Thứ Ba, 1 tháng 7, 2014

Văn minh Tân học Sách

     Tôi vừa được một anh bạn vong niên, một người đang say sưa với giáo dục, giới thiệu về "Văn minh tân học sách". Anh say sưa, khen ngợi hết lời, nói lên kỳ công phải vào thư viện chép lại để về đọc, và cho rằng trước hết phải bằng được người xưa. Về mặt văn chương, anh cũng nói rằng cách viết rất dễ hiểu, đi vào lòng người Việt Nam, "đọc xong chỉ muốn làm giáo dục".
      Tôi là người rất say mê với những gì đẹp, tốt và cũng đang tụ tập một số tác phẩm về giáo dục, các ý tưởng về cải cách giáo dục. Đang rủ người dịch mấy bộ sách về giáo dục của Bacon, vì thấy những tư tưởng về giáo dục của phương Tây, mà học giả của mình vẫn chưa hiểu sâu sắc được, nên cứ cãi nhau năm này qua tháng khác. Tranh luận là việc tốt, nhưng vì ở ta tựu chung chỉ có hai trường phái "kiến bò miệng chén" và "cóc bỏ đĩa" tranh luận với nhau, nên đều là việc "không đàm ngộ quốc" chẳng bổ ích gì cho hành động. 
        Nay được giới thiệu là tác phẩm hay, nên lập tức tìm đọc. Sau một hồi tìm kiếm bằng chữ Hán, thấy rằng tác phẩm này trên Baidu và nhiều trang về sách vở của Trung Quốc cũng có toàn văn chữ Hán, có giới thiệu và phân tích ít nhiều. Điều đó chứng tỏ Trung Quốc họ nghiên cứu sách vở của mình khá kỹ (cái gì chống vẫn cứ chống, cái gì hay vẫn phải học, không học thì không thể nào chống).
     Sau khi loay hoay tìm kiếm một hồi nữa, có được bản tiếng Việt của Đặng Thai Mai, đỡ công dịch. Đọc lướt qua, thấy không phải là công trình đồ sộ như mình tưởng, mà thực ra có tính hiệu triệu, chỉ hướng nhiều hơn. Các tư tưởng chỉ yếu diễn dịch các tư tưởng phương Tây đã được các nhà cải cách của Trung Quốc như Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi du nhập và diễn dịch theo cách suy nghĩ của Á Đông. Cái làm, tôi hiểu lầm chính là chữ "Sách", không có nghĩa là "sách vở" mà là một "kế sách". Tôi tưởng tượng nó phải tầm cỡ như các tác phẩm của Đào Duy Anh hay Ngô Tùng Phong, lại chuyên về giáo dục.
       Dù sao nó cũng là một tác phẩ rất có giá trị và đáng đọc, xin giới thiệu với bạn hữu xa gần.
 

Lời giới thiệu của Chương Thâu

Đầu thế kỷ XX, ở nước ta xuất hiện một tác phẩm chữ Hán của tác giả vô danh nhan đề “Văn Minh Tân Học Sách” (文明新學策). Cuốn này ra đời trước khi xuất hiện phong trào Duy Tân và Đông Kinh Nghĩa Thục (trước năm 1905), sau này dùng làm tài liệu giáo khoa của trường Đông Kinh Nghĩa Thục, năm 1907. Văn Minh Tân Học Sách là một áng văn nghị luận, bàn về văn minh ta, văn minh Tây, nêu lên những nguyên nhân làm cho nước ta chậm tiến, ngưng trệ kéo dài, đồng thời đưa ra những biện pháp văn hóa và kinh tế nhằm đưa nước ta tiến kịp phương Tây. Văn Minh Tân Học Sách nhấn mạnh: “Văn minh là chủ nghĩa mở mang trí khôn cho dân” và “chấn hưng dân khí, khai thông dân trí, mở rộng dân quyền, cải thiện dân sinh”. Những mặt văn minh Tây khác Ta cần phải học tập bao gồm:

- Nhân dân châu Âu được tư do tư tưởng, tự do viết sách bày tỏ ý kiến của mình, nên mọi phát kiến đều “ngày một mới, tháng một lạ”. Ở ta thì sợ phạm húy, sợ vượt bề trên… toàn đăng huyền thoại, truyền thuyết, chích quái, lòe loẹt… mà chẳng mở mang dân trí. “Ôi, nếu không biết đến sách báo mới thì thôi, chứ đã biết đến mà lại bưng bít che lấp đi, khiến cho không nghe, không thấy chuyện gì, để tự mình lại củng cố một căn tính nô lệ, nhân cách như thế, thiệt nên lấy làm đau đớn!”.
- Chế độ giáo dục châu Âu nhằm cung cấp những kiến thức cơ bản, thiết thực… còn ở ta toàn học sách Tàu, nói lại lời cổ nhân, thơ phú, văn biền ngẫu… không chịu giảng đến cái học phú cường cơ xảo của nước ngoài.
- Chế độ chính trị châu Âu là lập hiến, cộng hòa, bàn việc gì cũng khai hội, ai nấy đều góp ý, sớm sửa đi, chiều sửa lại, cốt làm sao cho đúng chân lý, hợp tình hình. Còn ở ta, hành chính thì cứng nhắc, nhân sự thì im lìm, cứ làm theo lệ cũ, không chịu xem xét kiến thức, luật ban hành ra dân không hề được tham khảo, đọc trước, bàn luận trước sau.
- Người Âu coi nước và dân có quan hệ mật thiết, còn ở ta chỉ có trên áp chế dưới, dân phải phục tùng. Người Âu thích mạo hiểm, xem thường nguy nan, còn người nước ta thì chỉ thích yên một chỗ, không hề biết đến nước nào khác.
Sau này Văn Minh Tân Học sách được học giả Đặng Thai Mai dịch sang chữ quốc ngữ, in trong cuốn :”Văn thơ Cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ 20″. Cuốn sách vẫn như một hồi chuông cảnh tỉnh cho xã hội Việt nam vẫn còn bị những tư tưởng, tập quán cổ hủ ấy chi phối, trói buộc.
Văn Minh Tân Học Sách
Nguyên văn viết 1904 bằng tiếng Hán  
Tác giả: Khuyết Danh – Bản dịch của Đặng Thai Mai
Thiết nghĩ: văn minh là một danh từ đẹp đẽ không phải do một sự hào nháng, màu mỡ mà làm nên; các môn học văn minh là những phúc tốt lành, không phải chuyện một sớm, một chiều có thể lấy được. Muốn làm nên và lấy được là nhờ có một chủ nghĩa lớn. Chủ nghĩa gì thế? Ấy là chủ nghĩa mở trí khôn cho nhân dân.
Kể các nước trên mặt địa cầu này, nước này còn là dã man, nước kia đã bán khai, nước nọ thì văn minh. Ấy là tùy theo chỗ dân trí từng nước thông hay tắc, nhiều hay ít, chóng hay chậm mà khác nhau.
Câu nói của nhà học giả phương Tây: “văn minh không phải là có thể mua bằng giá trị mà thôi, mà còn phải mua bằng đau khổ nữa”. Giá trị là gì? Tức tư tưởng. Đau khổ là gì? Là cạnh tranh. Càng tư tưởng thì càng cạnh tranh, càng cạnh tranh thì càng tư tưởng. Rồi do đây, hết thảy các khoa thanh học, quang học, trọng học, điện học, thủy học, khí học, hóa học, địa dư, thiên văn, toán pháp và cơ khí, không môn học nào là không phừng phực nảy ra. Lý do để đi tới chỗ cực điểm của văn minh là bởi thế đó.
Văn minh với dân trí, hai đàng cùng làm nhân quả lẫn nhau. Nhưng muốn mở dân trí, trước hết phải thấy bế tắc ở chỗ nào và sự phát đạt bắt đầu từ đâu, bấy giờ mới có thể bắt tay vào việc được. Bằng không chỉ có thể nhìn thấy biển cả mênh mông rồi than thở mà thôi.
Từng xét, thánh nhân đời thượng cổ đã chế được đủ đồ vật để dùng, lập thành khí cụ cho thiên hạ tiện lợi. Khoa học cách trí đã thấy tản mác ở bộ Chu quan,[1] các sách Quân tử[2]Mặc tử[3]. Á châu là ngọn nguồn văn minh đấy. Nước Đại Nam ta vốn là một nước lớn văn minh. Nói về vị trí thì vào khoảng ở giữa ôn đới và nhiệt đới. Đất tốt, khí hậu điều hòa, thóc lắm, tằm nhiều, các nguồn lợi miền núi, miền biển hơn cả thiên hạ. Dân trong nước làm ăn dễ dàng. Trải qua các triều đại, vua thánh, tôi hiền cùng làm cho thịnh vượng lên, rực rỡ thêm, to tát ra. Trong bài tựa của Lao Sùng Quang đề đầu tập Phong nhã thông biên[4] có nói ta được các nước trong, ngoài đều khen là nước thanh danh văn vật. Cái đó đã đành rồi.
Nhưng nay thì sao? Của báu núi rừng, nguồn lợi đó ta không được hưởng. Trăm thứ hàng hóa, quyền lợi đó ta không được nắm. Cho đến các hàng vóc nhiễu, nhung, len, vải, lụa, giày, dép, khăn tay, mục kỉnh, dù che, dầu hỏa, đồ sứ, đồ pha lê, đồng hồ, phong vũ biểu, hàn thử châm, ống nói, kính hiển vi, kính ảnh, bút giấy, son tàu, mực tàu, kim, chỉ, khuy, cúc, phẩm nhuộm, xà phòng, nước hoa, diêm, bánh sữa, kẹo mứt, dược phẩm, thuốc lá, chè, rượu… không mua của Tàu thì cũng nhập của Tây cả. Thử lấy một cái bảng kê số xuất khẩu/nhập khẩu trong một năm mà tính, thì sẽ thấy rằng một khi đã gánh vàng đi đổ… ra ngoài rồi, thì không sao mong châu về Hợp phố nữa. Của nước như thế thật đáng tiếc.
Nông học có hội: người ta đương cạnh tranh về nghề nông đây, còn ta thì vẫn như cũ. Hỏi ta có cày máy để giúp việc cày, điện khí để làm cho lúa tốt, các phương pháp để cứu hạn hán, trị sâu keo không?
Thương chính có sở: người ta đương cạnh tranh về nghề buôn đây, còn ta thì vẫn như cũ. Hỏi có hạm đội để hộ thương, thị trường để thông thương, các công ty lớn do chính phủ và nhân dân góp cổ phần để lập nên không?
Công nghiệp có xưởng: người ta đương cạnh tranh về công nghệ đây! Còn ta thì vẫn như cũ. Hỏi trong công nghệ có ai trổ khéo, phô tài ngày một mới, tháng một lạ như Oát (James Watt), như Sơn (Edison) không?
Tài của nhân dân như thế. Thật đáng hãi hùng.
Kìa những kẻ ham mê đàn sáo, đầu hồ, bài lá, cờ tướng, độ thơ, đánh chữ, số, tướng, địa lý, phù thủy, ngày ngày dốc cả trí không vào những thứ vô dụng, sống say chết mộng thì chả kể làm gì. Nhưng hạng cao hơn, đỗ đạt một tí, được cái tiếng quèn, đã vội khủng khỉnh ta đây là kẻ cả, tự xưng là bậc giữ gìn thê đạo, ngày ngày khoe câu văn hay, khư khư ngồi giữ những thuyết hủ lậu, khinh bỉ hết thảy học mới văn minh. Hạng kém thua nữa thì chỉ nghe có vấn đề thăng quan lên mấy bậc, cất nhắc  mấy người, chứ không biết đến vấn đề nào khác. Có một ông nào đó đã nói với các bạn hậu tiến: các thầy muốn ra làm quan thì phải cẩn thận, chớ cớ đọc sách mới, chớ có xem báo mới. Ôi nếu không biết đến sách báo mới thì thôi, chứ biết đến mà lại bưng bít che lấp đi, làm như không nghe, không thấy điều gì, để tự mình lại củng cố trong mình một căn tính nô lệ, nhân cách như thế, thật nên lấy làm đau đớn!
Nghĩ lại văn minh nước ta là có cái đặc tính là luôn luôn tĩnh như vậy; văn minh châu Âu thì có tính luôn luôn động như kia. Cái đó ai cũng biết. Nhưng vì sao lại như thế! Ấy là bởi có ảnh hưởng tương phản và nguyên nhân khởi điểm đấy. Nay xin lần lượt kể ra.
Thế nào là ảnh hưởng tương phản? Xét ra các nước châu Âu: trên có nghị viện duy trì quốc thị[5],dưới có báo quán đề đạo đạt hạ tình[6]. Đại trước tác thì có Dân ước luận của Lư thoa[7]Tiến hóa luận của Tư tân tắc[8]Dân quyền thiên của Mạnh đức tư cưu[9]. Suy rộng ra, nào diễn thuyết, nào thi ca, đều cốt phát huy cái chủ nghĩa yêu nước, yêu nòi giống. Nước ta có thế không? Làm văn sách thì chỉ sợ phạm húy, dâng thư cho người trên thì chỉ e phạm tội vượt phận nói leo, chỉ chừng đó đã khác hẳn với các nước không cấm nhân dân bàn bạc. Huống chi nào chuyện trích quái, nào chuyện truyền kỳ, thơ bao nhiêu quyển, văn bao nhiêu tập, văn hoa lòe loẹt thì có, còn nói về mở mang trí khôn cho dân thì hoàn toàn không có gì. Đó là điều ta trái với người về giới tư tưởng.
Người châu Âu đặt giáo dục chia làm ba bậc: tiểu học, trung học và đại học, cứ bốn năm là mộtkỳ[10]. Khi vào học, lấy những môn văn tự nước nhà ngày nay, cổ văn La mã, văn tự và tiếng nói ngoại quốc, toán học, địa dư làm những môn đầu tiên. Khi học đã mãn khóa, lần bậc tiến lên, thì cứ tùy theo năng khiếu của học sinh, hợp với môn học nào thì dạy cho môn học ấy: chia ra luật học, thiên văn học, võ bị học, y học, cách trí học v.v… Học thành tài sau mới dùng, dùng làm có được việc thì sau mới thành chức. Nước ta có thế không? Những món ta học và nhớ ấy chỉ là sách Tàu; những bài ta chú thích ấy chỉ là lời của cổ nhân; những thứ ta thi ấy chỉ là kinh nghĩa, thơ ngụ ngôn, biến ngẫu tứ lục! Đó là điều ta trái với người về giáo dục.
Người châu Âu, họ tổ chức chính quyền trong nước có chính thể lập hiến, có chính thể quân dân cộng hòa. Cứ số bao nhiêu người đây thì cử một người làm nghị viên. Hễ bàn đến một việc gì, thì trước phải khai hội: kẻ bàn, người nói, sớm sửa đi, chiều sửa lại, cốt làm cho đúng chân lý, hợp với tình hình. Nước ta có thế không? Hành chính thì cấm thay đổi; dùng người thì quí im lìm lặng lẽ; chiếu theo lệ cũ, nhưng lệ cũng không nhất định; luật cũng ban bố đấy nhưng dân gian không được đọc luật. Đó là điều trái nhau về giới kinh tế[11].
Người Âu cho rằng nước và dân quan hệ mật thiết với nhau. Cho nên có chính thể cộng hòa, mà quốc thể tức là gia thể[12], có tục thượng võ mà quốc hồn tức là gia hồn, có lệ hỗ trái[13] mà quốc mạch tức là gia mạch; có lỗi kiêm biện[14] mà quốc sự tức là gia sự; có phái tự do mà quốc quyền tức là gia quyền. Nước ta có thế không? Ngoài văn chương không có gì là quí; ngoài áp chế không có gì là tôn chỉ; ngoài phục tùng không có gì là nghĩ xa! Đó là sự trái nhau về giới tính tình.
Người Âu trọng du lịch, xem thường hiểm trở gian nan, Ma-tây[15] dời đi Già nam[16] có 40 năm; Kha luôn bố[17] bàng hoàng ở Đại tây dương cũng có đến vài mươi năm; Lợi mã đậu[18] lặn lội ở Tàu cũng đến 19 năm. Ngoài ra như đi thám hiểm Băng dương, đi vòng quanh địa cầu, đều là những việc thường thấy. Nước ta có thế không? Môn học thực dân ta chưa hề nghĩ đến, thị trường hàng hóa ta chưa hề đi tìm. Lìa nhà mươi dặm đã bùi ngùi những mưa gió hoa vàng. Lữ thứ vài năm đã than thở quan hà đầu bạc! Nói gì đến Tiêm la, Diến điện, Nam chưởng, Cao man là đất nước hẻo lánh quê kệch, không ai chịu đặt chân tới; nhưng ngay đến Trung hoa, đối với ta, vốn là chỗ cùng tộc loại, cùng đạo giáo, cùng lễ giáo, văn học, cho đến phương diện giao tế cái gì cũng giống nhau, thế mà người Tàu nhan nhản khắp nơi kinh kỳ đô hội bên ta, còn người nước ta thì chưa từng một ai đến thành Ngũ dương[19] cả! Đó là sự trái nhau về giới phong tục.
Thế nào gọi là nguyên nhân khởi điểm?
Một là khởi ở cái điểm nội hạ ngoại di[20], không thèm hỏi đến chính thuật và kỹ năng của nước khác. Hai là khởi ở cái điểm quý đạo vương khinh đạo bá[21], không thèm giảng đến học phú cường, cơ xảo của nước ngoài. Ba là khởi ở cái điểm cho xưa là phải, cho nay là quấy, không chịu xem xét kiến thức và những sự suy nghĩ bàn luận của người sau. Bốn là khởi ở cái điểm trọng quan khinh dân, nên không thèm kể đến tình hình hay dở ở chốn hương thôn.
Bốn điểm này chính là khởi đầu của năm giới[22], và năm giới ấy cũng là kết quả của bốn điểm. Thành thử mấy ngàn năm nay, văn minh tiến hóa của ta mới có cái tính tĩnh mãi mà không có cái tínhđộng mãi. Thật là đáng ngậm ngùi buồn bã vậy.
Vậy thì sống ở đời nay mà muốn cầu cho văn minh, không thể không lo mở mang dân trí. Này dân có trí thì cái công lệ thiên diễn. Người da vàng chúng ta thì kém gì người da trắng đâu. Có điều là tai mắt chưa thấy qua, thì chưa thể phát triển; hình thức có cái còn thiếu thì không biết bắt chước vào đâu; vốn liếng chưa dồi dào thì không thể nên làm được. Vậy không nhờ người đại biểu để mở mang cho thì quyết là không thể được.
Nay đã từng ngửng đầu trông lên, cúi đầu nhìn xuống, trầm ngâm suy nghĩ cho cùng, để tìm kế mở mang dân trí giữa nghìn muôn khó khăn, thì chỉ thấy có sáu đường:
Một là dùng văn tự nước nhà. Văn tự trong thiên hạ bắt đầu từ ba nhà Khư Lư, Thư Tụng và Thương Hiệt[23]. Những văn tự mà các nước đồng văn với ta vẫn dùng là lối viết từ trên xuống dưới. Văn tự đặt ra là cốt để ghi tiếng nói. Cho nên trong Ân bàn[24], Chu cảo[25] đều là văn bạch thoại; mười lăm thiên Quốc phong đều là những tiếng địa phương người Trung quốc đã nói rồi. Các nước trên địa cầu, nước nào chẳng vậy. Như nước Xiêm, nước Lào, họ có thứ văn tự của họ là lối “Hài thanh, hữu hành”[26]. Nước Nhật gần đây cũng đặt ra thứ chữ riêng của họ. Còn nước ta thì vẫn chưa có. Ấy là một điều rất kỳ. Thiết nghĩ hẳn nước ta đời xưa chắc cũng phải có văn tự, chẳng qua lâu ngày thất truyền mà thôi.
Gần đây mục sư người Bồ đào nha, chế ra chữ quốc ngữ, lấy 26 chữ cái châu Âu phối hợp với 6 âm, 11 vận, đánh vần theo lối hài thanh mà đọc ra tiếng ta, rất là giản dị nhanh chóng. Tưởng nên một loạt học theo. Phàm người trong nước đi học nên lấy chữ quốc ngữ làm phương tiện đầu tiên, để trong vài tháng đàn bà trẻ con đều biết chữ; và người ta có thể dùng quốc ngữ để ghi việc đời xưa, chép việc đời nay, và thư từ có thể chuốt lời đạt ý. Đó thực là bước đầu tiên trong mở mang trí khôn vậy.
Hai là hiệu đính sách vở.  Nước ta từ xưa đến giờ, các nhà viết văn kể cũng khá nhiều. Như Khâm định Việt sử cương mục, như Thực lục, Liệt truyện, Nhất thống chí, Lịch triều chí, Vân đài loại ngữ, Công hạ kiền văn, Địa dư chí, Gia định chí, Nghệ an phong thổ thoại, Đồ bàn thành ký, Hưng hóa thập lục châu kỷ, Phủ man tạp lục v.v… đều đủ để cung cấp tư liệu về sơn xuyên, phong tục, văn vật, điển chương, và để cho người sau mượn đó làm gương nữa. Vậy mà người mình mà một khi đi học là đọc ngay sách Tàu, bỏ sách nước ta không nhìn đến! “Tịch đàm[27], vong tổ”, thật đáng thương thay.
Nghĩ lại, sách Tàu chép chuyện Tàu đã không quan hệ gì với ta cho lắm, rồi đến các thứ tiên nho đời Tống, đời Minh vẫn gọi là vây cánh cho kinh điển thánh hiền, đại loại như các tập Thiền thuyết, Tồn nghi, Đính nghi, Sảng tâm, Mông dẫn, Kinh án, cho đến Thí thiếp và Sách lược, đầy dẫy những lời bàn luận của các nhà đại gia, thì cũng chẳng khác gì bọn múa giáo trong buồng, lục đục bác bẻ lẫn nhau, bịa ra câu hỏi rồi bịa ra lời giải đáp, chỉ làm rối tai mắt người ta và nhọc nhằn cho kẻ học phải ghi nhớ mà thôi.
Xin thử nghĩ: “Xuân vương chính nguyệt” chỉ là một lời chép trong kinh Xuân thu, thế mà người thì bảo là theo tháng giêng lịch nhà Hạ, kẻ thì cho là theo tháng giêng lịch nhà Chu, chẫu mõ vào cãi vã, rút cục hàng trăm hàng ngàn năm nay bàn luận vẫn không ngã ngũ ra sao cả! Cột đồng Mã Viện chỉ là một vết tích của người xưa, thế mà hoặc cho là ở Châu Khâm, hoặc cho là ở Châu Liêm, hoặc cho là ở phía nam nước Lâm ấp, phung phí đến mấy vạn chữ mà chung quy vẫn không tìm ra manh mối gì, rồi phải đặt ra lời đoán phỏng chừng: có lẽ lâu năm đã sụp đổ xuống bể! Ôi giá thử có thể gọi thánh hiền từ âm phủ về chỉ rõ cho ta, cũng chẳng bổ ích gì, huống hồ chỉ uổng công tìm tòi mà chẳng được nào. Kinh, sử còn thế đủ biết sách khác thì thế nào!
Người đời mấy khi sống được trăm năm, thế mà dốc hết tinh thần hữu dụng giam vào đống  sách đầy xe, ngất nóc! Đời người còn có nghĩa vụ phải làm vậy mà nửa phần cái tài trí vô cùng lại bị hao mòn vào chồng giấy loại mọt đục, mối ăn. Vậy thì sách vở há lẽ không nên đem ra hiệu đính lại sao? Tưởng nên đặt ra một tòa soạn sách: pho nào nên đọc, pho nào không nên, đặt thành cái chương trình học để học theo từng cấp mà học cho hết. Tựu trung như Hiếu kinh, Trung kinh, Tiểu học toán chú, Tạc phi am và những lời hay nết tốt của các hiền triết đông, tây xưa, phàm những điều có bổ ích cho nhân tâm thế đạo, đều nên trích lấy đại yếu, viết thành một tập, rồi lại dịch ra quốc ngữ để làm độc bản cho lớp sơ học. Kinh truyện thì chỉ chọn lấy chính văn[28]. Sử thì chỉ chép lấy thế thứ hưng vong, những lý do các việc lớn thành hay bại và khuôn phép chế tác sáng lập. Đại khái lấy Nam sử làm phần chính, rồi dịch nghĩa ra. Lại thêm vào đấy những bản đồ vẽ làng nước, đường sá, đình điền để bổ sung vào. Sử Tàu thì chỉ đọc qua cho biết đại lược. Sử Tây thì có các tập Ngũ đại châu địa đồ, Vạn quốc cương giám, Cận chính sử yếu, Tây học khảo v.v… cần phải bỏ bớt những chỗ rườm rà, để cho người đọc dễ hiểu là được rồi.
Ba là sửa đổi phép thi. Nghĩa lý kinh điển rất là tinh thâm, thế mà muốn mượn văn chương nông cạn để dò xem thực học thì có đúng lý không? Bách gia rộng rãi mênh mông không biết đâu là cùng, thế mà muốn đo sự ghi nhớ của một người để xét nghiệm chân tài, phỏng có hợp tình không?  Vậy nên sách vở dẫu có hiệu đính rồi, mà phép thi vẫn chưa sửa đổi thì cũng chưa phải là tận thiện đâu.
Này nhé, nào là kinh nghĩa, là phú, là thơ, là chiếu, là chiểu, là luận, là văn sách, đều là phép thi của ta cả đấy. Nhưng không biết những lỗi phá, thừa, khởi, thúc, thanh, luật, biến ngẫu có ích gì cho thực dụng không? Lại không biết trong bọn các cụ đồ già, các thầy thạo văn cử nghiệp, có ai là người được biết đến năm châu là những châu gì, thế kỷ ngày nay là thế kỷ thứ mấy? Thế rồi trong lỗi văn thi, cấm liên thượng phạm hạ, cấm lạc vận, thất niêm, cấm viết sai, viết sót chữ trong đầu đề, cấm thiệp tích ở trên dưới hay bốn bề xung quanh dấu giáp phùng[29]hoặc dấu nhật trung đã đóng, cấm những chỗ đồ[30], di[31], câu[32], cải[33], không được sai suyễn. Mực thước đến thế kể cũng đã hết chỗ nói. Nhưng chẳng qua chỉ làm cho người ta bó buộc cái tính tự do, suy sút tinh thần hăng hái, để chăm vào cái học vấn vốn rất vô dụng mà thôi! Chúng tôi đọc tờ thế giới nhất cược[34] có bài “Khoa cử quái” nói “Khoa cử nọc độc, khoa cử thối nát” tưởng không phải là lời quá khích.
