Chủ Nhật, 20 tháng 9, 2015

Ngã học Dịch [2] Hệ từ Truyện Thiên Thượng Chương 1 Tiết 1 (tiếp theo) Hiểu chữ phương và vật

Mấu chốt để hiểu Tiết 1, Chương 1, Hệ từ truyện, Thiên Thượng là ở câu:
 "Phương dĩ tụ loại, vật dĩ quần phân, cát hung sinh hĩ"  
Nguyễn Hiến Lê dịch giải như sau:
"Việc (1) có xu hướng phải trái nên sắp với nhau thành nhóm; vật có hình riêng nên chia ra từng bầy; do đó mà đặt ra lời cát và hung. 
(1). Chữ phương ở đây có người hiểu là nơi và dịch: các loài tụ lại từng phương. Chúng tôi theo Phan Bội Châu mà dịch như trên. R. Wilhelm dịch là biến cố. "
Trước hết ta hãy xem việc "cát hung sinh" trong quan hệ với "tụ loại" và "quần phân". Nói về Dịch là nói về biến chuyển, mục đích là xem cát hung (lành dữ). Cát hung là nói về được mất, thay đổi theo tình hình thay đổi (Chương 3 quyển Hạ có câu "Cát hung giả, ngôn hồ kì thất đắc dã", Chương 12 quyển Hạ lại có câu Biến động dĩ lợi ngôn, cát hung dĩ tình thiên)
Nguyên lý của Dịch là phù hợp thì lành, sinh cát, xung khắc thì dữ, sinh hung. Nương theo cát hung mà hành động, cát thì thuận nước đẩy thuyền, hung thì luyện chí đợi thời.

Tiết mở đầu của Hệ từ truyện là phải quán xuyến được nguyên lý thực hành đó của Dịch, chứ không phải nói chuyện vu khoát. Do đó "tụ loại" chỉ nói về sự phù hợp, giống nhau, nhóm họp, "quần phân" nói về sự xung khắc, khác biệt, chia lìa.

Vậy thì cái gì sẽ dùng để nhóm họp, chỉ ra sự phù hợp, cái gì dùng để chỉ ra xung khắc, chia lìa? Nhóm họp dựa trên tương đồng, giống nhau, cùng loại. Xung khắc, chia lìa dựa trên sự khác biệt. Chúng ta sẽ xem nghĩa nào của chữ "phương" và chữ "vật" có liên quan đến ý nghĩa đó của Dịch. Cũng cần xác định văn của Dịch là văn muộn nhất vào thời tiên Tần, do đó cần các xét theo nghĩa cổ, không hạn chế ở các nghĩa hiện nay.

Chúng tôi tham khảo phần giải nghĩa tường tận  http://www.zdic.net/z/1b/xs/65B9.htm, sau khi nhóm họp các nghĩa có dị biệt nhỏ thấy có các nghĩa như sau:
 (1) Thuyền và thuyền ghép song song gọi là phương chu lễ tiết cho các quan đại phu, hoặc tạo thành chiến thuyền lớn trong quân sự.
(2) Tương đương, cùng loại, như nhau, so sánh
    Sách Chu Lễ có câu Tử nhân vi hầu, quảng dữ sùng phương. Khắc ấn phong hầu đều tôn trọng NHƯ NHAU
     Sách Chiến quốc có câu Kim giả, tề, hàn tương phương. Người thời nay, Tề Hàn đều NHƯ NHAU.
       Trong Hán Thư, truyện Vệ Thanh Hoắc Khứ Bệnh có câu Tán phiếu kỵ diệc phương thử ý Tán dương phiêu kỵ cũng giống như ý đó.
(3) So sánh để thấy sự khác biệt
       Trong sách Quốc Ngữ có câu  "Dân thần tạp nhữu, bất khả phương vật". Dân thần lẫn lộn, không thể phân biệt. Tuy nhiên, lưu ý sự khác biệt là do chữ vật trong từ "phương vật"
(4) Chiếm hữu, ở
     Kinh Thi trong  bài Triệu nam · Thước sào có câu  Duy thước hữu sào, duy cưu phương chi.  Chim khách có tổ, bị tu hu vào ở chiếm lấy
(5) Bắt chước, theo hình mẫu
     Tuân Tử có câu "Phương kỳ nhân chi tập quân tử chi thuyết, tắc tôn dĩ biến hĩ, chu ô thế hĩ" Bắt chước người tài tập nói chuyện theo lối quân tử, ắt được kính trọng mà thay đổi để giúp đời".
  Nghĩa (2), (3) và (5) đều có quan hệ logic đến việc phù hợp, "tụ loại". Nghĩa (1) không có liên quan. Nghĩa (4) có thể có liên quan nhưng theo một nghĩa khác "tụ loại theo nơi chốn, phép tắc, sự chính trực". Chúng tôi tạm để vào một khả năng để khảo dị. 
    Nếu tổng hợp các nghĩa còn lại đều có thể tạm dịch như sau:
   "Tương đồng để nhóm họp, hoàn cảnh riêng để chia lìa, mà sinh ra lành dữ".
   Nếu theo nghĩa này ta có thể chọn nghĩa "vật" như là hoàn cảnh riêng.

   Ở đây chúng tôi muốn bàn thêm một cách suy luận theo nội dung hiện đại để thấy cách hiểu chính và cách hiểu khảo dị có thể thống nhất với nhau để đưa ra một cách hiểu rộng duy nhất.

    Chúng ta có thể thấy "phép tắc" và "tương đồng" bao giờ cũng đi đôi với nhau. Bất cứ phân loại, nhóm họp hay hình thành khái niệm đại diện cho cả nhóm bao giờ cũng phải có một "phép tắc" nhất quán dựa trên "sự tương đồng". Ví dụ, người xưa nhận thức được những con bò thông qua những con bò cụ thể. Nếu không có phân loại, không có được tư duy trừu tượng dựa trên khái niệm, các con bò là những đối tượng cụ thể không có liên quan và cũng bình đẳng như những con vật khác. Việc hình thành nhóm các con bò với đại diện là khái niệm trừu tượng "bò" không chỉ con bò cụ thể nào, phải dựa trên một nguyên tắc bao gồm một tập tính chất tương đồng nào đó (như bốn chân, có sừng, ăn cỏ, cày ruộng,...).  Các khái niệm hình thành nhờ mở rộng hoặc thu hẹp các tập tính chất tương đồng, căn cứ vào đó các nhóm đồng loại cũng được thu hẹp hay mở rộng. Nhờ thế có khái niệm con vật, vật bốn chân, thú có vú, họ trâu bò, bò, .... Người ta có thể nhận thức được một nhóm con, hoặc một cá thể nhờ một sự khác biệt (hoàn cảnh, điều kiện riêng) nào đó.

     Các ví dụ nổi bật về "tụ loại" và "quần phân" là định luật hấp dẫn Newton và việc tìm ra sao Hải vương Tinh (Neptune) . Các hành tinh trong hệ Mặt Trời đều tuân theo định luật Newton. Đó chính là "tụ loại", có phép tắc, quy luật, ....  Tuy nhiên, các nhà khoa học khi đó thấy rằng quỹ đạo của sao Thiên Vương (Uranus) có vẻ lệch so với tính toán, dựa trên các dữ liệu quan sát được. Đó chính là "quần phân" khác biệt, dị thường, phá vỡ quy luật,.... Để giữ nguyên quy luật, người ta phải giả thiết có sự tồn tại của một hành tinh khác là Hải vương tinh. Áp dụng định luật Newton, người ta có thể tính chính xác được quỹ đạo và vị trí của sao Hải vương để quan sát được nó.Việc GellMann tiên đoán được hạt Omega dựa trên đối xứng SU(3) và Meldeleev tiên đoán được các nguyên tố nhờ bảng tuần hoàn cũng là các ví dụ tương tự về tư tưởng hiện đại của "tụ loại" và "quần phân". Tuy nhiên, ở tiết này việc vận động qua lại giữa "tụ loại" và "quần phân" cũng như việc hình thành khái niệm và quan hệ giữa cá thể và quần thể trong Dịch chưa có một sự vận động chuyển hóa linh hoạt như tư duy khoa học hiện đại.

      Theo quan niệm hiện đại, đây chính là cơ sở của nhận thức: nhìn thấy sự liên hệ qua các tính chất tương đồng để hình thành khái niệm, nhìn thấy sự khác biệt để phân biệt sự vật (kể cả tốt và xấu). Chúng ta hy vọng, ở các phần sau, trong Dịch cũng sẽ có quan điểm linh hoạt, chuyển hóa như vậy. Theo quan niệm phổ biến hiện nay ở Á Đông, tốt là theo chuẩn, phép tắc đi kèm với sự chính trực, do đó không có đột phá. Cái gì phá cách, bất thường là xấu. Do đó thực ra không có cái gì là Lành hay Dữ theo nghĩa tuyệt đối. Lành hay Dữ là theo cách nhìn sự vật. Điều mà một số người cho là tốt, có thể là xấu đối với một số người khác. Hơn nữa, do vận động phải tuần tự, điều xấu cũng chưa chắc đã là xấu nếu coi đó là một đoạn đường ắt phải qua để đến kết quả tốt.
   
   Như vậy, Cát Hung là do góc nhìn và thời điểm. Phân biệt Cát Hung chưa chắc đã là tốt. Điều quan trọng hơn là nhìn nhận ra sự vật và xu hướng vận động của nói. Đến đây chưa rõ là tư duy lạc hậu Á Đông là phản Dịch hay trung thành với Dịch và Dịch có hạn chế ở cách nhìn nhận cứng nhắc về Cát Hung.
 
      Theo tư tưởng trên, chúng tôi đề nghị dịch câu trên như sau "Phép tắc tương đồng để nhóm họp, điều kiện riêng để phân biệt, mà sinh thành Cát và Hung". Chúng ta sẽ điều chỉnh cách dịch câu này khi đọc và hiểu nhiều hơn về Kinh Dịch.

