Tào Phi chết. Các đại thần cố mệnh là Tào Chân, Tư Mã Ý và Chung Do. Tào Chân làm Đại Tướng Quân, Tư Mã Ý làm Thái Úy cùng giữ binh quyền. Chung Do làm Tư Đồ. Tào Chân chết, con trai là Tào Sảng lên thay, được nhiều người giúp rập, trong đó có Hoàn Phạm, nổi tiếng là túi khôn.
Hoàn Phạm xui Tào Sảng tâu với vua Ngụy thăng chức Tư Mã Ý lên Thái Phó, tước hết binh quyền. Dần dần, Tào Sảng đưa tay chân nắm hết các chức vụ xung yếu, quyền át vua. Sảng cử em trai coi cấm quân, nhất cử nhất động ở kinh thành đều kiểm soát. Tư Mã Ý phải giả ốm, không nhìn ngó gì tới triều chính. Sảng tưởng Ý già yếu lẩm cẩm không còn lo lắng gì nữa, bèn nghĩ đến chuyện ra ngoài thành đi săn.
Hoàn Phạm nói: Đại tướng quân đi săn lỡ ở nhà có chuyện gì thì làm thế nào? Sảng nói: Ta ra ngoài mang theo cả vua, hiệu lệnh thiên hạ ai dám chống. Bèn đưa vua, các quan văn võ và cấm quân xuất cung đi săn.
Ý nghe Sảng xuất cung bèn nai nịt gọn gàng, cùng hai con trai, cầm ấn Thái Phó đến mở kho vũ khí phát cho thân binh, rồi chia nhau phong tỏa tất cả các công sở và vị trí xung yếu, đóng cửa Kinh thành, ra lệnh nội bất xuất ngoại bất nhập. Lại cho người vào cung xin Thái Hậu ra chiếu chỉ bắt Tào Sảng vì tội chuyên quyền.
Hoàn Phạm nghe tin bèn lấy ấn Đại Tướng Quân và binh phù của Tào Sảng bỏ vào tay áo, một mình một ngựa phóng qua cửa thành mà đi. Vừa may, quan giữ thành lại là học trò Hoàn Phạm, không dám cản thầy.
Phe Tư Mã Ý nghe tin Hoàn Phạm chạy thoát đều biến sắc mặt nói: Túi khôn lọt ra ngoài mất rồi biết làm thế nào. Ý nói: Sảng tính tham lam, ngu dốt, lười biếng có túi khôn cũng không biết dùng. Nay đem lợi ra nhử chắc bắt được.
Lại nói Tào Sảng nghe tin Tư Mã Ý nổi loạn sợ luống cuống chân tay. Em Sảng chỉ huy cấm quân khóc hu hu "bây giờ biết làm thế nào". Ngay lúc đó Hoàn Phạm phóng ngựa tới nói "Tư Mã Ý làm loạn. Nhưng tôi đã mang ấn Đại Tướng Quân và binh phù tới. Nay ngài rước xa giá ra miền đông, hiệu triệu các châu đem quân về bắt Tư Mã Ý, ai dám không theo." Anh em Tào Sảng quen ăn chơi sung sướng, nghĩ chuyện xa kinh thành, đi xa mệt nhọc, ngại ngùng.
Hoàn Phạm lại nói: "Chuyện gấp lắm rồi. Xin ngài quyết định ngay, nếu không sẽ chết cả họ.". Sảng nói "Ngươi để ta suy nghĩ thêm." Sảng nghĩ suốt một đêm vẫn không quyết được gì. Đến sáng chợt có sứ của Tư Mã Ý đến nói chỉ muốn tước bớt binh quyền, vẫn cho Sảng giữ chức vụ và tài sản. Sảng mừng lắm. Em Sảng cũng nói: Thái Phó chắc không phụ ta đâu. Sảng nói: Cùng lắm bỏ binh quyền làm một ông nhà giàu.
Hoàn Phạm ngửa cổ lên trời khóc mà nói "Than ôi! Tào Tử Đan tự phụ tài trí hơn người lại sinh một lũ con toàn chó lợn."
Tào Sảng về đến thành, bị Tư Mã Ý sai bắt giết cả ba họ. Đồng đảng của Sảng, trong đó có Hoàn Phạm đều bị tận diệt. Quyền bính nước Ngụy từ đó rơi và tay họ Tư Mã.
Lời bình của Lệnh Lỗi Dương: Xét ra Hoàn Phạm vẫn chưa thể gọi là túi khôn. Khôn thì đã không bày kế cho kẻ ngu. Mưu hay, thì chúa phải cầu. Chúa không cầu mà tự mình phải bày mưu, thuyết phục chỉ có hai trường hợp. Chúa ngu không dùng như Tào Sảng, cùng như ngọc dưới chân trâu. Chúa sáng biết dùng như Tào Tháo dùng Tuân Úc, cũng không khỏi bị nghi ngờ chịu họa sát thân.
Đã gọi là chúa sáng phải tự biết tài và cầu lấy mưu hay. Cố tình bày mưu cho vua, đều không có kết cục tốt.
Thứ Sáu, 10 tháng 7, 2015
Thứ Ba, 2 tháng 6, 2015
Hẹn nghìn thu cũ
Tôi đi bên Em. Đêm về sáng không khí se se lạnh. Trong đêm đen, một thứ ánh sáng huyền ảo tràn ngập thinh không, giống như thứ ánh sáng của Bắc cực quang tôi đã thấy ở Alaska. Mọi vật đều rõ nét, nhưng không chói chang, lòe loẹt, giống như trong phim đen trắng. Em mặc một chiếc áo choàng rộng, phong phanh, nhưng thơ thới. Tôi thoáng cảm thấy hình như bên trong Em không mặc gì khác. Nhưng đó là một cảm giác trong sạch, không có chút tục lụy xác thịt, có lẽ như thế là tốt không có ràng buộc, có cảm giác tự do hơn. Tôi muốn hơi ấm của mình truyền sang cho Em. Nhưng có lẽ Em không cần điều đó. Từ nơi Em tỏa ra một cảm giác mát rượi, lại vừa ấm áp kỳ lạ. Đúng là có một điều gì đó không bình thường.
Trời đêm vừa yên tĩnh lại vừa rất ồn ào. Xung quanh chúng tôi có rất nhiều người, nhưng dường như họ không để ý đến tôi, chỉ chú ý đến Em vì một lý do nghiêm trọng nào đó. Em dường như không để ý đến họ. Tóc bồng bềnh xòa trên trán, bờ vai, không chải chuốt trang điểm, nhưng thanh thoát và cao nhã. Tôi thấy Em thật thân thương, gần giống như một phần của mình. Nhưng thật kỳ lạ, tôi không thể nhớ tên Em và bất cứ kỷ niệm của chúng tôi. Chúng tôi đang nói với nhau rất nhiều, như một cặp tình nhân lâu ngày gặp lại. Nhưng thật kỳ lạ, hoàn toàn không có một thanh âm nào. Tôi chợt thấy cảm giác nhớ nhung tích lũy từ một khoảng thời gian dài đằng dặc gần như vô tận trào về. Hình như là nỗi nhớ dành cho Em, nhưng thật vô lý vì tôi đang đi bên Em. Tại sao bấy lâu nay tôi không đi tìm Em.
Em nói vẫn nhớ lời hẹn của tôi và đã chờ đợi tôi thật nhiều. Em nói rất mừng vì gặp lại tôi. Em còn nói rất nhiều điều khác. Những điều người ta chỉ có thể cảm, không thể nhắc lại. Hơn nữa, thật kỳ lạ không có một thanh âm nào được thốt ra Giống như lời nói của em phát ra từ tâm hồn rót thẳng vào tâm can tôi. Tự nhiên tôi thấy xót xa, muốn ôm choàng Em vào lòng. Tôi đã đeo đuổi những việc gì đã gần nửa đời? Và để làm gì nhỉ?
Chúng tôi đang đi đâu đây? Hình như chúng tôi đến một quảng trường hay đúng hơn là một bãi đất khá rộng. Đất dưới chân đen là rắn khô vì lạnh. Những người xung quanh chúng tôi đều mặc áo choàng trắng toát, dày và nặng, có mũ chóp nhọn. Có người che kín mặt, có người để lộ, sát khí toát ra đầy trời. Hình như là một buổi hành quyết. Họ muốn giết ai? Những tiếng rì rầm vang lên khắp bơi, là tiếng cầu kinh hay cáo trạng, tôi không hiểu rõ. Chỉ chắc rằng đó là một nghi lễ nào đó cho người tử tội.
Hay là Em? Tôi chỉ thoáng nghe có tiếng nức nở của ai đó "Thế là hết". Tôi nhìn Em, chỉ thấy Em mỉm cười xác nhận "Anh đoán đúng rồi". Không có gì nghiêm trọng sao? "Không, không có gì nghiêm trọng cả, " Em lắc đầu "Chỉ tiếc lại phải xa anh. Xin lỗi lại để anh phải chờ một lần khác." Cũng thật kỳ lạ, tôi cũng không thấy có gì nghiêm trọng cả, không hề hốt hoảng, sợ hãi cho em. Chỉ thấy tiếc sắp lại phải xa Em.
