏ dễ dàng chừng nào còn chưa chịu là người thua trận. Ở ngoài hành lang, một vị bác sỹ trẻ tuổi đi đến trước mặt anh. Infarctus: anh ta nói khe khẽ và lắc đầu. Nhồi máu cơ tim ư? Hết dạ dày, gan, ruột, rồi lại đến tim, thật là đơn giản. Một người như Đức, nếu chết thì đó chỉ là do đã vỡ ra một cái gì đó trong sọ não mà thôi.
Trên chiếc ghế dài, vợ Đức đã có vẻ trấn tĩnh hơn khi nhìn thấy nét mặt thản nhiên của anh. Bao giờ cũng vậy, chị tin vào sự sáng suốt của bạn chồng mình hơn là ở chính anh ta. Chẳng biết vì sao lại thế!
Image result for sa mạc hóa
*
Anh trở về nhà, đèn đường đã bật sáng. Một vài nhà trông ra vỉa hè, ngoắc trộm được điện, sáng trưng ánh đèn, trong khi các căn hộ khác vẫn tối om. Nhưng mọi người đều có vẻ phấn chấn. Từ đầu ngõ, có tiếng râm ran. Có nước rồi! Có nước rồi! Từ ngày mai, cuộc chiến tranh có cơ hòa hoãn vì người ta đã tìm thấy được dầu hỏa trên sa mạc. Trong lòng đất, sau một ngày ra sức đào bới, đám thanh niên trong khu nhà đã khám phá được ống nước cái. Và bây giờ thì các cậu đang trổ tài cưa, đục. Trên cái sân con, gần như không thiếu mặt một ai. Chị hàng xóm béo tốt, bà bác sỹ chủ nhân của ba chiếc xe Cub, toàn thể gia đình bác thợ khóa với mấy cô con gái to mồm và đến cả nhà phê bình văn học khổ hạnh vẫn thường lạnh lùng quan sát xã hội để răn đe các nhà văn. Ánh đèn bão hắt lên trên những gương mặt thân thiện, hoan hỉ. Giờ phút đó có cái không khí hòa hợp, long trọng chưa từng thấy, đến mức làm cho anh không nén nổi xúc động. Ôi hạnh phúc và những gì làm nên niềm vui cho con người quả là hiếm hoi mà cũng giản dị làm sao.
Anh vừa thắp được ngọn đèn dầu, thì thấp thoáng trước cửa có bóng người. Hành lang đầy bóng tối nên anh chỉ trông thấy nửa khuôn mặt của Huệ chập chờn trong ánh đèn. Huệ dừng lại ở bậc cửa, có ý không muốn vào nên anh phải đi đến gần cô.
- Cháu mang mấy cuốn sách sang trả chú và cũng để xin lỗi chú - Cô gái nói bằng giọng bối rối.
- Có gì đâu - Anh cười vui vẻ - Những cuốn ấy tôi đã đọc rồi. Cô giữ mà đọc đến bao giờ cũng được.
Huệ cúi xuống, tay mân mê bìa cuốn sách như có vẻ suy nghĩ. Rồi chợt ngước lên với đôi mắt rầu rĩ:
- Không phải đâu ạ. Cháu xin lỗi chú về một chuyện khác… Sáng nay cháu đã không phải với chú, không phải với mọi người. Nhất là với chú...
Giọng cô gái nghẹn ngào, ấm ức. Và anh nóng bừng cả người khi trông thấy từ đôi mắt đã nhòa đi của cô gái, những giọt nước mắt trào ra.
- Kìa Huệ, làm sao thế? Cô có lỗi gì với tôi đâu?
Anh nói lúng búng, không biết là mình đang nói gì.
Huệ lắc đầu và như hơi lảo đảo, phải tựa mình vào khung cửa:
- Không ạ. Chú hiểu cho cháu. Cháu xấu hổ lắm. Trong đời cháu, cháu chưa bao giờ như thế. Cháu biết làm cách nào để chú có thể hiểu được cháu.
Và cô đặt vội mấy quyển sách lên mặt bàn, chạy vội đi.
Phải làm gì để cô gái ấy yên tâm. Phải nói gì để cô ấy hiểu rằng cuộc đời của cô còn rất dài và lầm lỗi của cô không phải là tội ác so với tất cả những gì đã xảy ra trong ngày hôm nay trên trái đất. Hơn nữa, cô đã hối hận. Lần thứ hai, trong một ngày, anh đã trông thấy những giọt nước mắt. Thế mà ngày nào, anh và Hoàng Đức vẫn thường mơ tưởng đến một thế giới mà đi đến đâu cũng chỉ thấy những gương mặt phớn phở và nghe thấy tiếng cười. Chừng nào trái đất còn tồn tại thì ngày ấy con người cần phải biết xấu hổ về chính mình. Còn riêng anh, ngày hôm nay, lẽ nào anh lại không có điều gì đáng phải ân hận? Anh đã không dám phá những ống nước cũng như không ngăn cản người ta đục phá những ống nước, trong cái thành phố cũ kỹ đã rệu rã khô kiệt vì nắng mùa hè này.
Tối nay, anh lại trở vào bệnh viện. Chưa bao giờ anh cảm thấy tính mạng của mình gắn liền với chính mình đến thế. Nhưng rồi liệu Hoàng Đức có vượt qua được không? Điều đó, lần này đã rõ ràng là chẳng còn phụ thuộc vào ý muốn của một riêng ai được nữa. Nhưng anh sẵn lòng tin, như bằng một thứ linh cảm, là có một điều tốt lành sẽ đến.
Đèn đã bật sáng trong các ngôi nhà. Từ trong các ngõ xóm anh nghe thấy tiếng cười reo của lũ trẻ con. Giờ này chắc là Huệ đã ngồi vào bàn, trước chồng vở học sinh của cô. Ngày mai, cô sẽ đến lớp và bắt đầu bài trí nhớ, hình ảnh của một con tàu lênh đênh, một cánh bay giữa các vì sao và mênh mông sa mạc.

Image result for Ốc đảo


Thứ Hai, 9 tháng 3, 2015

Giả thuyết về Thời gian Ma

Tôi thường liên tưởng tới Lịch sử như một dòng sông uốn khúc rất nhiều, len lỏi giữa hai dãy núi cao, che phủ bởi mây mù dày đặc. Cảnh tượng giống như vùng núi Pocono, giáp giới giữa hai bang New Jersey và New York, thuộc dãy núi hùng vĩ Appalachia. Trong lịch sử chứa đựng bao nhiêu là huyền thoại, thật giả xen kẽ mà có lẽ mãi mãi người ta sẽ không biết được thực hư.  Ai đã từng biết mỗi cây đại thụ và những cây nâm đã lớn lên và chết đi như thế nào. Chính dãy Appalachia đã là cảm hứng cho câu chuyện lãng mạn tuyệt vời về Rip Van Winkle lãng mạn về thời gian bị cắt mất. Lịch sử luôn có một sức cuốn hút mạnh mẽ, với những trí tưởng tượng, phục dựng lại những kịch bản khác nhau dựa trên các dấu tích còn lại. Lịch sử cũng là một cơ sở dữ liệu để kiểm chứng các chân lý thông thái, chiêm nghiệm cho những vấn đề có ích và thực tế hiện tại.
Một trong những đề tài liên quan tới lịch sử gây ấn tượng mạnh mẽ đối với tôi là Giả thuyết về Thời gian Ma (Phantom Time Hypothesis). Các tác giả của giả thuyết này, Heribert Illig, Hans-Ulrich Niemitz, và một số người khác, cho rằng giai đoạn lịch sử gần 300 năm từ 614 đến 911 thuộc thời Trung Cổ ở Âu Châu hoàn toàn không tồn tại. Nếu đúng như vậy, một loạt sự kiện lịch sử và cả vị Hoàng đế vĩ đại của đế chế Lã Mã thần thánh cũng không hề tồn tại. Theo một lý thuyết âm mưu, giai đoạn này được cho là Giáo Hoàng và/hoặc các Hoàng đế La Mã thần thánh và Byzantine ngụy tạo ra để tạo một thứ hào quang có tính ý thức hệ cho lịch sử. Thực là khó tin, nhưng sở dĩ các tác giả của Giả thuyết này có thể đưa ra một giả thuyết như thế cũng là nhờ Giai đoạn Trung cổ không để lại thư tịch và các bằng chứng xác tín về sự tồn tại. Giả thuyết Thời Gian Ma đã đưa ra rất nhiều bằng chứng đồ sộ. Ở đây chúng tôi chỉ lược thuật một số điểm chính, thú vị theo quan điểm cá nhân. 
Lý lẽ đầu tiên liên quan trực tiếp tới Lịch học, là một trật tự theo dõi của con người tạo ra. Ở phương Tây, từ năm 46 trước Công nguyên, người ta đã dùng lịch Julian, do chính Julius Ceasar ban hành, sau khi chinh phục Ai Cập, trên cơ sở cải cách Lịch La Mã dùng trước đó. Đến nay, người ta vẫn phải lấy làm kinh ngạc về độ chính xác của Lịch Julian. Khi hiểu biết về hệ Mặt Trời và các quỹ đạo tuần hoàn của Trái Đất, Mặt Trăng còn sơ khai, làm thế nào người ta có thể soạn được một bộ lịch về cơ bản là chính xác như vậy. Điều lý thú nhất là các vòng tuần hoàn của Trái đất quanh Mặt trời, chu kỳ tự quay của Trái đất quanh trục của chính nó, và chu kỳ của Mặt trăng quay quanh Trái đất không phải là bội số nguyên của nhau mà là những số lẻ. Do đó, Con người sinh hoạt theo ngày đêm, phải đo thời gian bằng ngày, khi quan sát Mặt trời, Mặt trăng và mùa màng phải chú ý đến Năm, là chu kỳ của Trái đất đi quanh Mặt Trời. Ngày nay, một học sinh tiểu học cũng biết để điều chỉnh phần số lẻ này, người ta dùng năm nhuận, cứ 4 năm một lần có một ngày 29/2, tức là người nào sinh vào ngày 29/2, bốn năm mới được mừng sinh nhật một lần. Tuy nhiên ít người biết, việc điều chỉnh số lẻ trong Lịch học bằng năm nhuận vẫn chưa hoàn hảo, vì phần số lẻ vẫn nhỏ hơn 1/4 ngày một chút. Tuy lịch Julian đã có năm nhuận, nhưng sau nhiều thế kỷ, phần số lẻ được tích lũy và làm các tiết khí hậu dịch chuyển rõ rệt.