Ngã học Dịch [3] Hệ từ truyện Thiên Thượng Chương 1 tiết 2-6

Nguyên văn
2. 是 故, 剛 柔 相 摩, 八 卦 相 盪.
3. 鼓 之 以 雷 霆, 潤 之 以 風 雨, 日 月 運 行, 一 寒 一 暑.

4. 乾 道 成 男, 坤 道 成 女.
5. 乾 知 大 始, 坤 作 成 物.
6. 乾 以 易 知, 坤 以 簡 能.


Phiên âm
2. Thị cố, cương nhu tương ma, bát quái tương đãng.
3. Cổ chi dĩ lôi đình, nhuận chi dĩ phong vũ, nhật nguyệt vận hành, nhất hàn nhất thử.
4. Kiền đạo thành nam, khôn đạo thành nữ.
5. Kiền tri thái thủy, khôn tác thành vật.
6. Kiền dĩ dị tri, khôn dĩ giản năng.

Dịch nghĩa và chú thích của Nguyễn Hiến Lê
2. Thị cố cương nhu tương ma, bát quái tương đăng. 
Dịch: cho nên cứng và mềm cọ nhau, giao nhau mà thành bát quái, bát quái luân chuyển nhau (chồng lẫn lên nhau mà thành sáu mươi bốn quẻ). 
3. Cổ chi dĩ lôi đình, nhuận chi dĩ phong vũ, nhật nguyệt vận hành, nhất hàn nhất thử. 
Dịch : Cổ động cho muôn vật bằng sấm sét (ám chỉ quẻ Chấn); thấm nhuần cho muôn vật bằng gió mưa (ám chỉ quẻ Tốn), mặt trời mặt trăng xoay vần, cứ lạnh rồi tới nóng (thay đổi nhau hoài). 
Chú thích: đây nói về sự biến hoá thành ra các tượng ở trên trời. 
4. Càn đạo thành nam, Khôn đạo thành nữ. 
Dịch: Có đạo Càn (tức khí dương) nên thành giống đực, có đạo Khôn (tức khí âm) nên thành giống cái. 
Chú thích: Chữ đạo ở đây không có nghĩa là đạo đức, cũng không hẳn có nghĩa như trong “Đạo đức kinh”. Có thể tạm coi là luật thiên nhiên. Nam, nữ thường dịch là trai, gái, như vậy là chỉ xét chung về loài người thôi, nghĩa hẹp đi. 
5. Càn tri thái (có người đọc là đại) thủy, Khôn tác thành vật. 
Dịch: đạo Càn làm chủ (tác động) lúc mới đầu (lúc chưa thành hình); rồi sau đạo Khôn làm cho (vạn vật) ngưng kết mà thành hình. 
Chú thích: Chữ tri ở đây không có nghĩa là biết; mà có nghĩa là làm chủ, như tri phủ, tri huyện. . . 
6. Càn dĩ dị tri, khôn dĩ giản năng. 
Dịch: Càn (nhờ đức cương kiện mà động nên) dễ dàng, không tốn sức mà làm chủ tác động lúc mới đầu; Khôn (nhờ đức nhu thuận mà) đơn giản, không rối ren mà tác thành vạn vật. 
Chú thích: tiết là tiếp tiết trên. Tiết trên nói về công dụng của Càn, Khôn; tiết này nói về đức của Càn, khôn. Chữ tri ở đây nghĩa như chữ tri ở trên, chữ năng ở đây nghĩa như chữ tác ở trên. 


Đọc văn
Đoạn này không có gì khó lắm về văn tự nên có thể đọc thông cả 5 tiết, sau khi đã thoát tiết đầu tiên. Văn tự Tàu theo công thức "đề thừa phá luận"  thường khó nhất là câu "đề" (nêu vấn đề), vì thường tối như hũ nút. Càng hũ nút càng được khen hay, uyên áo, nên trái hẳn với cách của phương Tây, vấn đề đặt ra phải đơn giản rõ ràng, khả thi, có phạm vi để không đi vào vu khoát.  Do đó có đoạn "thừa" làm sáng tỏ ý nghĩa của đề. Thường đoạn này hay có xu hướng tầm thường hóa, không ít trường hợp làm hỏng đề và cũng không ít trường hợp không đáng bỏ thời gian ngẫm nghĩ tán dóc quá nhiều như các cụ hủ nho.
Điều đáng nói là thumb up cho cụ Nguyễn Hiến Lê về phiên âm đoạn này vì có 2 cái bẫy đối với đa số người mới học hoặc tậm toạch nho nhoe như mình: "Kiền tri thái thủy", nhiều người, nhiều sách phiên thành "Kiền tri đại thủy" do không bám vào ý nghĩa khi phiên âm. "Kiền dĩ dị tri" nhiều người nghĩ là đang nói chuyện về Dịch nên phiên thành "Kiền dĩ Dịch tri". Tuy nhiên, khen như vậy là hỗn láo, vì đối với bậc túc học như cụ Nguyễn Hiến Lê mấy cái này là chuyện nhỏ, không thể so với đám đông ẩu xị được.
 Ý nghĩa của đoạn này cũng không có gì đáng nói nhiều. Vấn đề là dịch ra tiếng Việt sao cho thuận, êm tai như nguyên bản và đừng để mất nghĩa hoặc bịa thêm nghĩa chủ quan. (Cụ Nguyễn Hiến Lê vẫn hơi tán rộng một chút)
Tạm dịch:
     2. Chính vì vậy, cương nhu cọ xát, tám quẻ đan xen.
    3. Gióng lên để ra sấm sét, tưới đẫm để thành gió mưa, nhật nguyệt xoay vần, lúc lạnh lúc nóng.
    4. Theo lối Kiền thành tính nam, theo lối Khôn là tính nữ.
    5. Kiền nắm rõ khởi đầu, Khôn tác thành sự vật.
    6. Kiền để hiểu đời dung dị, Khôn để giản tiện công việc

Lời bình của Lệnh Lỗi Dương
     Cụm từ "chính vì vậy" sẽ giới hạn các nghĩa đã giải ở tiết 1. Về đại thể các tiết 2 và 3 chỉ nói về việc cấu thành quá trình vận động của dịch, âm dương xen kẽ, tuần hoàn, từ bắt đầu manh nha đến lúc cực điểm, đều trải qua chuyển dịch có thứ tự, liên tục, không đứt đoạn, nhảy cóc; có lớp lang, không đi tắt đón đầu, đốt cháy giai đoạn. Phương Tây có quá trình adiabatic, không gây hỗn loạn.
   Tiết 4-6, cần đọc theo mạch liên kết với nhau, thì sẽ tập trung được vào ý chính của chương. Cụ Nguyễn Hiến Lê có xu hướng giảng tách bạch nên phóng tay suy luận.
    Ở đây chỉ gợi ra nguyên tắc hiểu Dịch bắt đầu từ hiểu nguyên lý vận động giữa Kiền và Khôn. Dịch có bát quái, 64 quẻ, nhưng mọi đạo lý đều nằm ở Kiền và Khôn, vì thế không vội đi sâu vào Chấn Tốn hay bất cứ quẻ nào khác. Tiết 3 chỉ là gợi ra ví dụ hiện tượng để nói rằng cần phải hiểu đạo Kiền Khôn mới hiểu quá trình từ khi khua động ra đến sấm sét, kể từ tưới đẫm ra đến gió mưa.
    Tại sao lại có Tiết 4? Ở đây cụ Nguyễn Hiến Lê bàn hơi rộng, cho rằng nam nữ không quan trọng mà chỉ là nói về người quan hệ với Đạo, quy luật, chưa được rõ về logic. Thực ra mạch văn ở đây là lấy một ví dụ về Kiền Khôn qua tính nam và tính nữ để thấy được quan hệ Kiền Khôn. Qua ví dụ này có thể hiểu mọi quan hệ giữa mọi cặp thể hiện Kiền Khôn khác như Lý thuyết-Thực hành, Cứng-Mềm, Dương-Âm,...
      Qua ví dụ nam - nữ, có thể thấy Kiền (trong ví dụ là Nam) khởi đầu, Khôn (trong ví dụ là Nữ) sinh sản ra sự vật. Có thể hiểu một cách phồn thực, cụ thể. Do Kiền là khởi đầu nên trọng ở chỗ nắm rõ cách thức, khái niệm một cách dễ dàng. Khôn sinh sản nên phải có xu hướng đơn giản hóa để thực hành. Trong quá trình học Dịch cần nắm vững nguyên lý chi tiết đến mức dễ hiểu, khi liên hệ thực tế cần đơn giản. Tán nhăng cuội  ngoài văn tự khi đọc Dịch cũng là phản Dịch.

Thứ Bảy, 19 tháng 9, 2015

Ngã học Dịch [1] Hệ từ Truyện Thiên Thượng Chương 1 Tiết 1

Bắt đầu đọc Dịch. Theo bản dịch của Nguyễn Hiến Lê. Mong các cao nhân có sách trong tay, bổ túc thêm từ các bản của Thu Giang Nguyễn Duy Cần, Phan Bội Châu, Ngô Tất Tố và các bản khác.
Nguyên văn
   卑,乾   矣。卑   陳,貴   矣。動   常,剛   矣。方   聚,物   分,吉   矣。在   象,在   形,變  矣。  
Phiên âm: Nguyễn Hiến Lê
Thiên tôn địa ti, Càn khôn định hĩ; ti cao dĩ trần, quí tiện vị hĩ.  Động tĩnh hữu thường, cương nhu đoán hĩ.  Phương dĩ tụ loại, vật dĩ quần phân, cát hung sinh hĩ.  Tại thiên thành tượng, tại địa thành hình, biến hoá hiện hĩ.  
Dịch: Nguyễn Hiến Lê 
(Vì thấy) trời cao đất thấp (mà thánh nhân) vạch ra quẻ Càn và quẻ Khôn; cao thấp đã bày ra thì định được quí và tiện (dương quí mà âm tiện). 
Động và tĩnh đã có luật nhất định do đó mà phân biệt cương và nhu (dương là cương động; âm là nhu, tĩnh). 
Việc (1) có xu hướng phải trái nên sắp với nhau thành nhóm; vật có hình riêng nên chia ra từng bầy; do đó mà đặt ra lời cát và hung. 
Xem trên trời thấy (nhật nguyệt tinh thần . . .) thành ra nhiều tượng; xem dưới đất thấy (núi sông, vạn vật . . .) thành ra nhiều hình; sự biến hoá như vậy đã hiện rõ. 
Chú thích: (Nguyễn Hiến Lê)

Tiết này nói về nguồn gốc và nguyên lý Kinh dịch. 
(1). Chữ phương ở đây có người hiểu là nơi và dịch: các loài tụ lại từng phương. Chúng tôi theo Phan Bội Châu mà dịch như trên. R. Wilhelm dịch là biến cố. 

