Thứ Bảy, 31 tháng 1, 2015

Các bài toán về khoa học máy tính (1) Dùng biểu thức chính quy hay tìm kiếm nhị phân

Nguyễn Ái Việt - Từ tuần này sẽ đề ra một số bài toán không khó về mặt kỹ thuật, nhưng có tính gợi mở những ý tưởng ứng dụng mới và đòi hỏi sáng tạo về kỹ thuật.

Tuần này sẽ bắt đầu bằng một bài toán về xử lý ngôn ngữ tự nhiên, nhưng xử lý đặc thù tiếng Việt. Lý do 1: xử lý tiếng Việt là lĩnh vực công nghệ mà người Việt phải quan tâm hàng đầu, vì không thể chờ đợi người nước ngoài làm hộ. Lý do 2: Một kỹ sư lập trình trước tiên phải thành thạo xử lý chuỗi text. Bài toán này vừa là một bài tập xử lý chuỗi, đánh giá tốc độ tính toán có quy mô một dự án nhỏ, nhưng có thể áp dụng cho xử lý tiếng Việt

 Bài toán: So sánh tốc độ tính toán xác định một chuỗi ký tự có phải là âm tiết tiếng Việt hay không theo hai cách:
   i) Sử dụng một danh sách các âm tiết tiếng Việt (gồm khoảng gần 70 nghìn âm tiết, theo cơ sở dữ liệu của công ty VIEGRID JSC) đã được sắp xếp theo trật tự từ điển và sử dụng tìm kiếm nhị phân để xem chuỗi ký tự có nằm trong danh sách hay không.
  ii)  Sử dụng một biểu thức chính quy (REGEX) về một âm tiết tiếng Việt và một thuật toán match biểu thức chính quy.

Chủ Nhật, 18 tháng 1, 2015

Ngụy biện và Charlie Hebdo

Thế giới chia làm hai phần. Có những người lên án việc bọn khủng bố Hồi giáo tàn sát những họa sĩ châm biếm làm việc cho tờ Charlie Hebdo, đa số là những người tử tế và những người cực đoan, bênh vực bọn này.
Số những người lên án bọn khủng bố lại chia làm hai. Có những người kịch liệt ủng hộ Charlie Hebdo, cho Charlie Hebdo đúng hoàn toàn và những người không nghĩ thế. Hai nhóm người này lại chia tiếp tục chia thành các nhóm nhỏ hơn. Việc đó không có gì đáng nói. Thế giới này sở dĩ thú vị vì kể từ khi biết thế nào là tự do, người ta chấp nhận các cách nhìn nhận khác mình. Loài người là một loại động vật tồi tệ nhất kể từ khi cho phép mình tiêu diệt đồng loại chỉ vì khác biệt ý kiến về một vấn đề.
Tuy vậy, ít ai để ý tới sự gian manh, quỷ biện của Charlie Hebdo. Tờ báo này cố tình dùng phép ngụy biện, đồng nhất một số vấn đề, một cách vô lương. Trước hết họ đánh đồng việc châm biếm, khiêu khích tín đồ Hồi giáo của họ với bảo vệ tự do. Tự do của nắm đấm của chúng ta bắt đầu ở ở chỗ mũi của người khác chấm dứt. Nếu chúng ta hoa chân múa tay đấm đá vào khoảng không trước mũi của người khác 1mm, tuy vẫn là việc tự do cho phép, nhưng đã là một việc khiêu khích, người văn minh yêu tự do, không nên làm. Hãy tưởng tượng, một người giả bộ khập khiễng trước mặt người què để làm vui, nhai mỡ lợn sấy nhồm nhoàm trong nhà thờ Hồi giáo, hay in ảnh người thân đã khuất của bạn lên giấy vệ sinh và cho rằng đó là hài hước là tự do. Đó chính là khiêu khích. Khiêu khích không những vô văn hóa mà còn ngu xuẩn. Trêu chọc một kẻ điên khùng, kích động một con bò điên hay chó dại, giơ đầu ra đi dưới giàn giáo có đá rơi, rồi cho mình là tự do hay anh hùng. Khiêu khích để người ta phạm tội, chính mình cũng sẽ có tội.
Ngụy biện thứ hai có phần bất lương hơn là Charlie Hebdo đồng nhất bản thân tòa báo với những họa sĩ bị giết. Các họa sĩ bị giết là người làm công cho Charlie Hebdo, họ bị giết gia đình của họ mất người thân. Charlie Hebdo nhờ sự kiện mà thu hút người quan tâm tăng vọt, khả năng thu lợi khổng lồ. Quyền lợi khác, vì thế khác làm sao là một được. Điều bất lương ở chỗ Charlie Hebdo có biết trêu chọc con bò điên, đi dạo dưới đá rơi hay khiêu khích Hồi giáo là nguy hiểm tới tính mạng hay không. Sau sự kiện 11/9, nếu ai không biết đến sự nguy hiểm của các tín đồ Hồi giáo cực đoan, có lẽ họ sống trongg rừng hay trên hành tinh khác chứ không phải ở Paris. Nếu đã biết điều đó, Charlie Hebdo vẫn đang tâm bỏ mặc các nhân viên của mình đi vào chỗ chết. Đó là hành động gì.
Điều bất lương thứ ba là việc Charlie Hebdo vẫn cố tình ngụy biện nhân danh tự do, dùng những người đã chết để kiếm lợi ích truyền thông.
Tôi không nói về nhận thức của Charlie Hebdo về tự do, về tôn giáo và văn hóa. Tôi không hy vọng có cái gì như thế. Nhưng những người hôm nay tự xưng "Tôi là Charlie" hãy nghĩ về phép ngụy biện và tự do chân chính.

Giải toán, làm toán và kỹ năng thực tế

Tôi chưa bao giờ cảm thấy sung sướng khi giải được một bài toán như các bạn cùng lứa. Dù là bài toán tính hay là một bài chứng minh. Năm lớp 4-5, tính toán một dãy số dài là một kỷ niệm hãi hùng đối với tôi. Kỳ thi học sinh giỏi Toán thành phố, tôi suýt được điểm tuyệt đối, nhưng ở bước cuối cùng tính sai công thức giải phương trình bậc 2, bị trừ 1.5 điểm. Năm lớp 6, khi các bạn học tới các tam giác, phân giác, đường cao, tôi vẫn loay hoay không biết thế nào là chứng minh, để hiều được hai góc đối đỉnh bằng nhau.

Sau này, khi để ý học Toán tôi bắt đầu tích cóp các mẫu bài tập khó. Tuy nhiên, tôi không cho rằng việc học cách giải một bài toán có gì là sáng tạo. Tôi chỉ thấy đó là việc biết và không biết, còn chuyện biết một vài mẹo rồi áp dùng cho các biến thể hơi khác hoặc các tổ hợp phức tạp, chỉ là kỹ năng phân tích. Từ khi đó, tôi thấy việc đi giải bài toán là nhạt nhẽo, vì có hàng vạn bài toán trên đời.