 Dễ thấy và khách quan nhất là ngày xuân phân và ngày thu phân (equinoxes) là ngày có thời gian ban ngày bằng thời gian ban đêm. Điều đó gây khó chịu cho Giáo Hoàng Grigory XIII, khi ông thấy ngày lễ Phục Sinh ngày càng rời xa ngày xuân phân, trong khi lịch sử giáo hội đã ghi nhận lúc đầu, ngày Phục sinh rơi vào ngày xuân phân. Năm 1582, Giáo hoàng Grigory XIII ra lệnh cải cách lịch và ban hành lịch Grigorian. So với lịch Juilan, lịch Grigorian được điều chỉnh 10 ngày, ngày Phục sinh được điều chỉnh lại để rơi đúng vào tiết xuân phân.
Tuy nhiên, có một vấn đề là giữa lịch Julian và lịch Grigorian có khoảng thời gian là hơn 1600 năm. Theo kiến thức hiện nay của chúng ta về chu kỳ quay của Trái Đất  xung quanh Mặt Trời thì thời gian tích tụ từ số lẻ trong thiếu hụt hơn 1600 năm phải là hơn 13 ngày. Vậy 3 ngày còn lại đi đâu? Từ các quan sát và các nguồn thông tin khác, Heribert Illig đi đến ý tưởng cho rằng, Nhà Thờ đã ngụy tạo ra thêm gần 297 năm. Năm cải cách lịch Grigorian đúng ra là 1285, và năm Ất Mùi 2015 đúng ra mới là 1718. Heribert Illig còn đi xa hơn khi giả thiết rằng khoảng 297 năm từ 614 đến năm 911 sau Công nguyên chính là do các nhà sử học tuân lệnh Nhà Thờ bịa ra, với sự đồng lõa của các Hoàng đế Đông và Tây La Mã.
Bên cạnh đó, Heribert Illig còn tìm ra hàng loạt lý lẽ khác trong lĩnh vực kiến trúc, trong thư tịch của Hồi giáo để khẳng định kết luận của mình. Tất nhiên, cũng có rất nhiều lý lẽ phản bác Giả thuyết Thời gian Ma. Theo phong cách phương Tây, hễ đã định bàn chuyện gì là họ tìm hiểu đến nơi đến chốn, dù chống phá hay ủng hộ khác với kiểu bàn luận nhợt nhạt về lý luận, nhưng không thiếu trợn mắt, quát nạt, kết quả cứ vòng vòng như kiến bò miệng chén của Á Đông. Chẳng hạn là khi so sánh với các sự kiện trong lịch sử Trung Quốc, số liệu thiên văn học. Đáng chú ý, có một số học giả khác cũng có các giả thuyết tương tự, như Anatoly Fomenko, một nhà toán học Nga cũng đưa ra Giả thuyết về Trật tự thời gian mới (New Chronology) và còn đi xa hơn, cho rằng hơn 1000 năm bị mất tích.
Việc kiểm tra các giả thuyết này, dù là lý thú, nhưng đối với Việt Nam là quá xa xôi và không có nhiều ích lợi cụ thể. Tuy vậy, Lịch sử Việt Nam cũng có một khoảng Thời gian Ma trong triều đại của 18 vua Hùng, khi đối chiếu với Lịch sử Trung Quốc, kéo dài từ trước thời Tam Hoàng đến tận thời Tần-Hán kéo dài trên 2600 năm. Sự tồn tại của Thời gian Ma trong thời đại Hùng Vương không chỉ là một giả thuyết, mà có bằng chứng chắc chắn. Tuy nhiên, khác biệt ở chỗ không có nhiều quan tâm của giới học giả để giải đáp câu hỏi này. Lý do có thể ở chỗ ngay cả sự tồn tại của thời đại Hùng Vương cũng không hề có cơ sở rõ ràng. Có lẽ cần đặt câu hỏi câu chuyện về Thời đại Hùng Vương bắt đầu từ bao giờ? Có người cho rằng Sư Vạn Hạnh đã sáng tạo ra câu chuyện này để làm cơ sở pháp lý và ý thức hệ cho Đại Việt, khi Lý Thái Tổ lên ngôi. Gần đây có những thuyết mới về Hồng Bàng Thị thấm đẫm các học thuyết âm mưu và chủ nghĩa dân tộc. Các nghiên cứu mới nhất về ngôn ngữ Việt cổ còn lại trong các thư tịch cổ Trung Hoa gần đây cho thấy rằng các đoạn văn tự này phần lớn liên hệ tới ngôn ngữ Thái. Đó cũng là một cảnh tỉnh đối với cách nghĩ dân tộc chủ nghĩa Viet-centric. Chắc chắn vào thời Hùng Vương, việc có một nhà nước tập quyền phong kiến với triều đình gồm hai ban văn võ Lạc hầu, Lạc tướng trong một vương quốc được  tổ chức hành chính chặt chẽ với 15 bộ chỉ là tác phẩm của trí tưởng tượng. Tuy nhiên, có thể giả thiết rằng, sư Vạn Hạnh đã sáng tạo ra một thời kỳ dựa trên những câu chuyện thần thoại, huyền sử rải rác trong dân gian và còn lưu lại một chút ký ức về thời hoang sơ, khi mà khái niệm người Việt còn chưa thành hình. Dù thế nào đi nữa, có lẽ ví dụ về Thời gian Ma cũng điển hình cho cách tư duy người Việt, cảm tính, sốt ruột, coi thường mọi lý luận nhưng lại hay lý sự.

Thứ Tư, 4 tháng 3, 2015

THẾ GIỚI CỦA HUY PHƯƠNG - Nguyễn Ái Việt

Lời giới thiệu: Bài giới thiệu sau đây là bản gốc, hơi khác với bản cuối cùng đã đăng trong Tuyển Tập Huy Phương mới in trước Tết vừa qua. Bản đã được đăng trong Tuyển tập, đã được Nhà xuất bản văn học cố gắng sửa chữa vừa đảm bảo các ý tưởng chính vừa để độc giả bị phân tâm sang những nội dung khác. Tôi rất tán thành và cảm ơn Nhà xuất bản về điều đó. Bài gốc ở đây được post lại với tư cách một bài viết độc lập, không nhất thiết phải tập trung vào các mục tiêu của Tuyển tập. Những đã đoạn đã lược bỏ trong Tuyển Tập được viết dưới đây bằng màu đỏ.



THẾ GIỚI CỦA HUY PHƯƠNG
Nhà văn Huy Phương (1926-2009) là cha của tôi. Viết bài giới thiệu về cha, đặc biệt cho bộ tuyển tập, là kỷ niệm và tổng kết về một đời lao động sáng tạo của cha, là một việc chưa có nhiều người làm. Trước hết, tôi không phải là một người hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực văn học, cảm nhận về văn học của tôi đều chỉ có tư cách một độc giả bình thường. Mặt khác, đã có nhiều nhà phê bình, nghiên cứu viết về cha tôi, tôi không đủ kiến thức để có thể thêm bớt vào các công trình lý luận này. Cuối cùng, đánh giá về người thân thường không thuyết phục đối với người khác. Tuy vậy, lời giới thiệu trong một tuyển tập không cần thiết phải là một đánh giá đầy đủ về tác giả, càng không nên là một bài nghiên cứu lý luận. Nếu bài giới thiệu đó có thể cung cấp cho độc giả một số tư liệu về cuộc đời của nhà văn, người đọc sẽ có thể tự mình sử dụng nó như một chất gắn kết để sáng tạo ra các mỹ cảm mới khi đọc tác phẩm của nhà văn. Cha tôi là một nhà văn luôn tìm tòi những vấn đề mới, cho đến hôm nay vẫn còn là thời sự.
Bạn bè của cha tôi lúc sinh thời thường nói cha tôi là một người luôn nói say sưa không biết mệt với các ý tưởng. Các cuộc nói chuyện nhiều giờ, thâu đêm suốt sáng với cha tôi là những màn tra tấn thể lực thực sự với người nói và cả người nghe. Mẹ tôi thường phải nhẹ nhàng phân bua với khách: Anh Phương cứ như vậy thành ra cứ gầy mãi. Một lần đi nghỉ mát ở Trà Cổ, cha tôi nói chuyện với nhà thơ Xuân Quỳnh về thơ ca Pháp, suốt từ sau bữa tối đến khuya. Cô Xuân Quỳnh cho con nhỏ ăn xong rồi ru ngủ mà hai người vẫn còn nói chuyện. Không hiểu cha tôi hứng chí rung đùi thế nào mà cái giường gãy cái rầm, em họ tôi là Hương Giang chạy về hớt hải báo với mẹ tôi: Bác Phương làm gãy giường của cô Xuân Quỳnh. Hôm sau mẹ tôi nhẹ nhàng nói với cô Xuân Quỳnh: Anh Phương say mê mà không để ý cô có con nhỏ phải nghỉ sớm. Cô Xuân Quỳnh cười rất xinh nói: Anh Phương dạy em nhiều thứ hay lắm chị ạ.