 
Đọc lại
   Cách đọc của chúng tôi dựa trên các nguyên tắc sau đây:
    a) Phân tích sau đây dựa trên "án tại hồ sơ" dựa vào văn tự, văn cảnh, cấu trúc mạch văn và tham chiếu các đoạn văn cổ để tìm nghĩa cổ ngoài từ điển. 
   b) Khắc phục hạn chế thâm căn cố đế của các "cụ" vốn hay suy luận theo ý chủ quan, ép các ý tưởng có sẵn trong đầu cho sách. Thành thử tranh luận liên miên không bao giờ dừng để làm được cái gì cho ra hồn. Thực tế là lợi dụng Dịch để tuyên truyền mê tín dị đoan hay quan điểm chính trị.
   c) Chúng tôi, hậu sinh, không có thời gian và điều kiện đọc rộng, thuộc kỹ, nhớ sâu, nhưng có phần mềm và máy tìm kiếm, nói có sách, mách có chứng. "Cụ" nào muốn tranh luận để cùng xây dựng kiến thức đi đến chân lý đều sẵn sàng phục vụ, điều kiện duy nhất là bình đẳng và không để bụng. Nếu các "Cụ" đưa ra các lý lẽ thuyết phục hơn chúng tôi càng thấy vui, vì được mở mang tầm mắt.
      Đoạn này có thuận lợi là có công thức điệp ngữ gồm 5 câu XXX, YYY hĩ, như vậy không những văn cảnh, ý chung của cả đoạn mà từng từ ngữ cũng liên quan chặt chẽ với nhau. Cụ Nguyễn Hiến Lê phiên âm một chữ  thành "đoán" không trúng văn cảnh lắm. Nguyên chữ này có hai phiên âm "đoán" và "đoạn". "Đoạn" là phiên âm của nghĩa chặt đứt, tách biệt, rời bỏ như trong "đoạn tuyệt". "Đoán" được phiên âm trong phân xử "xử đoán", "đoán xét", "chẩn đoán". Phiên âm sai cũng dẫn đến hiểu sai và ngược lại.

Phiên âm và sắp lại theo điệp ngữ.
Thiên tôn địa ti, kiền khôn định hĩ. 
Ti cao dĩ trần, quý tiện vị hĩ.
Động tĩnh hữu thường, cương nhu đoạn hĩ. 
Phương dĩ loại tụ, vật dĩ quần phân, cát hung sinh hĩ. 
Tại thiên thành tượng, tại địa thành hình, biến hóa kiến hĩ.
Dịch theo văn
Trời sang đất hèn, mà Kiền Khôn định rõ. 
Cao thấp để sắp đặt, mà sang hèn có nơi chốn. 
Động tĩnh có phép tắc, mà cương nhu tách biệt. 
Lấy mẫu hình để nhóm  đồng loại, lấy cá thể để tách khỏi quần thể, mà cát hung sinh thành.
Trên trời thành tượng, dưới đất thành hình, mà thấy được biến hóa.   
Lời bình của Lệnh Lỗi Dương
  1. Phiên âm "cương nhu đoạn hĩ" chữ "đoạn" đây giống như trong "đoạn tuyệt", phân biệt rành mạch, cưa đứt đục suốt.
  2. Muốn dịch được tiết này trước hết cần xét cấu trúc theo lối điệp văn dồn dập gồm 5 câu theo công thức "XXX, YYY hĩ" trong đó YYY là hệ quả của XXX. Do đó hĩ có thể dịch là "rồi". Tuy nhiên dịch là "XXX, mà YYY" nghe uyển chuyển và dễ thấy quan hệ nhân quả hơn.
 3. Khó nhất  là câu "Phương dĩ loại tụ, vật dĩ quần phân, cát hung sinh hĩ". Điểm mấu chốt là hiểu được chữ "phương" và chữ "vật". Cả hai chữ này nếu tách riêng thì có rất nhiều nghĩa. Nhưng trong câu này và trong mạch văn của tiết này thì chỉ có một số khả năng hạn chế, giúp cho việc hiểu câu này dễ hơn. Chúng ta sẽ cùng nghiên cứu kỹ câu này. Dịch xong câu này, ý nghĩa của cả tiết sẽ rõ ràng.
4. Tựu chung có 3 cách giải thích chữ "phương" ở đây
    (a) Phương thuật: Phương pháp, cách thức, phương hướng.
    (b) Phương vị: Nơi chốn, địa điểm. (Nam Hoài Cẩn trong "Dịch kinh hệ truyện biệt giảng" phản bác nghĩa phương thuật cho rằng phương thuật không thể "tụ loại". Lệnh mỗ cho rằng lý lẽ phản bác không hoàn toàn thuyết phục, dù tiên sinh có thể đúng)
    (c) Mẫu hình, loại hình: Theo Thẩm Thiện Tăng trong "Hoàn ngô Trang tử" , "phương" ở thời Tiên Tần có nghĩa là một tập hợp vật thể lớn hơn so với "loại". Ví dụ Tử Du (Ngôn Yển, một trong Thập Triết, học trò của Khổng Tử) có nói "Cảm vấn kỳ phương?" (Dám hỏi ngài thuộc "phương" nào?) Hoặc trong "Mặc tử kinh thuyết hạ" có viết "Nhất phương tận loại, câu hữu pháp nhi dị"  Từ một "phương" đến tất cả các loại, đều có cách để phân biệt. 
   Vậy "phương" ở đây nghĩa là gì?
    Do câu văn biền ngẫu hô ứng, nếu nắm được nghĩa của "vật" sẽ xác định được nghĩa của "phương". Đọc lại "phương là để tụ loại, vật là để quần phân". Quan hệ giữa "phương" và "vật" sẽ xác định bởi quan hệ giữa "tụ loại" và "quần phân".
     "Tụ loại" là việc hình thành một khái niệm, một loại hình. Nhiều cá thể giống nhau, nhóm họp lại, được trừu tượng hóa thành một khái niệm.
      "Quần phân" là việc một cá thể tách ra khỏi quần thể của nó bằng một điểm khác biệt nào đó.
          Ví như: Một cô gái được gọi là cô gái do có một số tính chất chung nào đó. Nhưng cô gái của bạn sở dĩ duy nhất là nhờ có khác biệt nào đó.
      Theo quan điểm hiện đại, chính lý thuyết nhóm đối xứng là để phân loại, giúp hình thành các khái niệm. Vi phạm đối xứng, sẽ phân biệt một cá thể khỏi quần thể. Dường như nghĩa (c) có liên quan nhiều nhất với việc hình thành khái niệm và tách biệt cá thể.
        Hơn nữa, chữ Hán có danh từ và động từ "phương vật". Chúng ta hãy xem xét một số nghĩa liên quan, ngõ hầu tìm được từ nguyên cổ của chúng để truy ra nghĩa "phương" và "vật" cổ có trong Dịch Kinh.
      Danh từ "phương vật" có hai nghĩa: Nghĩa thứ nhất là thổ sản là phẩm vật địa phương. Nghĩa thứ hai là việc "bàn luận phân biệt danh phận". Đây là nghĩa có thể liên quan.
      Động từ "phương vật" có trong sách Quốc Ngữ " Cập thiểu hạo chi suy dã, cửu lê loạn đức, dân thần tạp nhữu, bất khả phương vật"  nghĩa là "Đến khi (vua) Thiếu Hạo suy, (tộc) Cửu Lê làm loạn đạo đức, người và thần lẫn lộn, không thể "phương vật"" Cụm từ "bất  khả phương vật" còn được dùng trong "Sử Ký Tư Mã Thiên" và "Hậu Hán Thư", đều có thể dịch là "phân biệt danh phận". Sau này, phương vật mới được dùng theo nghĩa rộng hơn là so sánh, đồng loại, khi đó "bất khả phương vật", ý nói không thể so sánh, xuất sắc. Ví dụ như Kim Dung tả Triệu Minh trong Ỷ thiên đồ long ký "Minh diễm bất khả phương vật" Đẹp rực rỡ không gì so sánh được. Nghĩa là còn hơn Thúy Kiều còn so với "làn thu thủy, nét xuân sơn". 
      Phương thời cổ có nghĩa là "so sánh, phân loại". Trong Minh Sử-truyện Hải Thụy, có ghi câu nói của Gia Tĩnh về Hải Thụy "Thử nhân khả phương tỷ can, đệ trẫm phi trụ nhĩ" Người này có thể so cùng Tỷ Can, nhưng Trẫm không phải là Trụ". 
      Nghĩa này được suy rộng ra nghĩa hiện đại là "chính trực, ngay thẳng" như trong "chân phương".
      Lấy ví dụ nhiều như thế là  để tìm từ nguyên cổ của "phương", cũng đối chiếu với ngữ cảnh hiện đại, cũng như ý nghĩa trong văn cảnh, ta có thể khẳng định (c) có thể gần với nghĩa trong văn cảnh nhất.
       Bây giờ chúng ta xem nghĩa (c) có thể suy ra  việc sinh thành cát hung, tương tự với các câu khác trong tiết hay không? Việc gồm nhóm và phân tách cá thể quả thực có thể báo hiệu lành hay dữ. Những cá biệt đều báo điềm dữ, chân phương, chính trực, theo phép tắc báo hiệu điều lành. Đó chính là tuyên ngôn đầu tiên của Dịch.
       Cụ Nguyễn Hiến Lê chắc cũng thấy đoạn này khó nên nói là theo cụ Phan Bội Châu "phương" có nghĩa là nơi chốn, có phần phiến diện và sơ sài. Chính vì thấy bất cập nên phải tán bịa theo ý chủ quan. Không hiểu các cụ khác phán thế nào?