Năm lớp 7, đọc Tư Mã Thiên Sử Ký đến đoạn Hạng Vũ nói: Học kiếm giỏi lắm cũng đánh được vài người, ta muốn học cái đánh vạn người, bèn học binh pháp, tôi hỏi cha: có môn học nào học cách giải tất cả các bài toán không. Cha tôi nói không biết, phải chăng là Triết học. Tôi mầy mò đọc Triết, thấy chỉ là một mớ lý lẽ u minh, chẳng liên quan gì tới thực tế. Tình cờ tôi có bà bác làm thủ thư ở Thư viện Hà Nội cho mượn cuốn Giải bài toán thế nào và Toán học và những suy luận có lý của G.Polya. Phải nói là tôi không thể hiểu hết được những điều trong đó, phần vì sách mượn không thể giữ lâu, phần vì kiến thức còn sơ sài. Nhưng đọc xong, đúng là có thể giải hàng loạt bài toán. Đặc biệt là việc đưa ra các phương pháp luận như xét trường hợp riêng, tổng quát hóa, xét tính đối xứng,... Khi học đến hình học không gian, nhiều người chới với vì hầu như không có mẫu bài tập, làm bài nào biết bài đó. Tôi cố gắng suy nghĩ và tự phát hiện ra một bí mật: rất nhiều bài toán hình không gian đều có mấu chốt là một bài toán hình học phẳng trên một mặt phẳng nào đó. Vấn đề chỉ là việc nhìn ra mặt phẳng nọ mà thôi. Tôi luyện kỹ năng theo hướng này và trở thành chuyên gia hình không gian với rất ít khổ luyện giải bài toán. Tất nhiên, có những bài hình không gian mà phương pháp này không áp dụng được thì tôi đầu hàng luôn sau khi xoay đủ kiểu.

Nhưng từ đó tôi bắt đầu đọc các sách lý thuyết như Hình Giải Tích, Đại số cao cấp, thậm chí đọc một sách chuyên khảo và viết một bài nghiên cứu về các đường conic từ lớp 8. Hầu như bài vở bài tập trên lớp không hề ngó tới, thậm chí chẳng biết thế nào là đạo hàm, loga, công thức sin cos cộng góc. Khi nào đi thi bỏ 2 ngày đọc một quyển bài tập có sẵn lời giải, cũng nhiều lần điểm đạt tối đa, cũng có khi bỏ 1-2 bài, nhưng tôi thấy tạm đủ.

Lên đại học, cố nhiên không thể học theo cách giải từng bài toán được. Rất nhiều bạn của tôi bị sốc, và cho rằng Toán Đại học khác và Toán Sơ cấp khác. Tôi chỉ thấy nghiên cứu Toán và giải Toán là hai việc khác nhau. Tôi không cho rằng học toán sẽ có ích lợi nếu chỉ bằng cách rèn luyện kỹ năng giải Toán. Tôi cho rằng nắm được các concept chính, vạch ra mối quan hệ và đặt ra một lớp các bài toán cùng với phương pháp chung cho lớp đó quan trọng hơn nhiều. Có lẽ đây là tư duy của Vật lý lý thuyết, chứ không phải là tư duy của Toán lý thuyết. Chẳng hạn như phương trình Einstein hay bài toán nhiều vật là những bài toán không có lời giải tổng quát. Vấn đề là phải thêm các điều kiện để có bài toán giải được, nhưng không đặc biệt để có thể bao gồm "hàng vạn bài toán" có thể giải bằng một phương pháp thống nhất. Tôi giải ra nhiều bài toán vào lúc ngủ mơ màng, có lẽ là khi đó tư duy không bị nhiễu bởi các tạp niệm, các khái niệm trở nên sạch và các mối quan hệ trở nên rõ ràng hơn.

Sau này, con trai tôi, khi lên lớp 5 tình cờ có nói một câu: cuộc đời có nhiều việc phải làm, nếu phải làm toán thì thà giải hàng vạn bài toán dễ còn hơn làm một bài toán khỏ. Việc tách một bài toán khó thành nhiều bài toán dễ với mẹo mực có sẵn hoặc ai đó đã giải chính là làm toán. Khác biệt giữa làm toán và giải toán theo cách hiểu sơ cấp chính là như vậy. Làm Toán là hình thành phương pháp, nếu giỏi chuyển sang ứng dụng không có vấn đề gì. Chỉ chăm chăm giải các bài toán riêng rẽ lầ tự giam mình trong hũ nút, chính là căn bệnh của một số mọt Toán học mãi không thành tài, mặc dù tư chất không phải là ngu độn.

Tất nhiên là ứng dụng không có nghĩa là là bắt buộc phải giỏi làm Toán. Nhưng Toán học sẽ đem lại sự khác biệt, chí ít là đối với người Việt Nam, không có điều kiện thực nghiệm, kém về phương pháp luận và thiếu nền tảng triết lý.

Tào Tháo bỉ mặt Trương Tùng mất Thục - Lệnh Lỗi Dương

Cuối tuần này, các việc gấp đã tạm thư, tiếp tục mục Luận Tam Quốc

   Cuối đời Hán Linh Đế, nạn mua quan bán chức lan tràn, những kẻ bất tài hối lộ làm quan đầy rẫy, đè nén dân gian trục lợi, oán thán đầy đồng, điêu dân làm loạn theo bọn Khăn Vàng mong đổi đời. Công khanh dâng biểu tiến cử các đại thần có danh vọng, phẩm cách thanh cao làm chức Mục ở các châu. Các quan Mục đều được phong hầu, được dùng màn trướng y phục sắc đỏ. Vào chầu được được đi xe công xa tứ mã, đãi ngộ đặc biệt, địa vị tôn quý, quyền thay thiên tử sinh sát một phương. Ích Châu có Lưu Yên, Kinh Châu có Lưu Biểu, U Châu có Lưu Ngu đều là tôn thân nhà Hán.
Lời bình của Lệnh Lỗi Dương
  Loạn là do thể chế yếu, chứ không phải thể chế yếu do loạn. Loạn bắt đầu từ việc không dùng hiền tài. Quan lại chạy theo lợi riêng, bỏ bê việc phải chăm sóc đời sống và giáo hóa cho dân. Xét Linh Đế muốn cải cách, cũng là đáng khen, nhưng thay vì tăng quyền lực Trung ương lại tăng quyền lực địa phương để đến nỗi sau này các sứ quân tự chuyên đánh giết lẫn nhau không kiểm soát nổi, đến nỗi thiên hạ chia ba, chẳng phải là sai lầm từ gốc sao. 

Lưu Yên vốn dòng dõi Lỗ Cung Vương Lưu Giao, gia tộc được phong ở Huyện Cánh Lăng, Giang Hạ, thuộc Kinh Châu. Cha Yên là bậc đại nho đời Hán mạt là Lưu Hướng. Do là tông thất nên từ trẻ đã được bái làm Trung Lang, rồi dần trải qua các chức Huyện lệnh, Thái thú, Thứ sử rồi đến bậc công khanh như Tông Chính, Thái thường. Khi triều đình có chính sách cử quan Mục, Lưu Yên muốn tránh loạn đảng trong triều bèn xin làm quan Mục ở Giao Chỉ. Sau nghe lời quan Thị Trung là Đổng Phù, thạo giảng sấm ký, nói Ích Châu có khí tượng đế vương bèn xin vào Thục. Được phong Dương Thành Hầu, Giám quân Sứ giả, lĩnh Mục Ích Châu. Đổng Phù và Triệu Vĩ là các quan lại có tiếng tăm đi theo Yên làm vây cánh. Yên đến châu, giết thứ sử cũ là Khích Kiệm, thu nạp lưu dân làm vây cánh gọi là quân Đông Châu. Ích Châu giàu có và trở thành một sứ quân mạnh. Yên nghe lời sấm ký, nói chân mệnh thiên tử có hoàng hậu họ Ngô, bèn cưới thêm vợ là Ngô thị, chế xe cộ nghi trượng thiên tử. Phía bắc cấu kết với bọn Mã Đằng làm phản, phía Đông sai Trương Lỗ nắm lấy Hán Trung. Phía Nam ngăn đường sang Kinh Châu. Lại cắt đường sạn đạo, tuyệt tin tức với nhà Hán. Những kẻ chống lại Yên tại châu đều bị Yên giết chết.
Lời bình của Lệnh Lỗi Dương 
   Lưu Yên là tôn thân nhà Hán, vốn là người có học đậu khoa Hiền lương Phương Chính, có danh vọng. Nhưng tham hư danh mà đắm vào mê tín dị đoan. Nắm trong tay Ích Châu giàu mạnh mà mưu đồ cá nhân đen tối. Sau này Lưu Bị lên ngôi Hoàng Đế lấy con gái của Ngô Ban làm hậu. Chân mệnh đế vương đâu chỉ vì một việc lập hậu.