Tôi còn nhớ một lần đi với cha ra đến cửa khu nhà 65 Nguyễn Thái Học, thì gặp họa sĩ Nguyễn Sáng đang đứng chống tay vào cột điện. Cha tôi hỏi Nguyễn Sáng về việc tìm ý tưởng để vẽ một tác phẩm tranh “loại nhất”. Nguyễn Sáng trả lời trong hơi men “Nghệ sĩ đã sáng tạo ra thì cái gì cũng phải loại nhất. Nguyễn Sáng đã vẽ tranh nào thì đều là loại nhất không ai bắt chước được, mà mình cũng không tự bắt chước được luôn. Cũng như sẽ không có ai viết được Xi măng như Huy Phương. Nếu nghệ sĩ không dám nghĩ là đang làm những tác phẩm loại nhất, thì thà đi cuốc đất còn hơn, đúng không, anh Huy Phương?” Cha tôi kể Nguyễn Sáng vẽ nhiều tranh bằng phấn trên nền nhà mà các bạn của ông hàng tháng không cho lau nhà và ông mê vẽ đến mức phải can báo cũ để vẽ vì giấy phát không đủ. Một lần Nguyễn Sáng nói châm biếm ở Hội Văn Nghệ về thị hiếu nghệ thuật của đám đông: Nếu để một gói đường và tranh Nguyễn Sáng cạnh nhau, người ta sẽ đạp lên tranh của tôi để cướp lấy gói đường. Cha tôi nói: Người nghệ sĩ sống theo cái đẹp lý tưởng như Nguyễn Sáng sẽ có cuộc đời vất vả. Nhà văn lại phải nói ra các ý tưởng của mình bằng lời nên sẽ càng hay gặp rắc rối.
Cha tôi chia sẻ rất nhiều quan điểm với nhà văn Nguyên Ngọc và là một trong những người ủng hộ, đọc trước góp ý kiến cho Đề dẫn tại Hội nghị đảng viên của Hội nhà văn năm 1979. Nhưng hai ông cũng đã từng có những tranh luận nhất định. Tại một hội nghị tại Đà Nẵng ngay sau ngày giải phóng, cha tôi phát biểu về đất nước “anh hùng và bất hạnh”, Nguyên Ngọc lên cố nắn lại là “anh hùng và đáng tự hào”. Mẹ tôi nói: Anh phải gặp, tranh luận thêm cho anh Nguyên Ngọc hiểu. Cha tôi cười: Không cần tranh luận, Nguyên Ngọc thông minh lắm, sớm muộn cũng sẽ hiểu, mà có khi cũng đã biết thừa rồi.
*
*        *
Nhà văn Huy Phương, tên thật là Nguyễn Huy Phương, lớn lên ở cố đô Huế trong một gia đình quan lại xuất thân nho học. Thân sinh là Nguyễn Huy Nhu, một danh sĩ xứ Nghệ, người làng Vạn Lộc, nay là phường Nghi Tân, thị xã Cửa Lò, tiến sĩ khoa Bính Thìn, làm quan với nhà Nguyễn đến chức Tá lý Bộ Lễ rồi bỏ quan về phát rẫy trồng ớt nuôi gia đình. Nguyễn Huy Nhu đỗ đạt sớm, năm 22 tuổi đỗ cử nhân, 29 tuổi đổ tiến sĩ, nổi tiếng tài hoa từ khi trẻ, nên có rất nhiều bạn vong niên, như Đinh Văn Chấp, Phan Bội Châu, Phan Võ, Tạ Quang Diễm,… Đặc biệt, với gia đình cử nhân Tạ Quang Diễm, cha của giáo sư Tạ Quang Bửu và nhà báo Tạ Quang Đạm, ông có một mối thâm giao suốt đời. Nữ sĩ Sầm Phố, vợ của cụ Tạ Quang Diễm kể với tôi là ông nghè Nhu đã cùng cả gia đình bà lênh đênh trên biển gần một tháng trong một lần đi thi ở Huế về gặp bão, nên thể làm bạn vong niên sống chết. Khi Phan Bội Châu bị giam lỏng ở Bến Ngự, ông nghè Nhu là một số ít bạn bè gần gũi đi lại. Ông nghè Nhu tuy là nhà nho, nhưng giỏi tiếng Pháp, đọc nhiều sách Pháp, nên có nhiều tư tưởng mới so với các bạn bè. Khi Phan Bội Châu khởi xướng phong trào Đông Du, ông tôi do đang có tang mẹ nên không đi được. Cũng chính vì thế mà ông bất đắc chí, bản tính cũng cao ngạo không chuyên chú vào việc làm quan. Cuộc sống riêng của ông nghè Nhu cũng nhiều trắc trở. Người vợ đầu mất rất sớm để lại một người con trai là Nguyễn Huy Sương, sau này là Ủy viên giáo dục, tương đương với Giám Đốc Sở Giáo dục, đầu tiên của chính quyền nhân dân Tỉnh Quảng Bình và một người con gái là Nguyễn Thị Ái Khanh. Người vợ thứ hai là bà Nguyễn Thị Tú, quê ở Hội An, Quảng Nam, sinh ra cha tôi, Nguyễn Huy Phương, nhà văn Nguyễn Thanh Hương và một người cô nữa là Nguyễn Thị Vân Hòa. Bà nội tôi không may cũng bị bệnh mất sớm, khi cha tôi mới 7-8 tuổi, cô Hương và cô Hòa đều còn rất nhỏ, chưa biết buồn mất mẹ. Cha tôi kể lại: Ông tôi thường dậy sớm, khoảng 4-5 giờ sáng, tự tay nấu trước pha trà mời vợ, rồi ngâm thơ đến sáng, giọng tốt hiếm có. Bà tôi cũng vấn khăn, mặc áo dài chỉnh tề, ngồi ngay ngắn hầu trà chồng, rất tương đắc. Sau khi bà tôi mất, ông tôi vẫn giữ thói quen đó, nhưng vừa uống trà ngâm thơ cô đơn một mình vừa chảy nước mắt. Cha tôi học thuộc các bài thơ và học được cả giọng ngâm thơ của ông tôi, một giọng ngâm thơ cổ rất lạ, trở thành tài lẻ của ông. Sau này không có ai biết giọng ngâm đó, kể cả các nghệ sĩ ngâm thơ nổi tiếng như Châu Loan và Trần Thị Tuyết. Một vài lần ca sĩ Tân Nhân đến nhà để cha tôi dạy cho ngâm một số bài theo giọng cổ để làm bài tủ.
Ông nội tôi đặc biệt chăm sóc cưng chiều cha tôi, như muốn bù đắp cho đứa con mất mẹ sớm. Cha tôi thích triết học, văn học, học trường Quốc học và có Tú Tài bán phần về triết học. Những ngày nghỉ cha tôi thường cùng bạn bè lên Ngự Bình hay Thiên An ngắm đất trời và bàn chuyện triết học, văn chương. Huế của thời đó yên tĩnh, phẳng lặng, phảng phất buồn. Những con đường dập dìu người xe ngày nay như ở Nam Giao, Tây Lộc, Kim Long, Vĩ Dạ, ngày đó vắng tanh như những làng quê, đi suốt con đường không gặp một bóng người, chỉ thấy thấp thoáng những tà áo dài trong vườn. Huế ngày đó, có một bầu không khí nửa hư nửa thực của Phấn Thông Vàng, của tia nắng vàng chiếu xiên trong vườn hoang, lóa màu áo trắng của nàng thiếu nữ Vĩ Dạ, của tiếng chuông chùa Thiên Mụ, của tiếng mưa đều đều rả rích “thối đất thối trời”. Sống trong một bầu không khí như vậy, có mấy chú học trò không tập làm thơ và ôm mộng văn chương. Cha tôi đến với cách mạng từ thời Tiền Khởi Nghĩa, đơn giản chỉ vì đọc một cuốn sách của Plêkhanốp, say mê luôn các lập luận triết học trong đó. Rồi Huế khởi nghĩa, vua Bảo Đại thoái vị. Cha tôi trở thành Ủy viên Chính trị của Tự vệ chiến đấu Thành Huế, đeo súng, kiếm, đi ngựa, đọc nhật lệnh trước cả tiểu đoàn, năm mới 18 tuổi, nghĩ cuộc đời ở phía trước thật là đơn giản, sáng lòa. Nhưng rồi, Tây đánh vào Huế, bộ đội chủ lực ta đã rút hết từ trước ra chiến khu Hòa Mỹ, tự vệ chiến đấu đã anh dũng quyết tử bảo vệ thành Huế, giành giật với Tây từng góc phố. Nhưng rồi, Huế lại thất thủ một lần nữa trong một cuộc chiến không cân sức. Cha tôi chia tay ông nội và cô Vân Hòa còn rất nhỏ, cứ khóc đòi đi theo anh, dứt áo ra đi, không ngờ biền biệt mấy chục năm. Năm 1975, khi cha tôi trở về, gặp lại anh trai, cô tôi lúc đó đã có bốn mặt con, níu áo cha tôi, bật khóc tủi thân: Anh ơi, cậu mất rồi. (Ông tôi mất từ năm 1962, trước đó đã mười mấy năm).
Trên đường ra Bắc, tại Quảng Trị, cha tôi còn phải chia tay với một người bạn gái, cùng tham gia cách mạng với ông từ sớm. Người bạn gái này hứa với cha tôi trở về thành sẽ cố học tiếp thành tài, chăm sóc ông nội tôi và đợi cha tôi trở về. Cha tôi trao cho người bạn khẩu súng ngắn tùy thân. Hai người lúc đó đều không ngờ sẽ đi trên hai con đường, ngày càng xa nhau mãi mãi. Trong chuyến đi này, cha tôi đã viết một số ký sự và một số bài thơ về tự vệ chiến đấu anh hùng của Huế, một số hình ảnh làng xóm bị giặc chiếm, nỗi nhớ gia đình và thành phố quê hương. Đặc biệt là bài thơ Em tôi, gửi em gái là nhà văn Nguyễn Thanh Hương, có nhiều kỷ niệm đẹp về Huế, đúng tâm trạng nhớ nhà của lớp học sinh Huế theo cách mạng, nên được nhiều người nhớ, truyền miệng.