Than ôi? Cái trường “Thất tự” cái “vi mại tính”, nếu có vĩ nhân từ đó mà ra nữa thì cũng kể là một cái may thôi. Giờ đây, nếu chưa thể theo lối Thái tây mà đặt ra khoa chuyên môn thì trong khi căn cứ vào văn chương để kén người, có thể tạm dùng luận và văn sách cũng còn có lý đôi chút. Ngay như nước Tàu, từ năm Canh tí đến nay cũng bỏ lối bát cổ mà thi sách, luận rồi. Có lẽ ta cũng nên chỉ dùng hai lối văn ấy để mà khảo sát học sinh. Lấy Kinh, Truyện và ba sử (sử Nam, sử Tàu, sử Thái tây) đặt để mà hỏi, cho phép học trò tha hồ bàn bạc, đối đáp tự do, không phải nề hà, không cần thể cách gì hết. Rồi thêm vào đó, mấy bài về toán pháp, về chữ quốc ngữ, để cho cái mà học sinh học và thi không trái ngược với công việc thực tế mà họ phải làm, như thế thì cũng đã là tạm đúng vậy.
Bốn là cổ võ nhân tài.– Trong bài tựa Cường học hội[35] có nói: “Dục khai dân trí, tiền khai thân trí”, nghĩa là muốn khai trí dân, trước hết phải mở trí phái thân sĩ. Đó là một lời nói rất phải, khám phá được tận gốc. Vì rằng dân chúng thì bắt chước bọn nhà nho, hậu sinh thì trông gương bậc tiền bối, tai mắt vẫn có quan hệ với nhau. Bây giờ sách vở đã hiệu đính, phép thi đã sửa đổi, thì chỉ có thể chờ đợi ở số vài trăm, nghìn, vạn người, tức là các viên thừa biện, hành tẩu, hậu bổ, huấn đạo, giáo thụ, các ông tiến sĩ, phó bảng, cử nhân, tú tài và các cậu tôn sinh, âm sinh, học sinh. Nếu các người đó còn chưa phát huy được những điều mới nghe, mở rộng được tri thức mới, để cho cả một loạt đều mới, thì chẳng hóa ra cựu giới và tân giới hai đằng sẽ xung đột cùng nhau sao? Nhà Giám tiếng là cái chỗ bồi dưỡng nhân tài, nhưng những điều dạy dỗ và học tập đều là văn chương của thời đại, có quan hệ gì với thực tế đâu. Trường quốc học lập nên đã 8,9 năm nay, không phải không đào tạo ra được những tay giao thiệp giỏi, nhưng cũng chưa hề thấy có ai hỏi han đến họ. Có học mà không dùng được thì ai theo đuổi làm gì? Vậy tưởng nên sức cho các viên học quan xét xem người nào đã tốt nghiệp rồi thì bổ vào làm việc trong bộ, trong viện, hễ có tờ thông tư thì bảo họ dịch ra, hễ có cuộc thương nghị thì đem họ đi theo, để người đi học không lo rằng một người Tề dạy bảo mà bao nhiêu người Sở lại la ó[36] và người đã thành tài không ngại tài nước Sở dùng sang nước Tần. Còn những ai không học được chữ Tây thì lập một sĩ học viện để thâu nạp lấy họ, rồi đem các sách Công pháp, Tây sử, Luật lệ, Hội điền, Địa đồ, Toán học, v.v… chứa đầy vào trong viện ấy, đặt rõ chương trình, kỳ hạn, bắt họ phải giảng giải, bồi bổ lẫn cho nhau. Hằng năm sát hạch, ai trúng thì được bổ dụng vào chỗ khuyết. Như vậy thì chẳng đến vài năm, người trong cựu giới sẽ quay sang tân giới cả.
Năm là chấn hưng công nghệ – Thường đọc Lễ nghi chí[37]về triều Lê, thấy có một mục chép rằng: “Phàm những đồ sứ Tàu, chỉ hạng ấn quan[38] trở lên mới được dùng”, mà không thể không than thở cho những kẻ mưu tính việc nước bấy giờ sao mà hủ lậu thế. Ngày xưa (bên Trung quốc), chỉ một mình Tạ An mặc chiếc áo lụa mịn (hoàn y) mà các quan trong triều mọi người đều thích, thế là của dùng trong nước được dồi dào. Phong hóa lướt mau là thế. Bên Thái Tây hễ có một thứ đồ mới thì kẻ này sáng chế, người kia làm theo, dẫu phải nhọc nhằn tốn kém bao nhiêu trong khi học hỏi cũng không hề tiếc! Học thấy ích lợi là thế. Nghĩ lại ta ở địa vị người trên, lại tự chọn lấy tốt mà dùng, mà làm sao mệnh lệnh cho người dưới được. Biết rằng có kẻ hơn mình mà không gắng sức cho hơn họ thì làm thế nào mà ích lợi cho nước nhà được? Thế thì dè dặt sự tiêu phí, chi bằng mở rộng nguồn lợi cho nó lưu thông?
Công nghệ nước ta, ngoài một thứ là khảm xà cừ có tiếng với thiên hạ ra, còn như nón lông, nón dứa, ghế mây, chiếu hoa, đồ sơn, đồ vàng, đồ gỗ, đồ đá, đồ gốm, đồ sứ, đoạn nhiễu, vải, lụa v.v…. phàm thứ gì người Tàu làm được thì ta cũng làm được; nhưng hàng ta sánh với hàng Tàu: đằng tinh, đằng thô, khác nhau rõ rệt. Ấy là bởi không biết chấn hưng công nghệ vậy. Nghe nói Bắc kỳ[39] gần đây đã biết được cách trồng dâu nuôi tằm theo phương pháp mới. Việc ấy đăng cả trên mặt báo. Ở kinh đô vừa rồi có đặt ra sở Canh nông, trường Bách công. Phương pháp đó rất hay, ý thì rất tốt. Phàm người nước ta đều nên cổ lệ thế nào, bắt chước thế nào để mau có công hiệu. Nhưng triều đình đã lảng đi mà không hỏi đến, sĩ phu cũng khinh rẻ mà không chịu làm. Thành thử những người vào học trường Công nghệ chỉ là hạng cu ly; mà học sinh nông trường cũng chỉ là người trồng cây mà thôi. Thế là không biết gì về cách chấn hưng công nghệ.
Công nghệ rất quan hệ với quốc gia. Ta không hơn người thì người sẽ bỏ rơi ta. Tiền của phung phí ra ngoài nước không còn gì hại hơn thế nữa! Tưởng nên đón thầy giỏi, mua đồ mẫu, chọn người khéo tay, nhanh trí khôn để cho vào học, rồi triều đình thường thường săn sóc mà dạy dỗ họ. Lại hạ lệnh khắp nước, hễ ai học được kiểu mới, chế được đồ mới thì theo lối Âu châu, cấp cho bằng khen làm lưu chiểu, thưởng cho phẩm hàm để ngợi khen họ, cấp cho lương bổng để khen thưởng họ, cho giữ quyền sáng tạo để bảo vệ quyền lợi của họ. Những ai giỏi về khoa cách trí, khí học, hóa học, thì làm cho họ được vẻ vang sang trọng hơn cả những người đỗ đại khoa. Như thế mà không có người chịu trổ tài, đua khéo, để cho hơn người thì có lẽ nào!
Sáu là mở tòa báo – Các nước đặt ra báo chí có những danh mục như nhật báo, tuần báo, nguyệt báo, bán nguyệt báo. Thể tài thì chia ra: chính trị, tin tức, thời sự, quảng cáo v.v… Phàm việc trong ngoài, sáng chế mới, tình hình thương mại, cho đến nhà pháp luật, nhà y học, thợ thuyền, thương gia, chẳng giới nào là không có báo. Pháp có hơn 1230 báo quán, Đức có hơn 2350 báo quán, Anh có hơn 2180 báo quán, Nga có hơn 430 báo quán, Mỹ có hơn 14150 báo quán, Nhật bản không quận nào là không có báo. Trung quốc gần đây cũng mở báo rất nhiều. Dân trí được mở mang là chính nhờ đó. Còn nước ta chỉ có Sài gòn và Hải phòng là có báo chữ Tây, người đọc không được mấy! Báo viết bằng chữ Hán thì chỉ có một tờ Đông văn[40] thôi.
Xét thấy viên chủ bút báo Them-xơ là một vị tể tướng về hưu, nên những lời bình luận của báo ấy rất công bằng và xác đáng. Thiết tưởng ở kinh đô ta cũng nên đặt một tòa báo, lựa lấy một vị đại thần làm chủ, lựa một số thân sĩ sung vào; nửa viết bằng chữ nước ta (quốc ngữ), nửa viết bằng chữ Hán. Bao nhiêu phép tốt, ý hay, nghề lạ, ngón khéo ở Âu, Mỹ cùng là những việc xưa nay ở nước ta, hoặc những lời và việc tìm được ở trong sách mà đáng nêu ra làm kiểu mẫu, hoặc những bài thiết thực về thời sự góp nhặt được trong sách luận bài thi, hoặc những người đặc biệt trong đám nhân tài, hoặc có kỹ thuật mới có ích lợi cho nước nhà do giới công nghệ mới tìm ra, thì đều cho đăng lên báo để cho mọi người cùng biết. Giá báo thì tính rẻ và cứ theo ngày đã định, gửi cho các quan lại lớn nhỏ, trong ngoài và các thôn, các xã mỗi nơi một tờ. Trong dân gian nếu ai bỏ tiền ra mua riêng thì có thưởng. Những kẻ thừa hành phát báo nếu chậm không đúng kỳ, đúng lệ thì phạt. Cái lợi thu được đã đủ chi tiêu về việc nhà báo, và nhờ báo chương rồi sẽ phá tan được cái giới câu nệ, tối tăm.
Một đằng thì mất mấy năm trời để học một thứ chữ khác hẳn tiếng mình mà vẫn không có công hiệu; một đằng thì mất không đến sáu tháng để học ngay được văn tự của riêng mình. Vậy thì không thể không theo chữ nước ta, điều ấy rõ ràng hết sức rồi. Một đằng thì theo đuổi lối học đầu ngọn, ghi nhớ từ chương, chung qui chỉ được cái hư văn. Một đằng thì để tâm vào những điều giản dị, rõ ràng và thiết yếu, mà lại thâu được thực học. Thế thì sách vở không thể không hiệu chỉnh, phép thi không thể không sửa đổi, nhân tài không thể không cổ võ cũng là một việc hết sức dễ hiểu vậy.
Cái thuyết khinh rẻ công nghệ đã nổi lên,  thì vàng, bạc, gỗ, đá chỉ là nguyên liệu cho người nước ngoài dùng; cái đạo công nghệ được thịnh hành thì nước, lửa, gió, điện đều giúp ích cho sự cần dùng hằng ngày của dân ta cả. Vậy thì không thể không chấn hưng công nghệ, là điều tất nhiên.
Khư khư ngồi giữ lấy xóm cùng làng hẻm, sao bằng thả lỏng cho tinh thần bay nhảy ra cõi ngoài để cho tất cả vũ trụ đều có thể là nơi mình nằm chơi; dùi mài mấy tập giấy cũ, sao bằng xem báo mới mà trên giấy mực đều là thần trí. Thế thì không thể không mở báo quán là rõ ràng lắm.
Có người nói rằng: non sông nước Nam đã vạch sẵn trong tập thiên thư, văn hiến có từ lâu rồi; phép lục thư[41] đã thông hành rồi, cần gì phải dùng đến chữ mới? Muôn quyền đã giàu rồi, cần gì phải dùng đến tân thư? Khoa cử đã đủ để kén chọn người rồi, cần gì phải theo lối mới? Điều lệ, hiến chương đã đủ để trị nước rồi, cần gì phải dùng đến phép mới? Nếu làm như vậy chẳng hóa ra biến đổi hết nền văn hiến ngàn xưa để bắt chước cái mới được ư?
Than ôi, nếu quả như lời ấy, thì dân trí nước ta đến chìm lỉm tịt mù, không có bao giờ phát triển được nữa. Giả sử thời cục “tỏa quốc” không biến thành thời cục “dây điện, cơ khí” thì những cái “bốn điểm, năm giới” kia sẽ còn lảng vảng mãi trong đầu nhà triết lý, nhà chính trị; gặp việc hư hỏng thì vá cho lành, chữa cho thẳng, tô điểm, phô trương không phải không đủ gọi là văn minh; nhưng ngặt vì không thể thế được. Ví như dây đàn cầm không hòa hài thì phải tháo ra mà sửa lại; nhà ở đã cũ ngàn năm thì phải dỡ ra mà làm lại thì mới có thể ở lại được (lời Lương Khải Siêu). Thời cục cũng vậy, tất phải đến thế. Không nghe câu chuyện nước Nhật bản ư? Trong thời gian hơn ba mươi năm gần đây, nước Nhật thâu thái văn minh Âu châu, nay đã đạt được mục đích rồi. Không nghe câu chuyện nước Tiêm la ư? Trước đây vài mươi năm, nước Tiêm đã giao thương với Âu châu, phái con em đi học, nay chính sự đã có phần mới mẻ, khả quan rồi. Lại không nghe nói chuyện nước Tàu ư? Tàu vẫn là cổ quốc, vậy mà từ khi bị ngoại giới và nội giới kích thích, người Tàu đã tỉnh dậy, người trên dần dần hiểu rằng, phương pháp Âu tây là đáng theo, dưới cũng biết rằng học thuật Âu tây là đáng chuộng. Nay nước Tàu đã có sở Phỏng tạo, có hội quảng học rồi. Họ đang thay cái cốt cũ kỹ câu nệ để nhét vào đó cái đầu óc duy tân; sự tiến hóa của họ thật chưa lường hết được.
Than ôi, người ta đã tỉnh giấc rồi, ta còn mê ngủ. Người đã qua đò, ta còn cắm sào. Thì làm sao đứng nổi trên đài múa văn minh tiến bộ lớn này? Huống chi phong trào vô cùng, cuộc tiến hóa do đó mà cũng vô cùng. (Cái xã hội) mà trước đây gọi là văn minh, nay xem ra chỉ là bán khai thôi. (Cái xã hội) mà trước đây gọi là bán khai ngày nay xem ra chỉ là dã man thôi. Cho nên nói rằng: “cùng thì biến, biến thì thông, thông thì lâu dài”. Lại nói “Hóa mà sửa sang, gọi là biến, suy ra mà làm gọi làthông”. Chí lý thay lời nói của ông Thánh!
Thời buổi ngày nay không phải là thời buổi nên biến thông ư? Người Âu súc tích tâm tư, tài lực có mấy nghìn, mấy trăm năm nay, làm nảy ra được cuộc văn minh, bành trướng không ngừng, lần lượt tràn lan vào các nước châu Á. Ấy thực là một ánh sáng rực rỡ giữa đám tối tăm. Thật là trời mở cho ta mà mình lấp lại sao? Ngày ngày ngồi giữ cái thú ca múa hồ sơn mà không lo, rồi nhìn núi sông đổi dời mà không thương tiếc! Chả biết hai mươi lăm triệu đồng bào ta rồi sẽ kết cục ra sao đây? Chả biết rồi đây người đời sau xem người đời nay, người đời nay xem người đời xưa sẽ đặt ta vào địa vị nào đây?
Nay nếu không muốn mở trí dân thì thôi, ví bằng muốn mở trí dân thì không thể không tìm ra ảnh hưởng để xem cho biết cái cớ bởi đâu mà cuộc văn minh thành ra tĩnh mãi. Ảnh hưởng thế nào? Tức là năm giới như đã nói ở trên đây. Không thể không xét đến nguyên nhân để biết được cái sức ngăn trở văn minh bởi đâu mà ra. Nguyên nhân đó là gì? Tức là bốn điểm đã kể trên đây. Không thể không giữ vững chủ nghĩa để đi đến bước văn minh tấn tới. Chủ nghĩa gì thế? Tức là sáu đường như vừa nói trên đây vậy.
Ôi, đã tìm rồi, đã xét rồi, đã nắm vững rồi, (thì phải đem) búa to đao lớn để phá lũy xưa, xí đỏ, cờ hồng để lên đài mới, phải ném thân vào chỗ thế giới nước xoáy để mài xát nhiệt thành của mình, rồi đưa ra thời đại bay nhảy để cổ lệ cái nguyên động lực, làm sao cho người một nước nhân tư tưởng mà sinh cạnh tranh, nhân cạnh tranh mà sinh tư tưởng. Bây giờ các món học văn minh ngõ hầu mới có được. Công hiệu được thành, sẽ như cái đồng hồ báo thức, chỉ vặn dây cót, cả bộ máy đều chạy. Hiệu quả thu được sẽ như ống hàn thử biểu lên xuống theo không khí mà không sai suyển mảy may. Là vì trình độ dân trí được đề cao dần thì sức bành trướng của văn minh cũng sẽ lớn lên, và nền tảng văn hiến sẽ bền vững lâu dài vậy.
CHÚ THÍCH
[1] Chu quan: tên một tập sách Trung quốc nói về quan chế nhà Chu (1134 – 771 BC) cũng gọi là Chu lễ
[2] Quân tử: tên một tập sách Trung quốc tương truyền là của Quản Trọng, một nhà chính trị có tiếng đời Xuân Thu
[3] Mặc tử: một bộ sách triết lý của Mặc Địch, nhà học giả nước Lỗ, đời Chiến quốc.
[4]Phong nhã thông biên: một tuyển tập thơ Việt nam làm dưới thời Tự Đức. Có một bài tựa do sứ Trung quôc là Lao Sùng Quang viết. Hiện còn chép lại trong phần II tập Sứ trình yêu thoại khúc của Bùi Ngọc Quý.
[5] Quốc thị: kỷ cương mà cả nước thừa nhận là phải.
[6] Hạ tình: những điều mong muốn của nhân dân
[7] Lư thoa: J.J. Rousseau (1712 – 1778) , đại văn hào, nhà triết học, nhà lý luận của chủ nghĩa dân chủ thế kỷ XVIII tại Pháp
[8] Tư tân tắc: Herbert Spencer (1820 -1903): nhà xã hội học, đồng thời cũng là nhà triết học duy tâm của nước Anh, theo xu hướng thực chứng chủ nghĩa (positivisme). Spencer không viết Tiến hóa luận nhưng cũng là một nhà tiến hóa luận, chủ trương xã hội tư bản là tất nhiên, hài hòa (harmony) và cân xứng. Với học thuyết đó Spencer là tiền bối của xã hội học phản động bên Mỹ gần đây,
[9] Mạnh đức tư cưu: Montesquieu (1869-1755) – nhà văn Pháp thế kỷ XVIII. Đại diện cho ý thức hệ dân chủ Pháp thời đó. Dân quyền thiên còn có thể được dịch thành Vạn pháp tinh lý.
[10] Kỳ: còn gọi là cấp.
[11] “Kinh tế” đây ý nói là chính trị của một nước, khác với nghĩa của danh từ kinh tế ta dùng ngày nay.
[12] Ý nói, nước cũng là của chung mọi người.
[13] Cho vay.
[14] Phụ trách một số công việc nhà nước cùng một lúc.
[15] Ma-tây: Moise, một nhân vật vĩ đại trong kinh thánh (phần cựu ước) đã hướng dẫn nhân dân Do thái (hồi đó bị vua Ai cập chinh phục bắt về làm nô lệ) trong cuộc di chuyển 40 năm để thoát khỏi ách thống trị về tới xứ Già nam
[16] Già nam: Chanaan, tức Palestine, thánh địa của dân Do thái.
[17] Kha luân bố: Christophe Colomb (1451-1506)- nhà thám hiểm người Genes đã tìm ra châu Mỹ.
[18] Lợi mã đậu: Matteo Richi (1552-1610) – một nhà truyền giáo Ý đã ở Trung quốc mấy chục năm.
[19] Tức là tỉnh thành Quảng đông.
[20] Nội hạ ngoại di: gần gũi người trong nước, khinh bỉ người ngoài mà mình chê là mọi rợ
[21] Các nhà nho văn cho đạo Nghiêu, Thuấn, Khổng, Mạnh là đạo của nhà vua. Vương đạo là giáo chỉ của các thánh vương, vĩnh viễn sẽ ngự trị trong thiên hạ; còn lối làm cho nước nhà giàu mạnh của Âu, Mỹ chỉ là thủ đoạn khéo léo như cách các bá chủ đời Xuân thu ngày trước. Bá đạo dẫu có thắng lợi trong một thời gian thì rút cục cũng nhất định sẽ thất bại.
[22] Năm giới: tức là lý tưởng, giáo dục, kinh tế, tính tình và phong tục nói trên kia.
[23] Về vấn đề nguồn gốc chữ viết, tác giả bài này đã lầm lẫn. Trong Tam tạng ký nói: “ngày xưa có ba người tìm ra cách viết chữ đầu tiên: người thứ nhất là Phạn đặt ra lối chữ viết từ trái sang phải; người thứ hai là Khư Lư hay Khư Lâu đặt ra lối chữ viết từ phải sang trái; người nhỏ tuổi hơn hết làThương Hiệt đặt ra lối viết từ trên xuống dưới. Phạn và Khư Lư là người ở Thiên trúc (Ấn độ), Thương Hiệt làm quan đời Hoàng đế, người Trung hoa…” Còn Thư Tụng không phải là một trong ba người đặt ra chữ mà chỉ là một sử quan thời Hoàng đế cũng như Thương Hiệt.
[24] Thiên Bàn canh trong Kinh thư. Văn đời nhà Ân.
[25] Các thiên Cảo như Tiểu cảo, Đại cảo, Thiệu cảo, v,v… trong Kinh thư, sách đời nhà Chu. Bàncũng như Cảo đều là viết theo lối bạch thoại ngày xưa.
[26] Chữ đọc theo lối đánh vần và viết theo lối từ trái sang phải.
[27] Tịch Đàm vong tổ – sách Tả truyện chép: Tịch Đàm làm tôi nhà Tần, khi vào yết kiến vua nhà Chu, vua hỏi về điền lễ cũ của nhà Tần, Tịch Đàm không trả lời được, vua bảo rằng Tịch Đàm kể điền lễ cũ mà quên cả tổ tiên.
[28] Chính văn: những lời chính thánh hiền nói ra, chép theo nguyên văn. Ngày xưa gọi là bài cái. Các bài bàn của các nhà nho sau đó gọi là bài hai, bài ba.
[29] Theo phép thi ngày xưa, muốn ngăn ngừa việc gian lận, quyển của thí sinh, nơi hai tờ giấy giáp nhau, bao giờ cũng có dấu son của quan trường; dấu này là dấu giáp phùng. Lúc đứng trưa, thí sinh lại phải xin đóng một dấu vào giữa đoạn văn mình đang viết gọi là dấu nhật trung rồi mới về lều viết tiếp.
[30] Đồ: xóa
[31] Di: viết sót
[32] Câu: chữ dưới móc lên trên
[33] Cải: đổi, viết lại chữ khác.
[34] Chuỗi cười thế giới.
[35] Cường học hội: một hội học do nhóm Khang Hữu Vi tổ chức ở Bắc kinh dưới thời Quang tự, cuối thế kỷ 19 để cổ vũ cho tư tưởng Duy tân
[36] Nhắc lại một câu của Mạnh Tử có ý rằng: khi học tiếng nước ngoài mà chung quanh người ta chỉ nói tiếng nước mình thì cũng vô ích.
[37] Một loại chí trong bộ Lịch triều hiến chương của Phan Huy Chú.
[38] Hàng quan có ấn để đóng dấu trên các văn kiện
[39] Tác giả bài này có thể là người miền Trung?
[40] Tức tờ Đại nam đông văn nhật báo.
[41] Lục thư: sáu lối đặt chữ trong hệ thống chữ Hán: tượng hình, chỉ sự, hài thanh, hội ý, chuyển chú và giả tả.