Em còn nói rất nhiều về lời hẹn của tôi ở một mùa thu cũ, đã đợi nhau thì ngàn năm đã qua hay ngàn năm tới chỉ là khoảnh khắc. Có một tiếng chuông gõ mạnh. Em nói Em phải đi rồi. Những người đội mũ chóp nhọn đi qua tôi, xúm quanh Em, đưa Em đi. Họ là người của thế kỷ nào, ở đâu, tôi không rõ,
Tôi đứng một mình, và có tiếng động lạch cạch rung chuyển, tôi thoáng nghĩ là tiếng của máy chém. Lại có tiếng kêu của ai đó "Thế là hết". Tôi chợt xót xa, hoảng sợ, nhớ tiếc. Thế là xa nhau sao? Dến khi nào mới gặp lại? Tôi sẽ phải làm gì với thời gian dài dằng dặc không có Em? Tôi chợt muốn nhìn thấy Em thêm một lần và chạy lại phía đó. Âm thanh của cỗ máy chém rung lên cành cạch ngày càng lớn choáng óc. Tôi chợt thấy mình tan biến.
Mồ hôi lạnh toát đầy người. Tôi chợt tỉnh lại, thấy mình trong một căn phòng nhỏ ở Boston. Chiếc quạt trần vẫn rung lên cành cạch. Hơi ấm và mùi hương của Em vẫn còn như phảng phất. Cảm giác không giống như vừa qua một giấc mơ. Buổi sáng, đi trên quảng trường thành phố, chợt nghĩ đến giấc mộng đêm qua, chợt nghe tin công nương Dianna đã gặp nạn qua đời.
Trời đêm vừa yên tĩnh lại vừa rất ồn ào. Xung quanh chúng tôi có rất nhiều người, nhưng dường như họ không để ý đến tôi, chỉ chú ý đến Em vì một lý do nghiêm trọng nào đó. Em dường như không để ý đến họ. Tóc bồng bềnh xòa trên trán, bờ vai, không chải chuốt trang điểm, nhưng thanh thoát và cao nhã. Tôi thấy Em thật thân thương, gần giống như một phần của mình. Nhưng thật kỳ lạ, tôi không thể nhớ tên Em và bất cứ kỷ niệm của chúng tôi. Chúng tôi đang nói với nhau rất nhiều, như một cặp tình nhân lâu ngày gặp lại. Nhưng thật kỳ lạ, hoàn toàn không có một thanh âm nào. Tôi chợt thấy cảm giác nhớ nhung tích lũy từ một khoảng thời gian dài đằng dặc gần như vô tận trào về. Hình như là nỗi nhớ dành cho Em, nhưng thật vô lý vì tôi đang đi bên Em. Tại sao bấy lâu nay tôi không đi tìm Em.
Em nói vẫn nhớ lời hẹn của tôi và đã chờ đợi tôi thật nhiều. Em nói rất mừng vì gặp lại tôi. Em còn nói rất nhiều điều khác. Những điều người ta chỉ có thể cảm, không thể nhắc lại. Hơn nữa, thật kỳ lạ không có một thanh âm nào được thốt ra Giống như lời nói của em phát ra từ tâm hồn rót thẳng vào tâm can tôi. Tự nhiên tôi thấy xót xa, muốn ôm choàng Em vào lòng. Tôi đã đeo đuổi những việc gì đã gần nửa đời? Và để làm gì nhỉ?
Chúng tôi đang đi đâu đây? Hình như chúng tôi đến một quảng trường hay đúng hơn là một bãi đất khá rộng. Đất dưới chân đen là rắn khô vì lạnh. Những người xung quanh chúng tôi đều mặc áo choàng trắng toát, dày và nặng, có mũ chóp nhọn. Có người che kín mặt, có người để lộ, sát khí toát ra đầy trời. Hình như là một buổi hành quyết. Họ muốn giết ai? Những tiếng rì rầm vang lên khắp bơi, là tiếng cầu kinh hay cáo trạng, tôi không hiểu rõ. Chỉ chắc rằng đó là một nghi lễ nào đó cho người tử tội.
Hay là Em? Tôi chỉ thoáng nghe có tiếng nức nở của ai đó "Thế là hết". Tôi nhìn Em, chỉ thấy Em mỉm cười xác nhận "Anh đoán đúng rồi". Không có gì nghiêm trọng sao? "Không, không có gì nghiêm trọng cả, " Em lắc đầu "Chỉ tiếc lại phải xa anh. Xin lỗi lại để anh phải chờ một lần khác." Cũng thật kỳ lạ, tôi cũng không thấy có gì nghiêm trọng cả, không hề hốt hoảng, sợ hãi cho em. Chỉ thấy tiếc sắp lại phải xa Em.
Em còn nói rất nhiều về lời hẹn của tôi ở một mùa thu cũ, đã đợi nhau thì ngàn năm đã qua hay ngàn năm tới chỉ là khoảnh khắc. Có một tiếng chuông gõ mạnh. Em nói Em phải đi rồi. Những người đội mũ chóp nhọn đi qua tôi, xúm quanh Em, đưa Em đi. Họ là người của thế kỷ nào, ở đâu, tôi không rõ,
Tôi đứng một mình, và có tiếng động lạch cạch rung chuyển, tôi thoáng nghĩ là tiếng của máy chém. Lại có tiếng kêu của ai đó "Thế là hết". Tôi chợt xót xa, hoảng sợ, nhớ tiếc. Thế là xa nhau sao? Dến khi nào mới gặp lại? Tôi sẽ phải làm gì với thời gian dài dằng dặc không có Em? Tôi chợt muốn nhìn thấy Em thêm một lần và chạy lại phía đó. Âm thanh của cỗ máy chém rung lên cành cạch ngày càng lớn choáng óc. Tôi chợt thấy mình tan biến.
Mồ hôi lạnh toát đầy người. Tôi chợt tỉnh lại, thấy mình trong một căn phòng nhỏ ở Boston. Chiếc quạt trần vẫn rung lên cành cạch. Hơi ấm và mùi hương của Em vẫn còn như phảng phất. Cảm giác không giống như vừa qua một giấc mơ. Buổi sáng, đi trên quảng trường thành phố, chợt nghĩ đến giấc mộng đêm qua, chợt nghe tin công nương Dianna đã gặp nạn qua đời.
Thứ Tư, 13 tháng 5, 2015
Thống nhất không gian và thời gian không phải là một việc hòa bình
Ngày nay, ngay cả những người bình thường cũng nói về không thời gian như một khái niệm tồn tại đồng thời và thống nhất. Nhưng ít người để ý tới nội dung thật sự của khái niệm này và những hệ quả ghê gớm của việc thống nhất hai khái niệm vốn phân biệt về bản chất là không gian và thời gian. Cũng ít người để ý rằng, con người vẫn đang tiếp tục hành trình của mình để tiếp tục phá bỏ những quan niệm đã mất nhiều công sức tìm ra. Càng ít người để ý tới việc toàn bộ lịch sử nhận thức của con người về thế giới xung quanh chính là cuộc phiêu lưu khám phá không gian và thời gian. Cuộc phiêu lưu này vẫn còn tiếp diễn.
Con người biết tới không gian từ khá sớm, bằng chứng là mọi dân tộc đều có chung một nhận thức về ba chiều, xuất phát từ góc nhà họ ở, đi chinh phục thế giới rộng lớn rồi bay vào vũ trụ. Có lẽ khái niệm không gian Euclide ba chiều phản ảnh ước vọng chinh phục vô tận của loài người, hơn là một thực tế có bằng chứng khách quan. Nhận thức ra mặt đất chúng ta sinh sống không phải là một mặt phẳng có thể kéo dài vô tận hoặc có một vùng biên nào đó nối với bầu trời, không hề đơn giản và là một cuộc chiến thực của những người vừa có trí tuệ vừa bị dày vò bởi sự trung thực. Cả một hệ thống tín điều thể chế, quyền lực, giáo điều do Con người dựng lên để ngăn cản Con người vươn tới một một thực tế khách quan là Trái đất tròn và chuyển động xung quanh Mặt trời. Phải mất nhiều thế hệ giằng xé, con người mới xóa được một chấp niệm về không gian. Không phải ngẫu nhiên mà những khái niệm dường như chẳng liên quan gì như Tự do, Bình đẳng, Dân chủ ra đời ngay sau đó.
Thời gian khác với không gian, vì không phải là một thực thể quan sát được trực tiếp bằng các giác quan mà phải nhờ tới lý tính. Cái người ta quan sát được chính là vận động, là sự thay đổi vị trí trong không gian. Thực tế đời sống cho phép người ta tin rằng mọi vận động đều có thể đặc trưng bởi một tham số là thời gian. Mọi phép đo thời gian đều dựa trên quan sát cục bộ, thường là phải gắn với một vận động của những vật cụ thể của cát, nước hay con lắc, Nhưng người ta vẫn cho rằng thời gian là một đường thẳng vô tận duy nhất, chung và tuyệt đối cho toàn thể vũ trụ hoàn toàn không nghĩ rằng điều đó không có cơ sở gì. Thời gian là một khái niệm cục bộ hoàn toàn dựa trên lý tính, đã được gắn ngay với một đường thẳng vô tận. Ngay trong một ý tưởng tự do vĩ đại đã manh nha một tín điều cố chấp mà sau này phải đợi đến sự ra đời của những bộ óc siêu việt lóe sáng mới phá bỏ được. Gần cây cao thì cớm nắng, sau thế hệ của các vĩ nhân thì vắng bóng các nhân cách lớn, Quy luật đó dường như được khẳng định quá nhiều lần.