Ở Nghệ An, cha tôi vào quân giới, cố công học và lấy được bằng Phó Kỹ Sư với một chuyên gia người Đức theo cách mạng có tên Việt Nam là Hồ Chí Thọ. Ông Hồ Chí Thọ, nhiệt tình dạy nhưng đòi hỏi các học trò phải làm việc cật lực, nhiều người như nhạc sĩ Trần Hoàn, vốn tính nghệ sĩ, ưa thoải mái, phải bỏ giữa chừng. Rồi cha tôi chuyển sang công tác Đảng, là bí thư Liên Chi bộ gồm 18 Chi bộ Đảng quân giới Khu Bốn. Trong thời gian này, cha tôi đã tham gia Văn nghệ Khu Tư với những người bạn thân như Trần Hữu Thung, Vĩnh Mai, Lưu Trọng Lư, Trung Anh, Nguyễn Anh Tài,… Nhà thơ Trần Hữu Thung là người bạn thân nhất của cha tôi. Hai ông đi đâu cũng có nhau, thân đến nỗi sau này về đến Hà Nội, cha tôi và bác Thung vẫn còn tiêu tiền chung. Nhuận bút tập thơ Gió Nam của Trần Hữu Thung là để mua sữa nuôi tôi. Nhuận bút tập Những Ngôi Sao đỏ của Huy Phương là để lo đám cưới cho bác Thung và cô Thanh Lan. Vào khoảng thời gian bác Thung viết bài Thăm Lúa, cha tôi cũng có bài Anh hoe Tân về nghỉ phép được rất nhiều người thuộc và đem biểu diễn, độc tấu tại rất nhiều buổi liên hoan, trở thành bài tủ của nhà văn Phùng Quán và nhà thơ Thanh Tịnh. Hai bài này đều theo giọng xứ Nghệ, nhưng bài Thăm Lúa có giọng Nghệ An rõ hơn, trong khi “anh hoe Tân” có nét phảng phất giống nhân vật trong phim “Bài ca người lính” của Liên Xô, sau này được chiếu ở Việt Nam. Bài thơ Gửi người bạn hôm qua cha tôi viết sau khi nhạc sĩ Phạm Duy trở về thành, là những tình cảm rất nhân bản, xúc động, đánh giá cao những đóng góp của Phạm Duy, tiếc nuối, có phần hơi khác với phong cách đánh giá, kết tội đối với những người bỏ hàng ngũ của các bộ phận tuyên huấn và tổ chức thời bấy giờ.
Năm 1953, cha tôi xin thôi công tác Đảng, chuyển hẳn sang làm văn nghệ, ra Việt Bắc và khi hòa bình lập lại đã tham gia thành lập Hội nhà văn Việt Nam với tư cách là hội viên sáng lập. Cũng trong khoảng thời gian này, ông xây dựng gia đình với mẹ tôi, Thái Thu Lan, một cựu nữ sinh trường Đồng Khánh, Huế, khi đó đang là cán bộ Tuyên huấn và Địch vận của Trung Đoàn 57, sư đoàn 304. Đám cưới của cha mẹ tôi được tổ chức trong vùng kháng chiến Nghệ An. Nhà thơ Lưu Trọng Lư làm chủ hôn, cô dâu mặc áo cưới may bằng vải dù chiến lợi phẩm. Đêm tân hôn, hai bác Vĩnh Mai và Phương Chi phải nhường phòng uyên ương cho cha mẹ tôi. Khi cô dâu vào phòng tân hôn, gặp ngay một con chuột, hoảng hốt ngã bươu trán. Trong đám cưới, các nhạc sĩ như Nguyễn Văn Thương, Phan Thanh Nam, Văn Ký biểu diễn văn nghệ, nhạc sĩ Sĩ Ngọc trang trí hội trường, các nhà thơ như Lưu Trọng Lư, Trần Hữu Thung, Vĩnh Mai đọc thơ làm quà mừng. Một đám cưới đơn sơ thời chiến nhưng thực là hiếm có về giá trị tinh thần. Sau này ở Hà Nội, cha tôi cũng hay dẫn tôi tới thăm các bác Vĩnh Mai và Lưu Trọng Lư. Nhà thơ Vĩnh Mai còn có bút danh là Búa Tạ, vốn là một chiến sĩ cách mạng lão thành, trải qua nhiều nhà tù của Thực dân Pháp, là bí thư Thành ủy Huế từ năm 1945. Tính tình cương trực, lại thêm tính châm biếm mỉa mai rất sắc nhọn, bác Vĩnh Mai hợp tính với cha tôi, mặc dù ăn nói rất “xóc óc”. Mỗi lần gặp nhau là cha tôi và bác Vĩnh Mai chuyện trò râm ran, hai ông đều gầy tóp vì mải nói và suy tư. Bác Vĩnh Mai và bác Phương Chi không có con cái, nhưng là một cặp trời sinh, sau này cùng về an nghỉ trong một mộ ở Huế, đúng là cái kết có hậu của một chuyện tình đẹp.
*
*       *
Hòa bình lập lại, cha tôi về Hà Nội, làm việc ở Ban Đối ngoại, Hội Nhà Văn với nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, rồi về Báo Văn với các nhà văn Nguyên Hồng, Nguyễn Công Hoan. Cha tôi trẻ, hăng hái, rất giỏi ngoại ngữ, nên được các bác yêu mến và tôn trọng. Trong thời gian này, cha tôi sang tác được một bộ các bài thơ chính luận đặc sắc nhất gồm các bài Nhật ký Đêm hè, Bài thơ trên mộ cũ của người cộng sản,… Các bài thơ này viết theo lối bậc thang, và các ý tưởng táo bạo, tràn ngập sinh lực, đến hôm nay đọc vẫn thấy còn nguyên giá trị, làm người đọc phải suy nghĩ. Cha tôi nói rằng, thơ chính luận làm theo lối bậc thang sẽ có hơi thở mạnh mẽ và có sức gợi mở tư duy hơn. Loại thơ quá vần điệu, theo niêm luật cũ kỹ thường thích hợp với hoài cổ và chức năng tuyên truyền hơn. Cha tôi kể: Hồi đó nhà thơ Tố Hữu còn ở phố Tôn Đản gần nhà tôi ở phố Ngô Quyền. Tối đến, cha tôi đi bộ lại sang nói chuyện làm thơ với Tố Hữu, vì nhà thơ là đàn anh vừa là đồng hương. Cha tôi lúc đó đang thể nghiệm làm lối thơ bậc thang, viết được bài nào cũng đem ra đọc cùng với Tố Hữu. Tố Hữu khi đó cũng muốn học làm thơ bậc thang, theo gương Maiakốpxki, nên rất thích mấy bài thơ chính luận của cha tôi, khen cả về nghệ thuật và ý tưởng. Sau thử nghiệm không thành công thể thơ bậc thang, Tố Hữu cảm thấy loại thơ này không hợp với mình, nên đã quay lại với các loại thơ thất ngôn, lục bát, tứ tuyệt, quen tay và thuận tiện hơn đối với việc diễn đạt các ý tưởng của mình. Sau này, khi cha tôi bị một số người phê phán vì các bài thơ bậc thang, Tố Hữu im lặng, không hề nhắc là đã từng tán thưởng các bài thơ đó thế nào.
Nhật ký đêm hè là một bài thơ hay và gần gũi nhất đối với tôi, vì nó được viết để gửi về tương lai cho tôi, lúc đó còn nằm trong nôi. Bài thơ sôi nổi như tính cách của cha tôi, đã dự báo về những tiêu cực của xã hội nhưng cũng lạc quan kỳ lạ, đến nỗi mấy chục năm sau đọc lại tôi phải nhiều lần rơi nước mắt vì thương cha. Bài thơ viết trên mộ cũ, có thể nói là bài thơ hay nhất của cha tôi, nói về những bầy dơi đang bay chập choạng kiếm ăn khi tranh sáng tranh tối, mang hình người, đeo thẻ ngà, lợi dụng tên tuổi của những người cộng sản anh hùng đã dấn thân lên đoạn đầu đài, làm thang làm bậc công danh, làm quan tòa giảng đạo, kết tội những cặp tình nhân yêu nhau,…Bài thơ cũng có những hình ảnh rất lạc quan về những anh cán bộ thức đêm làm kế hoạch xây dựng các công trình cho tương lai tươi sáng đang chờ thế hệ của chúng tôi.
Gần đây tôi đọc được một bài phê bình của nhà văn Tô Hoài về bài thơ này, trong kho tư liệu về phong trào Nhân Văn Giai Phẩm. Cách viết của Tô Hoài thật là thâm thúy, chê đấy, nhưng qua giọng văn thấy rõ là chê qua loa cho qua chuyện, cho vừa ý một số người đang nắm quyền sinh sát văn nghệ sĩ, trong bụng vẫn là khen. Cha tôi thường không gần gũi lắm với lãnh đạo Hội Nhà Văn, nhưng cha tôi đặc biệt kính trọng bác Nguyễn Huy Tưởng như một người anh, và riêng với bác Tô Hoài, cha tôi rất thông cảm và quý trọng, cho đó là một người biết khéo léo giữ gìn được phẩm cách trong chốn quan trường.  