Thứ Hai, 30 tháng 6, 2014

Vấp ngã dại khờ - Suzie Quatro & Chris Norman

     Nói chuyện lý luận, hệ thống, ngôn ngữ và địa chính trị mãi, thông thái thì có thông thái ra, nhưng có lẽ lòng chân thành và nhiệt tình cùn đi, vì sợ sai và sợ nói những điều ngu đần. Đức Phật, Thánh nhân, Thiên Chúa và cả loài người hàng ngàn năm vẫn không thể biết được sự thông thái và lòng chân thành, cái nào đưa con người tới minh triết nhanh hơn.

     Hôm nay có một "cô" (bà) bạn cũ post bài này trên FB. Đây là một bài hát cũ vào những năm 80. Tôi bình: "Đây là bài ruột của mình", "Cô" ấy: "Mình cũng yêu bài này", Tôi: "Có lẽ là cái còn thiếu".

     Suzie Quatro là nữ ca sĩ thần tượng của tôi, say đắm, nhiệt thành và táo bạo. Tôi đã định viết về nàng để bắt đầu chuỗi bài về âm nhạc trong blog. Những bài như "Can the can" và "If you can't give me love" luôn nằm trong danh sách 50 bài nhạc mà tôi yêu nhất. Không biết vì nhạc hay, hay kỷ niệm về đêm hè nồng cháy năm xưa trên đảo Margit, Budapest, khi chúng tôi được nghe nàng hát live, nhỏ nhắn, xinh đẹp trong bộ quần áo da nổi tiếng, dưới những tán lá cổ thụ um tùm, trên bãi cỏ dày mượt.
Chúng tôi, nghe mà cảm thấy máu chảy dào dạt từng đợt trong huyết quản. Cảm giác đó không thể nào quên.

     Nhưng cuối cùng do tình cờ tôi lại viết về Stumlin in. Chris Norman có lẽ là nam ca sĩ hát hợp nhất với Suzie, do chất giọng và ngoại hình đầy nam tính của anh. Bài "Lay back in the arms of someone" với ban nhạc Smokie, có lẽ là tuyệt phẩm của anh. Tuy vậy, các bài hát của anh về tình yêu đều có sức quyến rũ đặc biệt. Tuy nhiên, sự phối hợp của Chris với Suzie mới làm tôi say mê anh. Theo tôi cặp Suzie Quatro-Chris Norman là cặp ca sĩ đẹp nhất và cháy bỏng nhất.

     Nói chuyện âm nhạc mà vẫn không thoát được lý luận xám. Nghe Stumblin In, nhớ cuối tuần trước, có người hỏi "Theo anh cần gì để làm CNTT thành công ở Việt Nam", tôi trả lời "Thành tâm và thành ý". Tiềm ẩn sau đó là "Bớt sợ sai và bàn suông". Có lẽ nghe nhạc của Suzie và Chris cũng là bổ khuyết cho những cái "không đàm ngộ quốc".
      Mời các bạn nghe

     Chưa có thời gian nhiều, dịch ẩu thì sợ làm hỏng bài hát. Tôi tạm dịch điệp khúc, cố gắng sao có thể hát theo được. Hát lẩm nhẩm lời Việt, thấy cũng không đến nỗi tệ:

Stumblin in

Our love is alive, and so we begin
Foolishly laying our hearts on the table
Stumblin' in
Our love is a flame, burning within
Now and then firelight will catch us
Stumblin' in


Cuộc tình mình còn đây, và chúng ta bắt đầu 
Cuồng nhiệt bày ra, trái tim ta còn sáng trong
Vấp ngã dại khờ

Cuộc tình còn là lửa bay, sẽ thiêu cháy tâm hồn
Cuộc tình mình còn say, sẽ lôi kéo đôi ta
Vấp ngã dại khờ





Thứ Bảy, 28 tháng 6, 2014

Thơ Đường: Lên Cao - Đỗ Phủ

Hôm nay, tình cờ gặp câu thơ hay: "Vạn lý bi thu thường tác khách", thấy cảm khái, liền tạm dịch ra cả bài. Lần đầu tiên mình thấy trình bày thơ thất ngôn bát cú làm 04 dòng, mỗi dòng một câu, có chấm câu hẳn hoi, sau mỗi đoạn 7 chữ là dấu phảy. Trước kia cứ tưởng là hết 7 chữ bắt buộc phải xuống dòng.
Nhớ đến Đỗ Tử Mỹ, không khi nào tôi không thấy xót xa, nhớ đến cuộc đời long đong không nhà, đói khát bệnh tật, của thi sĩ. Tôi luôn ám ảnh đến rơi nước mắt ra cảnh nhà thơ đầu bạc, quần áo rách nát tả tơi, thở hơi cuối cùng trên một chiếc thuyền nát xuôi dòng Trường Giang trong tiếng khóc của vợ con. Không biết ông được chôn ở đâu, gia đình ông lưu lạc về đâu. Thân phận bạc như thế mà thơ ông không bao giờ hết thương người và lo nghĩ cho vận nước. Có lẽ đó là cái giá phải trả cho thiên tài chăng?