Việc xem không gian và thời gian là có cùng một bản chất có lẽ nhờ vào khái niệm toán học không gian nhiều chiều. Tuy nhiên, trong người Inca ở Peru, một cách bản năng, hay nhờ lương năng đặc biệt đã sớm xem không thời gian là một khái niệm thống nhất. Các triết gia Đức như I.Kant và A.Shoppenhauer đã sớm quan tâm đến ý nghĩa đặc biệt của không gian, thời gian và đặt chúng vào cùng một phạm trù. Sau đó Minkowski, Poincaré, Lorentz, Einstein đã đặt không thời gian vào một mô hình hình học-vật lý chung. Đặc biệt Einstein đã giải nghĩa được những hệ quả ghê gớm của mô hình không thời gian này đưa tới dẫn tới sự liên hệ bất ngờ và lý thú giữa năng lượng và khối lượng.
Chính sự liên hệ này đã đưa loài người tới những nguồn năng lượng khổng lồ đang điều khiển vận động không ngừng của thế giới.
Thay vì bàn luận các khái niệm triết học trừu tượng, chúng ta hãy xem việc thống nhất không gian với thời gian có những hệ quả gì. Hệ quả đầu tiên của việc thống nhất thực sự là chuyển hóa. Không có chuyển hóa toàn diện từ cả hai phía, thống nhất chỉ là hình thức. Thời gian chuyển hóa thành vận động trong không gian. Không gian lại có thể chuyển hóa thành thời gian. Việc chuyển hóa này là lựa chọn chủ quan của các chủ thể quan sát. Vì thế bản thân việc thống nhất đã mang lại đả kích nặng nề cho quan niệm tuyệt đối về thời gian. Những người chấp nhận dễ dàng một việc tưởng chừng xa thực tế vô hại, chợt nhận ra mọi tín điều bị đe dọa sụp đổ.
Nhưng liệu điều này có phải một nghịch lý tư duy, xảo biện siêu hình học, luận lý học hình thức đã chui vào phá đám, lừa dối chúng ta. Chúng ta liệu có sai lầm ở đâu? Việc chuyển hóa các chiều trong không gian là việc bình thường. Góc tường nhà của mỗi người không thể mang đi khắp nơi để rao giảng làm mực thước, cho dù người rao giảng là những ông thánh. Nhiều khi chúng ta mất phương hướng về trên dưới, phải trái, Bắc Nam Đông Tây. Càng bay vào vũ trụ, mở rộng tầm nhìn chúng ta càng thấy rõ sự chuyển hóa các chiều không thời gian là tất yếu bởi các phép quay. Phép quay thực sự là một sự nổi loạn. Quay một hồi phải trái, trên dưới lộn tùng phèo.
Trong không thời gian thống nhất bốn chiều chúng ta còn có thêm các phép quay thời gian-không gian. Thực tế đây là các phép ném (boost) biến các vật đờ đẫn đứng yên thành các hệ vận động với các vận tốc khác nhau. Einstein là người phát hiện và áp đặt nguyên lý các vận tốc đó đều giới hạn bởi vận tốc của ánh sáng và chính vì vậy đồng hồ trong các hệ quy chiếu khác nhau sẽ chạy khác nhau. Chính nhờ sự chuyển hóa trong điều kiện đặc biệt như thế dẫn tới những nghịch lý như trong truyện Từ Thức hay Rip van Winkle. Thực ra khái niệm thời gian cục bộ vẫn còn sống sót trong lương năng của người bình dân trên khắp trái đất, trong khi chúng bị tận diệt trên thượng tầng. Chính sự hám lợi của Con người là nơi dễ thuyết phục nhất. Nếu lý thuyết tương đối không dẫn tới công thức khối lượng, với triển vọng giải phóng các nguồn năng lượng từ những thứ có đầy rẫy xung quanh ta là khối lượng, mới làm các nhà giáo điều kinh viện thôi bàn tán vu khoát, những tên thừa sai hiếu chiến mới thôi nghĩ tới việc gây ra những cuộc chiến tranh về tồn tại trong không thời gian. Hòa bình được vãn hồi nhờ viễn cảnh về lợi ích.
Thực tế, độc lập với ý muốn của những người phát minh ra nó, công thức khối lượng cũng đóng góp phần quan trọng vào việc hai quả bom nguyên tử nổ ở Hidroshima và Nagasaki. Openheimer là người làm ra bom nguyên tử cũng là người đã phải ra tòa vì muốn hủy bỏ nó. Tưởng chừng đó là nghịch lý, nhưng đó là cuộc sống. Con người tranh đấu phá bỏ tín điều để xây dựng các tín điều mới. Xây dựng và phá hủy cũng là những con người. Thiết lập giáo điều, thể chế và khát khao tự do cũng là con người. Trong một thế giới nhiều chiều phải biết chấp nhận các nghịch lý. Thực ra chúng cũng là những thực thể thống nhất đang chuyển hóa. Nhìn thấy sự khác biệt chẳng qua là những chấp niệm mê muội mà chúng ta còn cố bám vào một cách lười biếng mà thôi.
Thứ Bảy, 9 tháng 5, 2015
Luận Tam Quốc: Cống cỏ bao mao
Tuần này, luận Tam Quốc nói đế việc cống cỏ bao mao là điển tích trong Đông Chu Liệt Quốc. Luận Tam Quốc hiểu theo nghĩa rộng có thể bàn về những tích không nhất thiết có trong Tam Quốc nhưng có liên quan (Gia Cát Lượng tự ví mình với Quản Trọng là nhân vật trong điển tích này)
Vua nước Sở họ Hùng, tổ là Dục Hùng vốn có công phò tá Vũ Vương nhà Chu diệt Trụ, được phong tước bá ở phía Nam, vùng Kinh Tương. Dục Hùng theo tương truyền chỉ là một gia nhân nên phẩm tước thấp kém hơn, lại không ở Trung Nguyên mà ở lẫn với bọn man di phương Nam. Trong khi đó các nước như Lỗ (dòng dõi Chu Công), Tống (dòng dõi nhà Thương), Tề (dòng dõi Khương Thái Công) đều là tước công hoặc tước hầu.
Tuy nhiên, nước Sở ở xa cũng có cái hay là ở lẫn với các nước nhỏ, ngu si, dễ hiếp đáp. Ở xa, lai có thể không phải theo luật lệ của nhà Chu. Dần dần nước Sở mở đất đai ngàn dặm thành một nước lớn, phương Nam sản vật lại nhiều, giàu có, trở thành một nước mạnh. Sở dần dần kiêu căng, trước là bỏ việc cống chim trả, cỏ bao mao, ngà voi,.... Sau thì xưng vương tước, đặt mình trên tất cả các chư hầu, ngang với thiên tử nhà Chu.
Tề Hoàn Công dùng Quản Trọng trước mở công nghiệp nhà thổ, đánh bạc vét tiền của người giàu, buôn muối vét tiền của người nghèo, lại khai khoáng, khuyến nông, phát triển công nông thương. Bên ngoài thì đánh dẹp nước yếu mở mang bờ cõi, làm bá ở Trung nguyên. Tuy nhiên, so sánh về binh lực và giàu có chưa thể bằng nước Sở. Quản Trọng lại khuyên Tề Hoàn Công vào chầu thiên tử nhà Chu để lấy danh nghĩa hiệu triệu thiên hạ. (Đoạn này rất nên học, không phải cái gì ra tiền mới nên làm. Giống như gửi một phong thư, trong đó có cái séc 1 triệu đô, cái tem bưu điện không đáng gì, nhưng rất quan trọng). Vì thế Tề Hoàn Công có được lệnh của thiên tử nhà Chu bắt các nước chư hầu hội thề. Riêng nước Sở không tới mà tổ chức hội thề riêng. Do vậy, đụng độ là không thể tránh khỏi.
Binh hai phe Nam Bắc chuẩn bị đụng độ. Quản Trọng cũng có ý ngại. Vì đánh mà thắng cũng không thể nuốt được Sở, và cũng không được gì hơn. Thua thì sợ các nước chư hầu trở mặt. Binh của Tề trước nay vẫn chưa gặp đối phương nào mạnh như Sở. Quản Trọng một mặt sai sứ sang thuyết phục vua Sở, vừa hù dọa vừa nịnh bợ, nói rõ thiệt hơn. Vua Sở ý muốn giảng hòa. Tướng nước Sở nói: Chưa đánh nhau, sao biết hơn thua. Tôi cho rằng ta mạnh hơn. Cho dù có sa sảy, ra rút về Nam, Tề dám qua sông đánh ta thì chỉ có chết. Vua Sở cười: Ta lại sợ Tề ư, nhưng hắn có danh nghĩa thiên tử, ta xem Trung nguyên cũng chưa suy yếu lắm. Nay ta nhường một bước xem hắn ra điều kiện thế nào, nếu quá quắt đánh nhau cũng chưa muộn. Bèn hỏi điều kiện giảng hòa và nói: Tôi lâu không triều cống sợ thiên tử trách phạt, thì phải làm thế nào.
Quản Trọng nói: Ngày xưa theo lệ nước Sở phải cống cỏ bao mao, nhiều năm bỏ bễ. Nay Sở phải mang mấy xe cỏ vào cống để biết đạo thần tử, Tề sẽ đứng ra xin thiên tử xá tội. Sở Vương ưng theo.