Lưu Chương nối cơ nghiệp của cha, giả mệnh thiên tử lĩnh Ích Châu Mục. Triều đình lắm việc không xét tới lại gia phong Phấn Uy tướng quân. Ích Châu, binh nhiều lương lắm, lại thu nạp được kẻ sĩ từ Kinh Tương bất đắc chí về theo. Võ thì có bọn Bàng Hi, Trương Nhiệm, Hoàng Quyền, Lý Nghiêm, văn thì có bọn Trương Tùng, Pháp Chính, Bành Dạng, Mạnh Đạt. Chương bản tính khoan hòa, tuy thích nói chuyện nhân nghĩa nhưng không có uy để ngăn quân Đông Châu tàn hại bách tính. Tuy có nhiều nhân tài nhưng do dự không dám hành động, lại khăng khăng cố chấp những điều nhỏ mọn, nên lòng người dần chia lìa muốn tìm chủ khác để thực hành tài học của mình.
Lời bình của Lệnh Lỗi Dương 
  Người có chân mệnh thiên tử phải có viễn kiến, không câu nệ tiểu tiết. Đâu phải chỉ nói chuyện giống bậc vương giả mà thành vương giả. Sau này rước quân Kinh Châu vào Thục rồi lại đổi ý gây hấn, đánh nhau với Lưu Bị ba năm, xương dân chất trắng đầy đồng. Mới biết do dự, u mê là do tư chất ngu độn mà ra, thà về đuổi gà cho vợ, ôm đống của làm anh trọc phú còn hơn. Sau này Chương lại theo Tôn Quyền, được phong Thứ sử Ích Châu hữu danh vô thực ở Kinh Châu.

Tào Tháo bôn ba nhiều năm, lao tâm khổ tứ đã dẹp được bọn Viên Thuật, Viên Thiệu, Lã Bố, Mã Đằng, thống nhất Trung Nguyên, củng cố chính quyền địa phương, đem quân xuống phía Nam, bình định Kinh Châu.  Lưu Bị đem quân bỏ chạy, liên hợp với Tôn Quyền, chống Tào, thế yếu. Quân Tào chỉ chờ một trận dẹp yên phương Nam, nên tạm không hỏi đến Hán Trung và Ích Châu. Lưu Chương kinh sợ bèn sai người mang lễ vật xin theo hiệu lệnh của Tháo. Lại cử quan Biệt giá là Trương Tùng đến xin nội thuộc nhà Hán.
Lời bình của Lệnh Lỗi Dương 
  Sau khi lấy Kinh Châu, nếu Tháo đem một cánh quân bình định Hán Trung thu nạp Ích Châu, lấy thế ép Giang Nam, đã không còn nhà Thục. Nhưng chắc Tháo coi thường Trương Lỗ, Lưu Chương là bọn ngu dốt, lúc nào cũng có thể lấy Thục như lấy đồ trong túi. Phàm việc đời, cái gì dễ phải lấy trước, tạo thanh thế cho đại cục, không cần dùng sức mà yên thiên hạ, giữ tính mạng cho trăm quân. Tháo đọc kỹ binh thư mà vẫn còn thích động binh chém giết, chưa nắm được tuyệt học của đạo đánh dẹp.  Nhưng chưa lấy Thục ngay cũng chưa phải là thất sách nếu biết trọng vọng Trương Tùng

Trương Tùng là quan Biệt Giá, một bậc rất cao của Ích Châu, thông minh trác tuyệt, kiến thức uyên thâm, biện bác ít người theo kịp, có tham vọng giúp đời, chỉ tiếc không gặp minh chủ để làm nghiệp lớn. Tùng tướng mạo cổ quái, xấu xí, râu thưa, trán ngắn, cao chưa tới 6 thước. Tháo gặp Tùng, không cho vào trong mắt, tỏ ý khinh bỉ, lại khoe khoang tài chinh phạt để áp đảo. Dương Tu khi đó là thư ký riêng của Tào Tháo, nhìn ra tài của Tùng, cho rằng Tùng có tài lạ, khuyên Tháo nên trọng vọng, nhưng Tháo không nghe. Tùng thất vọng mà dèm pha với Chương đoạn tuyệt với Tháo. Kịp khi Tháo thua ở Xích Bích, Chương bèn nghe theo Tùng. Tùng biết rằng Chương sớm muộn cũng để mất Ích Châu vào tay Tháo, bèn cùng bọn Pháp Chính, Mạnh Đạt bày mưu đón Lưu Bị vào Xuyên.
Lời bình của Tập Tạc Xỉ:
    Xưa Tề Hoàn một lần khoe công mà chín nước làm phản, Tào Tháo kiêu ngạo trong chốc lát mà thiên hạ chia ba, mấy chục năm chuyên cần bên trong đều đem vứt bỏ trong một thoáng cử động, há chẳng tiếc lắm hay sao!  Vì thế nên bậc quân tử phải hết sức khiêm cung đến trưa, lo nghĩ cho kẻ dưới, công cao mà phải ở vào chỗ nhún nhường, được tôn kính vẫn phải giữ lễ với kẻ hèn mọn. Tình gần với vật, nên dù quý hiển mà người ta không ghét mà trọng; đức hòa hợp với cuộc sống của mọi người, nên công nghiệp to lớn mà thiên hạ vẫn vui mừng hân hoan. Người như thế, có thể được phú quý, giữ được công nghiệp, đương thời được hiển hách, truyền phúc lại cho trăm đời, sao lại kiêu căng làm gì! Thế nên bậc quân tử biết Tào Tháo chẳng thể là người thâu tóm được thiên hạ vậy.

Lời bình của Lệnh Lỗi Dương: 
     Kiêu ngạo là tật chung của kẻ sĩ, kiêu nên mới cao khỏi đắm mình vào cái tầm thường. Nhưng Tháo kiêu, Tùng cũng kiêu. Nếu Tùng cẩn thận giữ được mạng về với Lưu Bị như Pháp Chính, công nghiệp có khác gì bọn Chính, Lượng. Có thể nói Tùng kiêu chẳng mất gì. Tháo kiêu, mất Thục, vứt bỏ công sức hàng chục năm, sau này thua ở Hán Trung mất cả huynh đệ. Mới biết rằng, cái kiêu không đúng chỗ, phải trả bằng thời gian, công sức và tính mệnh. Kiêu như Hán Cao Tổ với bọn Kình Bành, hay như Ngọa Long bắt Lưu Bị bâ lần cầu kiến mà thu phục được thiên hạ lại là việc khác.
 