Trong thời gian này, cha tôi đã viết một số truyện ngắn hay như Đêm Cuối Năm của nhà thơ họ Đỗ, Nàng Xuân,… nói về tâm trạng băn khoăn, khắc khoải của người nghệ sĩ trong những xáo trộn xã hội lớn thời bấy giờ như Cải tạo Công thương, Cải cách ruộng đất, đặc biệt là với những thói hư tật xấu, tệ sùng bái cá nhân, mưu đồ danh lợi bắt đầu nẩy nở. Văn nghệ sĩ là những người mẫn cảm, đã có những dự cảm không lành từ rất sớm. Sau này cha tôi kể rằng Nhà thơ họ Đỗ ban đầu định theo mẫu của nhà thơ Khương Hữu Dụng, nhưng khi viết lại có bóng dáng của nhà văn Đỗ Quang Tiến hiện rõ nét, một người hết sức hiền lành, ít nói. Vả lại, nếu đặt tên truyện là “Nhà thơ họ Khương” thì lại thành truyện “người thật việc thật” ai cũng sẽ dễ dàng đoán ra nguyên mẫu. Riêng tôi, tôi khi đọc truyện này, lại có cảm giác như viết về nhà văn Nguyễn Thành Long, bạn văn gần gũi của cha tôi ở Hà Nội, một người hiền lành, hay bị chèn ép, luôn luôn suy tư và hay dằn vặt về thói xấu của cuộc đời.
Hai truyện ngắn này, tuy cũng in trong Giai Phẩm, nhưng còn khá hiền lành so với các bài thơ bậc thang. Đêm cuối năm của nhà thơ họ Đỗ, do họa sĩ Bùi Xuân Phái vẽ tranh minh họa, nói về một nhà thơ không khai bút nổi vào dịp đầu năm, do tâm trạng rối bời. Ngày nay đọc lại, chúng ta có thể thấy được tâm trạng chung của trí thức trong giai đoạn phân vân đó. Câu chuyện giản dị, hầu như không có cốt chuyện, gần như là độc thoại nội tâm, nhưng đọc rất cuốn hút, phảng phất phong cách của Hemingway trong Ông già và biển cả. Có lẽ sau này, cha tôi dịch rất thành công Ông già và biển cả do có một giao cảm sâu sắc với văn phong của Hemingway. Nàng Xuân kể câu chuyện một chàng thi sĩ đi tìm Nàng Xuân, là một cô gái đẹp theo nhận thức của loài người. Nhưng sau bao công tìm kiếm, chàng thi sĩ hoàn toàn thất vọng khi Nàng Xuân là một bà già khô cằn, xấu xí. Câu chuyện nói về sự vỡ mộng của người nghệ sĩ lãng mạn đối với thực tế phũ phàng trong cuộc sống. Văn phong câu chuyện này có nét hóm hỉnh của cha tôi. Đọc lại, tôi vẫn như nhìn thấy ánh mắt linh lợi của ông cười cười nhìn người đọc, cố dấu một nụ cười thú vị. Sau này, trong những tác phẩm của ông cũng rất nhiều hình ảnh hóm hỉnh, như một anh cán bộ tổ chức ngành Bưu điện, kể về tên “phản cách mạng Trốt kít hạng nặng” Suez, đầu sỏ của vụ kênh đào Suez, hay hình ảnh chú bói cá trầm tĩnh như một nhà hiền triết, khi thấy lợi lộc luôn trở nên nhanh nhảu, sau khi đớp được mồi lại lấy lại vẻ hiền triết, không màng lợi ích. Trong cuộc sống, cha tôi luôn luôn có rất nhiều các quan sát và nhận xét sắc sảo trào lộng như thế. Ông cho rằng trào phúng chính là tư duy của nhà văn, cần phải được rèn luyện thường xuyên. Có lần ông hỏi tôi: con người hơn con vật ở chỗ nào là rõ ràng nhất. Tôi nói là tình thương và tư duy. Ông nói con vật chắc chắn cũng có tình thương và không có gì chứng tỏ con vật không có tư duy. Nhưng có điểm chắc chắn, con vật không biết cười, mà chỉ biết khóc. Triết gia Pháp Henri Bergson đã viết một tác phẩm nhan đề Cái cười, nói về tính trào phúng, như một điểm khác biệt của con người. Trong tiếng cười có văn hóa đã bao gồm cả tình thương và tư duy.
Cũng trong giai đoạn này, Huy Phương cũng có một số bài tiểu luận về lý luận văn học, tiếp theo các ý tưởng chủ đạo đã có trong bài lý luận Tương lai văn nghệ Việt Nam viết từ thời mới khởi nghĩa đăng trong Tập san Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác Thuận Hóa. Trong số đó, có bài Phê bình và đả kích, một mặt của chủ nghĩa hiện thực xã hội đăng trên báo Văn nghệ, năm 1956, bênh vực các nghệ sĩ mạnh dạn mô tả mặt trái của xã hội, và vạch rõ ranh giới với việc đả kích cá nhân, chụp mũ tư tưởng đối với các nhà văn dám dũng cảm nói lên sự thật. Mà oái oăm thay việc đả kích cá nhân cay độc lại rất thịnh hành trong một xã hội không dám đả kích những mặt trái hồi đó.
*
*     *
Sau năm 1960, cha tôi thôi không làm thơ, tập trung hẳn vào văn xuôi. Sau này khi tôi sắp vào đại học, ông nói với tôi: Thơ phải nói thực cảm xúc và ý nghĩ của mình, sẽ khó có tác dụng, thậm chí gây họa cho người viết khi xã hội chưa khuyến khích nói thật. Văn xuôi tuy cũng phải trung thực, nhưng dù sao cũng có những thủ pháp để các ý tưởng của mình ngấm vào người đọc theo nhiều cách khác. Nếu không được nói những điều đáng nói, viết văn chỉ là để làm giá áo túi cơm thôi. Cha tôi và nhà văn Nguyễn Thành Long, đều không muốn con cái làm nghề văn, mà khuyến khích con cái làm khoa học kỹ thuật, để rèn luyện tính trung thực khoa học, làm người. Cha tôi nói: Trong khoa học tự nhiên, con người sẽ có tự do, không ai có thể bắt buộc người khác tin hai nhân hai bằng năm. Trong khoa học xã hội, nhiều khi phải chấp nhận những điều còn vô lý hơn. Tôi kể chuyện đó với cô tôi, nhà văn Thanh Hương. Cô tôi lo lắng nói rằng: Chắc bố cháu nghĩ cháu còn bé quá, hoặc cho rằng cháu đã lớn quá. Cô không biết rằng, từ nhỏ cha tôi đã quen nói chuyện với tôi như với một người lớn.
Cha tôi nung nấu viết tiểu thuyết ngay từ những năm 1960. Ông nói: phải viết tiểu thuyết mới làm quen được với lao động văn học thực sự. Tiểu thuyết là vua của các thể loại văn xuôi. Viết tiểu thuyết là một quá trình hoàn toàn khác, gần giống như làm công nghiệp. Dạo đó, cha tôi thường đi về các khu công nghiệp như nhà máy Xi măng Hải phòng, nhà máy điện Uông Bí, khu gang thép Thái Nguyên,… lao động chân tay thực sự như một người công nhân. Tôi còn nhớ một lần được mẹ dắt xuống Hải Phòng, đợi cha tan tầm, mặc áo công nhân, trên đường ray xe goòng, tóc trắng bụi xi măng, nhưng cười rạng rỡ. mạnh mẽ, trẻ trung, đẹp sáng ngời. Cha tôi bắt đầu bằng viết bút ký với những tác phẩm như Những ngôi sao đỏ. Thời đó, ở Việt Nam cho rằng bút ký là một thể loại văn học gần với ghi chép để đáp ứng yêu cầu nhanh có tác phẩm phục vụ tuyên truyền. Cha tôi có một quan niệm khác hẳn. Ông nói: Viết bút ký cho hay rất khó vì cần phải có kiến thức rộng và khả năng liên tưởng, kết nối nhiều hiện tượng sự vật khác nhau, đặc biệt phải có óc phân tích và tư duy rất sâu. Sau này tôi mới biết, bút ký chính là narrative essay, một thể loại văn xuôi rất khó, cầu kỳ, được nhiều nhà văn lớn sử dụng, chứ không phải là một loại ký họa hay “mì ăn liền” bằng văn xuôi, phục vụ tuyên truyền cách mạng. Có lẽ bút ký là thể văn phù hợp nhất với sở trường của cha tôi, là người có kiến thức nền tảng và tư duy triết học sâu sắc.
Cùng với bút ký, cha tôi còn viết truyện ngắn và truyện vừa. Trong giai đoạn này, cha tôi viết truyện vừa Một câu chuyện đang bắt đầu về nữ công nhân Trương Thị Len ở nhà máy xi măng Hải Phòng là hình mẫu sau này trong tiểu thuyết Xi măng. Sau này, cha tôi cũng có nhiều truyện vừa, tiêu biểu nhất là Chọn một con đường viết về Anh hùng Lao động bác sĩ Đặng Văn Ngữ, hay Nhật ký chị kỹ sư. Chọn một con đường, cha tôi viết rất công phu và dành nhiều thời gian nói chuyện với bác Đặng Văn Ngữ. Hai ông rất tâm đầu ý hợp. Cha tôi kính trọng bác Ngữ với tư cách là một nhà khoa học có tiết tháo, cứng cỏi và trong sạch. Bác Ngữ quý cha tôi vì gặp được một người hiểu lòng mình, đến mức sau này trước khi đi công tác ở chiến trường B, bác Ngữ nhận cha tôi làm em nuôi và gửi thư cho cô con gái đang học ở Lêningrát kể về chú Huy Phương, nhà văn. Rất tiếc, sau đó bác sĩ Ngữ hy sinh ở chiến trường, cô con gái cũng mất vì bệnh cúm ở Nga.