Bão Thúc Nha nói: Sở là nước cầm thú, dám xưng vương là việc lớn, còn phải tiến cống bao nhiêu thứ ông không hỏi đến, mấy xe cỏ nhỏ nhặt ông hỏi đến làm gì? Quản Trọng cười: Sở vô lễ lâu ngày, nay ta muốn đưa vào khuôn khổ phải chọn điều gì nhỏ nhặt dễ thực hiện. Điều kiện khó quá, nó không chịu nổi cắn càn, ta chắc gì đã thắng được nó. Nay ta bắt được Sở nghe theo dù là chuyện gì, đủ đắc chí với chư hầu và lập công với thiên tử. Thiên hạ nghe ta bắt được Sở phục tùng há dám không nghe ta, rồi lấy thế đó mới ép được Sở. Sở Vương thấy điều kiện giảng hòa dễ dàng, mừng lắm bèn cho đưa cỏ bao mao vào nhà Chu, lai viết thư tạ lỗi, không xưng tước mà chỉ tự xưng là "viễn thần". Thiên tử nhà Chu mừng lắm, đưa cỏ vào nhà Thái miếu báo cáo tổ tiên, thưởng cho Sở rất hậu, lại thưởng cho cả Tề. Một số nước chư hầu bèn bỏ minh ước của Sở theo Tề.
Về lâu dài, Sở vẫn là nước mạnh, tiếp tục xưng vương như cũ. Sau thời Tề Hoàn Công, nước Tề loạn, suy yếu, nhưng thế lực Sở vẫn mạnh, sau vẫn cùng Tần Mục Công, Tấn Văn Công, Tống Tương Công cạnh tranh. Mãi sau này Ngô Vương là Hạp Lư nhờ có Ngũ Tử Tư mới đánh được Sở.
Lời bàn: Thay đổi là khó. Khó nhất là thay đổi chạm đến sĩ diện. Muốn bắt tội đại nghịch bất đạo, nếu không đủ thế lực, phải bắt đầu uốn nắn từ những chỗ nhỏ nhặt, để người ta dễ chấp nhận. Trong Tam Quốc, Lưu Bị đánh Thục bắt bẻ Lưu Chương không cấp đủ binh lương, cũng là một cái bắt bẻ nhỏ nhặt. Tôi lớn nhất của Chương là đang làm chúa Ích Châu kia, cho đến khi nào Bị chưa lấy được Ích Châu thì Chương vẫn còn có tội, há có thể mang vàng vài ngàn cân, lụa vài vạn cuộn, binh vài vạn tên, lương vài vạn hộc mà xóa tội được ư.
Vua nước Sở họ Hùng, tổ là Dục Hùng vốn có công phò tá Vũ Vương nhà Chu diệt Trụ, được phong tước bá ở phía Nam, vùng Kinh Tương. Dục Hùng theo tương truyền chỉ là một gia nhân nên phẩm tước thấp kém hơn, lại không ở Trung Nguyên mà ở lẫn với bọn man di phương Nam. Trong khi đó các nước như Lỗ (dòng dõi Chu Công), Tống (dòng dõi nhà Thương), Tề (dòng dõi Khương Thái Công) đều là tước công hoặc tước hầu.
Tuy nhiên, nước Sở ở xa cũng có cái hay là ở lẫn với các nước nhỏ, ngu si, dễ hiếp đáp. Ở xa, lai có thể không phải theo luật lệ của nhà Chu. Dần dần nước Sở mở đất đai ngàn dặm thành một nước lớn, phương Nam sản vật lại nhiều, giàu có, trở thành một nước mạnh. Sở dần dần kiêu căng, trước là bỏ việc cống chim trả, cỏ bao mao, ngà voi,.... Sau thì xưng vương tước, đặt mình trên tất cả các chư hầu, ngang với thiên tử nhà Chu.
Tề Hoàn Công dùng Quản Trọng trước mở công nghiệp nhà thổ, đánh bạc vét tiền của người giàu, buôn muối vét tiền của người nghèo, lại khai khoáng, khuyến nông, phát triển công nông thương. Bên ngoài thì đánh dẹp nước yếu mở mang bờ cõi, làm bá ở Trung nguyên. Tuy nhiên, so sánh về binh lực và giàu có chưa thể bằng nước Sở. Quản Trọng lại khuyên Tề Hoàn Công vào chầu thiên tử nhà Chu để lấy danh nghĩa hiệu triệu thiên hạ. (Đoạn này rất nên học, không phải cái gì ra tiền mới nên làm. Giống như gửi một phong thư, trong đó có cái séc 1 triệu đô, cái tem bưu điện không đáng gì, nhưng rất quan trọng). Vì thế Tề Hoàn Công có được lệnh của thiên tử nhà Chu bắt các nước chư hầu hội thề. Riêng nước Sở không tới mà tổ chức hội thề riêng. Do vậy, đụng độ là không thể tránh khỏi.
Binh hai phe Nam Bắc chuẩn bị đụng độ. Quản Trọng cũng có ý ngại. Vì đánh mà thắng cũng không thể nuốt được Sở, và cũng không được gì hơn. Thua thì sợ các nước chư hầu trở mặt. Binh của Tề trước nay vẫn chưa gặp đối phương nào mạnh như Sở. Quản Trọng một mặt sai sứ sang thuyết phục vua Sở, vừa hù dọa vừa nịnh bợ, nói rõ thiệt hơn. Vua Sở ý muốn giảng hòa. Tướng nước Sở nói: Chưa đánh nhau, sao biết hơn thua. Tôi cho rằng ta mạnh hơn. Cho dù có sa sảy, ra rút về Nam, Tề dám qua sông đánh ta thì chỉ có chết. Vua Sở cười: Ta lại sợ Tề ư, nhưng hắn có danh nghĩa thiên tử, ta xem Trung nguyên cũng chưa suy yếu lắm. Nay ta nhường một bước xem hắn ra điều kiện thế nào, nếu quá quắt đánh nhau cũng chưa muộn. Bèn hỏi điều kiện giảng hòa và nói: Tôi lâu không triều cống sợ thiên tử trách phạt, thì phải làm thế nào.
Quản Trọng nói: Ngày xưa theo lệ nước Sở phải cống cỏ bao mao, nhiều năm bỏ bễ. Nay Sở phải mang mấy xe cỏ vào cống để biết đạo thần tử, Tề sẽ đứng ra xin thiên tử xá tội. Sở Vương ưng theo.
Bão Thúc Nha nói: Sở là nước cầm thú, dám xưng vương là việc lớn, còn phải tiến cống bao nhiêu thứ ông không hỏi đến, mấy xe cỏ nhỏ nhặt ông hỏi đến làm gì? Quản Trọng cười: Sở vô lễ lâu ngày, nay ta muốn đưa vào khuôn khổ phải chọn điều gì nhỏ nhặt dễ thực hiện. Điều kiện khó quá, nó không chịu nổi cắn càn, ta chắc gì đã thắng được nó. Nay ta bắt được Sở nghe theo dù là chuyện gì, đủ đắc chí với chư hầu và lập công với thiên tử. Thiên hạ nghe ta bắt được Sở phục tùng há dám không nghe ta, rồi lấy thế đó mới ép được Sở. Sở Vương thấy điều kiện giảng hòa dễ dàng, mừng lắm bèn cho đưa cỏ bao mao vào nhà Chu, lai viết thư tạ lỗi, không xưng tước mà chỉ tự xưng là "viễn thần". Thiên tử nhà Chu mừng lắm, đưa cỏ vào nhà Thái miếu báo cáo tổ tiên, thưởng cho Sở rất hậu, lại thưởng cho cả Tề. Một số nước chư hầu bèn bỏ minh ước của Sở theo Tề.
Về lâu dài, Sở vẫn là nước mạnh, tiếp tục xưng vương như cũ. Sau thời Tề Hoàn Công, nước Tề loạn, suy yếu, nhưng thế lực Sở vẫn mạnh, sau vẫn cùng Tần Mục Công, Tấn Văn Công, Tống Tương Công cạnh tranh. Mãi sau này Ngô Vương là Hạp Lư nhờ có Ngũ Tử Tư mới đánh được Sở.
Lời bàn: Thay đổi là khó. Khó nhất là thay đổi chạm đến sĩ diện. Muốn bắt tội đại nghịch bất đạo, nếu không đủ thế lực, phải bắt đầu uốn nắn từ những chỗ nhỏ nhặt, để người ta dễ chấp nhận. Trong Tam Quốc, Lưu Bị đánh Thục bắt bẻ Lưu Chương không cấp đủ binh lương, cũng là một cái bắt bẻ nhỏ nhặt. Tôi lớn nhất của Chương là đang làm chúa Ích Châu kia, cho đến khi nào Bị chưa lấy được Ích Châu thì Chương vẫn còn có tội, há có thể mang vàng vài ngàn cân, lụa vài vạn cuộn, binh vài vạn tên, lương vài vạn hộc mà xóa tội được ư.