Thứ Bảy, 27 tháng 12, 2014

Nhớ thời kỳ Phục Hưng Việt Nam

     Trên đường đi đến đích, người ta có thể trì hoãn việc rẽ ngang, nhưng sớm muộn vẫn sẽ phải rẽ một số lần nhất định, nếu con đường của họ đòi hỏi phải như thế. Tôi thường nghĩ về một thời đại Phục Hưng cho Việt Nam với hình ảnh liên tưởng này. Con người sẽ mãi mãi không trở thành người lớn và mãi sẽ sống với những thói ấu trĩ, cho dù được nhồi nhét tri thức uyên thâm đến mấy, nếu không trải qua thời kỳ dậy thì và trưởng thành. Nếu không có thời kỳ Phục Hưng, loài người chúng ta mãi phải sống với những thói ấu trĩ đó dù có làm ra bom nguyên tử hay phát minh ra máy tính. Phục Hưng là thời kỳ dậy thì để trưởng thành của nhân loại, khi chúng ta dám phủ nhận những tín điều phức tạp để trở lại với những chân lý đơn sơ như nền dân chủ Hy Lạp, luật La Mã và tính người.
     Tâm thức Việt Nam giống như một đứa trẻ, không thiếu điều tốt đẹp, nhưng đầy bản năng và thiếu duy lý. Chúng ta đã sa vào những cuộc tranh luận bất tận trên những khái niệm không có ranh giới hình thành dựa trên trực giác, những thói hoang dã bướng bỉnh khó thay đổi nếu không dùng tới sức mạnh của roi vọt hay gói quà Tết, những xét đoán không gắn với một hệ thống giá trị ổn định nào, không lối thoát từ nhiều thế hệ. Tranh luận bằng trực giác, bướng bỉnh hoang dã và không có giá trị ổn định chính là các phản ánh của sự ấu trĩ.
     Ấu trĩ là một điều tha thứ được với một đứa trẻ, nhưng sẽ đem lại một số phận bất hạnh với một người lớn. Khi lớn lên, với những năng lực tự chủ mạnh mẽ, con người ấu trĩ sẽ đủ sức tàn phá xã hội một cách vô thức, ngu xuẩn như một con King Kong. Làm thế nào để đánh thức một con King Kong đang say máu tàn phá? Có lẽ không còn cách nào khác phải dùng sức mạnh đánh quỵ nó, để nó thấy được rằng sức mạnh của nó chỉ là một trò cười so với thế giới này. Dù sao đi nữa, những kẻ ỷ vào sức mạnh luôn khiếp sợ sức mạnh khác hơn mình. Sau đó, phải thức tỉnh con King Kong ra khỏi thế giới ảo giác của nó. Hứng khởi tinh thần của con King Kong bắt nguồn từ men say trong máu, khiến con King Kong nhìn thế giới như một kẻ nghiện ngập, vừa bướng bỉnh vừa nhát nhúa không dám trở lại với thế giới thực. Bước tiếp sau, phải áp đặt một hệ thống giá trị cho con King Kong, để nó biết hành xử phù hợp với thế giới văn minh, cho dù phải trải qua một cuộc hành xác, tẩy não khổ đau. Cuối cùng, mới có thể giải phóng các sức mạnh đặc biệt của King Kong phục vụ cho thế giới văn minh và mang đến hạnh phúc cho chính nó.
    Phục Hưng là một phong trào văn hóa bắt nguồn ở Ý rồi lan rộng khắp châu Âu từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 17. Động lực của Phục Hưng có lẽ là các phát minh công nghệ làm giấy và in typo đã thay đổi đến gốc rễ ngành công nghiệp xuất bản. Nhờ đó các ý tưởng mới được giao lưu, tích lũy và lắng đọng thành nền tảng của một hệ thống giá trị mới, có sức phát triển tới tương lai, khai phá các giá trị cổ điển đồng thời cũng phá dỡ hệ thống tư biện nhiều tầng lớp của thời Trung cổ.
    Một sự trùng hợp có vẻ như ngẫu nhiên là Phục Hưng bắt đầu sau khi Thành Constantinople thất thủ. Đó là một thất bại đau đớn nhưng rất cần thiết với con King Kong châu Âu, khi sức mạnh bị đè bẹp bởi một sức mạnh khác. Sự ưu việt của hệ thống phòng thủ thành Constantinople dựa trên hệ thống khoa học kinh điển của châu Âu bị đánh sập bởi những kẻ mọi rợ vốn không cần biết các nguyên lý khoa học là gì, nhưng biết sử dụng một ứng dụng tinh tế của chính tri thức khoa học Âu châu là đường khương tuyến. Sức mạnh về công nghệ, sự thiện chiến của các chiến binh thành chiến từ Ý, tinh thần Thiên chúa giáo, đã trở thành trò cười trước đạn đại bác xoay tròn theo thiết kế của một sĩ quan công binh vô danh người Hungari nào đó. Có lẽ quan trọng nhất là niềm tin trực giác, bướng bỉnh và không có một cơ sở nào là Chúa luôn ở cạnh để phù hộ cho con chiên của mình, đã tan nát. Con King Kong bị đánh quỵ trở nên khiếp sợ lần đầu tiên thấy được sức mạnh của mình chỉ là trò cười trong thế giới mới. Không biết do cơ may hay do tính ưu việt, nền châu Âu đã biết sống lại và làm bá chủ thế giới, bắt đầu từ Phục Hưng. Những nhà bác học Hy Lạp tinh hoa nhất, đã rời bỏ Constantinople quy tụ ở Ý và đem lại cho Ý những tư tưởng mới mẻ. Trên nền tảng đó đã sinh ra những nhà bách khoa khổng lồ như Leonardo da Vinci hay Michelangelo. Đã có một cuộc tranh luận giữa việc coi Phục hưng là một bước tiến về văn hóa từ thời Trung cổ hay nên coi đó là một giai đoạn buồn đau, yếm thế, hồi tưởng dĩ vãng của Âu Châu. Tuy nhiên, thất bại, buồn đau là cần thiết để tiến lên, nếu như biết giữ những giá trị thực sự và dám từ bỏ những ảo tưởng, thiết nghĩ cuộc tranh luận đó không cần thiết. Vả lại, sau Phục Hưng, sự phát triển của châu Âu không còn là một bước đi ngẫu nhiên mà đã dẫn đầu toàn thế giới cho đến tận ngày nay.
     Câu hỏi đặt ra là liệu các dân tộc không có cơ may được ở trong trào lưu Phục Hưng thế kỷ 14-17, muốn tìm hạnh phúc của mình liệu có phải trải qua thời kỳ Phục Hưng của mình? Có thể lấy một ví dụ của nước Mỹ. Nước Mỹ có thời kỳ Phục Hưng của mình với danh xưng American Renaissance từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20 quy tụ được đông đảo các nhà sáng chế, nhà văn, kiến trúc sư, nghệ sĩ, chính trị gia,... tại New York với tư tưởng hình thành một hệ thống giá trị của một Đế chế mới. Kết quả, nước Mỹ sau đó trở nên cường quốc số 1 thế giới cho đến tận hôm nay. Có lẽ đó không phải là một điều ngẫu nhiên
    Việt Nam có cần một phong trào Phục Hưng hay không? Dù không thể đưa ra các lý lẽ để xác quyết, nhưng từ nhiều năm tôi vẫn mong đợi điều đó. Trước hết, thói mê tín, tính áp đặt niềm tin thô bạo đang lồng lên  như một con ngựa hoang của người Việt chỉ có thể trấn áp bởi một phong trào Phục Hưng, cổ võ những giá trị nguyên sơ và khuyến khích suy nghĩ độc lập. Một dân tộc loay hoay tìm chỗ đặt niềm tin của mình từ nơi này qua nơi khác mà không dám đặt vào chính mình sẽ còn phải đối diện với vô số khó khăn do chính mình tạo ra cho bản thân. Ngược lại, việc đơn giản hóa và thanh lọc các niềm tin, chính là để hình thành tính cách cá nhân, bước đầu trở trở thành một con người văn minh trưởng thành.
      Năm 2014 có thể coi như một bước ngoặt lớn trong tâm thức người Việt, trong một số lĩnh vực nhận thức của người Việt có bước phát triển bằng nhiều thế hệ. Tuy nhiên, sẽ không thừa, nếu chúng ta cần cảnh giác về hướng đi, say sưa bẻ lái có thể làm người ta quay trở lại vị trí xuất phát nhiều lần. Có thể đường tới phồn vinh có nhiều lối, nhưng Phục Hưng có lẽ là một con đường chắc chắn nhất.