Về sau này, cha tôi có một số truyện ngắn hay, như truyện Sa Mạc nói về mối lo sa mạc hóa và liên tưởng đến hiểm họa thế giới tâm hồn con người ngày một khô cằn. Truyện này được rất nhiều người nhắc nhở và tán thưởng. Đặc biệt, hôm báo Văn nghệ in truyện này, cha tôi vừa ra khỏi cửa liền có một người đàn ông đứng tuổi đến mời đi đãi đằng đủ thứ, và khẩn khoản mời về nhà chơi, vì “mấy chục năm mới được đọc được một truyện ngắn hay như thế”. Cha tôi đi cả ngày với người đàn ông đó và mang về một đống mặt nạ. Cha tôi kể người đó cũng ôm mộng văn chương từ thời đi học, sau hình như dính dáng đến phòng trào Đất Mới, nên mới bỏ văn chương đi kinh doanh về mặt nạ. Ông ta nói làm mặt nạ cho đời cũng có triết lý rất hay, đang buồn có thể đeo mặt nạ vui, mặt nạ hề toe toét cười nhưng mắt lại rất buồn, suy cho cùng người ta cũng đeo mặt nạ với nhau trong các cuộc họp cả. Cha tôi rất thú vị về việc có thể tìm thấy niềm vui có ý nghĩa ở những công việc rất bình thường và đặc biệt sung sướng khi có được một độc giả chân thành như vậy. Cha tôi nói: truyện ngắn gần với thơ, phải có một tứ rất cô đọng và phải dùng biểu tượng rất nhiều, không cần phụ thuộc vào logic hoặc chặt chẽ về ngôn ngữ.
Để luyện thêm về cách xây dựng tiểu thuyết, cha tôi nhận dịch một số tiểu thuyết như Ông già và biển cả của Ernest Hemingway, Con đường đói khát của George Amado, Gieo mầm của Emile Zola,… Các tiểu thuyết cha tôi nhận dịch đều là các tác phẩm rất khó dịch. Cha tôi rất kỹ lưỡng và khó tính trong việc dịch thuật. Các tác phẩm dịch của ông đều rất trau chuốt mềm mại về mặt văn học, có cảm giác như dịch giả và nhà văn nhập làm một. Nhà văn Xuân Cang nhắc tới tác phẩm dịch Ông già và biển cả đã lôi cuốn ông vào con đường văn học. Cha tôi dịch cũng vất vả dụng công như viết tác phẩm của chính mình. Tác phẩm dịch dưới tay ông, như được sáng tác thêm một lần nữa. Tuy nhiên, cha tôi cẩn thận để không bao giờ để mất mát hoặc sai lệch một ý nào của tác giả dù rất nhỏ. Nhiều chữ, nhiều ý, dù cha tôi đã biết rõ, nhưng vẫn cố công nghiên cứu, tra đi tra lại, nếu thấy vẫn chưa hợp lý. Về dịch thuật, tuy không có dịp nói ra nhưng ông bênh vực quan điểm của Thái Bá Tân. Ông nói: đừng vì ý tưởng mới lạ nghe không thuận tai mà bóp méo nó nhân danh việc dịch bay bướm hay thoát ý. Chính dịch thuật phải có nhiệm vụ đưa những tư tưởng mới của nhân loại vào Việt Nam.
Viết bút ký, truyện ngắn, truyện vừa và dịch thuật, đều là các công việc cha tôi làm để chuẩn bị cho việc viết tiểu thuyết. Cha tôi đọc rất nhiều, đặc biệt là các báo tiếng Pháp của nước ngoài như Nhân Đạo (Pháp), Thời mới (Liên Xô) cha tôi đều mang về đọc hết, để khỏi lạc hậu với tư duy của thời đại. Từ năm 1967, ông đã giới thiệu với tôi ngành Tự động hóa và ngành Thông tin học, phải đến mấy chục năm sau mới trở thành trào lưu trên thế giới và ở Việt Nam. Cha tôi cũng đọc rất nhiều tiểu thuyết mới của Pháp, nhờ một người bạn thân là cô Xuân Phượng mượn về từ sứ quán và bạn bè nước ngoài. Thỉnh thoảng chú Trung Anh, bạn cũ từ thời ở Khu Bốn với cha tôi, lúc đó là biên tập viên báo Phụ Nữ đến chơi, nói chuyện về mơ ước chung của hai ông là viết tiểu thuyết. Chú Trung Anh cho rằng: Viết tiểu thuyết hoặc không viết gì cả, bởi vì “phải như voi ẹ, không ra những cái lẹp nhẹp như chuột ẹ”. Cha tôi chỉ cười tủm tỉm không nói gì, khi chú Trung Anh về mới bình luận không đồng tình “Voi thì đúng rồi, nhưng chê chuột, khó mà ẹ được cái gì ra hồn. Viết văn lại so với ẹ, chắc khó mà viết được.”
 Cha tôi viết tiểu thuyết Xi măng trong nhiều năm. Cho đến bây giờ nhắc đến cha tôi, người ta vẫn nhắc đến Xi măng. Tôi còn nhớ hình ảnh của cha tôi viết Xi măng trên bàn viết bề bộn bản thảo, cắt dán, ghép, trong phòng nghi ngút khói thuốc lá. Mùa đông lạnh, cha tôi thường khoác áo chứ không mặc, chắc để khỏi vướng víu và bị cảm giác chật hẹp bó buộc. Ông mang từ hiệu sách về nhà đủ các loại sách giáo khoa về công nghiệp hóa chất, công nghiệp chế tạo xi măng và tìm hiểu về quá trình chế tạo cờ lanh ke, cách xem khói để đoán định chất lượng xi măng. Trong tiểu thuyết, có một đoạn viết về đánh tiết canh vịt, cha tôi cũng chịu khó học hỏi về nội trợ, mặc dù ở nhà mẹ tôi không để cha tôi phải nhúng tay vào việc gì, đến nỗi ông không thể phân biệt tỏi với hành khô. Sau khi tiểu thuyết Xi măng được in, có một gia đình nhà văn, tôi không nhớ rõ là ai, thịt vịt, mẹ gọi con “Lấy ngay quyển Xi măng của chú Huy Phương xuống đây để xem phải làm thế nào.” Nghe chuyện này, bố tôi thích thú ra mặt, mẹ tôi chép miệng: Anh Phương có bao giờ phải làm vịt đâu. Xi măng có mô tả một số nhân vật phản diện trong lãnh đạo chủ chốt của nhà máy, là một điều tương đối mới vào lúc bấy giờ, nên dư luận xì xào là sẽ bị đánh. Một số nhà phê bình “máy chém”, tuyên bố úp mở sẽ vào cuộc, đánh cho Xi măng tan tác. Cha tôi rất lo, vì thời đó, tiểu thuyết lệch hướng là tội to nhất, sau mới đến thơ và truyện ngắn. Như nhà văn Hà Minh Tuân, vốn là chính ủy trung đoàn Sông Lô, đại tá quân đội chuyển ngành, giám đốc Nhà Xuất bản Văn học, chỉ vì tiểu thuyết Vào đời mà kết thúc sớm sự nghiệp viết văn. Phê bình, lý luận văn học hồi đó cũng ấu trĩ, như cuốn truyện thiếu nhi Đứa con nuôi Trung đoàn của Phù Thăng bị chụp mũ là “có vấn đề” chỉ vì có chi tiết mấy cậu bé nghịch bôi nhọ nồi lên ống điếu của cán bộ Trung đoàn. Về lý luận văn học, thời đó một cuộc tranh luận dài mấy năm trên báo Nghiên cứu Văn học giữa nhà phê bình Đông Hoài và nhóm các nhà phê bình như Nam Mộc, Hồng Phong. Số nào tôi cũng thấy các bài tranh luận này và cũng đọc, nhưng không hiểu họ tranh luận nhau ở điểm gì, chỉ thấy họ đều buộc tội nhau là giáo điều, xét lại, trốt kít, và tuyên bố mình đang bảo vệ lập trường vô sản. Tôi hỏi cha tôi, thì cha tôi lắc đầu không biết, mấy hôm sau thấy cha tôi hỏi Đông Hoài: Các ông đều kiên quyết bảo vệ Đảng, chống giáo điều, xét lại thế thì phải bắt tay nhau làm bạn chứ cãi nhau nỗi gì. Thằng con tôi hỏi, mà tôi chịu không biết trả lời thế nào. Trong số các nhà phê bình lý luận văn học thời đó, có một nhà phê bình nổi tiếng cứng nhắc, xuất thân cán bộ tuyên truyền cấp huyện, do tinh thần đấu tranh không khoan nhượng, nên được cất nhắc rất nhanh đến chức Viện Phó Viện Văn học. Các nhà văn đều ngại nhà phê bình đó, nên năm 1979, khi nhà thơ Chế Lan Viên mạt sát ông này công khai tại một hội nghị kết tội đã chôn nhiều sự nghiệp nhà văn, ai nấy đều hả dạ. Đến phiên ông này lên phát biểu các nhà văn đều la ó gõ bàn vỗ tay ầm ĩ không cho nói. Nhưng vào đầu những năm 1970, không khí chưa được cởi mở dân chủ như sau này. Thấy cha tôi lo lắng, các chú Nguyễn Thành Long và Việt Phương đã chuyển giúp Xi măng cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Nhờ Thủ tướng có ý kiến và một bài giới thiệu khá khôn ngoan của nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Hạnh trên báo Nhân dân, Xi măng đã ra mắt với bạn đọc thành công, có tiếng vang và gắn liền với sự nghiệp văn học của cha tôi.