Thứ Bảy, 18 tháng 4, 2015
Nhàn đàm: Công nghiệp hát rong kể chuyện
Qua nhiều tỉnh ở Việt Nam, thấy nhân dân sống còn nghèo, tôi cứ băn khoăn không biết làm thế nào với những người này, có thể thu tiền làm CNTT từ họ. Hay nói rộng hơn, có thể thu tiền gì từ họ, ngoài đồ ăn, cái mặc, chỗ ở, thuốc thang và xa hơn một chút là học hành. Nếu thị trường mua không có, thì cũng khó có thể giúp họ có được thu nhập để nâng cao đời sống. Nói cho cùng, họ cũng phải bắt đầu thu nhập từ môi trường xung quanh. Vấn đề của các tỉnh đều là tìm ra sản phẩm công nghiệp. Tỉnh nào cũng nói thị trường trong tỉnh không có, muốn tìm cách bán ra tỉnh ngoài, nhưng cũng dựng hàng rào ngăn chặn sản phẩm của tỉnh khác vào tỉnh mình. Quay đi quay lại, cuối cùng lại trở về bán tài nguyên. Tỉnh nào không có tài nguyên thì bán đất. Đất mỗi ngày một cạn mà công nghiệp, sản phẩm không có, tương lai sẽ không biết bán cái gì. Tôi tán thành bán tài nguyên, nếu như nhằm vào mục tiêu tạo vốn, đầu tư vào công nghiệp, để trong tương lai có sản phẩm bán được.
Có lẽ vấn đề của cả nước Việt Nam cũng như vậy. Rất ít sản phẩm được thị trường trong và ngoài nước chấp nhận. Tôi đã từng đi dự một hội chợ sản phẩm công nghệ và hoàn toàn thất vọng. Mặt hàng bán chạy nhất là trái vải của Bắc Giang và bánh đậu xanh của Hải Dương. Cách sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao nhất là quy trình nuôi tôm và nén mùn cưa thành củi. Có lẽ khó khăn không nằm ở việc làm một sản phẩm cụ thể, mà ở chỗ vòng quay của hệ thống không trơn tru. Động vào chỗ nào cũng phải thắng được lực ì của cả hệ thống. Làm một việc thành công ở Việt Nam là phải vác lên vai toàn bộ các vấn đề của xã hội. Thành thử chỉ các công ty lớn mới có hy vọng thành công vì mới bõ công xây dựng một bộ máy toàn diện để giải quyết chừng đó vấn đề.
Tuy nhiên, xem ra các đại gia cũng chỉ say sưa lợi dụng thương quyền để đào mỏ, chứ không phải là muốn giải quyết đến gốc của vấn đề để phát triển lâu dài. Vì vậy, các khẩu hiệu luôn luôn đổi mới được đưa ra, giống anh con rể bắt chước bố vợ đủ thứ trong tiếu lâm Việt Nam, mà không làm chuyện gì cho ra hồn.
Xem ra, để làm ăn lớn có lẽ nên bắt đầu từ thị trường nước ngoài. Thị trường nước ngoài nếu thành công lâu dài và ổn định sẽ dần dần tạo ra thị trường trong nước. Thực sự thì trong CNTT, xu hướng gia công là xu hướng duy nhất thành công ở quy mô công nghiệp, sau khi đã thử nghiệm các ý tưởng như game, thương mại điện tử, mạng xã hội,.... không mấy thành công. Đến như đại gia Viettel, trước nguy cơ bão hòa thị trường Viễn thông trong nước đã bắt đầu tìm ra nước ngoài.
Có điều, chỉ là ra nước ngoài thôi thì vẫn chưa phải là một chiến lược cụ thể. Rõ ràng gia công không phải là một hướng lâu dài, do không thể hình thành thương hiệu. Không có thương hiệu thì không thể có khách hàng lâu dài và không thể có sản phẩm công nghiệp có tầm cỡ. Gia công mà không để ý tới sản phẩm thì cũng không hơn gì bán tài nguyên, trong đó con người cũng là một dạng tài nguyên. Có thể gia công là một giải pháp tốt nhất hiện nay mà chúng ta có, nhưng không thể là đích đi tới. Cũng như bán hoa hậu, người mẫu, than đá, dầu mỏ, đều phải hướng tới mục tiêu trong tương lai, là phải có sản phẩm công nghiệp.
Tôi nhớ, hình như Tố Hữu có lần được hỏi sẽ làm gì sau khi thôi chức Phó Thủ tướng, ông đã trả lời "Tôi sẽ đi hát rong kể chuyện". Cũng có thể ngài Phó Thủ tướng -Thi Sĩ phụ trách kinh tế hoàn toàn không có một ý tưởng nào về công nghiệp. Nhưng tôi chợt nghĩ: Tại sao lại không có công nghiệp hát rong kể chuyện. Nếu chúng ta thử tính xem doanh thu do di sản của ông già hát rong kể chuyện mù Homer, hay chàng nghệ sĩ Shakespeare đã tạo ra cho nhân loại là bao nhiêu, có lẽ toàn bộ doanh thu của ngành công nghiệp CNTT chỉ là con muỗi. La Quán Trung ngày xưa, Trương Nghệ Mưu ngày nay cũng là những người hát rong kể chuyện. Hát rong kể chuyện Harry Potter, Lords of the Ring tạo ra doanh thu khổng lồ mà bất cứ ngành công nghệp nào cũng phải ao ước.
Việt Nam có thể hát rong kể chuyện gì cho thế giới để thay vào các cố gắng thi hoa hậu, thi Olympics, làm game, đá bóng nhại theo tiqui-taka, gia công phần mềm.... không thể nào thành công nghiệp quy mô quốc gia được. Đừng tưởng hát rong kể chuyện không có vai trò lớn. Người ta mua hàng Trung Quốc, du lịch Trung Quốc, đầu từ vào Trung Quốc cũng bắt đầu từ các câu chuyện hát rong kể chuyện Đèn Lồng Đỏ treo Cao, Ngoạ hổ Tàng Long, Tam Quốc, Hồng Lâu Mộng,.... Trước khi các thương hiệu Sony, NEC, Canon, Honda, Toyotta,... của Nhật trở thành quen thuộc, thế giới đã say sưa nghe Kurosava hát rong kể chuyện về con người và văn hóa Nhật bản. Có thể nói văn hóa dẫn đường và cũng là người bảo tiêu quan trọng nhất cho hàng hóa công nghiệp. Chúng ta sẽ kể chuyện gì đây và sẽ kể thể nào?
Thứ Sáu, 3 tháng 4, 2015
Luận Tam Quốc: Quan Bình là con trưởng của Quan Vũ
Quan Công được thờ rất nhiều nơi ở Trung Quốc và Việt Nam. Trong đền Ngọc Sơn, được cho là nơi có linh khí vượng nhất Thăng Long, cũng có thời Quan Đế Quân. Ở đâu có Quan Đế Quân ở đó cũng có hai vị thiên tôn đứng hầu. Vị mặt đen, vác đao là Chu Sương, một nhân vật không có trong chính sử, mà được hư cấu trong tiểu thuyết. Vị mặt trắng, đẹp trai nho nhã là Quan Bình.
Trong Tam Quốc Diễn Nghĩa, Quan Bình được cho là con nuôi của Quan Vũ, có cha ruột là Quan Định, anh ruột là Quan Ninh. Nhưng sự thực, Quan Bình là con trưởng của Quan Vũ, mẹ là Hồ thị, sinh năm 178 tại quê nhà của Quan Vũ, thôn Thường Bình, Giải Lương, Hà Đông. Năm 220, Quan Vũ mất vừa 58 tuổi, Bình mới 42 tuổi. Như vậy, Vũ sinh Bình khá sớm, mới 16 tuổi. Các tài liệu còn lại cũng nói Quan Vũ sống với Hồ thị không lâu. Thường thì có một ông bố ghê gớm như vậy thì hay có chuyện con nuôi nhận làm con đẻ. Chứ chuyện con đẻ rành rành, sao lại có chuyện lẫn thành con nuôi.
Bình có em trai là Quan Hưng, em gái là Quan Ngân Bình (cô hổ con, mà Quan Vũ không chịu gả cho công tử "chó con" là con trai của Tôn Quyền). Nhưng chắc khác mẹ, vì sau này Quan Vũ lấy người khác sinh ra Hưng và Ngân Bình. Có lẽ do Hồ thị lấy Quan Vũ thuở hàn vi, nhan sắc và dòng dõi đều tầm thường, nên ít được nhắc tới.
Quan Bình tự là Thản Chi (nghĩa là bình thản), làm tới Điển quân Trung lang tướng, luôn luôn theo sát cha trong trận mạc, chết chung với cha, do đó là hình tượng tôi trung, con hiếu, tình tình lại điềm đạm, cẩn thận lo mọi việc cho Quan Vũ.
Quan Bình là con rể của Triệu Vân, sinh được một con trai là Quan Việt. Khi Mạch Thành bị phá, Triệu thị dắt con là Quan Việt mới tám tuổi, chạy trốn, sống lẩn lút trong các làng xóm tại nước Ngô, lại phải đổi họ Môn. Không hiểu tại sao Triệu thị không đưa Việt về Thục, khi Triệu Vân vẫn làm tướng ở Thục, gia đình Quan Vũ cũng được trọng vọng ở Thục. Tuy vậy, như thế lại là may. Khi Chung Hội và Đặng Ngải phá Thục, con Bàng Đức là Bàng Hội, tìm giết sạch cả nhà họ Quan ở Thục để trả thù cho cha bị Quan Vũ giết. Vì vậy, dòng dõi của Quan Vũ chỉ còn Quan Việt.