Nguyên văn:
       登高 

风急天高猿啸哀, 渚清沙白鸟飞回.

无边落木萧萧下, 不尽长江滚滚来.

万里悲秋常作客, 百年多病独登台.

艰难苦恨繁霜鬓, 潦倒新停浊酒杯.
Phiên âm:
Đăng cao 

Phong cấp thiên cao viên khiếu ai, chử thanh sa bạch điểu phi hồi.

Vô biên lạc mộc tiêu tiêu hạ, bất tận trường giang cổn cổn lai.

    Vạn lý bi thu thường tác khách, bách niên đa bệnh độc đăng đài.

    Gian nan khổ hận phồn sương tấn, lạo đảo tân đình trọc tửu bôi.

Bản dịch và lời bình thơ của Lệnh Lỗi Dương

Bình nghĩa:
Gió lộng trời cao vượn gọi buồn
Cồn xanh cát trắng chim bay về
Mênh mông cây rụng xào xạc rơi
Bát ngát sông dài cuồn cuộn đổ về
Ngàn dặm sầu thu thường làm khách
Trăm năm nhiều bệnh cô độc lên đài
Gian nan khổ hận mai điểm bạc
Lạnh lòng dừng bước chén rượu xoàng   
Bình nghĩa:
       Thi sĩ một mình leo lên một cái chòi cao, có lẽ là một chòi gác, trên núi cao ở vùng biên giới. Vào đời Đường, đề tài về biên giới luôn ám ảnh các thi sĩ do đất nước luôn bị đe dọa nạn ngoại xâm từ phương Bắc, vì vậy hình thành hẳn một thể thơ gọi là thơ biên tái. Loại thơ này thường hùng tráng pha chút buồn hào sảng của tráng sĩ trước cảnh nước nhà khuynh nguy. Tuy nhiên, đây là một bài thơ buồn của một nhà thơ tài cao, cô độc, lỡ vận.
       Bài thơ tả rõ đó là một buổi chiều, trời đã sang thu, gió bấc đã thổi lộng, lạnh hun hút. Tiếng vượn kêu làm buồn lòng người, chim xao xác về tổ gợi nhớ một cảnh đầm ấm gia đình. Rừng cây mênh mông lá rụng lả tả, trên sông nước cuồn cuộn đổ về, gợi tâm trạng đời người ngắn ngủi trước cái vô tình vô tận của cuộc đời. Thi sĩ suốt đời không có nhà, lang thang khắp nơi, không có chốn dừng lại, mỗi mùa thu đến lại có tâm trạng buồn cho tất cả các mùa thu trên đường lang thang vô định. Cuộc sống vất vả khổ sở, nên nhiều bệnh, nhưng đến đây vẫn một mình cố trèo trên chòi gác để nhìn cảnh. Có lẽ không ai đi theo vì thấy đây là một đam mê lẩn thẩn của thi sĩ và ngại phí sức leo lên cao. 
       Tác giả rõ ràng hơi chạnh lòng nghĩ đến số phận gian nan của mình, tóc đã điểm sương. Khi chán nản chỉ biết lấy chén rượu để an ủi, chẳng quan tâm đến thưởng thức hương vị ngon dở.
       Bài thơ này dịch vừa dễ lại vừa khó. Dễ vì chỉ cần phiên âm Hán Việt, hơi thơ âm điệu đã chan chứa tình và cảnh. Khó bởi vì những hình ảnh hay, song hành lấp đầy các chỗ trong thơ, không thể vi phạm, thay đổi sẽ đánh mất ngay giá trị của bài thơ. Vì thế mấy chữ còn lại rất dùng để tả những ý súc tích còn lại. Hơn nữa, lại có những ý hàm chứa do các đoạn phối hợp mà thành. Ở trong bài này có ba chỗ như vậy. Đầu tiên là "điểu phi hồi" đúng ra chỉ là "chim bay về (tổ)", tuy nhiên vì đứng trong khổ này nên phải lột tả được ý buồn chim có tổ, còn ta không có nhà mà về. Ý thứ hai là "độc đăng đài" (một mình lên đài), không có cách gì dùng 3 âm tiếng Việt để thể hiện. Mà dùng bốn chữ thì phạm vào cặp ý song hành trác tuyệt "vạn lý sầu thu" và "bách niên đa bệnh". Đành phải dịch thoát lấy ý phàn nàn "đã ôm bệnh" mà "cả đời vẫn phải một mình đi, leo để nhìn thiên hạ". "Tân đình trọc tửu bôi" cũng là một cái bẫy. Nhiều học giả giải thích là "mới ngừng uống rượu vì nó là ô trọc". Nếu thế thì không ăn nhập gì vào ý tứ của bài thơ. "Tân đình" thực ra là "mới dừng chân" đối với "khổ hận" (hận lắm, hận mãi), một thoáng thực tại đối với một nỗi khổ tâm kéo dài, đành tạm dịch thoát lấy ý "tạm uống". Còn một ý khác "viên khiếu ai" là "vượn kêu buồn", rất may "vượn gọi ai" cũng tỏ ý buồn mà giữ được vần và chữ.
  
Dịch thơ:                                                         Lên cao
Gió lộng trời cao vượn gọi ai
Cồn xanh cát trắng chim về rồi
Lá rừng mênh mông xào xạc đổ
Trường giang cuồn cuộn mãi sóng dồi

Sầu thu vạn dặm luôn là khách
Ôm bệnh suốt đời đi mãi thôi
Gian nan khổ hận mai điểm bạc
Đắng lòng tạm uống chén rượu hôi
Lời bạt
            Dịch và bình nghĩa xong mới đọc một số bình phẩm khác mới được biết bài này được xưng tụng là "tinh quang vạn trượng, thị cổ kim thất ngôn luật thi chi quan" (tỏa sáng vạn trượng, đứng đầu trong thơ thất ngôn xưa nay). Như vậy là mình gặp may hôm nay, ngẫu nhiên gặp được bài thơ hay. Dich xong, sửa lại vài chữ không thuận tai.

Thứ Sáu, 27 tháng 6, 2014

Thế Tam Quốc: Nho Sĩ, Hoàng Thất, Võ tướng và Quản lý Hành chính

La Quán Trung mượn lời các nhân vật mà cho là Tào Tháo nắm được Thiên Thời, Tôn Quyền nắm được Địa Lợi, Lưu Bị nắm được Nhân Hòa. Các khái niệm này đều rất chủ quan và mờ nhạt, rất khó phân tích.
      Nếu xét về xuất thân, Tào Tháo vốn là nho sĩ, đã đậu hiếu liêm (tương đương với tiến sĩ sau này), do đó theo quy luật, phải lấy danh nghĩa tôn phù hoàng thất. Tuy là nghe mưu của Tuân Úc, nhưng cũng là quy luật từ xuất thân nho sĩ. Chính vì vậy, ông đã chiêu mộ được các nho sĩ thời đó như Trình Dục, Quách Gia, Tuân Úc, Giả Hủ,...Mặt khác ông luôn mở cửa với các nho sĩ khác. Chính vì thế, giữa Tào Tháo và Quan Vũ, một võ tướng mê Nho học, có sự cảm thông nhất định. Chính vì tư cách nho sĩ và có danh nghĩa hoàng thất, Tào Tháo, tồn tại được và lần lượt đánh bại các đối thủ trong một vùng thụ địch bốn phía, có số lượng dân đông nhất, nhiều nhân tài nhất. Do đó, tập đoàn của ông chiếm được ưu thế lớn nhất, ưu thế đó được La Quán Trung gọi là Thiên Thời.
     Tôn Kiên, Tôn Sách là cha và anh của Tôn Quyền là võ tướng. Thế lực của Đông Ngô dựa chủ yếu trên các võ tướng và dựa vào các tuyến phòng ngự tự nhiên. Tuy gọi là địa lợi nhưng có lợi cho phòng thủ, nhưng không có lợi cho thế tiến công. Những cố gắng tấn công hiếm hoi của tập đoàn này từ thời Tôn Quyền cho đến Gia Cát Khác đều thất bại thảm hại.  Do đó, tập đoàn võ tướng này nói chung, không có chí thâu tóm thiên hạ, mà chỉ cố giữ chặt phần đất đã có. Thực tế, Tôn Quyền cũng xưng đế sau cùng, khi bắt buộc phải làm vậy để tập hợp quần thần.
      Lưu Bị xuất thân không rõ ràng, cũng bắt đầu là một võ tướng, nhưng sau theo mưu của Gia Cát Lượng cố gắng khai thác lý lịch hoàng thất, mà sau này sử gia Tư Mã Quang đánh giá là không rõ ràng.
Việc dương cao ngọn cờ hoàng thất chỉ phát huy hiệu quả tối đa, khi Tào Phi tiếm ngôi. Ông tụ tập được những người theo lý tưởng tôn phù hoàng thất như Gia Cát Lượng.
     Trong nội bộ mỗi tập đoàn cũng lại có một thế chân vạc khác giữa các phái hoàng thất, võ tướng và nho sĩ. Giữa các nhóm này cũng phải luôn luôn có sự tranh giành ảnh hưởng.
     Phái nho sĩ ở Thục đứng đầu là Gia Cát Lượng, sau này là Tưởng Uyển, Phí Vĩ, luôn phải đấu tranh quyền lực với phái võ tướng có nhiều quyền lực như Quan Vũ, Trương Phi, Ngụy Diên,... Phái hoàng thất đóng vai trò điều hòa, nhưng đôi khi cũng phải nhường bước. Như Triệu Vân, là một võ tướng, nhưng có thể xem là thuộc phái hoàng thất, không được đãi ngộ xứng đáng với công lao và đôi khi bị khiển trách, cách chức mặc dù không có lỗi. Một số đại biểu của phái quản lý hành chính bắt đầu bằng Pháp Chính, sau đó là Lý Nghiêm, một trong ba vị phụ chính đại thần được Lưu Bị thác cô và Liêu Lập không thể phát triển được và thất bại của họ gắn liền với sự yếu kém và cáo chung của nhà Thục Hán.
      Tại Đông Ngô, sau thời kỳ toàn thịnh liên tiếp của các võ tướng như Chu Du, Lỗ Túc, Lã Mông, Lục Tốn, Chu Thái, là đến thời kỳ phái nho sĩ cầm đầu là Gia Cát Khác đã thành công nắm đại quyền. Nhưng chỉ một thời gian ngắn, Gia Cát Khác bị đảo chính, và bị diệt tộc cùng với đồng đảng Đằng Dận, Lã Cứ bởi phái hoàng thất cầm đầu bởi Tôn Tuấn. Phái võ tướng cầm đầu là Đinh Phụng liên kết với phái quản lý hành chính là Trương Bố tiêu diệt được Tôn Tuấn. Nhưng cuối cùng phái hoàng thất cầm đầu là Tôn Hạo vẫn nắm quyền độc tài cho đến khi suy thoái.
        Tại Tào Ngụy, các đời Võ đế Văn đế đều là nho sĩ kiến tạo hoàng thất, nhưng sau đó lại trấn áp các nho sĩ, bắt đầu là Khổng Dung, Nễ Hành sau đó là Tuân Úc, cuối cùng chỉ còn sót lại một số nhân vật nhợt nhạt như Vương Lãng. Cố gắng vươn lên không thành của phái nho sĩ là Gia Cát Đản, Chung Hội, Đặng Ngải đều kết thúc trong bi kịch. Phái võ tướng xem như cáo chung với tư cách một thế lực chính trị sau thất bại của Tào Sảng, kết thúc bằng việc Hạ Hầu Bá phải hàng nhà Thục. Sau đó, phái quản lý hành chính của Tư Mã Ý dần đi lên và trở thành một thế lực chính trị mạnh nhất. Chính đó là động lực làm Ngụy mạnh lên, có khả năng tiêu diệt hai tập đoàn Ngô Thục, nhưng hoàng thất bên Ngụy ngày càng yếu dần dần bị thay thế bằng tập đoàn Tư Mã, vốn là quản lý hành chính.
        Cục diện Tam Quốc kết thúc bằng sự thắng thế của tập đoàn có tổ chức quản lý hành chính ưu việt hơn. Nói theo ngôn ngữ hiện đại: các phái Tuyên Huấn, Quân Đội và Bảo Hoàng đánh nhau, bên nào nhanh chóng chuyển đổi thành bộ máy Quản lý Hành chính sẽ thắng.

Chủ Nhật, 22 tháng 6, 2014

Nghĩ về SOA ở Việt Nam

Tuần trước, trong bài giảng về SOA cho sinh viên cao học, để học viên có thể cảm nhận được tại sao lại cần SOA, tôi có một số nhận xét và liên hệ thực tế thế này:

1. Ở Việt Nam, chưa có khái niệm dịch vụ thực thụ. Thành thử, mỗi người phải biết nhiều thứ. Sống ở Việt Nam thành thử rất mệt mà vẫn bất an. Chỉ cần không đủ am hiểu về một mặt thiết yếu từ y tế, giáo dục, khai thuế, xin giấy tờ, quan hệ với công an phường, gia hạn đăng ký xe thậm chí đến cả móc cống, diệt gián, tắc nhà xí, xây nhà, sơn tường... là rầy rà ngay. Một hệ thống tổ chức như vậy hoàn toàn không có kiến trúc, rất thiếu hiệu quả,  tốn kém overhead, vì vậy chúng ta nghèo là đương nhiên.