Thứ Bảy, 29 tháng 11, 2014

Dấu vết của Bàn Cổ

Hầu như các thần thoại, thần tích Việt Nam đều có bóng dáng nhang nhác trong thần thoại Trung Quốc. Để giải thích điều đó có hai thuyết trái ngược.  Có một thuyết cho rằng người Việt Nam đã tiếp nhận tôn giáo, thần thoại Trung Quốc trong thời Bắc thuộc với cố gắng của Nhâm Diên, Sĩ Nhiếp, Cao Biền,... Các thần thoại này được thay đổi đôi chút cho phù hợp với thần thoại địa phương. Vào khoảng thời kỳ giành độc lập, từ thời Ngô Quyền tới đầu đời Lý, đã có những nỗ lực có ý thức, có thể gắn với tên tuổi cá nhân, nhằm tạo ra một hệ thống thần thoại riêng. Và sau này hệ thống thần thoại vẫn không ngừng được bổ sung thêm bởi các yếu tố mới du nhập từ Trung Quốc. Gần đây có một thuyết cho rằng thần thoại Trung Quốc bắt nguồn từ thần thoại Bách Việt, do người Hán là sự hòa huyết của Bách Việt với các chủng Mongoloid. Chính các phần tử gốc Bách Việt này đã mang các yếu tố thần thoại nói riêng và văn hóa nói chung vào văn hóa Trung Hoa. Thực tế có thể là tổng hòa của hai thuyết này. Trước hết, đã có những bằng chứng về các luồng di dân xuất phát từ Miến Điện-Vân Nam. Cũng có những bằng chứng về các luồng di dân muộn hơn từ vùng hạ lưu sông Dương tử về phía Nam và trở lại Vân Nam. Các yếu tố văn hóa được mang theo, sáng tạo thêm rồi du nhập trở lại là điều dễ hiểu. Tuy nhiên, nếu lần lượt phân tích có hệ thống các yếu tố thần thoại, sẽ thấy rõ được nguồn gốc của các yếu tố thần thoại được sinh ra như thế nào. Điều đó có thể phản biện và phòng ngừa một trào lưu khoa học mang tính dân tộc chủ nghĩa, tự tôn thái quá mà gốc gác của nó lại là một tâm lý tự ty dân tộc ở dạng bán khai. Bài viết này sẽ tập trung vào thần thoại về Bàn Cổ, nhân vật sinh ra đầu tiên trong thần thoại Trung Quốc và dường như không có vết tích trong thần thoại Việt Nam.

     Bàn Cổ là nhân vật sinh ra từ Hỗn mang nguyên thủy, khi chưa có Trời Đất, Âm Dương chưa phân biệt, Ngũ Hành chưa sinh. Bàn Cổ vừa là sinh vật đầu tiên vừa là người sáng tạo ra vũ trụ, nhưng không mang tính tối cao như Thượng Đế, mà có sinh có diệt như mọi sinh vật. Bàn Cổ mang hình hài của một người nguyên thủy, lông lá, cơ bắp, đầu đội trời, chân đạp đất, tay cầm lưỡi búa. Ông tách trời ra khỏi đất, tách âm dương, tạo ra ngày đêm, tinh tú, vạn vật. Bàn Cổ tồn tại 16 vạn năm,  rồi chết. Hình hài của ông để lại thành rừng núi, sấm chớp, sông biển,... Trong thần thoại của người Việt không có Bàn Cổ, có thể vì người Việt không quan tâm tới những vấn đề trừu tượng như Sáng thế. Văn bản cổ nhất nói tường minh về Bàn Cổ là của Từ Chỉnh, người thời Tam Quốc. Gần đây người ta cũng đã tìm thấy bia mộ có khắc tên Từ Chỉnh có niên đại phù hợp. Tuy nhiên, các văn tự về Bàn Cổ đã có dấu vết trong các sách như Chu Ngữ, sách Quốc ngữ từ thời Xuân Thu, Chiến Quốc.
 Bàn Cổ cũng tồn tại trong thần thoại của người Miêu và người Dao. Trong thần thoại của người Bố Y (một nhánh của người Choang, sống ở vùng Quý Châu) Bàn Cổ là hai người, một nam, một nữ cũng tạo ra thế giới như Bàn Cổ. Gần đây, các nhà nghiên cứu cho rằng Bàn Cổ cũng tồn tại trong thần thoại Ấn Độ, thần thoại Lưỡng Hà, thần thoại Hy Lạp, trên tuyến đường di cư từ châu Phi của các nhóm người cổ Nam Á. Điều đó chứng tỏ sau khi qua vượt dãy Himalaya, sau thời đại băng hà, nhóm người cổ thông minh đến Nam Á đã dừng lại ở vùng  Miến Điện Vân Nam. Khi đó họ còn mang theo các ý tưởng về Sáng thế-Bàn Cổ từ các vùng đất cũ. Các tư tưởng này có thể mai một trong những nhóm người tràn xuống các châu thổ sông Hồng và sông Cửu Long, các nhóm người đi lên phía Bắc và còn ở lại vùng Vân Nam Quý Châu, còn giữ lại các câu chuyện có khác nhau chút ít về Bàn Cổ.  


Thứ Hai, 24 tháng 11, 2014

Lỗi chính tả


Có người nhờ tôi quét lỗi chính tả

http://giadinh.net.vn/song-khoe/hoa-qua-xuat-xu-trung-quoc-da-duoc-tam-thuoc-doc-nhu-the-nao-20141124081908021.htm

Dưới đây là kết quả, lỗi màu đỏ. Bên cạnh đó rất nhiều lỗi văn phong.

Hoa quả xuất xứ Trung Quốc đã được “tẩm

Đã có một thời gian rất daì, các phương tiện truyền thông trong nước đã rầm rồ loan tin rằng hoa quả Trung Tuốc đang trực tiếp đe dọa đến sức khoẻ người dân, Thậm chí là chính báo chí Trung Quốc cũng em ngại, cũng phát hoảng vì những chất độc trong hoa quả không được kiểm soát.

Biết thế, nhưng rồi thì sao? Tất cả những hoa quả xuất xứ Trung Quốc vẫn được người ta tuồn về Việt Nam để đầu đầu người tiêu dùng.

thuốc độc” như thế nào?