Khi Tấn lấy Ngô, Quan Việt lấy lại họ Quan. Thời Thanh Ung Chính, dòng dõi của Việt có người ra làm quan và được vua Ung Chính ra một đạo dụ công nhận là dòng dõi Quan Vũ và Quan Bình.
Trong Tam Quốc Diễn Nghĩa, Quan Bình được cho là con nuôi của Quan Vũ, có cha ruột là Quan Định, anh ruột là Quan Ninh. Nhưng sự thực, Quan Bình là con trưởng của Quan Vũ, mẹ là Hồ thị, sinh năm 178 tại quê nhà của Quan Vũ, thôn Thường Bình, Giải Lương, Hà Đông. Năm 220, Quan Vũ mất vừa 58 tuổi, Bình mới 42 tuổi. Như vậy, Vũ sinh Bình khá sớm, mới 16 tuổi. Các tài liệu còn lại cũng nói Quan Vũ sống với Hồ thị không lâu. Thường thì có một ông bố ghê gớm như vậy thì hay có chuyện con nuôi nhận làm con đẻ. Chứ chuyện con đẻ rành rành, sao lại có chuyện lẫn thành con nuôi.
Bình có em trai là Quan Hưng, em gái là Quan Ngân Bình (cô hổ con, mà Quan Vũ không chịu gả cho công tử "chó con" là con trai của Tôn Quyền). Nhưng chắc khác mẹ, vì sau này Quan Vũ lấy người khác sinh ra Hưng và Ngân Bình. Có lẽ do Hồ thị lấy Quan Vũ thuở hàn vi, nhan sắc và dòng dõi đều tầm thường, nên ít được nhắc tới.
Quan Bình tự là Thản Chi (nghĩa là bình thản), làm tới Điển quân Trung lang tướng, luôn luôn theo sát cha trong trận mạc, chết chung với cha, do đó là hình tượng tôi trung, con hiếu, tình tình lại điềm đạm, cẩn thận lo mọi việc cho Quan Vũ.
Quan Bình là con rể của Triệu Vân, sinh được một con trai là Quan Việt. Khi Mạch Thành bị phá, Triệu thị dắt con là Quan Việt mới tám tuổi, chạy trốn, sống lẩn lút trong các làng xóm tại nước Ngô, lại phải đổi họ Môn. Không hiểu tại sao Triệu thị không đưa Việt về Thục, khi Triệu Vân vẫn làm tướng ở Thục, gia đình Quan Vũ cũng được trọng vọng ở Thục. Tuy vậy, như thế lại là may. Khi Chung Hội và Đặng Ngải phá Thục, con Bàng Đức là Bàng Hội, tìm giết sạch cả nhà họ Quan ở Thục để trả thù cho cha bị Quan Vũ giết. Vì vậy, dòng dõi của Quan Vũ chỉ còn Quan Việt.
Khi Tấn lấy Ngô, Quan Việt lấy lại họ Quan. Thời Thanh Ung Chính, dòng dõi của Việt có người ra làm quan và được vua Ung Chính ra một đạo dụ công nhận là dòng dõi Quan Vũ và Quan Bình.
Thứ Bảy, 28 tháng 3, 2015
Bình Tam Quốc: Lưu Chương mất Thục
Lưu Chương tự Quý Ngọc, con Lưu Yên, một trong các sứ quân hùng mạnh thời Hán Mạt cát cứ Ích Châu. Trong Long Trung Sách, Gia Cát Lượng cho rằng: Lưu Chương ngu hèn bất lực, do đó đặt mục tiêu cho Lưu Bị phải lấy Ích Châu chia ba thiên hạ.
Tuy nhiên, cần phải phân tích thêm nguyên nhân mất Thục của Lưu Chương. Kỳ thực, Lưu Chương không phải bất tài về quân sự. Trước khi Lưu Bị vào Ích Châu, Lưu Chương đã đánh dẹp được các tập đoàn quân sự lớn tại Ích Châu và các lực lượng của nhà Hán do Đổng Trác cử vào Ích Châu. Khi đó Lưu Chương có những biện pháp quân sự kiên quyết. Về mặt kinh tế, Ích Châu dân giàu nước mạnh, quân nhiều tướng khỏe, lương thảo đầy đủ, chắc chắn Lưu Chương cai trị Ích Châu không thua Lưu Bị, Gia Cát Lượng sau này. Về người tài, cả văn lẫn võ, Lưu Chương đều có đủ. Về tham vọng, Lưu Yên nhập Thục là đã có dã tâm cát cứ, cắt đường sạn đạo, sẵn sàng đối chọi với nhà Hán, tích lũy lương thực, tuyển binh tráng, chế tạo khí giới. Lưu Chương thừa kế cơ nghiệp của cha, không phải không muốn làm bá một phương. Bản thân Lưu Chương cũng là một người nhân nghĩa, biết thương dân. Khi Lưu Bị áp sát Thành Đô, binh lực, lương thảo của Lưu Chương vẫn còn đủ sức chống cự lâu dài, nhưng Chương nói "Ba năm chiến tranh, xương trắng đầy đồng, dân Ích Châu có tội gì, đều là lỗi tại ta chưa có ân đức gì với dân chúng." Điều đó thể hiện Lưu Chương biết nghĩ tới dân.
Lưu Chương mất Ích Châu là do sai về phương lược, và thiếu tính chủ động cần thiết. Trong thời loạn, những kẻ sĩ dù giỏi và đã là chư hầu một phương nhưng lừng khừng, lười biếng, thiếu chủ động như Công Tôn Toàn, Khổng Dung, Lưu Biểu,... đều thất bại. Bước đầu tụ thủ một phương, tích trữ thực lực, cắt đường sạn đạo, cắt rời Ích Châu khỏi Trung Nguyên là đúng. Nhưng áp dụng kế yên thân này mãi mãi, trong khi có nhiều kẻ nhòm ngó, mưu xâm chiếm như Tào Tháo, Lưu Bị lại là sai, không tính kế lấy tiến làm thủ thì cuối cùng "người là dao thớt, ta là thịt cá" để thiên hạ đến mổ xẻ.
Tín hiệu cho thấy là chính sách thủ một phương sai là ở việc để mặc Trương Lỗ xưng hùng ở Hán Trung. Trước đó mẹ Trương Lỗ, có nhan sắc, lại theo một tôn giáo mới, có qua lại giao thiệp với Lưu Yên. Do đó Lưu Yên để Trương Lỗ truyền bá tôn giáo Gạo tiến tới làm chủ Hán Trung với tư cách một chư hầu độc lập thuộc phạm vi cai trị của mình, trong khi đáng lẽ phải nắm lấy Hán Trung. Đây là một tâm lý lười biếng, nghĩ rằng dùng Lỗ làm bình phong chắn phương Bắc, để Lỗ lo việc cự Tào Tháo, nghĩ rằng mình sẽ không phải lo. Thực ra, xu thế sẽ là cá lớn nuốt cá bé để cuối cùng sẽ trở thành những tập đoàn lớn hơn. Nếu không biết nắm lấy thời cơ để trở thành một tập đoàn đủ lớn, sớm muộn cũng không thể tồn tại. Hán Trung vốn đã nằm trong tầm tay lại để vào tay Trương Lỗ, trở thành một ẩn số, không thể chủ động khống chế. Trong một thế cuộc hỗn loạn đã nhiều ẩn số, lại thêm một biến số không thế điều khiển, đó là sai.
Điều thứ hai, Lưu Chương lại dựa vào tập đoàn Đông Châu, là các lực lượng bên ngoài tới Ích Châu mà không nắm được tập đoàn hào mục Ích Châu. Nếu không nắm được thì phải cai trị bằng bàn tay sắt, rồi mới có ân huệ. Tuy nhiên, Lưu Chương lại thi hành một chính sách khoan dung, mà những kẻ được hưởng không hề biết ơn, trở nên kiêu căng phóng túng, không kiểm soát được, những kẻ sĩ đang đợi được trọng dụng, thay thế các quan chức cũ nằm trong tay hào mục, như bọn Trương Tùng, Pháp Chính, Mạnh Đạt, Bành Dạng,... bất mãn.
Sai lầm trực tiếp là muốn dùng Lưu Bị để chống Tào Tháo, đó cũng là tâm lý lười biếng. Thực ra, kế sách này cũng không phải ngu dốt như La Quán Trung mô tả, mà là do cách thực hiện yếu kém. Khi đó, Lưu Bị đang không có đất cắm dùi, mới nắm được năm quận ở Kinh Châu với tư cách là mượn của Tôn Quyền, trong đó 3 quận phải dùng vũ lực để chiếm, không thu phục được quan dân, đe dọa bị mất bất cứ lúc nào. Thực tế, khi Lưu Bị vào Thục, Quan Vũ đã làm mất cả 3 quận này, do điều đình mới được Tôn Quyền nhường thêm cho quận Công An. Nắm được tâm lý đó, Lưu Chương muốn lợi dụng Lưu Bị để chống Tào Tháo, kể ra cũng không phải là không biết phân tích thời thế. Nếu thay vì hoàn toàn nhờ Lưu Bị, mà liên kết với Lưu Bị đánh Hán Trung, lợi dụng việc Lưu Bị đang khát chỗ ở mà lấy Hán Trung và tiến lên lấy toàn bộ Lũng (địa bàn sau này của Quách Hoài) và địa bàn của Mã Đằng Hàn Toại khi đó đã thất thế, tranh thủ mở rộng thế lực.