2. Chẳng hạn, chúng ta có ngành y tế, bác sĩ có thể giỏi, nhưng khu vực y tế chưa tổ chức thành dịch vụ y tế thực sự. Bằng chứng là người bệnh luôn phải biết về bệnh của mình. Nhiều khi có bệnh, chúng ta hỏi bệnh nhân về bệnh đó sẽ được thông tin đáng tin hơn hỏi thầy thuốc. Cho dù, chúng ta tìm được thầy thuốc giỏi, chúng ta vẫn phải quan hệ với y tá, người phục vụ, nơi mua thuốc thang, các bộ phận khác như chụp, xét nghiệm,... chỉ một khâu không kiểm soát là cái sảy nẩy cái ung. Thí dụ như cậu em cọc chèo của tôi, đi khám bác sĩ, cũng có người quen giới thiệu hẳn hoi. Bị phán là ung thư, uống hàng vốc thuốc hàng tháng trời, người cứ lả đi, bắt chuồn chuồn. Một ngày đẹp trời đến kỳ kiểm tra thường xuyên, anh bác sĩ điều trị bị ốm, ông bác sĩ khác thay nói "Bậy, cậu có bị gì đâu". Thế là bỏ hết thuốc đang uống, uống 2-3 ngày loại thuốc mới, lại khỏe như vâm. Thế thì biết tin ai. Cũng trong gia đình, cô em vợ tôi bị bác sĩ phán là sẽ nhũn não trong vòng 3 tháng, khóc như mưa gió, đến nay gần 20 năm không thấy gì. Một dịch vụ chỉ thực sự là dịch vụ, nếu được chuẩn hóa, người dùng có thể tin tưởng, không cần đi sâu vào các chi tiết, mà chỉ cần quan tâm đến giao diện đầu vào và đầu ra. Dịch vụ phải được chuẩn hóa, đảm bảo sẵn sàng, dễ tìm kiếm và được đăng ký với hệ thống, đảm bảo minh bạch. Minh bạch sẽ dễ nâng cấp về chất lượng.

3. Con em chúng ta đi học. Nếu giáo dục là dịch vụ tốt, chúng ta không cần biết đến thầy cô từng môn, bác gác trường, thầy hiệu trưởng là ai. Cùng lắm chúng ta biết đến giáo viên chủ nhiệm, nhưng chủ yếu là sổ học bạ. Đằng này chúng ta phải biết rõ mọi chi tiết về nhà trường, tự lo học thêm, quản lý con cái cả trên đường về nhà. Nếu không, một ngày nào đó, bạn sẽ thấy con mình sẽ bị ai đó lượm mất. Chúng ta còn phải biết trẻ học thế nào, thi môn gì, để quản chặt con cái, biến chúng thành những mẫu hình theo chủ quan của chúng ta. Mọi sự phát triển tự do, vượt khung sẽ kèm theo hiểm họa khôn lường. Chúng ta phải đánh đổi tính sáng tạo, tâm hồn, sự hào hiệp, cá tính lấy sự ổn định, an toàn. Như vậy đâu có phải là kiến trúc hướng dịch vụ.

4. Nếu nhà của bạn cống, bồn cầu tắc, bạn có thể gọi các công ty "dịch vụ". Họ sẽ cử các kỹ thuật viên tới. Bạn sẽ phải không ngừng la hét, chổng mông chui vào gầm nhà, chúi mũi vào bồn cầu, cống thối để chỉ đạo, kiểm tra kiểm soát, hướng dẫn, thậm chí phải tham gia vào công việc mà bạn không hiểu một chút gì. Bạn mà dám giao phó cho họ, chắc chắn bạn sẽ phải hối hận, vì sẽ có những sự cố có khi còn trầm trọng hơn vấn đề của bạn. Không chỉ là bạn, chính tôi, bạn bè của tôi, anh em của tôi, hàng xóm của tôi và những người tôi biết đều vậy. Cái gọi là Kỹ thuật viên chỉ có giá trị ngang chiếc găng tay để bạn khỏi phải trực tiếp mó tay vào bẩn thỉu hôi thối. Bạn phải hướng dẫn họ, tháo chỗ nọ, lắp chỗ kia, chọc chỗ kia nữa. Đó có phải là dịch vụ không? Xin thưa không hề. Lý do ở đâu. Toàn bộ cuộc sống của chúng ta chưa được kiến trúc theo hướng dịch vụ.

5. Một lần tôi là chủ đầu tư một dự án tư vấn nhỏ. Dĩ nhiên, tư vấn dự án là nghề của tôi, nhưng chỉ có những chủ đầu tư dại dột, thiếu kinh nghiệm không biết sợ cái luật pháp thất thường của Việt Nam mới tự làm tư vấn cho mình. Tôi dù sao cũng được bạn bè anh em tư vấn, bèn gọi một công ty có tiếng, có thể nói hàng đầu trong lĩnh vực CNTT. Khi kick-off thì cả Phó Tổng, Chủ tịch sang cùng với một bộ sậu, sang chém gió nghe rất hãi, rất tin. Nếu họ không làm thì chắc chẳng ai làm được. Ấy thế mà khi ký xong hợp đồng, họ cử một đội, cầm đầu bởi một cô bé PM hoàn toàn không biết gì về CNTT. Có hỏi cũng chẳng biết được gì, thành thử chúng tôi phải chạy theo từng người trong đội, cho đến khi kết luận, họ không thể làm được. Chúng tôi bèn xin dự án về để các chuyên viên tự làm, với một giá rẻ mạt, tượng trưng. Chúng tôi vừa làm vừa nghiệm thu cơ sở, bảo vệ với cấp trên. Cơ quan của chúng tôi thì thẳng tay thu tiền vì nghe nói chúng tôi tự thực hiện, chắc ăn hết kinh phí. Cuối cùng là công sức của chúng tôi bị ăn chặn cả hai đầu. Công lý ở đâu? Đó chính là vì không có kiến trúc hướng dịch vụ.

6. Nhân tiện kể chuyện Tam Quốc: Thời đó quần hùng nổi lên như ong, nếu sống ở thời đó, nếu phải đặt cược có thể chọn sứ quân nào. Tập đoàn Lã Bố, Mã Siêu, chủ tướng đều võ nghệ siêu quần, đánh đâu được đó. Nhưng tiên phong, chém tướng phá thành, bày mưu tính kế, chỉ huy chiến dịch, làm chủ tướng cũng chỉ một người đó. Đó là tổ chức không theo SOA. Chủ tướng đi đâu các tướng cũng xúm xít đi theo mà như thừa, chẳng làm gì. Chủ tướng mà cũng hùng hục đánh nhau, mồ hôi mô kê nhễ nhại, đánh vật với mấy thằng cơ bắp vô danh tiểu tốt. Để chủ tướng địch ngồi mát, có thị tỳ bóp chân, nghĩ ra kế sai mấy thằng tướng khác lẻn qua sông cướp lương. Đó mới là SOA.

7.  Ở Việt Nam, vì vậy, chưa vội nghe người ta nói SOA cũng hô theo. Các hệ thống hiện nay của IBM, Oracle, HP, MS,.... đều đã có sẵn SOA, nhưng hệ số sử dụng chắc chắn cũng như các thiết bị, hệ thống phần mềm khác, khoảng 20% đã là cao.  Trước tiên phải, tập xây dựng các dịch vụ và chuẩn hóa chúng đã, đến một mức độ nhất định mới có thể sắp xếp vào kiến trúc hướng dịch vụ SOA.

8. Dịch vụ phải chuẩn hóa, có giao diện, trong suốt, không phải chọc vào phần implementation, chất lượng phải được kiểm thử, khi có yêu cầu thay đổi phải đảm bảo hoạt động liên tục. Thời gian nâng cấp, sửa lỗi phải nhanh nhất, vì đã được tổ chức thành các module, như các lô cốt,  nếu có tác chiến trong một lô cốt thì không thể lan rộng sang các lô cốt khác. Như thế dịch vụ có thể cung cấp, sử dụng lại được cho nhiều ứng dụng khác nhau. Đó chính là tiêu chuẩn của dịch vụ, trước khi triển khai SOA.