"Nhồi thuốc độc" vào cam
Hễ nói đến cam Tàu thi ai cũng ngán ngại, ai cũng biết nó có độc. Nhưng quả cam xuất xứ từ Trung Quốc có hình thù thế nào, phân biệt ra sao thì không phải ai cũng biết. Cũng phải thôi, khi cam Tàu đã chỗm chễ nằm trên quầy với cái mác cam Việt thì người tiêu dùng có thông thái đến mấy chũng chịu bó tay. Đó là thủ thuật của gian thương người Việt khi "hô biến" một các hết sức tài tình.
Cam mua ở Trung Quốc có giá rất rẻ. Nếu cam trong nước giá 30 ngàn đồng/1kg thì cam Trung Quốc chỉ bằng một phần ba hoặc cao thì chỉ bằng nửa giá ấy. Giá rẻ đánh trúng tâm lý tiêu dùng của người Việt nên cam giá rẻ tất nhiên được nhiều người lựa chọn. Nhưng có câu "của rẻ là của tôi", trong trường hợp này rất chính xác.
Vì sao cam Tàu có độc? Đó là độc gì? Chính người viết bài có một thời gian đã lần theo dấu chân của thương nhân Trung Quốc nhằm trả lời câu hỏi của độc giả về chuyện họ mua con đỉa Việt Nam để làm gì. May mắn thay, trong thời gian này tôi cũng vô tình tìm được câu trả lời cho chất độc và cách "tẩm độc" của nông dân Trung Quốc vào trái cam như thế nào.
Nhìn bề ngoài vỏ trái cam Trung Quốc rất bóng dù vỏ xanh hay vỏ vàng. Nhưng khi bổ trái cam ra thì bên trong lại bị thối rữa. Mùi trái cam không đặc trung mà có mùi rất hắc, tanh. Sự thực thì trái cam đó đã qua ít nhất 3 lần "thẩm mỹ" để có một hình hài bắt mắt nhưng bên trong lại ngắm ngầm tồn tại một chất độc chết người.
Đất nước Trung Hoa rộng lớn, những vùng giáp ranh với biên giới Việt Nam và cả sâu trong nội địa đều hình thành những vùng chuyên canh cây ăn quả như cam, táo, nho rộng hàng ngàn hecta ở Quảng Tây, Hồ Nam, Trùng Khánh. Một số lượng hoa quả rất lớn dùng để xuất khẩu sang các nước và phục vụ thị trường nội địa. Với những sản phẩm đóng gó xuất khẩu đi các nước phương Tây, Châu Phi và thị trường nội địa được kiểm tra ngặt nghèo, Nhưng những thứ tuồn sang Việt Nam thì khác, nó hoàn toàn khác so với những gì trong đầu chúng ta hình dung.
Ngoại ô TP. Phúc Châu, Trung Quốc vốn đã sớm hình thành nhiều trang trại lưu giữ hoa quả. Ở đây, có những nông trường chứa hàng triệu tấn hoa quảm trong đó có cam. Sau khi được chọn lọc, những trái cam đẹp nhất được đóng gói chuyển đi tiêu thụ. Có hàng chục tấn quả bị thối, bị mốc sẽ tiếp tục được đưa vào quy trình "tái chế" hết sức kinh hoàng. "Không có bất cứ thứ gì bị vứt bỏ đi ở đây", đó là khẳng định của một công nhân trong nông trường rộng lớn.
Một chiếc bồn chứa hàng tấn cam luôn luôn trong tình trạng đầy ắp những quả cam hỏng, cam mốc. Những công nhân của nông trường sẽ đổ vào bồn đó một thứ dung dịch dạng lỏng. Đồng thời, họ dùng một lọ thuốc bột màu đỏ đổ vào dung dịch trên, sau đó khuấy đều để điều chỉnh màu. Sau khi cam được tắm bằng dung dịch này tất cả những nấm mốc sẽ biến mất, ngược lại quả cam có màu sáp bóng rất đẹp.
Ngay cả những quả cam hỏng, nát được công nhân bóc múi và ngâm trong dung dịch để làm nguyên liệu chế biến nước cam tươi. Người ta sẽ thắc mắc, chai bột màu đỏ và dung dịch loãng ấy là gì? Đó chính là dầu hoả và phẩm màu. Những độc tố ngấm qua vỏ cam sẽ là hung thủ gây ra vô số bệnh tật và báo trước cái chết trong tương lai không xa khi chúng ta ăn phải những sản phẩm này.
Ngay cả ở vùng Vân Nam, Quảng Tây nơi mà cam được nhập lậu vào nước ta với số lượng lớn không qua kiểm tra đều được làm bằng cách tương tự như vậy. Triệu chứng đầu tiên khi ăn phải thứ chất độc trong những trái cam này là đau bụng, buồn nôn, đi ngoài. Và khi việc tích tụ độc tố tăng dần thì những căn bệnh nguy hiểm như ung thư sẽ là kết quả mà chúng ta gánh lấy
Sự thật hãi hùng về "công thức" biến đào chua thành đào ngọt
Cách đây không lâu, nếu ai đi qua trục đường quốc lộ 6A thuộc địa phận Mai Châu (tỉnh Hoà Bình) hoặc tỉnh Sơn La thấy xuất hiện rất nhiều đào bán la liệt. Ai ngang qua cũng đáp xe mua một ít làm quà, người ta ngỡ ngàng đó chính là đào mà bà con dân tộc nơi đây trồng sâu trong hẻm núi. Thế nhưng, ít ai biết, số lượng đào được trực tiếp tròng và bán ở đây không nhiều. Phần lớn đào được đem từ nơi khác đến rồi khoác vào "cái áo" đào ta, đào sạch.
Khi hỏi một người nông dân rằng chúng tôi có thể vào thăm tận vườn đào không? Chị dân tộc Mường lắc đầu nguây nguẩy: "Không được đâu mà. Xa lắm mà". Hỏi: "Thế đây là đào nhà chị trồng được à?". Chị thành thật "Đào nhà mình trồng bán hết rồi. Mình mua lại bán kiếm lời thôi". Chúng tôi hỏi tiếp: "Chị mua lại của ai?". "Nó ở dưới xuôi, chở cả ô tô to lắm lên đây. Nó bán lại cho dân bản địa, rồi dân bản địa bán lại cho người đi đường", chị nông dân cho biết. Chúng tôi thắc mắc: "Sao ai cũng bảo đào nhà trồng được?". Chị ta tủm tỉm: "Nói thế để bán được nhiều mà".
Đào Trung Quốc trồng ở khu vực biên giới giáp với các tỉnh phía Tây Bắc nước ta không có gì khác so với đào Sơn La hay Hòa Bình. Hơn thế, trái đào còn có mẫu mã đẹp hơn, ăn giòn, ngon hơn. Nhưng để có được trái đào như thế người Trung Quốc đã làm gì? Một công thức phá chế dung dịch rồi "tẩm" vào trái đào được thương lái người Việt trực tiếp chứng kiến đã tiết lộ khiến chúng tôi choáng váng. Đào bán sớm thường được giá nên người Trung Quốc thường thu hoạch ngay khi trái đào còn xanh và ăn rất chua. Nhưng họ đã "phù phép" vào nó một thứ dung dịch và không phải ăn vào miệng ai cũng nhận ra.
Đào xanh sau khi được thu hoạch sẽ tập trung vào từng cái thùng lớn chứa đầy nước để ngâm trong vài tiếng đồng hồ. Nếu hỏi, người nông dân Trung Quốc sẽ nói đó chỉ là nước để rửa đào cho sạch lông rặm bên ngoài. Thế nhưng, họ đã cho những gì vào đó? Nó bao gồm phèn chua, mì chính, rượu và nước. Những thứ này được trộn lẫn nhau thành một hỗn hợp có thể biến đào xanh thành đào chín, đào chua thành đào ngọt và trọng lượng có thể tăng gấp đôi. Nếu không tin độc giả có thể thí nghiệm bằng phương pháp hết sức đơn giản này và theo dõi sự biến đổi đáng ngạc nhiên của nó.
như chúng ta đã biết thì phèn chua có chứa nhôm vô cùng độc hạinó ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển trí thông minh của trẻ em. Những trái đào Trung Quốc khi bị "tẩm độc" sẽ chỉ giữ được độ giòn trong thời gian rất ngắn sau đó thì ỉu và thối rữa phía trong ruột. khó có thể trách rằng, người tiêu dùng không thông thái mà chỉ bởi kẻ bất nhân đã dùng thủ thuật quá tinh vi.