Sai lầm tiếp theo của Lưu Chương là không có chủ kiến, dễ bị ảnh hưởng bởi một số ý kiến lười biếng, hợp với tâm lý của mình, mà không chịu tiếp thu các ý kiến phải mất công, nỗ lực, khác với tư tưởng ngại khó của mình. Đã có tính cách lười biếng như vậy, thì không nên làm minh chủ, mà nên theo một người làm chỗ dựa vững chắc, làm một chức quan to, biết nghe lời là đủ. Khôn ngoan nhất vẫn là theo Tào Tháo, chắc chắn vẫn được làm thứ sử Ích châu. Sau này muốn vớt vát, thì theo Lưu Bị ngay từ đầu, không đến nỗi bị đày ra Công An. Cuối cùng, khi Tôn Quyền lấy Kinh Châu, Lưu Chương lại nhận chức Mục Ích Châu do Tôn Quyền phong mà không có một tấc đất Ích Châu, chẳng phải là lựa chọn ngu nhất hay sao.
Phàm là ở một vị trí nào đó trở lên, con người phải chọn giữa việc kiên quyết chủ động tiến lên hoặc lùi bước nương tựa vào một thế lực mạnh hơn, nếu thấy mình không đủ tư cách. Ví như Tào Sảng, nếu tiến lên một bước nắm lấy vua, hiệu triệu thiên hạ đủ làm Tư Mã Ý khốn đốn, gặp họa chu di tam tộc. Nhưng chí của Tào Sảng "chỉ làm một ông nhà giàu là đủ" để đến nỗi gặp họa diệt tộc. Nếu như vậy chi bằng ngay từ đầu, hùa theo Tư Mã Ý, làm một chức đại tướng quân bù nhìn, rồi thoái lui làm Tam Công là đủ.
Chỉ tiếc thay cho những người kỳ tài như Hoàn Phạm, Trương Nhiệm đã đặt niềm tin vào những thủ lĩnh thiếu tính chủ động như Tào Sảng, Lưu Chương, chết mà không đáng.
Vì vậy, nói Lưu Chương mất Thục không phải do năng lực, tri thức và lực lượng mà là do sai ở tính thiếu chủ động, vì thiếu chủ động nên lười biếng, không có chủ kiến, lười biếng không có chủ kiến thì phụ thuộc vào người khác, nếu may, các đối thủ đều ngu thì có thể thoát, nhưng đụng vào Lưu Bị là tay kiêu hùng không thể thoát.
Thứ Ba, 24 tháng 3, 2015
Bình Tam Quốc: Chỉ có lên chứ không thể xuống một bậc
Đời Ngụy Chủ Tào Hoán, Tư Mã Chiêu ức hiếp vua, Ngụy chủ buồn bực mà làm ra bài thơ Rồng Lặn. Chiêu dặn Giả Sung: người này không tính sớm sẽ sinh chuyện. Giả Sung thưa: Tôi sẽ vì Chúa Công mà lo việc này.
Nhân có thiết triều, Tư Mã Chiêu đeo gươm lên điện. Ngụy Chủ run sợ. Quần thần đều nói: Nay Đại tướng quân công cao trùm thiên hạ, nên phong Tấn công, thụ cửu tích. Ngụy Chủ cúi đầu không nói gì. Tư Mã Chiêu quát: Cha con anh em tôi vì bệ hạ công lao không đáng Tấn Công sao. Ngụy Chủ nói: Đâu dám không nghe. Chiêu cười nhạt rồi lui.
Ngụy Chủ về cung buồn bực, bàn với Vương Kinh: Tư Mã Chiêu khinh rẻ thiên tử. Trẫm trước sau cũng bị hại. Chi bằng gọi thiên hạ cùng đánh nó. Bèn thu thập tả hữu được mấy chục người hò reo đánh trống, tiến ra cửa Nam để đánh Tư Mã Chiêu. Vương Kinh khóc: Bệ hạ đi chỉ có chết uổng thôi.
Giả Sung dẫn đầu quân ngự lâm gặp Ngụy Chủ. Binh lính đều sợ vua có ý chùn lại. Giả Sung hất hàm bảo Thành Tế: Ông Tư Mã nuôi các ngươi là dùng ở lúc này. Thành Tế vác kích đến trước mặt Ngụy Chủ. Ngụy chủ vừa kịp mở miệng mắng "Thằng thất phu to gan" đã bị Thành Tế đâm một kích xuyên người chết tại chỗ. Quân hầu chạy tán loạn. Vương Kinh mở miệng mắng Thành Tế giết vua cũng bị Tế giết chết.
Tư Mã Phu, ông chú của Tư Mã Chiêu, nghe tin, nằm gối đầu lên chân Tào Mao khóc: Bệ hạ bị thế này cũng là lỗi tại thần đây.
Tư Mã Chiêu gọi quần thần tới thương nghị thấy thiếu Trần Thái, bèn cho người đi gọi. Thái mặc áo tang vào khóc lóc thảm thiết. Chiêu hỏi Thái: Bây giờ nên làm thế nào. Thái nói: Bây giờ chém Giả Sung mới mong tạ tội với thiên hạ một chút. Chiêu hỏi: Liệu có xuống được một bậc không. Thái nói: Chỉ có thể lên chứ không thể xuống. Chiêu bèn ghép Thành Tế vào tội đại nghịch bất đạo, giết cả họ.
Mao Tôn Cương bàn: Ý Trần Thái nói Tư Mã Chiêu mới là thủ phạm chính. Ngày xưa, Triệu Chiên giết vua, Triệu Thuẫn còn ở trong triều, lại không giết Chiên, nên bị sử gia chép: Triệu Thuẫn giết vua. Khi Thuẫn trách quan thái sử, thái sử nói: Ngài là tướng quốc, cầm quyền lớn nhất, thân đang ở trong triều, Triệu Chiên là tay chân của ngài, giết vua làm sao ngài không biết, biết mà không trị tội Chiên, rõ ràng là ngài phải chịu trách nhiệm giết vua.
Thứ Sáu, 13 tháng 3, 2015
Phiếm luận cuối tuần: Vòng tròn nhân quả và cách mở nút thắt Gordias của Alexander Đại Đế
Tìm ra mối quan hệ nhân quả (causality) là phương pháp tư duy quen thuộc để tìm hiểu thế giới. Giữa hai sự kiện hoặc hai sự vật, nếu có thể thiết lập một quan hệ nhân quả, một cái sẽ được xem là nhân, một cái sẽ được coi là quả. Nhân là cái có trước, sinh ra quả. Sư tồn tại của quả là tất yếu khi có nhân. Bằng cách đó, các nhà thông thái cho là giải thích được và tiên đoán được sự tồn tại của quả. Các nhà chính trị thích thú vì chỉ cần khống chế được nhân sẽ có thể nhào nặn quả như chơi đất sét. Trí thức được tưởng thưởng tốt hơn đám bình dân và có cơ hội gia nhập giới cầm quyền, chỉ để ngồi phát hiện ra các quan hệ nhân quả. Vận tốc đầu nòng súng và góc bắn là nhân, viên đạn bắn trúng đích là quả. Ném một người từ đỉnh Tháp Đôi New York, Tháp nghiêng Pisa hay Tháp Eiffel, bất kể sang tiện phú bần, tri thức, nhân cách, quan điểm ra sao đều có kết quả như nhau, và đều rơi với gia tốc trọng trường. Nhát cuốc trên cánh đồng bình thường hay trên Killing Field của Khmer Đỏ, đều tuân theo định luật Newton, có cùng phản lực và gây biến dạng tỷ lệ với xung lực. Khoa học và người sinh ra nó không có quan điểm, quan điểm và kết quả là do người dùng tạo ra. Động lực sử dụng tri thức lớn đến mức, nếu nó không được dùng cho một thế lực này, nó sẽ được sử dụng cho thế lực đối địch, giống như khương tuyến của chàng sĩ quan Hungari Feri được mời chào cho Nhà Thờ Chính giáo trước, nhưng rốt cuộc lại dùng để phá cổng thành Constantinople, thành trì của Chính giáo.