*
*   *
Từ sau khi đi thực tế ở nhà máy Xi măng về, cha tôi về Nhà Xuất Bản Văn học, là tổ trưởng tổ Văn, gồm toàn các nhà văn nhà thơ cự phách như các nhà thơ Khương Hữu Dụng, Yến Lan, Quang Dũng, Hoàng Minh Châu, các nhà văn Nguyễn Thế Phương, Lữ Huy Nguyên, nhà phê bình Đông Hoài,… Sách của Nhà Xuất Bản Văn học thời bấy giờ biên tập, sửa bông rất kỹ, nên rất ít lỗi chính tả, chất lượng cao, mặc dù giấy hồi đó đen và xấu, nhiều trang lại không được rọc hết. Tôi nhớ có lần, một cuốn sách chỉ có chừng 7 lỗi chính tả, nhà phê bình Như Phong là giám đốc, cho chi một khoản tiền bồi dưỡng, tất cả gia đình các biên tập viên đều đến tham gia sửa lỗi, làm suốt đến đêm, rất vui. Hồi đó các chú các bác làm việc mấy ngày, ăn ngủ ở Nhà Xuất bản tại 51 Trần Hưng Đạo là chuyện thường. Sách bây giờ lỗi chính tả dày đặc không phải là của hiếm, dùng một tờ đính chính như ngày xưa chắc không đủ. Thương nhất là nhà thơ Quang Dũng, lương thấp, vợ con không có hộ khẩu Hà Nội, nên phải đong gạo mua thực phẩm ngoài, cuộc sống rất eo hẹp. Bác Quang Dũng lại to cao như Tây, tiêu chuẩn 5 mét vải một năm, giá không phải nhường vợ con chắc cũng chẳng đủ, nên mùa đông trời lạnh cũng mặc quần soóc.  Cha tôi thỉnh thoảng lại về nói mẹ tôi có cái gì cũng dành cho bác Quang Dũng. Mẹ tôi rất kính trọng bác Quang Dũng, như một người anh hùng lỡ vận, kể cho tôi về người đại đội trưởng Tây Tiến hào hoa, thơ tràn hùng khí năm nào. Bác Quang Dũng là người tình cảm, có lần kể cho cha tôi nghe về các chết của nhà thơ Dương Tử Giang ở chiến trường, trước mặt tôi mà bác nghẹn ngào rồi bật khóc hu hu: nó chết mà đau đớn lắm, Huy Phương ơi. Nhà thơ Khương Hữu Dụng là người lớn tuổi nhất trong tổ biên tập, nói nhiều át cả cha tôi. Cha tôi cứ đùa là chỉ đợi bác Dụng chấm câu là chào chia tay, nhưng bác có thể nói thêm vài tiếng mà chỉ dùng toàn dấu phảy hoặc chấm phảy, ra đến cửa chia tay nhanh nhất cũng khoảng nửa tiếng. Mẹ tôi gọi bác Khương Hữu Dụng là bác, cha tôi lại gọi bằng anh, vì thế lúc đầu tôi gọi bác Dụng bằng ông, bác Dụng có một bài thơ tặng cho tôi về chuyện xưng hô lung tung như thế. Cha tôi thường đọc các bản thảo rất cẩn thận, góp ý kiến rất kỹ. Rất nhiều sách xuất bản hồi bấy giờ, tôi đều được đọc từ khi còn ở dạng bản thảo, với ghi chú biên tập của cha dán chi chít.  Đặc biệt, cha tôi rất hay bênh vực các tác phẩm có góc cạnh và các tác phẩm của các nhà văn trẻ. Nhà văn Ông Văn Tùng có kể lại là cha tôi gửi trả lại bản thảo để “cứu” ông thế nào. Có một cây bút trẻ khác là Nguyễn Quang Vinh cặm cụi viết nhiều năm mà không có được tác phẩm, cha tôi kiên nhẫn chỉ dẫn nhiều năm, rồi cũng có in được một số truyện. Đặc biệt có một lần, cha tôi nhận được một công trình đồ sộ của một vị đại tá chính trị trong quân đội nghiên cứu về nhà văn Nguyễn Thành Long, chụp mũ tư tưởng nhiều tội, trong đó có tội dám mô tả cái cười của Thủ tướng Phạm Văn Đồng hay Đại tướng Nguyễn Chí Thanh với mục tiêu phản cảm. Ông ta so sánh Nguyễn Thành Long với các nhà văn chống cộng nổi tiếng trên thế giới. Cha tôi rất ghét những kiểu phê bình chụp mũ như thế. Ông nói những trò văn chương như thế thường là của những kẻ cuồng vĩ, ôm mộng làm văn bất thành, chuyển sang “làm lý luận”. Trong điều kiện xã hội bình thường, điều đó cũng vô hại, nhưng ở ta có khi lại sinh ra các nhà lý luận ngôi cao chức lớn, có quyền sinh sát, gây họa vô cùng cho làng văn. Vì vậy, cha tôi cất biến tập bản thảo nọ, cứ trả lời vị đại tá nọ là để đâu mất, đang tìm. Cũng may, hồi bấy giờ chưa có máy photo và máy tính, nên viết lại được một công trình đồ sộ như thế không phải là chuyện dễ.  
Đó là thời chiến tranh, mỗi năm vài lần, cha tôi lại đi công tác tuyến lửa, khu Tư, Quảng Bình, Quảng Trị. Cha tôi hay đi với nhà thơ Xuân Diệu, nhà văn Bùi Hiển. Mỗi lần như vậy mẹ tôi lại chuẩn bị cho cha tôi rất chu đáo làm bác Xuân Diệu, vốn sống độc thân, cứ nắc nỏm khen mãi, lại viết cả bài thơ Em choàng lưới mũ cho anh tặng mẹ tôi. Mỗi đợt đi về cha tôi cũng mang về rất nhiều ghi chép làm tư liệu cho tiểu thuyết Nơi anh sẽ đến và những tập bút ký chuyện ngắn. Tôi nhớ một số chuyện ngắn về ngành bưu điện trong tuyến lửa khá cảm động, trong đó cha tôi mất mấy ngày chỉ để đặt cho một nhân vật một cái tên rất khó đọc là Đượu, chỉ để gây ấn tượng thực tế. Một truyện ngắn là Chim lửa, kể về một anh chàng lãng tử, trêu ngươi với máy bay Mỹ trên chiếc mô tô trên đường về Vinh, có thể dựng thành phim không thua phim hành động của Mỹ bây giờ. Một truyện ngắn khác kể về một chiến sĩ tháo bom nổ chậm, lại dùng văn phong sở trường giống như Hemingway trong Ông già và Biển cả, cốt truyện rất đơn giản, nhưng hồi hộp hấp dẫn từ đầu đến cuối.
Cha tôi cũng kể về các bạn cũ là các nhà thơ Trần Hữu Thung, Xuân Hoàng, Minh Huệ,…đang sống trong tuyến lửa thế nào. Nhà thơ Xuân Hoàng chơi với cha tôi từ bé, là người rất lãng mạn, lạc quan, cười nói và “xổ ra thơ” suốt ngày. Sau giải phóng chú Xuân Hoàng về sống ở Huế làm chủ tịch Hội Văn nghệ Tỉnh. Tôi đi công tác ghé thăm mấy bận, chú nhiệt tình đưa tôi đi chơi, và xưng hô “ông, mình” với tôi như với người lớn. Cha tôi kể chú Xuân Hoàng rất đãng trí, vì lúc nào cũng nghĩ chuyện làm thơ, nên có lần vợ giao cho việc đi giặt quần áo ở giếng, giặt nhầm đồ của người khác rồi đem phơi mà cũng không để ý, đến cơ quan vợ, đêm chui nhầm vào màn của người khác. Cha tôi nói thơ Xuân Hoàng có nhiều đặc sắc, nhưng vì viết nhiều và dễ tính quá, nên không được đánh giá đúng mức.
Cha tôi có một cái thú là bắn chim. Bạn của cha tôi, đạo diễn Đình Quang mua ở Tiệp về cho ông một khẩu súng hơi. Ông hay dắt tôi và cậu em họ Vũ Huy, nay là nghệ sĩ ưu tú, họa sĩ xưởng phim, con cô Thanh Hương đi bắn chim. Chúng tôi có dịp lang thang ở các đầm hồ, rừng cây, ven bãi, và thưởng thức những vẻ đẹp của thiên nhiên tuyệt đẹp. Đó chính là chất liệu để cha tôi viết truyện thiếu nhi Sự tích một khẩu súng hơi. Truyện này nói về thế giới thiên nhiên, nhưng lại gợi mở nhiều chuyện xã hội, nói về loại chim, nhưng mô tả các tính cách đa dạng như loại người. viết cho thiếu nhi, nhưng người lớn cũng có thể đọc được nhiều điều bổ ích. Truyện này cha tôi viết khéo, nên tuy chứa nhiều triết lý, nhưng Sự tích một khẩu súng hơi không bị xét nét về tư tưởng.
*
*   *
Từ chiến trường B, các nhà văn khu 5, Nam Bộ ra Bắc hay ghé nhà tôi ở phố Ngô Quyền. Mỗi lần như thế, mẹ tôi lại tíu tít nấu ăn, chuẩn bị áo quần, ruốc, đồng hồ, bút máy gửi cho cậu tôi là nhà văn Nguyễn Chí Trung. Thời đó, qua nhà tôi có các nhà văn Phan Tứ, Nguyên Ngọc, Anh Đức,... có cả anh hùng quân đội Phan Hành Sơn. Mỗi lần như vậy nhà tôi lại râm ran chuyện văn chương, chuyện chiến trường, rất vui và được ăn ngon. Cha tôi mặc dù hay châm chọc cậu Nguyễn Chí Trung về cách sống rất kỷ luật quân đội, cứng nhắc, nhưng rất chiều và chăm sóc em vợ, đặc biệt là khi cậu giới thiệu với gia đình tôi các đối tượng của cậu. Năm 1979, cậu Nguyễn Chí Trung cùng nhà văn Nguyên Ngọc viết Đề dẫn cho hội nghị đảng viên Hội nhà văn, viết được đoạn nào cũng đến đọc cho cha tôi nghe. Có lần, hai ông bàn rất lâu về việc cần diễn đạt một ý về tự do sáng tạo trong văn học, không hạn chế ở việc sao chép nguyên xi cuộc sống, do đó văn học có thể có những nội dung nghệ thuật không nhất thiết có nguyên mẫu trong thực tế. Tuy nhiên, trước đó, có một án văn chương của một nhà báo quân đội đã dám phát biểu “văn học cao hơn cuộc sống” đã bị một vị rất to lôi cổ từ trường đảng ở Liên Xô về, kỷ luật, hạ tầng công tác. Do đó, phát biểu thể nào cũng phải dễ được chấp nhận, tránh xung đột không cần thiết. Tôi ngồi nghe lỏm và nói leo góp ý kiến, văn học về mặt nào đó là một bộ phận của cuộc sống, thì đương nhiên sẽ có những tính chất phong phú hơn cuộc sống, cũng như tập hợp tam giác thường bao gồm tập hợp tam giác đều, cho nên tam giác đều có nhiều tính chất hơn tam giác thường. Cha tôi cười phá lên vì logic quá đơn giản, và giảng lại cho cậu Nguyễn Chí Trung nghe về logic hình thức. Cậu tôi lúc đầu còn nghi ngại về việc một ví dụ nhỏ bé về hình học lại giải quyết được một vấn đề hóc búa của lý luận văn học, nhưng sau đó thích thú đến mức sang hiệu sách Quốc Văn ở gần nhà, ôm ngay một chồng sách toán cao cấp về nhà để nghiên cứu, vì toán sơ cấp đã tác dụng như thế, toán cao cấp ắt phải còn ra nhiều chuyện cao minh hơn nữa.