Thứ Năm, 20 tháng 8, 2015

Dùng chữ nghĩa và cách suy nghĩ: nhìn và chiêm nghiệm

Người Việt có thói quen nói theo quán tính. Phun ra cả cụm từ thậm chí nhiều cụm từ có ý nghĩa khác nhau mà không hề đắn đo về ý nghĩa của nó. Người ta vẫn nói thế, tôi nói thế là an toàn, cùng lắm là ngang tầm với người nói trước. Lâu ngày thành một đường mòn. Cứ nói như vẹt, tưởng đó là ý tường của mình.

Ví dụ đơn giản: "ngôi nhà đẹp", "Cô gái xinh" là vừa đủ trọn nghĩa. Nhưng nói ra lại có vẻ hơi "tây" nếu không nói "ngôi nhà rất đẹp", "cô gái xinh quá". Nếu như vậy trong tiếng Việt không có chỗ cho "rất đẹp", "rất xinh" nữa. Nói một cách khác, một vấn đề tưởng vô nghĩa, nhưng thành thói quen sẽ làm một dân tộc mù về cấp độ. Không nhận thức được về cấp độ, tất nhiên sẽ khiếm khuyết về suy nghĩ.

Bài này sẽ thảo luận về nhóm các chữ "khía cạnh", "viễn cảnh", "triển vọng", "nhìn lại", "vỡ lẽ",... mà người Việt dùng khá lộn xộn. Đặc biệt khi thông dịch hoặc nói chuyện với người nước ngoài, các khái niệm này dùng sai một cách hồn nhiên. Khi đầu tôi nghĩ rằng đó là do yếu về ngoại ngữ hay từ vựng, nhưng gần đây quan sát một số trí thức đáng kính, tôi mới chợt nhận ra rằng phương pháp suy nghĩ của người Việt chưa thực sự phát triển. Giữa việc dùng từ cho chính xác và phát triển phương pháp tư duy có quan hệ tương hỗ. Dùng từ không chỉnh, méo mó sẽ làm méo mó phương pháp. Phương pháp suy nghĩ chưa phát triển đến một mức độ tinh vi, cách dùng từ sẽ sơ sài cầu thả, không sense được sự khác biệt, theo lối mòn.

Trong tiếng Anh có các từ "aspect", "prospect", "perspective" nghĩa khác nhau. Người Việt dùng rất lung tung "khía cạnh", "triển vọng", "viễn cảnh",... Trước hết chúng ta hãy nói về ý nghĩa về mặt phương pháp khi dùng các từ này. Thực ra có rất nhiều người hay dùng các từ này không thực sự có ý niệm nào về phương pháp. Trước hết "aspect" và "perspective" đều liên quan tới cách nhìn chủ quan của một người về một sự vật. Người Việt vẫn có thói quen buộc tội, đánh giá hay dán nhãn cho nhau về "cách nhìn sai", "cách nhìn đúng",... Thực ra, có nhiều mệnh đề, khẳng định, đánh giá,... chỉ có nghĩa sau khi chọn một cách nhìn. Cũng như hướng dẫn "quán ăn ở bên phải khách sạn" là hoàn toàn vô giá trị. Có lần tôi đã phỏng vấn học viên cao học "tài năng" về một thuật toán tìm kiếm "tìm bên phải trước hay bên trái trước".  Học viên được giới thiệu là rất giỏi và chuẩn bị học tiến sĩ, chịu cứng không trả lời được. Tôi sẽ không đánh giá hay trách móc anh bạn trẻ này. Tuy nhiên, phương pháp suy nghĩ của người Việt thực sự chưa phát triển đến mức vào vô thức, mà cách tốt nhất là được nhúng vào ngôn ngữ. Tôi chưa thấy sinh viên nước ngoài mắc vào vấn đề "phải trái", "tốt xấu", có lẽ vì họ ít đánh giá như đinh đóng cột, và góc nhìn luôn gắn chặt với cách suy nghĩ. Chính vì vậy mà người nước ngoài hiểu về "aspect", "perspective" hơn.  Trừ những chân lý hình thức, vô hồn, phần lớn các chân lý đều mang dấu ấn cá nhân, gắn chặt với một cách nhìn, chính vì thế mà chúng mới bổ ích và có thể đi vào đời sống. Tính chặt chẽ khách quan thường nằm trong retrospect nhiều hơn. Phát kiến khoa học cũng như phát kiến ra châu Mỹ, Hải Vương tinh hay hạt Higgs đều dựa trên một niềm tin, một góc nhìn mang đậm dấu ấn cá nhân. Sự phát triển thường là do cá nhân dám gánh trách nhiệm, thậm chí dám áp đặt quan điểm. Đợi mọi việc rõ ràng rồi mới quyết định thì mọi việc đã trễ. Người Việt không hề có viễn kiến, coi thường trực quan, chà đạp cá nhân làm sao có thể hiều được sâu sắc các từ như "aspect", "perspective".

Cùng liên quan tới cách nhìn chủ quan, nhưng có vẻ "aspect" chỉ chủ quan trong việc lựa chọn cách mô tả, nhìn tương đối cụ thể, gần và mô tả khách quan sự vật trong cách nhìn đó. Tiếng Việt chọn "aspect" là "khía cạnh", "phương diện", có lẽ là gần đúng hơn cả. Tuy có một số điểm chưa hoàn toàn chính xác, nhưng khi đem sử dụng NHẤT QUÁN và THÀNH THỤC, các từ này sẽ tự thu góp những ý niệm mới và tự hoàn thiện. Nội hàm chính xác sẽ dần được hoàn thiện. "Perspective" là một cách nhìn từ xa. Nhiều người nhầm rằng perspective chỉ nói về tương lai, vì thế từ tiếng Việt "viễn cảnh" cũng hiểu là "tương lai xa". Thực ra, tuy rất hiếm khi dùng, nhưng người ta có thể nói về perspective về quá khứ như một cách nhìn phóng chiếu về quá khứ. Perspective có tính chủ quan hơn nhiều, cũng như người nhìn có thể chọn góc nhìn, cự ly, tiêu điểm. Perspective có thể bao gồm cả việc kiến giải, sử dụng những khái niệm quen thuộc, không nhất thiết có nghĩa khi ở trong một điều kiện hoàn toàn khác. Có thể tạm dùng chữ "viễn cảnh" cho perspective với ý thức rằng "viễn cảnh" có thể bao gồm cả quá khứ. Để tránh quán tính trong việc dùng chữ nghĩa đã mòn vẹt, có thể dùng chữ "tầm nhìn xa". Nhưng tuyệt đối không dùng "triển vọng" như trong từ điển hoặc trong thực tế đang dùng khá phổ biến.

"Triển vọng" là "kỳ vọng tiến triển", nói về tương lai, thích hợp với  chữ "prospect". Mặc dù "prospect" trong từ điển Anh Việt đều có cả hai chữ  Việt tương ứng "triển vọng" và "viễn cảnh". Nhưng đó là do sự lười biếng, cẩu thả hoặc bệnh mù cấp độ của người Việt. Prospect là một cách nhìn tương lai về sự vật của người nói, tất nhiên vẫn mang một phần yếu tố chủ quan.

Cuối cùng, chúng ta sẽ bàn về chữ "retrospect". Retrospect là một thao tác của những người có tầm suy nghĩ bao quát, nhìn về những gì đã xảy ra, cố nhiên vẫn theo những perpective chủ quan nào đó, để có chiêm nghiệm và dự cảm đối với những vấn đề trước mắt. Phải nói người Việt, kể cả những trí thức ưu tú vẫn không hiểu vai trò của "retrospect" trong suy nghĩ là thế nào. Tôi đã từng ngạc nhiên khi một số trí thức vẫn được tiếng là ưu tú dè bỉu retrospect là nói những chuyện đã xảy ra không có gì mới. Thực ra, dù có đi dây đó, đọc hàng tạ sách, con người vẫn khó thoát khỏi ảnh hưởng của chuỗi dây chuyền: ngôn ngữ ảnh hưởng tới văn hóa, văn hóa ảnh hưởng tới cách suy nghĩ, suy nghĩ đẻ ra số phận. Đừng kêu ca về số phận nếu chưa nhìn lại cách suy nghĩ. Đừng than phiền về cách suy nghĩ nếu chưa mạnh dạn thay đổi văn hóa. Đừng oán trách văn hóa nếu không bắt đầu sử dụng ngôn ngữ chính xác và tinh tế. Người Việt nghĩ về quá khứ rất sơ sài, không phân biệt nổi vô hồn vô cảm với sự khách quan, vì thế hầu như không có được chiêm nghiệm gì có ích lợi cho hiện tại từ những cuộc huynh đệ tương tàn đẫm máu trong quá khứ. Có lẽ vì thế trong tiếng Việt không có từ nào thực sự thích hợp cho retrospect. Có người dịch là "nhìn lại". Thực ra "nhìn lại" chưa có một chút chiêm nghiệm nào, người nước ngoài đã có từ "review". Chiêm nghiệm còn cao hơn suy tư một bậc. Chính vì không biết chiêm nghiệm quá khứ nên người Việt cùng lắm chỉ hiểu được từ "vỡ lẽ" (hind sight) là một cách cảm nhận bài học quá khứ cụ thể, không cần chiêm nghiệm, một cái tát có lẽ sẽ làm con người "vỡ lẽ" nhanh và thấm thía hơn. Tôi nghĩ nên dịch retrospect là "chiêm nghiệm" để khuyến khích người Việt đọc sách nước ngoài chịu khó học các dân tộc khác động não, thay vì chỉ "ôn lại những trang sử vàng vẻ vang của dân tộc".