Thứ Bảy, 21 tháng 6, 2014

Chuyện phiếm về các dấu trong văn viết

     Các dấu trong văn viết biểu thị tình cảm, hình thái, văn cảnh, điều chỉnh mạch văn, sắp xếp ý cho có ngăn nắp, tránh hiểu lầm,... vốn không phải là phát minh của văn minh châu Á, Hoa Hạ và cố nhiên càng không phải là sáng tạo của Việt Nam. Nói cho cùng, nếu không sử dụng bộ chữ La Tinh, vốn phát minh ra ở Âu Châu, thì có khi chưa có Thơ Mới, Tự Lực Văn Đoàn, Tiểu thuyết Thứ Bảy, văn học cách mạng,... Có thể nhân tiện kể luôn cả văn học phản động vào đây, vì vốn ngôn ngữ chẳng có lập trường. Có chăng là những cuốn tiểu thuyết với giọng như tuồng cải lương với những "thế ru", "há chẳng",...
    Cho đến nay đọc văn Tàu mới thấy, họ dùng các dấu trong câu rất kém, kém xa người Việt, chất lượng tồi, dùng không chuẩn xác, câu thì dài lê thê, với các mệnh đề chẳng ăn nhập gì với nhau, luộm thuộm chẳng khác một mụ già hàng cá lắm điều ngồi kể lể từ chuyện cá mú ươn sang chuyện con mèo hàng xóm sang ăn vụng nồi cá kho nhà mình. Âu cũng là cái hiếm hoi chúng ta có thể tự hào, biết đâu lại là lối ra mà chúng ta có thể nhanh chân bứt hẳn khỏi anh láng giềng cú đỉn khó chịu. Không phải là tất cả, nhưng đại đa số các ưu thế hiếm hoi của chúng ta với anh láng giềng này đều có xuất phát từ trời Tây.
     Trước khi cao đàm khoát luận về những vấn đề "vu khoát" mà đa phần đều dẫn về một điểm bế tắc chung, chúng ta hãy trở lại chủ đề chính, là chuyện sử dụng những dấu trong văn viết. Điều kỳ lạ là không ai để ý tới việc sử dụng các con dấu, ngay cả trong nhà trường cũng chẳng biết năm nào khi nào thì người ta dạy cách dùng dấu. Tôi dám đánh cuộc là chẳng có sách vở nào nói đầy đủ về quy tắc sử dụng các dấu như chấm, phảy, xuống dòng, chấm phảy, chấm than, chấm hỏi, ngoặc đơn, ngoặc kép,... Rồi chúng ta phê phán, sửa lỗi, dạy bảo nhau, cũng chẳng dựa trên quy chuẩn nào. Hoàn toàn kinh nghiệm và cảm tính.  Có một giáo sư Việt Kiều khá nổi tiếng, thành danh về chuyên môn xong xuôi khi còn trẻ, nên anh bỏ thời gian đáng kể để dạy dỗ lớp trẻ, phê phán lớp già người Việt về viết văn. Nhưng có lần anh sử dụng dấu phảy sai một cách có hệ thống, tôi góp ý (theo yêu cầu của anh), thì anh ta tự ái đến mức phản ứng, và khi tôi giải thích rõ anh chẳng buồn cảm ơn một câu cho lịch sự. Chuyện chữ nghĩa ở ta còn ở mức phân định theo cảm tính, mà đã cảm tính thì đi liền với tự ái, chầy cối, có khi thù hằn, chiến tranh, tìm cách hủy diệt nhau như chơi.
    Có người bảo dùng các dấu dễ, chẳng cần học: Này nhé, dấu chấm dùng để ngắt câu. Câu là phức hợp là gồm các mệnh đề có liên quan chặt chẽ với nhau. Ấy thế mà dịch các câu tiếng Việt ra tiếng Anh, kể cả các đề tài chính trị, văn chương hay khoa học rất nhiều khi phải dịch một câu thành ba bốn câu mới đúng quy định hành văn tiếng Anh. Thuở tôi mới về Việt Nam, cũng mấy lần được vinh hạnh viết diễn văn cho lãnh đạo. Các câu văn của tôi thường ngắn gọn, ít tán thán, thường bị chê là văn Tây. Sau đó được khen có tiến bộ với một cải tiến nhỏ, cố gắng đừng chấm câu 2,3 lần trước khi chấm một câu, thế là rõ văn Việt. Đơn giản, cứ như tụt giày Tây đi dép lê, kéo áo sơ mi ra ngoài quần, xắn ống tay quá khuỷu, xỉa răng toành toạch... là hòa đồng với văn hóa Việt.
     Đọc văn Tàu mới thấy, bản năng hướng Hoa của người Việt ta nó mạnh đến mức thành bản năng ở cả chi tiết nhỏ, đến nỗi ngẫu nhiên đi nhanh hơn được có chút lợi thế cũng phải đi chậm lại, vứt bỏ lợi thế để hướng về phía anh bạn láng giềng. Có lẽ cũng nên làm một nghiên cứu nhỏ thống kê về các câu dài lê thê trong tiếng Việt, tiếng Tàu để so sánh với cách viết tiếng Anh.
    Bạn có thể nói tôi là đang làm to chuyện, có mỗi chuyện dấu chấm. Tôi có thể bảo đảm là việc dùng dấu phảy cũng có vấn đề, đặc biệt sử dụng dấu xuống dòng là một xa xỉ phẩm. Nếu nhìn vào văn bản, có thể đánh giá, ít nhất 95% sinh viên, học sinh, trí thức có bằng cấp học vị, không biết sử dụng dấu xuống dòng để làm gì. Đơn giản, thích xuống thì xuống, nhiều khi chỉ vì lý do mỹ thuật.
     Sử dụng dấu phảy, dấu chấm và dấu xuống dòng sai không đơn thuần là vấn đề chính tả mà là vấn đề tư duy. Sử dụng sai lâu ngày, tư duy cũng bắt đầu luộm thuộm, sai hàng lối, nghĩ nói như người Tàu mà không hay.
      Một vấn đề tinh tế hơn, không đến nỗi khẩn cấp, nhưng lấy ra làm ví dụ: Bạn hãy thử hỏi 100 người xem: khi dấu ngoặc kép và dấu chấm câu đứng liền nhau thì dấu nào để trước. Tôi thực sự lấy làm mừng cho tương lai của tiếng Việt, nếu có 10 người chắc chắn được là nên làm thế nào. Chỉ mười phút trước khi viết những dòng này, tôi vừa phát hiện một anh bạn thân, một đại trí thức, biết vài thứ tiếng, chuyên nghề chữ nghĩa, sử dụng sai một cách có hệ thống. Đó không phải là vấn đề "anh sai tôi đúng". Sai sót là chuyện thường, ắt tôi cũng không phải là ngoại lệ. Nhưng khi các đại trí thức đều sai, thì lỗi không phải tại họ mà là lỗi của một cộng đồng, không có chuẩn mực không có hệ thống giá trị
     Một dân tộc, một tầng lớp trí thức không hình thành được hệ thống chuẩn mực từ cái nhỏ, đến tiêu chuẩn đánh giá đúng sai, xấu đẹp, dân tộc đó sẽ còn bất hạnh, tầng lớp trí thức đó nên tập trung về việc bón ruộng. Vì trí thức không đoàn kết sẽ bị người có quyền, có tiền chia rẽ lợi dụng sai kiến mua rẻ. Dân tộc sẽ chia lìa, không có giềng mối, ắt sinh ra bọn Mạc Thúy, Mạc Viễn, Nguyễn Huân, Trần Quốc Kiệt.
      Nhưng dù sao, chúng ta cũng phải chấp nhận một thực tế là không có chuẩn. Căn cứ vào đâu mà nói đúng nói sai. Có lẽ đến đây phải nhớ lại là các dấu văn bản là do người Âu nghĩ ra. Khi trò bí không gì bằng hỏi thầy, trừ phi chúng ta quyết tâm không làm những việc do thầy dậy, quay lại với thẻ tre và những kiệt tác không hề ngắt câu, để các thế hệ học giả còn có việc "không đàm", trốn việc cầm lấy mỏ hàn, bàn phím để khỏi làm ra sản phẩm hữu hình, mà vẫn được danh vọng cao siêu.
      Quy tắc ở Châu Âu rất đơn giản, gần như nhất quán: Nếu trong dấu ngoặc kép là một hoặc nhiều câu trọn vẹn, thường là một đoạn trích dẫn, dấu chấm câu sẽ luôn luôn đi trước dấu ngoặc kép. Nếu trong ngoặc chỉ là một từ, đoạn câu hoặc ý "nháy nháy" đứng ở cuối câu, dấu chấm sẽ đứng sau dấu ngoặc kép. Tất nhiên quy ước này dựa trên lý luận và cách tư duy cẩn thận. Để đạt được cách tư duy, hiểu được lý luận là một chuyện khó, dài dòng, nhiều khi lại bị quy là "viển vông" hay "không đàm ngộ quốc". Đơn giản nhất là cứ quy ước.
        Nhân đây có một câu hỏi, có thể làm nhiều người nổi quạu (Mời ra hàng cam mua vài quả về bóp chơi, tôi xin thu mua vỏ nguyên trái): Giới ngôn ngữ nghiên cứu những gì suốt mấy chục năm nay mà không có ai quan tâm đến những vấn đề quan trọng và đơn giản như vậy?
        Trộm nghĩ, giới ngôn ngữ học không phải là ngoại lệ, nên ắt cũng mắc căn bệnh chung của giới học giả Việt Nam, một giới học giả có nhiều nét giống nhà cầm quyền hơn là trí thức. "Cao thì chê là viển vông, gần thực tế thì chê là ti tiện tầm thường, sai thì bắt lỗi vụn vặt, nói đúng thì dùng, nhưng trong bụng đã ngầm ghen ghét bỏ rơi". Các bạn nghĩ câu nói này vốn nói về ai, có giống đa số học giả của ta không? Đó là viết lại ý của Hàn Phi nói về Tần Thủy Hoàng đấy. Ngạc nhiên chưa? Riêng điểm đó đã có thể thấy vì sao, trí thức của ta luôn luôn sợ làm việc cụ thể, thực tế, chỉ thích tham gia hội đồng chém gió, hay nói xấu sau lưng những người có thành quả cụ thể, dựa trên việc ăn mày dĩ vãng.
      Giới ngôn ngữ học lại còn có một việc nữa khá bận rộn, vì vấn đề không đơn giản vớ vẩn như hai nhân hai là bốn, vì vậy cứ một ông A có một thành tựu khoa học lùm lùm cao hơn mắt cá, sẽ có một ông đến đào ao bên cạnh. Có lẽ đây cũng không phải là vấn đề gì lớn vì nó quá nhiều vấn đề lặt vặt nói không hết, nói cũng chẳng để làm gì, và chúng sẽ còn mọc như cỏ mùa xuân, nếu chúng ta không tìm đến tận nguồn nước.
       Tôi ngạc nhiên khi thấy giới ngôn ngữ của ta, ứng dụng chẳng có mấy thành tựu, cũng chưa hề nghe tên tuổi trường phái nào được nhắc nhở, trích dẫn trên trường quốc tế, nhưng làm tinh những vấn đề lớn lao to tát. Nào đả phá Chomsky, nào lật nhào toàn bộ nền tảng ngữ pháp phương Tây, nào khoa học nâng cao tinh thần yêu nước độc lập dân tộc, đưa ra cách tiếp cận mới như Cô péc níc,... Khoa học tự nhiên cũng có những cách làm khoa học như vậy, thường chẳng đi đến đâu, đa số là do thất học và lười biếng, đôi khi ghen tỵ, hiếu danh hão mà không muốn khổ công. Họ hay bám lấy những lập luận chẳng liên quan gì đến khoa học, nên được gọi chung là "broken pot science" (Khoa học Niêu mẻ).
        Cũng phải nói, Khoa học Niêu mẻ, gắn liền với các nhà học phiệt, xa rời thực tế, chuyên nói chuyện "không đàm", nhưng gặp vấn đề thực tế là lập tức thoái lui, đóng vai trò phản biện, giống như ký sinh trùng. Thực ra, giống mèo mù cáo thọt, tồn tại dựa vào nhau. Chính vì thế, những vấn đề đơn giản, cấp bách ở ta, hàng chục không có ai làm, hoặc giả có những người muốn làm sẽ có cả một đội ngũ hùng hậu hơn, lớn tiếng hơn bàn lùi, ngăn cản. Cuối cùng, như hệ quả tất yếu, lại nảy sinh những việc làm bừa, theo cảm tính kinh nghiệm, để rồi khi thất bại, dậu đổ bìm leo, lại chính những kẻ cổ súy to mồm nhất "làm đi nhưng để tôi" xông ra phản biện. 

Thứ Hai, 16 tháng 6, 2014

Bình Tam Quốc: Ngụy Diên

Ngụy Diên, theo La Quán Trung tả, mặt đỏ, như táo chắp (giống Quan Vũ). Về tướng mạo mà nói phải là trung thần. Tuy nhiên, La Quán Trung kể là khi Ngụy Diên mới theo về, Gia Cát Lượng đã muốn lôi ra chém vì có phản cốt sau gáy, may mà Lưu Bị can mới thoát chết.
Trong toàn bộ Tam Quốc Diễn Nghĩa, Ngụy Diên là người bị bôi bẩn, chê bai nhiều nhất. Đánh trận toàn thua, khi nào có võ công như chém tướng vô địch của Ngụy thì là do Gia Cát Lượng sắp đặt.
Tuy nhiên, La Quán Trung vẫn ghi lại việc Ngụy Diên hiến kế cho Gia Cát Lượng đi tắt qua hang Tý Ngọ vào lấy Trường An, được nhiều nhà quân sự và chính trị đời sau đánh giá là có tầm chiến lược cao (trong số đó có Đặng Tiểu Bình và Lý Tiên Niệm). Trong chiến dịch Nhai Đình, chính Ngụy Diên đã can Mã Tốc và có biện pháp dự phòng mới tránh cho quân Thục bị thua nặng nề hơn.
Việc Ngụy Diên làm phản sau khi Gia Cát Lượng chết, cũng là việc bịa đặt vu khống của Dương Nghi, tay chân của Gia Cát Lượng, được Tưởng Uyển, Đổng Doãn là người của Gia Cát Lượng sắp đặt bên cạnh Hậu chủ ủng hộ. Khi đó trong quân đội, Ngụy Diên là người có danh tiếng và chức vị cao nhất, Tiền Quân Sư, Chinh Tây Đại Tướng Quân, giả tiết, Nam Trịnh Hầu. Chức Tiền Quân Sư, chứng tỏ Ngụy Diên không chỉ có nhiệm vụ chém giết như La Quán Trung mô tả mà còn là người bày mưu tính kế. Ngụy Diên chắc chắn không có ý làm phản, vì khi có cơ hội ông không chạy sang đầu hàng Tư Mã Ý, khi thất thế ông vẫn chạy về hướng Nam để bị giết.
Thời Lưu Bị còn sống, đánh giá rất cao Ngụy Diên. Sau khi lấy Hán Trung cần một đại tướng để trấn thủ, chống Tào Tháo, vai trò còn quan trọng hơn Kinh Châu. Đa số các tướng và các quan đều cho là Trương Phi sẽ được đề cử. Cuối cùng người được chọn lại là Ngụy Diên, chứng tỏ Lưu Bị đánh giá cao Ngụy Diên hơn cả Trương Phi về tài năng.
Có người cho rằng, Gia Cát Lượng cố ý dùng Dương Nghi, Tưởng Uyển, Đổng Doãn để chế ngự Ngụy Diên. Dù thế nào đi nữa Gia Cát Lượng vẫn phải chịu trách nhiệm về cái chết bi thảm của Ngụy Diên, là tướng tài nhất của Thục thời bấy giờ. Dùng người như vậy, sao có thể thắng lợi.
Cho dù bưng bít bóp méo sự thật thế nào, Ngụy Diên chỉ là nạn nhân của một tính xấu trong giới lãnh đạo là ghen ghét nhân tài.
Sau đây tôi xin đăng lại bản dịch Truyện Ngụy Diên trong Tam Quốc Chí của Trần Thọ