Thứ Bảy, 22 tháng 11, 2014

Bệnh ếch ngồi đáy giếng - Lệnh Lỗi Dương

Nhiều người nói sự phát triển của Việt Nam đặc biệt. Có người nói là do văn hóa của ta nó thế. Nếu đã nói đến văn hóa và đặc biệt, có nghĩa là "trời sinh ra thế, thế thời phải thế", không thể làm gì được. Có một số người, lạc quan hơn, có quan điểm "biến nhược điểm thành ưu điểm", hy vọng rằng tìm được một việc B mà nhược điểm khiến ta không làm được việc A sẽ khiến ta là việc B tốt hơn người khác. Tất nhiên, hy vọng dù mong manh vẫn đáng khen, và rõ ràng là cũng có những cái B như thế, nhưng hiếm và cũng chẳng ngon lành gì (nên mới tới phần mình).
Tuy nhiên, có những việc nhất thiết phải làm mà lại nói tôi không làm vì tôi không có ưu thế, tôi sẽ chỉ làm những cái tôi có ưu thế, thì có khác nào một anh chàng lập dị, trời lạnh mặc áo may ô, trời nóng quấn khăn phu la, sáng không đánh răng. Đúng là đặc biệt, đúng là tự hào vì không ai làm được như thế. Như đó có phải là một cuộc sống hạnh phúc không thì mới là việc cần bàn.
Sớm muộn chúng ta cũng phải sống, làm việc như những người bình thường, vì cuộc sống không thể chỉ mãi mãi là một sàn biểu diễn trí thông minh, hay một cuộc thi lấy kỷ lục. Toa thuốc "biến nhược điểm thành ưu điểm" chẳng qua là để trị cấp tính dành cho người bệnh chứ không thể là một cách sống bình thường lâu dài. Phương chi tôi ngờ rằng các sự đặc biệt được đổ lỗi cho văn hóa đó, thực ra nó cũng không đặc biệt gì, vốn ai cũng đã từng phải trải qua trong giai đoạn ấu trĩ. Có đặc biệt chăng là trì trệ và tụt hậu trong hoàn cảnh hiếm còn ai vẫn chậm phát triển vừa tự mãn. Chính hoàn cảnh như vậy tạo nên một tâm lý thể hiện bằng một thái độ mang tính bệnh lý "ếch ngồi đáy giếng".
Rất nhiều việc đangg bế tắc hiện nay, thay vì vận dụng suy luận bình thường là có thể triển khai tốt, đều có những tiên đề huyền thoại, không quy định trên văn bản nào, không biết lấy từ đâu ra, bẻ gãy mọi lập luận như chơi. Hoặc đơn giản hơn, có những việc trên thế giới, những người phát triển trí tuệ bình thường đều phải làm như vậy, mà ở Việt Nam, các hội đồng hùng mạnh, có các giáo sư bằng cấp nghe dọa chết người cũng đọc sách Tây, đi hội nghị Tây, cũng gật gù thông qua những cách làm hoàn toàn khác lạ, dù thất bại từ thế hệ này qua thế hệ khác. Sản phẩm thì hàng núi giấy, người đi sau chui vào đó mà chui được ra không bị dị tật suốt đời cũng đã là kỳ quan. Tiếc thay, đó không phải là đặc biệt gì về văn hóa, chẳng qua là bệnh "ếch ngồi đáy giếng" do ấu trĩ pha với tự mãn
Con ếch ngồi dưới đáy giếng rất nhiều lý luận, sử dụng đến phán đoán rất nhiều, nên rất giống người thông minh. Chỉ có điểm khác biệt duy nhất, người thông minh phán đoán trên tình huống thật, con ếch ngồi đáy giếng, phán đoán dựa trên rất nhiều giả tưởng, đa số không bao giờ xảy ra. Chính vì có quá nhiều giả tưởng (có khác giả thiết khoa học, tuy nhiều người vẫn hay lẫn lộn, một số vô tình, một số khác cố ý), nên nếu có nhiều ếch sẽ tranh luận liên miên theo kiểu ếch ngồi đáy giếng. Có một số tiêu chí để nhận biết các tranh luận của ếch ngồi đáy giếng để khỏi mang tiếng phản dân chủ bóp nghẹt tranh luận. Tranh luận của ếch ngồi đáy giếng luôn đi vòng tròn theo kiểu kiến bò miệng chén, bởi vì trong giếng các vấn đề cũng chật hẹp như miệng chén. Có thể tranh thủ làm một việc gì đó có ích chừng mười năm như luyện dịch cân kinh, học ngoại ngữ, hoặc lấy tay phải vật với tay trái, thành một công phu trác tuyệt, quay lại bàn tranh luận của ếch thấy câu chuyện vẫn thế, như phim Tàu nhiều bộ, không có tiến triển gì, bàn bàn và bàn tiếp, chẳng ra ngô khoai gì. Thời Trung cổ ở phương Tây cũng có vô thiên lủng các vấn đề kiểu như thế, nào là việc luyện vàng, nào là sự tồn tại của ê te, động cơ vĩnh cửu,... tạo ra hàng tấn lý luận, phép ngụy biện, siêu hình học mà không phải trí tuệ thông thường nào cũng có thể hiểu, cũng đầy rẫy tự mãn. Không có gì mới lạ. 
Một đặc điểm khác của ếch ngồi đáy giếng là rất khinh bỉ, ghét những lý luận đơn giản hướng tới thực tế. Bởi vì dù là ếch, trực quan mách bảo chính những lý luận tầm thường, thực tế dựa trên lương năng sẽ đập vỡ mớ lý luận phức tạp của ếch ngồi đáy giếng. Chính Lệnh tôi nhiều lần cũng phải thừa nhận mình không đủ chữ nghĩa, và không đủ năng lực theo dõi các lược đồ logic phức tạp của các học giả ếch ngồi đáy giếng.  Sự khinh rẻ đối với thực tế bên ngoài miệng giếng là vũ khí vô song của ếch ngồi đáy giếng, bởi vì nó sẽ đập tan mọi câu hỏi nghi ngờ về phương pháp luận của ếch, buộc những kẻ phản biện rơi vào mê hồn trận của ếch. Phải nói theo kiểu ếch, lập luận như ếch, tư duy được như ếch, thì ếch mới nói chuyện. Học xong được lý luận của ếch thì cũng đã tàn đời hoa, mong gì tìm được lối ra.
Kiến thức hạn hẹp của ếch không phải là điều đáng giận. Làm sao có thể giận được hoàn cảnh không may. Cái đáng giận là ếch không muốn ra khỏi giếng khi có điều kiện và tìm cách ngăn trở những con ếch khác mưu toan bò qua miệng giếng. Lý luận của ếch là người khác cũng sống  dưới đáy giếng như mình mới tốt mới phát triển. Có biết đâu, người ta cũng bắt đầu đả phá cái thói "không đàm ngộ quốc" của ếch.