Chủ Nhật, 26 tháng 7, 2015

The research ideas and program

Two years ago, being excited about BICEPT2 results, which unfortunately turned out to be wrong, I have initiated an action plan in Cosmology.
The action plan
I have been very busy in the last year with Research and Development in Computer Science, Projects and Administration at ITI-VNU. During the time I have organized a small group of young physicists and we started discussions on a regular weekly basis. We have four people right now and used to work Saturday afternoon or a late afternoon during the work days. We have streamlined the topic very much. The research seems feasible with promising results. However, the program still encompasses a very large field ranging from the symbolic computation, non-commutative geometry, general relativity, cosmology and elementary particle physics. That why we need more helps from others as well.

For the interested physicists, I would like to call their attentions and invite them to participate, even if they are just interested in one aspect of the topic. Let me summarize the recent discussion:

   1. Our cosmology is expanding with an observed acceleration. This needs an explanation.

   2. The acceleration can be explained by the existence dark matter or a modification of general relativity (or both).

   3. Adding a mass to gravity is an old and traditional idea from Pauli-Fierz. However, this theory suffers two issue:
          a) Van Dame- Veltman-Zakharov discontinuity: Massive gravity has five degree of freedom and massless gravity has only two. So, the transition between the two theories has a gap, that might be problematic, since GR is verified with a high accuracy. The additional three degrees of freedom will have quite different consequences.
          b)  Deser-Boulware ghost: In the nonlinear theory, massive gravity has ghost degrees of freedom with negative kinetic energy and might move with a speed larger than the one of light.
 
   4. Recently, these problems has been cured by adding higher interactions (de Rham-Garbadge-Tolley, 2010) or by using bigravity (Hassan-Rosen, 2011).

   5. Actually, a theory of bigravity based on noncommutative geometry was constructed by Nguyen Ai Viet and K.C.Wali in the period of 1995-2000. In this theory, one massive and one massless gravity have emerged naturally from noncommutative space-time on the geometric foundation like Einstein theory, while Hassan-Rosen bigravity lacks theoretical foundations derived from first principle.

   6. Since Viet-Wali model contains more contents, our group is working on a special case, trying to compare the mass terms with Hassan-Rosen and DeRham et al.

   7.  Secondly, we must identify two types of matter fields which are coupled to the two gravity fields. In two works of Nguyen Ai Viet in 1995,1996, I have naively used Alain Connes's noncommutative space-time of M4 X Z2, where each copy of spacetime contained one type of chiral matter field.  From this unified I have derived some relations between fundamental parameters. Among other relations, the Higgs and top quark masses could be calculated.

   8. In a more generic sense, the space-time for bigravity does not necessarily coincide with Connes'. Connes' space-time is good to describe the unified Higgs-Electromagnetic-Weak interactions ( or full model of SM).  This theory can emerge from gravity in another noncommutative space-time. So, we can have a minimal finite content theory of all the interations. This model can explain why gluons do not have related Higgs fields as well. We are to recalculate the Higgs and top quark mass in this model before going further to explore the cosmological consequences.

    9. Looks like a lot of good ideas have streamlined in this model. It is promising but needs a lot of work in next couple years. We hope to have some ground to attack the new field with success.

  

Thứ Bảy, 25 tháng 7, 2015

Tại sao Lưu Bị theo Đổng Thừa mưu giết Tào Tháo?

Có chi tiết ít ai biết, trước khi Tào Tháo mưu giết Đổng Trác không thành phải chạy trốn, đã có giao du với Lưu Bị, cũng đang làm một chức quan võ ở Tràng An.

Bị cũng chạy theo Tào Tháo về Tiểu Bái hưng binh thảo phạt Đổng Trác. Sau khi thua trận, bèn chạy về nương nhờ vào ông anh kết nghĩa, vừa là bạn học cùng thày Lư Thực là Công Tôn Toản, đang làm Thái Thú Bột Hải. Công Tôn Toản tiến cử Bị làm quan Biệt Bộ Tư Mã, dần thăng lên chức Bình Nguyên Tướng. Cảm ơn Công Tôn Toản, Bị phải dốc sức đánh nhau vì Toản, cũng chỉ đánh trận lằng nhằng như một võ quan nhỏ.

Đời của Lưu Bị chuyển, khi do cơ duyên và trượng nghĩa cứu Đào Khiêm, được Khiêm chỉ định làm quan Mục Từ Châu. Vị thế đó đưa Bị lên ngang hàng với các sứ quân trong thiên hạ. Từ Châu là địa bàn trong thiên hạ rất khó nuốt. Vì vậy Lưu Bị phải liên tục đánh nhau với Tào Tháo, Viên Thuật, Lã Bố, tinh những hổ báo.

Tuy vậy, bôn ba bao năm mới có được địa vị như thế, nên Bị phải cố giữ. Giữ mà luôn luôn đe dọa bị mất, thời gian sức lực chỉ nghĩ tới chuyện giữ thành, chẹn đường, cướp quân lương mà không lúc nào nghĩ tới việc rốt cuộc sẽ không giữ được mà không tích lũy được vốn liếng gì trong tay. Tướng thì mãi cũng chỉ có hai ông Quan, Trương võ nghệ cũng chưa đủ mức bạt thiên hạ, văn thì toàn bọn thư sinh mặt trắng như Tôn Càn, My Chúc. Chỉ có Trần Đăng là có vẻ hơi có mưu mẹo một chút.

Nói như vậy, việc Lã Bố cướp được Từ Châu là giải thoát cho Bị khỏi u mê và lòng tham danh. Bị buộc phải chạy về đầu hàng Tào Tháo. Tháo chắc vẫn còn giận Bị vì cứu Đào Khiêm, nhưng là người rất hiểu khát vọng làm quan của Bị, lại có chút tình xưa nghĩa cũ, nên dung nạp Bị.

Rất may cho Bị là nhờ Lã Bố vũ dũng trùm đời, Tháo rất kiêng sợ, nên tích lũy ngay được một cái vốn kha khá. Giá trị lợi dụng của Bị đối với Tháo là đi thảo phạt Lã Bố. Thực ra, Bị chưa phải là đối thủ của Lã Bố, nhưng về hình thức, Bị phải hết lòng đánh Lã Bố vì Bố đã cướp Từ Châu của Bị. Lòng trung thành vì quyền lợi có giá trị hơn năng lực nhiều. Giá trị lợi dụng thứ hai của Bị là ở Từ Châu còn nhiều dư đảng của Bị và Khiêm, có thể làm gián điệp cho Tháo chống lại Bố. Giá trị của Bị càng tăng, khi các tướng của Tháo như Hạ Hầu Đôn, Tào Hồng đã nhiều lần bị các tướng của Bố như Cao Thuận, Trương Liêu đánh cho thất điên bát đảo.

Với ngần đó vốn còn lại trong tay, Bị phải bày lại một ván bài mới để kiếm lợi nhiều nhất. Kết cục, Bố bị Trần Đăng xui dại, các tướng phản thùng mà bị bắt. Khi đó, Bố đã thương lượng với Tháo, tình nguyện đầu hàng, thề đem hết sức chinh phục thiên hạ vì Tào Tháo. Cổ phiếu của công ty Lưu Huyền Đức có nguy cơ rớt giá thê thảm. Do đó Bị phải ra tay xui Tào Tháo giết Lã Bố. Sở dĩ Bị dễ thành công là vì cách nói của Bố vừa  ngu vừa võ biền. Ngu ở chỗ nói tài chính trị của Tháo và vũ dũng của Bố là đều vô địch thiên hạ. Đúng là không hiểu sự kiêu căng này nói nguy hiểm cỡ nào. Vì Tào Tháo sẽ nghĩ ngay đến việc, bây giờ tao may mà túm được mày do thằng Hầu Thành nó cho mày uống rượu say, trói lại. Sau này mày khôn hơn, đem cái vũ dũng của mày ra phá cái chính trị của tao thì tổn thất cỡ nào. Võ biền ở điểm không thấy mày cam kết trung thành, mà chỉ nói chuyện đánh đá. Tao cần cái thằng bảo đánh đá là đánh đá, bảo hiền như thỏ là hiền như thỏ. Lại chẳng may gặp anh tai to, khích bác thêm nên Bố mất mạng, cũng đáng đời, không trách ai được.

Nếu thiên hạ không còn Mã Đằng-Hàn Toại, Tôn Sách, Lưu Biểu và hai anh em họ Viên thì sau khi bắt Lã Bố, cổ phiếu của Lưu Bị sẽ rớt giá thảm hại. Nhưng vì muốn quảng cáo cổ phiểu của mình để cạnh tranh, Tháo bắt buộc phải nâng giá Lưu Bị. Thế là Bị được phong Nghi Thành hầu, Dự châu Mục, Tả Tướng Quân mà sau này trên đường lưu vong, khi nào Bị cũng đem ra xưng. Rất được việc, nhất là đối với bọn nho sĩ.

Khi này đối với Lưu Bị sẽ có khả năng làm quan to, sống yên ấm ở kinh thành. Nếu phục vụ Tào Tháo cho tốt, Bị có thể được thăng dần lên Phiêu Kỵ, Xa Kỵ hay Đại Tướng quân chưa biết chừng. Liệu Bị có muốn như vậy không hay tiếp tục làm loạn bôn ba. Nhiều khả năng Bị muốn ở lại kinh thành hưởng xa hoa phú quý, chứ không muốn "luân chuyển cán bộ" miễn cưỡng. Bởi vì bằng tầm nhìn của Bị lúc bấy giờ không thể nào nhìn ra sẽ cướp được đất của ai, chưa nói chuyện lên ngôi Hoàng đế ở Xuyên.  Trương Phi thì đang chết mệt với cô con gái của Hạ Hầu Uyên. Quan Vũ thì đang chén tạc chén thù với Trương Liêu, Từ Hoảng, lại đang hy vọng Tháo thưởng cho cô vợ của Bố.  Nên chắc không ông nào muốn lăn vào chỗ đâm chém.

Tuy nhiên, trong màn kịch này có vai trò của Hiến Đế. Rõ ràng ông vua này sau khi thịt Đổng Trác, lại muốn làm thịt nốt Tào Tháo. Chẳng trách quan to phải bức hiếp vua để giữ mình. Ông này vừa gặp Lưu Bị đã nhận họ nhận hàng, gọi là hoàng thúc. Mặc dù vài trăm năm sau Tư Mã Quang phán một câu xanh rờn: đời đã xa, không có bằng cứ, thế là nhận xằng. Thực ra, Hiến Đế mới là anh nhận xằng. Còn Bị thì hiểu nhầm mà có lợi cho ta thì càng tốt.