TRUYỆN NGỤY DIÊN
Nguỵ Diên tự Văn Trường, người ở Nghĩa Dương. Từng làm bộ tướng đã theo Tiên chủ vào Thục, lập nhiều chiến công, được thăng làm Nha môn tướng. Khi Tiên chủ xưng làm Hán Trung Vương, đóng dinh ở Thành Đô. Lúc bấy giờ cần một tướng giỏi trấn giữ Hán Xuyên, mọi người đều bàn luận cho rằng tất sẽ là Trương Phi, Phi cũng nghĩ như vậy. Tiên chủ lại đề bạt Diên làm đô đốc Hán Trung, tước Trấn Viễn tướng quân, Hán Trung thái thú, mọi người đều kinh ngạc. Tiên chủ họp quần thần, hỏi Diên rằng: “Nay uỷ thác cho khanh giữ trọng trách này, khanh cảm thấy thế nào?” Diên đáp rằng: “Nếu Tào Tháo cử quân thiên hạ đến, thần sẽ vì đại vương mà kháng cự; nếu cử một viên thượng tướng dẫn 10 vạn quân đến, thần sẽ vì đại vương mà nuốt gọn” Tiên chủ khen hay, mọi người đều cho rằng lời ấy là hùng tráng. Tiên chủ xưng đế hiệu, tiến cử Diên làm Trấn Bắc tướng quân. Năm Kiến Hưng nguyên niên, Diên được phong làm Đô đình hầu. Năm Kiến Hưng thứ năm, Gia Cát Lượng đóng quân ở Hán Trung, đổi Diên làm đô đốc quân tiên phong, lĩnh chức tư mã, Lương châu thứ sử. Năm Hiến Hưng thứ tám, sai Diên đi về phía Tây vào sâu xứ Khương, Hậu tướng quân nhà Nguỵ là Phí Dao (Diệu) cùng Ung châu thứ sử Quách Hoài cùng với Diên đại chiến ở Dương Khê, Diên đại phá Quách Hoài, được bổ thêm chức tiền quân sư Chinh tây đại tướng quân, được thêm tước Nam Trịnh hầu.
Diên thường theo Lượng ra quân, muốn xin riêng một vạn tinh binh, men theo đường để hẻm hội quân (với Lượng) ở Đồng Quan, như việc năm xưa của Hàn Tín, Lượng nhất định không cho, Diên vẫn thường nói Lượng nhút nhát, than thở rằng tài của mình chẳng được dùng hết”. [Nguỵ lược viết rằng: Hạ Hầu Mậu làm An Tây tướng quân, giữ ở Tràng An, Lượng ở Nam Trịnh cùng các tướng bàn định kế sách, Diên nói rằng: “Nghe nói Hạ Hầu Mậu còn ít tuổi, là con rể của chủ, hèn nhát mà vô mưu. Nay cấp cho tôi 5.000 tinh binh, 5.000 quân tải lương, tôi thẳng theo lối Bao Trung tiến ra, men theo Tần Lĩnh nhằm hướng Đông mà đến, lại theo hướng Tý Ngọ mà tiến về Bắc, bất quá chỉ 10 ngày có thể đến được Tràng An. Mậu thấy Diên tôi đến bất ngờ tất gióng ngựa bơi thuyền bỏ chạy. Như thế trong thành Tràng An chỉ còn bọn ngự sử, kinh triệu, thái thủ coi giữ, ở Hoành môn, Đề các dân tất chạy náo loạn, ắt ta chiếm được hết cả lương thực vậy. Địch quân từ phía Đông tiến lại cũng phải mất 20 ngày, khi ấy tướng quân đã theo lối Tà Cốc mà đến, tất cũng kịp vậy. Như thế, chỉ một lần vọng động mà từ Hàm Dương về phía Tây có thể định được vậy”. Lượng lo rằng kế ấy nguy hiểm, chẳng bằng cứ yên ổn theo đường thẳng mà tiến, có thể lấy Lũng Hữu, thập toàn có thể khắc địch mà chẳng phải lo lắng gì, bởi thế không dùng kế của Diên.] Diên khéo dưỡng sĩ tốt, dũng mãnh hơn người, lại có tính kiêu căng, lúc bấy giờ người dưới đều có ý kiêng dè. Chỉ có Dương Nghi không theo ý của Diên, Diên rất lấy làm tức giận, hai người ấy thường như nước với lửa. Năm Kiến Hưng thứ 12, Lượng xuất quân theo lối Tà Cốc, lấy Diên làm tiên phong. Diên ở cách xa quân doanh của Lượng chừng 20 dặm, Diên mộng thấy trên đầu mọc sừng, nhân thế mới hỏi quan chiêm bốc là Triệu Trực, Trực nói dối Diên rằng: “Giống Kỳ Lân trên đầu cũng có sừng mà đại dụng, ấy là điềm chẳng cần phải đánh mà giặc tự tan vậy.” Rồi cáo lui về nói với người khác rằng: “Chữ Giốc chiết tự, là dùng ở dưới đao, trên đầu có đao, ấy là điềm rất dữ.”
Mùa thu, Lượng bị bệnh nặng, bí mật cùng Trưởng sử Dương Nghi, Tư mã Phí Vỹ, Hộ quân Khương Duy rằng sau khi mình chết sẽ lui quân, sai Nguỵ Diên đoạn hậu, tiếp nữa là Khương Duy, nhược bằng Diên không vâng mệnh, cứ tự dẫn quân rút về. Lúc Lượng mới mất, các tướng bí mật không phát tang, Nghi lệnh cho Phí Vĩ tới thăm dò ý tứ Diên. Diên nói: “Thừa tướng tuy mất đi, nhưng ta vẫn còn đây. Vậy chỉ nên phái phủ quan lo việc tang lễ đưa thi thể thừa tướng về chôn cất, ta sẽ thống suất ba quân đánh giặc, hà cớ gì vì một người chết đi mà phải phế bỏ việc lớn thiên hạ nhỉ? Vả lại Diên ta là người thế nào, sao có thể chịu sự chỉ huy của Dương Nghi, để nhận việc đi đoạn hậu như vậy sao!” Thế rồi cùng với Vỹ bàn chuyện theo về hay ở lại, sai Vỹ viết thư cùng với mình ký tên, thông báo với chư tướng. Vỹ nói dối Diên rằng: “Bây giờ tôi trở về nói lại với Dương Trưởng sử, Trưởng sử nghe thấy như thế, vốn ít trải việc quân, ắt chẳng theo mệnh trước nữa vậy.” Lúc Vỹ ra khỏi cửa vội vã ruổi ngựa trở về, Diên mới hối hận, đuổi theo thì đã không kịp.
Diên sai người dò xét bọn Nghi, thấy mọi người vẫn theo mệnh trước của Lượng, các tướng trong doanh lần lượt dẫn quân trở về. Diên giận lắm, thấy Nghi mới đi chưa xa, mới khinh suất đốc quân theo lối tắt trở về Nam Cốc trước, đóng quân chẹn đường đốt sạn đạo. Cả Diên và Nghi đều cùng dâng biểu kể tội phản nghịch của nhau, trong vòng một ngày, biểu văn khẩn cấp đưa về liên tiếp. Hậu chủ đem việc ấy hỏi Thị trung Đổng Doãn, Lưu phủ Trưởng sử Tưởng Uyển, Uyển-Doãn đều bảo đảm cho Nghi mà ngờ vực Diên.
Bọn Dương Nghi phạt cây thông đường sạn đạo, hành quân đêm ngày, theo sau Diên. Diên đến trước, đóng ở Nam Cốc khẩu, phái binh đón đánh bọn Nghi, Nghi bèn lệnh cho Hà (Vương) Bình đến trước trận đánh Diên. Bình tiến lên mắng Diên rằng: “Thừa tướng mới mất, thi thể còn chưa lạnh, bọn ngươi sao dám như vậy?” Binh sỹ của Diên nghe thấy biết lỗi đều ở Diên, chẳng ai theo mệnh nữa, quân sỹ đều tan đi cả. Diên bị cô lập mới dẫn con cái cùng mấy kẻ tay chân đào tẩu, chạy vào Hán Trung. Nghi sai Mã Đại đuổi theo chém được, đem thủ cấp dâng cho Nghi, Nghi đạp chân lên đầu Diên mắng: “Đồ nô tài, ngươi còn làm ác được nữa chăng?”. Lại muốn giết cả ba họ nhà Diên.
Khi trước, Tưởng Uyển dẫn quân túc vệ đi nhanh về Bắc tới doanh quân, còn cách hơn 20 dặm, hỏi thăm thì biết Diên đã chết, bèn lui về. Nguyên ý Diên chẳng phải về Bắc hàng Nguỵ mà lại chạy về Nam, chỉ những muốn giết bọn Nghi mà thôi. Bình nhật Diên cùng chư tướng vốn có bất đồng, đương thời bàn luận rằng Diên tất là người thay Lượng. Việc vốn chỉ có như thế, chẳng phải là làm phản vậy.
[Nguỵ lược viết: Gia Cát Lượng bị bệnh, bảo bọn Diên rằng: “Sau khi ta chết, phải hết sức thận trọng, chớ có như thế nữa”. Lại sai Diên thay mình điều hành mọi việc, bí mật làm lễ tang và lui về. Diên nhân thế bèn giấu việc ấy, lui binh về đến Bao khẩu mới phát tang. Trưởng sử Dương Nghi với Diên vốn bất hoà, thấy Diên nắm quyền quân sự, sợ bị hại, bèn nói phao lên rằng Diên muốn dẫn quân theo về phương Bắc, nhân đó dẫn quân đánh Diên. Diên vốn không có bụng dạ ấy, không đánh mà dẫn quân bỏ chạy, bị quân đuổi theo giết chết.]

Kỹ thuật đóng lọ hoa quả để giúp nông dân Thoát Hoa

Mấy hôm nay nghe dồn dập các tin nông sản bị ế nào xoài, chanh, hành, thấy đần cả người. Lại thấy trên đường bán đầy vải và các thứ trái cây khác. Nghe nói một kg vải tại vườn chỉ khoảng 3-5K mà không có người đến mua. Nông dân thồ 100kg vải ra đến Hà Nội chỉ mang về 1M đã thấy mừng. Thật xót xa. Lại thấy một ông nguyên TGĐ một công ty công nghệ lớn của Việt Nam tỏ ra xót xa cho nông dân nên khuyên ăn thật nhiều xoài, thịt bò xào hành và phở vắt nhiều chanh để chứng tỏ yêu nước nhiều. Thực ra yêu nước trong nhiều trường hợp chỉ là "có" hay "không" rất khó đo nhiều ít. Người có một đồng trong túi cho cả một đồng không thể nói "yêu" nhiều hay ít hơn một ông triệu phú xỉa ra 100 đồng.
Tôi nhớ năm 2007, bay từ Bắc Kinh về Quảng Châu, thấy có bán "lệ chi" (vải) của Trung Quốc mua 5 lạng giá khoảng 15 USD, ăn thấy chua loét, không thơm. Năm 2008, xách sang Hàn Quốc gần 5kg vải   cho các đàn em ở Bộ 4T đang du học ở SNU, gọi cả các bạn Hàn Quốc cùng ăn. Họ chưa hề ăn vải bao giờ, không biết leichi là gì, vừa ăn vừa xuýt xoa khen loại quả ngon nhất trên đời. Vải quả thực là một thứ quả trân quý có danh tiếng. Mấy năm nay thấy xuống giá, thấy thật đau lòng. Người Trung Quốc còn có giai thoại rằng Dương Quý Phi thích ăn vải. Vải đưa từ Giang Nam lên bằng ngựa trạm, các đại thần mỗi người chỉ được một trái, còn lại vua đều để dành cho mỹ nhân.
Giá có cách gì bảo quản, chế biến và quảng bá việc mua vải cũng như các loại rau cây Việt Nam cho thế giới. Như thế mới là yêu nước thực sự, chứ không phải chỉ chém gió cho đỡ áy náy. Bán đi chút ít cổ phiếu thì có mà làm được khối thứ.
Trước hết, nói về vải. Người Việt mình hay chế biến vải khô. Tuy nhiên, vải khi khô, vị ngọt sắc, không thơm, hoàn toàn là một thứ thực phẩm khác. Có thể dùng làm nguyên liệu chế biến thì được, dùng như một trái cây khó mà có thị trường. Tôi nghĩ về việc người Âu Châu ngày xưa, họ bảo quản táo, lê bằng cách phun lên vỏ trái cây một chất gì đó để giữ được rất lâu, thậm chí quanh năm đều có thể có táo tươi. Các nhà khoa học Việt nam có thể nghiên cứu chế một chất gì đó xịt lên vỏ để có thể giữ trái vải tươi lâu.
Vải nóng nên dùng vài trái rất ngon, nhưng phải ăn dồn dập hàng ký, e là không hay. Vì vậy phải nghĩ cách đóng hộp để ăn được quanh năm. Ở Âu Châu có món đóng hộp, đóng lọ. Vải hộp, có lẽ không dở, làm cũng không khó gì hơn, lê hộp, mận hộp hay đào hộp. Vấn đề là tuyên truyền quảng cáo xây dựng thương hiệu. Chính vì vải nóng, nên dọn một đĩa dessert vài trái vải hộp ướp đá sẽ rất ngon. Nếu nghiên cứu kỹ để cho vào trong nước vải một vài vị gì đó sẽ có một món hảo hạng. Đóng hộp có lẽ chỉ cần một dây chuyền không đắt tiền. Ông Tổng Giám Đốc nọ chỉ cần bán vài phần nghìn cổ phần sẽ làm được khối thứ. Trước hết chỉ cần nghiên cứu khoảng 5-10 công thức gia vị cho hộp vải đa dạng hơn.
Còn cánh dân thường không có tiền đầu tư, có thể học các cách đóng lọ rau quả cổ truyền của nông dân Âu Châu.
Tôi vừa học được vài cách từ cô bạn có bà nội là nông dân Hungari chính gốc. Món thứ nhất là hoa quả đóng lọ, nông dân Hung hay làm khi đến mùa thu hoạch để dùng quanh năm. Thường thì họ đóng lọ anh đào, đào, lê, mận, phúc bồn tử, dâu,.... Cách làm xem chừng rất đơn giản. Kiếm một ít lọ thủy tinh có nắp xoay, rửa sạch, sấy khô. Xếp trái cây đã rửa sạch, để ráo nước vào lọ thật chặt, rắc đường lên trên và một chút gia vị. Đóng nắp, xoay chặt, rồi để nghiêng kiểm tra xem có còn hở không. Sau đó xếp các lọ vào một nồi lớn, đổ nước vào và đun 30 phút kể từ khi nước sôi. Sau khi bắc ra, ủ các lọ trong vải để giữ nóng càng lâu càng tốt. Khi các lọ nguội, đem bỏ tủ lạnh (ngày xưa người dân chỉ để dưới nhà hầm hoặc góc bếp) là xong. Thí nghiệm với vải tôi nghĩ cho một chút quế, vỏ chanh hay hạt mơ chắc đều ngon.
Đóng chai dưa chuột, ớt, hành, củ cải, bắp cải... cũng đơn giản. Cũng dùng lọ có nắp xoay như trên. Đặt xuống dưới đáy chai một bó thì-là (dill). Kiếm khoai tây già là tốt nhất, gọt vỏ, thái khoanh, xếp một lớp lên trên. Rồi xếp dưa chuột, ớt, bắp cải, hành, củ cải lên trên sau đó lại để một lớp khoai tây già, rồi một lớp thì-là nữa. Sau đó pha nước đun sôi để nguội với muối. Mỗi lít nước, một thìa ăn muối. Đổ nước muối lên trên. Nếu bạn thích ngọt, có thể bỏ thêm chút đường hoặc một số lá cây. Đóng nắp thật chặt, xếp góc nhà để dùng dần, đảm bảo giòn tan, nếu làm đúng cách và dưa chuột tốt (Dưa chuột nhớ cắt bỏ hai đầu) Tôi đặc biệt thích dưa chuột muối, nếu có loại giòn, mỗi tuần có thể làm vài chai. Đặc biệt uống bia với dưa chuột muối thì thú vị hơn hẳn mấy thứ đồ nhậu hiện nay.
Mỗi nhà làm vài chục lọ rau quả là giúp bà con nông dân rất nhiều. Tuy nhiên không hiểu loại bình có nắp xoay hiện nay có dễ kiếm không. Chắc sau này nhiều người dùng sẽ có giá rẻ hơn.