Không phải quan hệ nhân quả luôn luôn hoạt động tốt với tư duy con người. Nó cũng có thể lừa gạt con người, làm cho số phận của họ khốn khổ hơn. Ở đây, chúng tôi sẽ không bàn tới những tên bồi thông thái, chuyên tìm ra các mối quan hệ nhân quả giả tạo để kiếm chác và sẽ bàn tới các tính huống có vòng tròn nhân quả (causality cycle). Thực ra quan hệ nhân quả phần lớn chỉ có thể áp dụng được trong một giai đoạn nhất định, con gà là nhân đẻ ra quả trứng là quả chỉ trong giai đoạn con gà sinh ra và lớn lên đẻ trứng. Khi đã có quả trứng, đưa vào lò ấp và nở ra con gà con, đó lại là một giai đoạn với quan hệ nhân quả khác. Thói xấu của tư duy trí thức là tổng quát hóa, lấy kinh nghiệm cục bộ, áp dụng cho toàn thể. Cũng như đem tư duy Toán học áp dụng cho các vấn đề công nghiệp, đem tư duy triết học, chính trị bàn giấy áp dụng cho cuộc sống. Thành công của tính nhân quả là với các chu kỳ dài, thường là trong thế giới cơ học. Tuy nhiên có những trường hợp một quá trình diễn ra là một chuỗi liên tiếp quả và nhân đổi chỗ cho nhau. Điều đó rất thường xảy ra trong thực tế xã hội. Chẳng hạn, chúng ta hãy xem tính nhân quả trong việc một người nhân viên nói thẳng làm sếp nổi giận lôi đình. Có thể xem nói thẳng là nhân, lôi đình là quả. Nhưng thực ra, nếu sếp không có quyền nổi giận lôi đình, thì sẽ không có cơn lôi đình đó. Cơ chế của giận lôi đình không phải là xảy ra ngay tức thì và phát triển một cách tất định (deterministic) đến cao trào. Các nhà tâm lý đã chỉ ra cơ chế như sau, ban đầu sếp thấy hơi khó chịu, khó chịu sinh ra hơi giận, cơn giận đó lại gây là khó chịu hơn, khó chịu hơn sẽ gây giận hơn, và cứ như thế các vòng tròn khó chịu- giận sẽ xoay với tốc độ ngày càng tăng, nhân quả liên tục bị vi phạm để đổi vai với tốc độ ngày càng cao và bùng phát thành một cơn giận lôi đình. Nếu có cách gì chặn ngay vòng tròn đó lại thì sẽ không có cơn lôi đình. Con chó hung hăng sủa cũng bắt đầu từ tâm trạng sợ hãi, muốn trấn an sợ hãi phải hung hăng và sủa, Sủa hung hăng lại thấy sợ hãi thêm, lông gáy dựng đứng lên.
Các vòng tròn nhân quả trong thượng tầng kiến trúc đã gây ra những tranh luận rất tốn kém, "con gà -quả trứng", "vật chất-tinh thần", "văn học-cuộc sống", "nghệ thuật-nhân sinh". Cố công xác định cho được đâu là nhân là quả, thực là vô bổ, khi nhân quả chỉ là một vai trò có tính giai đoạn là một chức năng mà tư duy tạm gán để có thể giúp đỡ cho sự hoạt động của nó dễ dàng hơn, để suy luận, tư biện. Nhìn rộng ra, xã hội, cuộc sống hàng ngày, thế giới, vũ trụ có vô số vòng tròn nhân quả đang đánh lừa các tư duy thông thái sa vào vòng xảo biện, mất thời gian. Nhiều vấn đề rơi vào việc tranh luận nhân quả mà không bao giờ kết thúc tranh luận, không ai chịu ai, rồi phải dùng nắm đấm, súng ống, bom liều chết, vũ khí nguyên tử,... Vì vậy, trước khi bắt đầu một cuộc tranh luận, cần phải xem xét chúng ta có đang bị một vòng nhân quả đánh lừa hay không. Cố nhiên, trong phần lớn các trường hợp, các bên đều bị khóa chết vào vòng tròn đó, và có ảo giác là nếu vấn đề không ngã ngũ sẽ không làm được việc gì khác. Người ta thường nhầm tưởng xã hội tiến lên nhờ đấu tranh. Thực ra, đấu tranh là tất yếu khi xã hội tiến lên, nhưng khi đấu tranh thì xã hội sẽ dừng lại, thậm chí thụt lùi. Đấu tranh là cái giá phải trả chứ không phải động lực cho sự tiến lên. Đấu tranh là bắt buộc, nhưng không phải đấu tranh càng nhiều càng tốt, các xã hội chỉ biết đấu tranh không ngơi nghỉ là các xã hội chậm tiến. Tổ chức đấu đá quanh năm là tổ chức tụt hậu.
Alexander Đại đế, từ năm 333 trước Công Nguyên đã có cách giải quyết các tình trạng "tiến thoái lưỡng nan", "lang bạt kỳ hồ" cắt đứt vòng nhân quả như thế.
Tương truyền rằng, tại xứ Gordium, nhà vua Gordias đã để lại một cái nút thắt Gordias (Gordian Knot) với lời nguyền "ai cởi được nó sẽ có quyền lực bao gồm cả châu Âu và châu Á". Nhiều thế hệ trôi qua, rất nhiều người đã cố gắng nhưng không ai cởi được cái nút thắt Gordias. Mùa Đông năm 333, nhà vua Alexander của xứ Macedoin, dừng chân lại Gordium và thử gỡ nút thắt này. Sau một hồi loay hoay không thành công, một tư tưởng vĩ đại chợt lóe lên, nhà vua tuốt kiếm chém nút làm đôi. Theo truyền thuyết, lời giải của Alexander làm Zeus chúa tể của các chư thần thích thú đến nỗi cầm lưỡi tầm sét vung lên lung tung. Suốt cả đêm đó trời đầy giông bão, sấm chớp ầm ầm. Chúa tể của chư thần đưa Alexander từ một công vương Macedoin hẻo lánh lên tầm Đại Để làm chủ cả hai châu lục.
Thông điệp của Alexander có thể bắt đầu chỉ đơn giản là "nếu ta không làm được cũng đừng hòng có ai làm được". Tuy nhiên, điều đó đã đưa đến một lời giải tuyệt vời, cho đến nay chúng ta vẫn còn phải học để chặt phăng nhưng vòng nhân quả vô tích sự kéo giãn bên này thì thít chặt bên kia. Cứ ngẫm mà xem, lời giải vung gươm chặt phăng những cái nút luẩn quẩn sẽ giải quyết vô khối vấn đề của cuộc sống do chính chúng ta tạo ra với ảo tưởng của mình.
EM TÔI Thơ của Huy Phương
Bài thơ của cha tôi gửi tặng cô tôi là nhà văn Thanh Hương
Thuở ấy miền Hương Ngự
Dịu dàng như một lá thư xanh
Một dòng sông xinh
Đôi bờ thông nhỏ
Có con đường ngát gió
Về Nam Giao bóng nắng chênh chênh.
Một dòng sông xinh
Đôi bờ thông nhỏ
Có con đường ngát gió
Về Nam Giao bóng nắng chênh chênh.
Em tôi áo biếc hiền lành
Lòng vui bước rộn nhanh nhanh đường dài
Phấn thông tỏa xuống lưng đồi
Lòng em cùng với hương đồi lâng lâng
Em thích bóng trăng
Vờn trên trang sách ngỏ
Em thích nghe tiếng gió
Ngân dài trong đêm sương
Mùa qua dệt mộng bình thường
Lững lờ trong nhịp dòng Hương khoan hò.\
Lòng vui bước rộn nhanh nhanh đường dài
Phấn thông tỏa xuống lưng đồi
Lòng em cùng với hương đồi lâng lâng
Em thích bóng trăng
Vờn trên trang sách ngỏ
Em thích nghe tiếng gió
Ngân dài trong đêm sương
Mùa qua dệt mộng bình thường
Lững lờ trong nhịp dòng Hương khoan hò.\
Nhưng rồi có một mùa thu
Nắng không vàng xao xác
Súng nổ, đô thành tan tác
Máu hồng hoen ố đường xanh
Hướng về núi Ngự chênh chênh
Mịt mù khói tỏa, dập dềnh súng ngân
Em tôi cũng lên đường
Một sáng mùa thu ấy
Trong tiếng gọi mười phương
Cả đô thành bừng dậy hiên ngang.
Nắng không vàng xao xác
Súng nổ, đô thành tan tác
Máu hồng hoen ố đường xanh
Hướng về núi Ngự chênh chênh
Mịt mù khói tỏa, dập dềnh súng ngân
Em tôi cũng lên đường
Một sáng mùa thu ấy
Trong tiếng gọi mười phương
Cả đô thành bừng dậy hiên ngang.
Mẹ già đưa tiễn bên nương
Ngùi ngùi tóc trắng, vương vương lệ sầu
Em cười: “Năm bảy tháng sau
Con về với mẹ, có sao mẹ buồn?”
Nắng vàng ngả bóng nẻo thôn
Em đi, bước rộn trên đường vui vui.
Ngùi ngùi tóc trắng, vương vương lệ sầu
Em cười: “Năm bảy tháng sau
Con về với mẹ, có sao mẹ buồn?”
Nắng vàng ngả bóng nẻo thôn
Em đi, bước rộn trên đường vui vui.
Rồi từ đấy xa xôi
Em ra miền Bắc Việt
Trập trùng cao núi biếc
Ngàn ngạn dải sương xanh
Bốn mùa áo biếc hiền lành
Em vui gian khổ, vui tình núi sông
Em mơ một thuở phản công
Trở về Hương Ngự miền Trung với mẹ già
Với trang sách nhỏ đơn sơ
Chiều chiều có bóng trăng mờ nghiêng nghiêng.
Em ra miền Bắc Việt
Trập trùng cao núi biếc
Ngàn ngạn dải sương xanh
Bốn mùa áo biếc hiền lành
Em vui gian khổ, vui tình núi sông
Em mơ một thuở phản công
Trở về Hương Ngự miền Trung với mẹ già
Với trang sách nhỏ đơn sơ
Chiều chiều có bóng trăng mờ nghiêng nghiêng.
Đêm nay gió lạnh mênh mang
Em tôi có nhớ nẻo đường chênh chênh
Một mùa thông ngát màu xanh
Mai sau cờ đỏ rung rinh sao vàng.
Em tôi có nhớ nẻo đường chênh chênh
Một mùa thông ngát màu xanh
Mai sau cờ đỏ rung rinh sao vàng.
Hà Tĩnh, 4.1950
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)