Chính Hiến Đế đã ra lệnh cho Đổng Thừa bày mưu, khiến Bị không có cách nào thoát, đành nhắm mắt ký vào từ chiếu đai áo. Đó cũng là cái giá, khi được nhận làm chú vua. Khi tỉnh ra thì chỉ còn con đường trổ vách vườn rau mà chạy.

Chủ Nhật, 19 tháng 7, 2015

Gia Cát Lượng và bài Lương Phủ Ngâm

Người ta thường truyền tụng rằng, khi Gia Cát Lượng còn ẩn mình cày ruộng ở Long Trung, thường ngâm bài Lương Phụ ngâm, rồi ví mình như Quản Trọng, Nhạc Nghị. Nếu ngâm nga một bài từ ngày này qua tháng khác, ắt trong đó có những ý tưởng tâm đắc nào đó, có thể liên quan tới chí kinh bang tế thế. Hãy thử tìm hiểu xem bài Lương Phủ Ngâm có gì hay. 

Hiện nay còn có thể tìm được hai bài Lương Phủ Ngâm. Bài phổ biến hơn cả và được cho là Gia Cát Lượng hay ngâm là một bài nhạc phủ, theo âm luật, ngôn từ thì nhiều khả năng sáng tác vào thời Hán, trùng với thời Gia Cát Lượng đang sống. Khúc ngâm này có phong cách như ca dao. Nhiều người còn cho rằng chính Gia Cát Lượng là tác giả của khúc ngâm này. Cho đến gần đây, có học giả là Dư Quán Anh, đặt nghi vấn là khúc ngâm này không phải do Gia Cát Lượng sáng tác.

Nguyên văn:

梁父吟 

Lương Phủ ngâm

Bộ xuất Tề thành môn,
Dao vọng đãng âm lý.
Lý trung hữu tam phần,
Luỹ luỹ chính tương tự.
Vấn thị thuỳ gia trủng,
Điền Cương, Cổ Dã Tử.
Lực năng bài Nam sơn,
Văn năng tuyệt địa lý.
Nhất triêu bị sàm ngôn,
Nhị đào sát tam sĩ.
Thuỳ năng vi thử mưu,
Quốc tướng Tề Án Tử.


Dịch nghĩa

Đi bộ ra ngoài cổng thành nước Tề,
Từ xa nhìn về một ngôi làng mơ ảo nơi xa xa.
Ở trong làng có ba ngôi mộ,
Giống nhau tựa như xếp chồng lên nhau.
Hỏi là mộ của ai vậy ?
(Trả lời) Là mộ của những người Điền Khai Cương, Cổ Dã Tử (và Công Tôn Tiếp).
Tài võ của họ có thể lật đổ núi Nam,
Tài văn của họ có thể xoay chuyển đất trời.
Nhưng một sớm bị lời sàm ngôn,
Hai trái đào đã giết chết ba dũng sĩ.
Ai là người có thể nghĩ ra mưu kế đó?
Là tướng quốc nước Tề: Án Bình Trọng.

Bài thứ hai có trong Tam Quốc Diễn Nghĩa của La Quán Trung, tả cảnh Lưu Bị đến Long Trung tìm Gia Cát Lượng thì gặp Hoàng Thừa Ngạn, bố vợ của Gia Cát Lượng đang ngâm một bài. Hoàng Thừa Ngạn nói rằng bài này là "Lương Phủ Ngâm" do con rể là Gia Cát Lượng làm ra.

Nguyên văn

        一夜北风寒, 万里彤云厚.

长空雪乱飘, 改尽江山旧.

仰面观太虚, 疑是玉龙斗.

纷纷鳞甲飞, 顷刻遍宇宙.


骑驴过小桥, 独叹梅花瘦!

Phiên âm
         Nhất dạ bắc phong hàn, vạn lý đồng vân hậu.
Trường không tuyết loạn phiêu, cải tận giang sơn cựu.
Ngưỡng diện quan thái hư, nghi thị ngọc long đấu.
Phân phân lân giáp phi, khoảnh khắc biến vũ trụ.
Kỵ lư quá tiểu kiều, độc thán mai hoa sấu!

Dịch nghĩa
         Một đêm  gió bấc lạnh, vạn dặm mây mịt mù
         Trên không tuyết bay loạn, biến đổi cả giang sơn
         Ngửa mặt nhìn trời cao, thấy như rồng đang đấu
         Trùng trùng sư tử bay, chớp mắt biến vũ trụ
         Cưỡi lừa qua cầu nhỏ, một mình than mai gầy 

Về mặt thơ ca, bài thứ hai rõ ràng là hay hơn. Lời lẽ cũng hùng tráng, có chí khí vút tận trời cao, nhưng có tài hoa thi sĩ phảng phất như Tào Mạnh Đức. Anh hùng khí trùm trời đất, muốn nuốt cả trăng sao,nhưng thơ thẩn một mình đơn độc, thương một đóa hoa mai mảnh mai trong trời lạnh. Tuy nhiên không loại trừ, bài thơ do chính La Quán Trung sáng tác nên mới toàn bích như thế.

Gia Cát Lượng có lẽ không có được văn tài như thế. Bởi lẽ, trước tác để lại đúng là của Gia Cát Lượng chỉ có hai bài biểu là Xuất Sư Biểu và Hậu Xuất Sư Biểu, cũng không có gì đặc biệt về văn chương. Có một khả năng, bài này không phải do Gia Cát Lượng làm, mà ông chỉ ngâm nga do hợp chí của mình. Bài ngâm này hoàn toàn có thể phù hợp về nội dung.

Bài thứ hai thuật lại tích Nhị đào sát tam sĩ thời Chiến Quốc. Thời Chiến Quốc ở nước Tề có ba dũng sĩ, "Sức có thể dời Nam Sơn". Lịch sử chỉ ghi về sức mạnh của họ, nhưng bài Lương Phủ còn tán thêm là "Văn năng tuyệt địa lý". Án Anh, một trong những danh thần thời Chiến Quốc, lấy làm lo ngại, các dũng sĩ kiêu ngạo này có thể làm loạn lễ nghi. Ông dùng kế, dọn 2 quả đào, nói rằng ai là dũng sĩ mạnh nhất đáng ăn đào. Hai người ăn đào, một người thấy xấu hổ vì không được ăn đào bèn tự sát. Hai người kia thấy vậy cũng xấu hổ mà tự sát theo.

Bài ca rõ ràng là oán trách Án Anh, mưu sâu kế hiểm, giết oan người tài, mặc dù Khổng Tử trong kinh Xuân Thu thuật lại chuyện này có ý khen Án Anh mưu kế, vì nước. Khả năng Gia Cát Lượng ngâm nga bài này không nhiều. Thứ nhất, bài này không có gì hay về ngôn từ và nội dung, đến mức phải ngâm đi ngâm lại. Thứ hai, Gia Cát Lượng thuộc dòng Thanh Lưu, theo thói quen là sùng bái Án Anh, Nhạc Nghị, Quản Trọng,... không có lý gì lại oán trách Án Anh.

Một khả năng rất ít là Gia Cát Lượng có thù oán với các võ tướng nào đó đến tận xương tủy, mong có ngày xây dựng một thể chế không có bọn võ tướng. Điều đó cũng có khả năng vì Gia Cát Lượng hồi nhỏ mồ côi cha. Chú là Gia Cát Huyền, được Viên Thuật cho làm Thái Thú ở Hợp Phì. Có thể cả gia đình chú cháu rất hy vọng có một cuộc sống đầy đủ, no ấm. Nhưng chưa tới nơi, nhà Hán lại cử một võ tướng làm Thái Thú. Do đó Gia Cát Huyền phải đưa đàn cháu về Kinh Châu sống nương nhờ vào Lưu Biểu. Biểu cũng là văn quan, nổi tiếng trong đám Bát Tuấn thời Tam Quốc. Biểu cho Huyền một chức huyện lệnh nào đó, cũng đủ sống sung túc. Sau đó, Biểu nghe bọn võ tướng là Sái Mạo bỏ rơi Huyền. Chú cháu phải dắt nhau về cày ruộng ở vùng Long Trung. Có lẽ chính vì thế Gia Cát Lượng ghét bọn võ quan kiêu dũng. Sau này thái độ của Gia Cát Lượng với Quan Trương là áp chế. Đặc biệt với Ngụy Diên ông cư xử tương đối tàn độc, bất công.

Nhưng không lẽ một người như Gia Cát Lượng ngâm nga một bài thơ quèn ngày này qua tháng khác chỉ vì một mối thù vặt vãnh như thế.

Thứ Tư, 15 tháng 7, 2015

Chuyển động có gia tốc có gì lạ - Trích "Khối lượng là gì? Nghệ thuật đặt các câu hỏi"

Mọi hoạt động thường ngày đều liên quan tới gia tốc, là việc thay đổi vận tốc, dù tăng hay giảm. Buổi sáng bạn nổ máy xe chạy ra khỏi nhà với gia tốc dương. Buổi chiều bạn cất xe vào nhà xe với gia tốc âm.



 Chuyển động quay đều cũng là chuyển động có gia tốc, tuy độ lớn của vận tốc không thay đổi, nhưng hướng của vận tốc luôn thay đổi. Chính vì thế luôn có một gia tốc hướng tâm giữ vật quay trên quỹ đạo tròn. Tất nhiên, chỉ các vật có khối lượng mới cảm thấy được lực hướng tâm tác động lên nó. Ngoài ra còn có thể có câu hỏi gì hay ho ở đây được nhỉ?