Ở Hà Nội có ba địa điểm cha tôi hay dẫn tôi đến để gặp các bạn văn nghệ sĩ. Nhà 53 Trần Hưng Đạo, nơi cha tôi hay tới chơi với nhà thơ Chế Lan Viên và nhà văn Vũ Thị Thường. Bác Chế Lan Viên là người sắc sảo, nên hợp tính với cha tôi. Ông coi cha tôi và nhà văn Nguyễn Thành Long như em, tự cho có trách nhiệm che chở, nhưng có khi khá độc đoán làm chú Nguyễn Thành Long tự ái tủi thân. Cha tôi sau khi bác Chế Lan Viên mất thường hay đọc Di cảo và thở dài thương bác. Sau nhà bác Chế Lan Viên, cùng dãy, là nhà của nhà thơ Bảo Định Giang, một người hiền lành, trung thực, cha tôi rất kính trọng nên thỉnh thoảng dắt tôi vào chào, nhưng không bao giờ ngồi lâu. Ở cuối dãy là nhà của nhà văn Xuân Tửu, một người bạn trung thành của cha tôi, có tiếng cười sảng khoái không thể nào quên. Nhà 96 phố Huế, là nơi ở của nhà biên kịch Hoàng Yến, nhạc sĩ Phan Thanh Nam, Văn Ký, nhà thơ Lưu Quang Thuận,…. Mỗi lần tới đó chơi, rất phiền toái vì cả dãy nhà toàn là người quen, vào nhà một người đã khó vì luôn phải dừng lại chuyện trò với những người khác, ra lại càng khó hơn, nhiều khi phải nấn ná thêm cả tiếng đồng hồ. Nhà 65 Nguyễn Thái Học có nhà em gái của cha tôi, nhà văn Thanh Hương và chồng là nhà văn Vũ Tú Nam, là nơi gia đình tôi hay tới nhất. Khu nhà này chủ yếu là các họa sĩ như Nguyễn Sáng, Nguyễn Tư Nghiêm, Nguyễn Phan Chánh, Trần Đông Lương, Mai Văn Hiến, Song Văn, Văn Giáo, Nguyễn Văn Lý, chỉ có cô Thanh Hương, chú Vũ Tú Nam là nhà văn, bác Đỗ Nhuận là nhạc sĩ.
Hầu hết các anh chị em ruột của cha mẹ tôi đều ở miền Nam, trừ cô Thanh Hương, nên hai gia đình rất thân. Năm nào đêm 30 Tết cũng ăn Tết ở nhà tôi và chiều mùng Một ở nhà cô Thanh Hương và chú Vũ Tú Nam. Lúc giao thừa là hai gia đình cùng đi dạo xung quanh hồ Gươm, nghe chúc Tết đầu năm của chủ tịch nước, rồi về nhà uống rượu ăn mứt mừng năm mới. Đầu năm cha tôi hay nghĩ ra những trò chơi văn học trong gia đình như đố chữ, tìm vần. Mẹ tôi là cô giáo dạy văn, đã từng dạy rất nhiều nhà văn thơ có tiếng như Nguyễn Khoa Điềm, Tô Nhuận Vỹ, Vương Trí Nhàn,…nên cũng tham gia tích cực vào những trò chơi đó. Có lẽ chính vì thế em gái tôi là Hiền Lương luôn luôn đoạt giải cao trong các kỳ thi học sinh giỏi văn. Riêng tôi, nhưng trò chơi đó đã truyền cảm hứng cho tôi trong việc tìm tòi nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến chữ nghĩa sau này. 
*
*   *
Cuối những năm 1970, cha tôi chuyển về Tổ sáng tác Hội nhà văn, tham gia Hội đồng Văn học Công Nhân rồi ở trong ban lãnh đạo trường viết văn Nguyễn Du. Ông hay đi các trại viết và rất say mê nói chuyện với các nhà văn trẻ. Ông cho tôi xem bản thảo một cuốn tiểu thuyết rất hay của Trúc Phương, nói về bi kịch của những người anh hùng. Ông kể rằng Trúc Phương vốn là chiến sĩ quân báo, khi viết như lên cơn, gầm gừ vì nhập vai vào những cảnh chiến tranh, nên có những trang viết xuất thần, nhưng đã viết xong thì chịu không sửa lại được. Khi đem chấm điểm tiểu thuyết của Trúc Phương, với tư cách là tác phẩm tốt nghiệp, một số người chỉ cho 1 điểm vì nội dung tư tưởng quá nổi loạn. Nhà văn Nguyên Ngọc cho 4 điểm, cũng là điểm liệt, vì kỹ thuật viết quá tốt, chỉ có vấn đề về nội dung tư tưởng. Riêng cha tôi không cho điểm, nói rằng nếu được phép chấm điểm thì phải cho 10, còn nếu đem tư tưởng ra để bàn có nghĩa là đã dùng tiêu chí tiên quyết để loại bỏ tác phẩm, giống như phạm trường quy thời phong kiến, chứ không phải vì tác phẩm chất lượng kém. Sau này, hình như Trúc Phương phải dùng một tập truyện ngắn, cách viết cũng khá mới lạ. Tôi được đọc bản thảo và thích nhất một truyện ngắn kể về một chị bí thư xã và một anh lái đò, trước là ngụy quân, gặp bão, bị chìm đò phải nương vào nhau mới trôi dạt vào bờ. Tuy đề tài này cũng khá nhạy cảm, nhưng cha tôi và các chú cũng cố gắng bảo vệ cho qua được. Cha tôi thích những nhà văn trẻ có suy nghĩ như Hồ Anh Thái. Có lần cha cùng tôi gặp Hồ Anh Thái ở nhà riêng của nhà thơ Hoàng Trung Thông, cha tôi rất khen tập Người và xe chạy dưới ánh trăng và nói với Hồ Anh Thái: chú tin cháu sẽ còn đi xa, vì cách viết rất trí tuệ.
Giai đoạn này Huy Phương viết tiểu thuyết Chùm me chín, mô tả cuộc đời của một cô gái điếm. Có lẽ đây là một truyện vừa thì đúng hơn là tiểu thuyết. Cha tôi viết Chùm me chín khá nhanh. Câu chuyện tuy buồn, nhưng không sướt mướt như mọi người nghĩ. Viết về các thân phận không may, người ta thường nghĩ đến một motif cải lương, sến, tiểu thuyết máy nước. Cha tôi đặc biệt ở chỗ có thái độ tôn trọng với nhân vật chính với tư cách là một con người.  Ông cũng hoàn chỉnh được phong cách truyện ngắn có motif thơ của mình như Hoa nở đêm, Nhớ về một thành phố. Như ông quan niệm, những truyện ngắn này đều có một tứ và dùng hình ảnh như một bức tranh, và được sắp xếp không cần theo trật tự logic thực tế.
Khi chuyển vào thành phố Hồ Chí Minh, cha tôi cũng làm thơ trở lại. Ông không còn quá bận tâm tới thơ chính luận bậc thang, mà quan tâm hơn tới những vấn đề triết học như một tiếng gà gáy buổi trưa trong lịch sử, suy nghĩ về nước Mỹ, đối phương một thời, tôn giáo,… Các bài thơ sau này của ông đều ngắn, nhưng vẫn còn những độ xóc, nhiều vần trắc, và nhiều suy tư triết học. Thơ Huy Phương nhìn chung, vẫn nhiều góc cạnh, không ưa nhịp điệu mượt mà. Sau này, con trai tôi, Nguyễn Huy Chính Điểm, cháu đích tôn của cha, đã tập chắp vần những bài thơ đầu đời bằng tiếng Anh, về Việt Nam học thơ, cũng đưa ra nhận xét là thơ tiếng Việt quá vần, quá trơn tru, không kích thích suy nghĩ. Đây chỉ là một loại quan điểm trong nhiều quan điểm về thơ, nhưng thực sự đã có một sự trùng hợp giữa hai thế hệ cách xa nhau. Điều đó cũng đáng phải suy nghĩ.

 Đời người ngắn ngủi, chí làm trai còn muốn vươn lên mãi. Thấm thoắt mấy chục năm trôi qua, các đồng nghiệp của cha tôi, thân hay sơ, cùng chí hướng hay ở phía đối lập, đều đã lần lượt ra đi, nhiều người còn để lại các tên đường phố, các mục trong từ điển văn học. Cha tôi cuối cùng cũng đã lên đường về thế giới bên kia.Trong tiếng chuông và kinh chiêu hồn rộn rã, tôi như thấy cha, ánh mắt ngơ ngác thời ốm đau đang dần lấy lại được vẻ tinh anh hóm hỉnh của một thời trẻ trung ngày xưa. Có lẽ ở thế giới bên kia, nơi những điều minh triết là hiển nhiên, ông sẽ không còn phải cố công vắt cạn sức lực để tranh luận những chuyện của thế tục. Vì thế, tôi vẫn thấy ánh mắt của ông phảng phất đâu đó, cười cười thông cảm và hơi có phần chế diễu với những điều mà “các thánh thần vẫn còn phải hoài công tranh đấu”.