Muốn đi đến câu hỏi bạn hãy bắt đầu bằng một câu hỏi bình thường. Câu hỏi đó có thể hơi ngây ngô. Nhưng bạn có còn nhớ bí quyết mà tôi đã nói: hãy trả lời câu hỏi bằng cách đặt ra các câu hỏi khác. Trong một loạt câu hỏi tiếp sau bạn sẽ có được một số câu hỏi hay. Nhớ đừng quên kinh nghiệm và quan sát của bạn khi đặt câu hỏi. Đó là sự khác biệt mà bạn mang lại cho cuộc sống. Hãy tin tôi đi, sự khác biệt của bạn là vô giá vì nó là duy nhất.

Đừng ao ước bạn trở thành một bản sao giống hệt như Ngô Bảo Châu, hay thậm chí như Albert Einstein hoặc Henri Poincaré. Hãy tin rằng thêm một Einstein sẽ là thừa. Nhưng nếu phải thiếu đi các suy nghĩ khác biệt của bạn, thế giới này sẽ buồn biết mấy. Tôi rất yêu các trí tuệ trác tuyệt, nhưng không bao giờ thần tượng hóa bằng cách cố gắng trở thành bản sao của họ. Sao chép rập khuôn bao giờ cũng là một sự chế nhạo lố bịch đối với nguyên bản.



Cần phải phân biệt việc dũng cảm đặt niềm tin vào suy luận của chính mình với bệnh vĩ cuồng vô căn cứ. Đơn giản chỉ vì tôi và bạn đều sinh ra với một sứ mệnh nhất định. Chúng ta không có thời gian để làm những việc thừa thãi, cho dù vì những danh vọng hão nào đó. Tôi đã học điều đó từ cậu con trai, hồi cậu 7 tuổi. Khi đó tôi đã hỏi cậu có muốn trở thành một người như Andrew Wiles để giải được một bài toán mà nhân loại hàng trăm năm không giải được hay không. Cậu ta hỏi tôi Wiles đã mất bao lâu để làm điều đó. Khi được biết Wiles đã mất 10 năm để giải bài toán Fermat, cậu nói với tôi: Con bận lắm, không có thời gian chỉ làm một bài toán đâu. Tôi cố thuyết phục: Nhưng đây là một bài toán không ai giải được trong hàng trăm năm. Cậu con trai tôi nhún vai: Cũng vậy thôi, con không thể bỏ thời gian vào việc như thế. Thế đấy! Chúng ta có thể bỏ cả cuộc đời theo đuổi một câu hỏi dành cho mình, chứ không tội gì phí thời gian chỉ để được giống bất cứ nhân vật nào, dù đáng kính đến đâu.

Câu hỏi tôi đặt ra ở phần này như sau: Giữa các hệ quy chiếu chuyển động có gia tốc so với nhau, có một nguyên lý tương đối như giữa các hệ quy chiếu chuyển động thẳng đều so với nhau không? Chắc bạn còn nhớ những con tàu chuyển động trên sân ga. Con tàu bên cạnh bạn tăng tốc, nhưng bạn có cảm giác con tàu của bạn đang lùi lại.



Nếu lý luận một cách hình thức theo logic toán học thì dường như phải có nguyên lý tương đối vì một vật chuyển động có gia tốc đối với một nhà quan sát bất kỳ sẽ thấy nhà quan sát chuyển động với cùng một gia tốc theo chiều ngược lại.

Cho đến khi trở thành thầy giáo, bước lên bục giảng ở một trường đại học ở Âu Châu, tôi vẫn còn tin ở thứ lý luận đơn giản như thế và không bao giờ nghĩ rằng mình chẳng hiểu gì về các định luật Newton. Chính vì thế, thời còn sinh viên, tôi đã đọc lướt qua các định luật Newton, nghĩ chúng là hiển nhiên. Tôi đã trả bài như một con vẹt, giải các bài toán khó nhất như một cỗ máy và nhận điểm cao nhất khóa, nhưng kiến thức đó hoàn toàn vô dụng. Được điểm cao, bằng cấp không hề đảm bảo bạn có thể hiểu sâu sắc và đúng đắn những thứ cần học. Sau đó 20 năm, đọc lại các định luật của Newton tôi mới chợt nhận ra mình đúng là "ếch ngồi đáy giếng". Chính việc ngộ nhận vội vã do lười suy nghĩ đã làm tôi đã bỏ qua những điều tinh túy nhất của Isac Newton đã để lại cho nhân loại.



Thực ra, giữa các hệ quy chiếu chuyển động có gia tốc, còn gọi là hệ quy chiếu phi quán tính, không có sự bình đẳng như giữa các hệ quy chiếu quán tính. Điểm khác biệt giữa hai hệ quy chiếu chuyến động có gia tốc so với nhau ở chỗ luôn có một phản lực ngược chiều với gia tốc tác động lên những người quan sát chuyển động cùng với hệ quy chiếu đó. Trong các hệ quy chiếu mà định luật quán tính của Newton là đúng sẽ không có một lực nào tác động lên người quan sát. Khối lượng chính là nguyên nhân của sự khác biệt đó. Những vật không có khối lượng sẽ không cảm thấy được bất cứ sự khác biệt nào giữa các hệ quy chiếu phi quán tính.

Chính vì vật chất có khối lượng mà Newton đã phải giả thiết có hệ quy chiếu quán tính, trong đó một vật không có ngoại lực tác dụng sẽ đứng yên hoặc chuyển động thẳng đều.

Đó cũng là lý do vì sao chúng ta cảm thấy động đất, xe hơi đổi hướng ở chỗ ngoặt và không thể tự mình quay tròn và nói rằng cả thế giới đang quay xung quanh mình. Trong khi đó, chúng ta hầu như không cảm thấy mình đang chuyển động trên một chiếc xe thật êm, chạy thẳng với vận tốc gần như không đổi, hoặc không hề cảm thấy Trái Đất đang chuyển động với vận tốc siêu thanh xung quanh Mặt Trời.

Cũng vì thế, việc Trái Đất xoay quanh Mặt Trời và quanh trục của chính mình không hề tương đương với việc Mặt Trời và cả thế giới quay quanh Trái Đất. Chính điều đó đã làm Copernicus trở nên vĩ đại. Chúng ta cảm nhận được điều đó nhờ có khối lượng. Đối với những vật không có khối lượng, gia tốc sẽ không có ý nghĩa gì.

Chúng ta cùng chuyển động với Trái Đất. Nếu bạn ném một quả bóng lên theo phương thẳng đứng, nó sẽ rơi trở lại chỗ cũ. Một chiếc máy bay bay từ San Francisco sang Hà Nội hết 12 giờ, nếu bay theo chiều ngược lại từ Hà Nội sang Francisco cũng mất 12 giờ bay. Đôi khi người ta nói chiều bay này sẽ lợi được về thời gian, chiều kia thiệt về thời gian. Nhưng đó chỉ là do chênh lệch giờ địa phương.

Người ta có thể sử dụng hiệu ứng Coriolis để phát hiện một hệ quy chiếu đang quay. Nội dung cua hiệu ứng này như sau: Cực Nam và cực Bắc của một vật đang quay thường được quy ước xác định bằng quy tắc bàn tay phải như trong hình sau



Khi đó, một vật có khối lượng chuyển động thẳng trên bán cầu Bắc của vật đang quay sẽ chịu tác động của một lực gọi là lực Coriolis làm chệch hướng chuyển động sang tay phải. Đối với vật chuyển động trên bán cầu Nam, quỹ đạo chuyển động sẽ bị lực Coriolis làm chệch sang tay trái.

Có rất nhiều cách quan sát được tác động của lực Coriolis trên Trái Đất. Chẳng hạn, dưới tác động của lực Coriolis, các xoáy lốc trên bán cầu Bắc sẽ xoáy ngược chiều kim đồng hồ, còn các xoáy lốc trên bán cầu Nam sẽ xoáy theo chiều kim đồng hồ. Bạn hãy xem xoáy lốc trong hình dưới đây xảy ra ở bán cầu Bắc hay bán cầu Nam.



Đúng vậy, đây là xoáy lốc ở bán cầu Bắc, xảy ra ngày 4 tháng 9 năm 2003 ở Iceland, gần nước Anh. Dựa trên điều này, các nhà văn viết truyện trinh thám đã hư cấu ra những câu chuyện người bị bắt cóc quan sát xoáy nước trong nhà vệ sinh để phát hiện ra mình ở bán cầu Bắc hay bán cầu Nam. Thực ra, trong trường hợp đó, lực Coriolis không đủ tạo ra quy luật về chiều của xoáy nước.

Bằng chứng về Trái Đất tự xoay quanh trục của mình còn quan sát được ở quỹ đạo của tên lửa tầm xa không có điều khiển và đạn đại bác tầm xa sẽ bị lệch đi khác nhau ở bán cầu Bắc và bán cầu Nam.

Hiệu ứng Eotvos gắn liền với tên tuổi của nhà vật lý Hungari Eotvos Lorand mà chúng ta đã nhắc tới cũng là bằng chứng về Trái Đất quay. Eotvos Lorand phát hiện ra hiệu ứng này khi phân tích các dữ liệu đo trọng lực Trái Đất do một nhóm nghiên cứu thực hiện trên một số tàu biển trên Ấn Độ Dương, Đại Tây Dương và Thái Bình Dương. Eotvos nhận thấy dữ liệu có xu hướng dịch chuyển lệch về giá trị thấp hơn khi tàu chuyển động về phía đông, và về giá trị cao hơn khi tàu chuyển động về phía Tây. Eotvos đã giải thích được các sai lệch đó là do lực Coriolis gây ra.

Thứ Sáu, 10 tháng 7, 2015

Bình Tam Quốc: Có túi khôn cũng không biết dùng

Tào Phi chết. Các đại thần cố mệnh là Tào Chân, Tư Mã Ý và Chung Do. Tào Chân làm Đại Tướng Quân, Tư Mã Ý làm Thái Úy cùng giữ binh quyền. Chung Do làm Tư Đồ. Tào Chân chết, con trai là Tào Sảng lên thay, được nhiều người giúp rập, trong đó có Hoàn Phạm, nổi tiếng là túi khôn.

Hoàn Phạm xui Tào Sảng tâu với vua Ngụy thăng chức Tư Mã Ý lên Thái Phó, tước hết binh quyền. Dần dần, Tào Sảng đưa tay chân nắm hết các chức vụ xung yếu, quyền át vua. Sảng cử em trai coi cấm quân, nhất cử nhất động ở kinh thành đều kiểm soát. Tư Mã Ý phải giả ốm, không nhìn ngó gì tới triều chính. Sảng tưởng Ý già yếu lẩm cẩm không còn lo lắng gì nữa, bèn nghĩ đến chuyện ra ngoài thành đi săn.

Hoàn Phạm nói: Đại tướng quân đi săn lỡ ở nhà có chuyện gì thì làm thế nào? Sảng nói: Ta ra ngoài mang theo cả vua, hiệu lệnh thiên hạ ai dám chống. Bèn đưa vua, các quan văn võ và cấm quân xuất cung đi săn.

Ý nghe Sảng xuất cung bèn nai nịt gọn gàng, cùng hai con trai, cầm ấn Thái Phó đến mở kho vũ khí phát cho thân binh, rồi chia nhau phong tỏa tất cả các công sở và vị trí xung yếu, đóng cửa Kinh thành, ra lệnh nội bất xuất ngoại bất nhập. Lại cho người vào cung xin Thái Hậu ra chiếu chỉ bắt Tào Sảng vì tội chuyên quyền.

Hoàn Phạm nghe tin bèn lấy ấn Đại Tướng Quân và binh phù của Tào Sảng bỏ vào tay áo, một mình một ngựa phóng qua cửa thành mà đi. Vừa may, quan giữ thành lại là học trò Hoàn Phạm, không dám cản thầy.

Phe Tư Mã Ý nghe tin Hoàn Phạm chạy thoát đều biến sắc mặt nói: Túi khôn lọt ra ngoài mất rồi biết làm thế nào. Ý nói: Sảng tính tham lam, ngu dốt, lười biếng có túi khôn cũng không biết dùng. Nay đem lợi ra nhử chắc bắt được.

Lại nói Tào Sảng nghe tin Tư Mã Ý nổi loạn sợ luống cuống chân tay. Em Sảng chỉ huy cấm quân khóc hu hu "bây giờ biết làm thế nào". Ngay lúc đó Hoàn Phạm phóng ngựa tới nói "Tư Mã Ý làm loạn. Nhưng tôi đã mang ấn Đại Tướng Quân và binh phù tới. Nay ngài rước xa giá ra miền đông, hiệu triệu các châu đem quân về bắt Tư Mã Ý, ai dám không theo." Anh em Tào Sảng quen ăn chơi sung sướng, nghĩ chuyện xa kinh thành, đi xa mệt nhọc, ngại ngùng.

Hoàn Phạm lại nói: "Chuyện gấp lắm rồi. Xin ngài quyết định ngay, nếu không sẽ chết cả họ.". Sảng nói "Ngươi để ta suy nghĩ thêm." Sảng nghĩ suốt một đêm vẫn không quyết được gì. Đến sáng chợt có sứ của Tư Mã Ý đến nói chỉ muốn tước bớt binh quyền, vẫn cho Sảng giữ chức vụ và tài sản. Sảng mừng lắm. Em Sảng cũng nói: Thái Phó chắc không phụ ta đâu. Sảng nói: Cùng lắm bỏ binh quyền làm một ông nhà giàu.

Hoàn Phạm ngửa cổ lên trời khóc mà nói "Than ôi! Tào Tử Đan tự phụ tài trí hơn người lại sinh một lũ con toàn chó lợn."

Tào Sảng về đến thành, bị Tư Mã Ý sai bắt giết cả ba họ. Đồng đảng của Sảng, trong đó có Hoàn Phạm đều bị tận diệt. Quyền bính nước Ngụy từ đó rơi và tay họ Tư Mã.

Lời bình của Lệnh Lỗi Dương: Xét ra Hoàn Phạm vẫn chưa thể gọi là túi khôn. Khôn thì đã không bày kế cho kẻ ngu. Mưu hay, thì chúa phải cầu. Chúa không cầu mà tự mình phải bày mưu, thuyết phục chỉ có hai trường hợp. Chúa ngu không dùng như Tào Sảng, cùng như ngọc dưới chân trâu. Chúa sáng biết dùng như Tào Tháo dùng Tuân Úc, cũng không khỏi bị nghi ngờ chịu họa sát thân.
Đã gọi là chúa sáng phải tự biết tài và cầu lấy mưu hay. Cố tình bày mưu cho vua, đều không có kết cục tốt.

Thứ Ba, 2 tháng 6, 2015

Hẹn nghìn thu cũ

Tôi đi bên Em. Đêm về sáng không khí se se lạnh. Trong đêm đen, một thứ ánh sáng huyền ảo tràn ngập thinh không, giống như thứ ánh sáng của Bắc cực quang tôi đã thấy ở Alaska. Mọi vật đều rõ nét, nhưng không chói chang, lòe loẹt, giống như trong phim đen trắng. Em mặc một chiếc áo choàng rộng, phong phanh, nhưng thơ thới. Tôi thoáng cảm thấy hình như bên trong Em không mặc gì khác. Nhưng đó là một cảm giác trong sạch, không có chút tục lụy xác thịt, có lẽ như thế là tốt không có ràng buộc, có cảm giác tự do hơn. Tôi muốn hơi ấm của mình truyền sang cho Em. Nhưng có lẽ Em không cần điều đó. Từ nơi Em tỏa ra một cảm giác mát rượi, lại vừa ấm áp kỳ lạ. Đúng là có một điều gì đó không bình thường.

Trời đêm vừa yên tĩnh lại vừa rất ồn ào. Xung quanh chúng tôi có rất nhiều người, nhưng dường như họ không để ý đến tôi, chỉ chú ý đến Em vì một lý do nghiêm trọng nào đó. Em dường như không để ý đến họ. Tóc bồng bềnh xòa trên trán,  bờ vai, không chải chuốt trang điểm, nhưng thanh thoát và cao nhã. Tôi thấy Em thật thân thương, gần giống như một phần của mình. Nhưng thật kỳ lạ, tôi không thể nhớ tên Em và bất cứ kỷ niệm của chúng tôi. Chúng tôi đang nói với nhau rất nhiều, như một cặp tình nhân lâu ngày gặp lại. Nhưng thật kỳ lạ, hoàn toàn không có một thanh âm nào. Tôi chợt thấy cảm giác nhớ nhung tích lũy từ một khoảng thời gian dài đằng dặc gần như vô tận trào về. Hình như là nỗi nhớ dành cho Em, nhưng thật vô lý vì tôi đang đi bên Em. Tại sao bấy lâu nay tôi không đi tìm Em.

Em nói vẫn nhớ lời hẹn của tôi và đã chờ đợi tôi thật nhiều. Em nói rất mừng vì gặp lại tôi. Em còn nói rất nhiều điều khác. Những điều người ta chỉ có thể cảm, không thể nhắc lại. Hơn nữa, thật kỳ lạ không có một thanh âm nào được thốt ra Giống như lời nói của em phát ra từ tâm hồn rót thẳng vào tâm can tôi. Tự nhiên tôi thấy xót xa, muốn ôm choàng Em vào lòng. Tôi đã đeo đuổi những việc gì đã gần nửa đời? Và để làm gì nhỉ?

Chúng tôi đang đi đâu đây? Hình như chúng tôi đến một quảng trường hay đúng hơn là một bãi đất khá rộng. Đất dưới chân đen là rắn khô vì lạnh. Những người xung quanh chúng tôi đều mặc áo choàng trắng toát, dày và nặng, có mũ chóp nhọn. Có người che kín mặt, có người để lộ, sát khí toát ra đầy trời. Hình như là một buổi hành quyết. Họ muốn giết ai? Những tiếng rì rầm vang lên khắp bơi, là tiếng cầu kinh hay cáo trạng, tôi không hiểu rõ. Chỉ chắc rằng đó là một nghi lễ nào đó cho người tử tội.

Hay là Em? Tôi chỉ thoáng nghe có tiếng nức nở của ai đó "Thế là hết". Tôi nhìn Em, chỉ thấy Em mỉm cười xác nhận "Anh đoán đúng rồi". Không có gì nghiêm trọng sao? "Không, không có gì nghiêm trọng cả, " Em lắc đầu "Chỉ tiếc lại phải xa anh. Xin lỗi lại để anh phải chờ một lần khác."  Cũng thật kỳ lạ, tôi cũng không thấy có gì nghiêm trọng cả, không hề hốt hoảng, sợ hãi cho em. Chỉ thấy tiếc sắp lại phải xa Em.

Em còn nói rất nhiều về lời hẹn của tôi ở một mùa thu cũ, đã đợi nhau thì ngàn năm đã qua hay ngàn năm tới chỉ là khoảnh khắc. Có một tiếng chuông gõ mạnh. Em nói Em phải đi rồi. Những người đội mũ chóp nhọn đi qua tôi, xúm quanh Em, đưa Em đi. Họ là người của thế kỷ nào, ở đâu, tôi không rõ,
Tôi đứng một mình, và có tiếng động lạch cạch rung chuyển, tôi thoáng nghĩ là tiếng của máy chém. Lại có tiếng kêu của ai đó "Thế là hết". Tôi chợt xót xa, hoảng sợ, nhớ tiếc. Thế là xa nhau sao?  Dến khi nào mới gặp lại? Tôi sẽ phải làm gì với thời gian dài dằng dặc không có Em? Tôi chợt muốn nhìn thấy Em thêm một lần và chạy lại phía đó. Âm thanh của cỗ máy chém rung lên cành cạch ngày càng lớn choáng óc. Tôi chợt thấy mình tan biến.

Mồ hôi lạnh toát đầy người. Tôi chợt tỉnh lại, thấy mình trong một căn phòng nhỏ ở Boston. Chiếc quạt trần vẫn rung lên cành cạch. Hơi ấm và mùi hương của Em vẫn còn như phảng phất. Cảm giác không giống như vừa qua một giấc mơ. Buổi sáng, đi trên quảng trường thành phố, chợt nghĩ đến giấc mộng đêm qua, chợt nghe tin công nương Dianna đã gặp nạn qua đời.