Thứ Bảy, 15 tháng 11, 2014

Thời thượng và khai phóng - Lệnh Lỗi Dương

Tôi không bao giờ tin rằng số đông luôn sáng suốt trong mọi đánh giá và quyết định. Xã hội loài người không ít lần bị những kẻ mị dân làm lầm lạc. Cũng không thiếu các bi kịch của anh hùng lỡ vận. Nói một cách rộng ra, luôn luôn có thể thủ tiêu các xu thế tiến bộ và dân chủ bằng những đám đông. Đó chính là một nghịch lý của xã hội của loài người. Đó là lý do vì sao mà Robespiere và các bạn của ông bị đưa lên đoạn đầu đài do chính thể chế các ông đã chiến đấu để tạo ra. Chính Chúa Giê xu cũng bị đám đông đóng đinh câu rút. Nhà hiền triết Socrates cũng bị đám đông nhân danh dân chủ bỏ phiếu khép vào tội tử hình.  Chừng đó ví dụ cũng đủ để ta phải suy nghĩ về chân lý của đám đông và ý nghĩa của dân chủ thực sự.
Một thể chế dân chủ thực sự phải phản ánh được ý chí chung của xã hội nhưng không được bóp chết các tư tưởng khai phóng của những bộ óc kiệt xuất soi đường hiếm hoi. Xã hội loài người đi lên nhờ những tư tưởng khai phóng, chứ không nhờ những ý thích thời thượng. Hãy thử tưởng tượng xem nếu lý thuyết tương đối của Einstein, định lý Godel, hệ thức bất định cũng phải đưa ra lấy phiếu tín nhiệm, hay đánh giá bằng các hội đồng thì làm sao khoa học công nghệ phát triển được. Tư tưởng khai phóng tự thân nó đã có giá trị, sẽ trở thành chân lý, không cần đến sự yêu ghét cảm tính, thay đổi thất thường của đám đông.  
Không có gì bất công hơn bằng cách cho những người chưa chuẩn bị đủ kiến thức, không sẵn sàng tư cách ngang bằng với những người đã dày công nghiên cứu kỹ trong một quyết định đòi hỏi trí tuệ, kiến thức và sự chính trực. Một ý kiến cá nhân chỉ có ý nghĩa khi cá nhân đó thực sự có đủ năng lực đánh giá, đủ thông tin và kiến thức cần thiết, nhất là phải có được các phẩm chất đảm bảo cho công minh. Ngày nay không hiếm những hội đồng, tổ chức mà đa số thành viên không được chuẩn bị kiến thức đầy đủ, đứng ra góp ý thậm chí có quyền sửa đổi những đề xuất của các nhà chuyên môn đã dày công chuẩn bị. Nhiều cuộc họp, các thành viên chỉ đọc tài liệu 10-15 phút trước khi vào họp, để phát biểu hùng hồn, đánh giá nặng nhẹ một cách tức cười lãng xẹt, đó là chưa kể đến những người dù có nghiên cứu kỹ cũng không hiểu được hoặc cố tình không hiểu vấn đề. Bất công đó chính là phản dân chủ, dù áp dụng nguyên tắc đa số. 
Nói cho cùng Cách mạng văn hóa, Cải cách ruộng đất, Chủ nghĩa vô chính phủ, đều là kích động đám đông để chống lại các mầm mống giá trị đang còn mong manh. Tư tưởng khai phóng cũng như các đồ quý hiếm, bao giờ cũng mong manh dễ vỡ, khó vượt qua được thử thách thô bạo của đám đông. Cách đây vài hôm, tôi có tham gia một hội đồng thẩm định, đã góp ý kiến. Một ủy viên hội đồng nói: anh không thực tế gì cả. Tôi trả lời: Đúng, tôi là người không thực tế, nhưng không có nghĩa là tôi không biết thực tế, nhưng không bao giờ chấp nhận thực tế theo đuôi đám đông.
 Cấu trúc hai viện lập pháp ở nhiều nước chính là để giải quyết song đề sử dụng đám đông để xây dựng nền dân chủ và cũng đề phòng đám đông bị điều khiển bởi một nhóm mị dân sẽ bóp chết dân chủ thực sự.
Đối với tôi, dân chủ có nghĩa là khi tôi giao phó quyền bỏ phiếu cho một người đại diện trong cơ quan lập pháp, hành pháp hay hội đồng khoa học, không có nghĩa là tôi mong người đó luôn phải làm theo ý tôi. Tôi trao quyền của tôi có nghĩa là tôi tin ở tư cách và năng lực của người đó để đưa ra quyết định tốt nhất thay tôi trong những vấn đề tôi không đủ thời gian tìm hiểu, không có hiểu biết tối thiểu hoặc có thể sai lầm. Tôi mong dân chủ là sự minh bạch, người ra quyết định phải chịu trách nhiệm với quyết định của họ, khi họ thay mặt chúng tôi làm điều đó.
Việc bỏ phiếu tín nhiệm gần đây của Quốc Hội, có vẻ là một hành vi theo phong trào vì thời thượng, nhưng có nhiều điểm không được minh bạch về mục đích. Nếu nhằm mục tiêu để bãi miễn những quan chức không đủ phiếu tín nhiệm, Quốc Hội e rằng không đủ thẩm quyền. Không có một đạo luật nào nói rằng những người đã được bổ nhiệm một cách hợp pháp có thể bị bãi miễn bởi phiếu tín nhiệm thấp. Ở các nước dân chủ, để lấy phiếu tín nhiệm một quan chức, cần phải có lý do là người đó có dấu hiệu vi phạm luật pháp. Ở một số nước có tư tưởng khai phóng, luật pháp cho phép, khi một nguyên thủ đưa ra một quyết định không được đám đông ủng hộ, nguyên thủ đó có thể yêu cầu bỏ phiếu tín nhiệm, nếu vẫn đủ số phiếu cần thiết, vị nguyên thủ đó có thể đơn phương ra quyết định.
Nếu bỏ phiếu tín nhiệm trở thành một thứ phong vũ biểu cho các nhà quản lý, các chính trị gia, sẽ là một thảm họa cho những tính cách khai phóng và khơi nguồn cho việc đầu cơ thói chuộng thời thượng, mị dân. Các nhà lãnh đạo sẽ thôi không làm việc, bỏ bê sáng tạo, khinh thường động não và trở thành những nhà diễn tuồng. Khi đất nước lâm nguy hay khó khăn, thay vì cần ra những quyết định sáng suốt, nhà chính trị gia thời thượng sẽ chỉ nghĩ đến việc đo xem có bao nhiêu người ủng hộ phương án nào để ra quyết định.
Vấn đề là làm thế nào để đám đông có thể ra quyết định sáng suốt. Một xã hội có thể ra các quyết định sáng suốt, nếu như có một hệ thống giá trị vững chắc. Không phải là không làm được đinh ốc, xe hơi, cho dù giải thưởng Fields có là sản phẩm của trí tuệ Việt Nam, thất bại lớn nhất của trí thức Việt Nam là việc không xây dựng nổi một hệ thống giá trị để có thể thẩm định được các vấn đề xã hội một cách sáng suốt, thậm chí là để trí thức Việt Nam tự biết xấu hổ khi vẫn tham gia vào các việc thẩm định không trung thực rồi cao đạo trách móc những người khác.
Nếu năm 1945, Nguyễn Văn Tố và Nguyễn Hữu Đang cũng phải lấy ý kiến bằng phổ thông đầu phiếu là biết chữ Quốc ngữ có cần thiết hay không, có lẽ hai ông đã bị tín nhiệm thấp, đã không có phong trào Bình dân học vụ. Việc đó cũng không phải đưa ra tranh luận học thuật trên báo chí như Nghệ thuật vị Nhân sinh hay Nhân sinh vị Nghệ thuật. 
Đã đến lúc người Việt Nam, nhất là những người lãnh đạo cần phải quả cảm để ra quyết định tốt nhất khai phóng cho đất nước ngay cả khi những ý tưởng của họ chưa trở thành thời thượng. 

Thứ Tư, 12 tháng 11, 2014

Hoa nở đêm - Truyện ngắn của Huy Phương

Chị ra đi, để lại cho anh năm nghìn đồng, rút trong món tiền tiết kiệm bé bỏng của hai vợ chồng và một lời dặn.
Khi chỉ còn hai vợ chồng trong căn phòng hẹp, chị choàng tay lên vai anh, nói như nói thầm:
- Công việc của anh, em không phải nhắc. Chỉ xin anh điều độ và giữ gìn sức khỏe...
Nhớ coi giùm em chậu hoa ở hiên sau. Chỉ vài ba tuần nữa là hoa nở đấy.
  Tưởng là việc gì. Bây giờ anh mới hiểu vì sao mấy hôm nay chị cứ dậy từ tờ mờ sáng. Lịch kịch thu dọn ở cái hiên sau giá buốt gió mùa ấy. 
Chẳng biết bao nhiêu lần anh tiễn đưa chị ở sân ga. Lòng anh nao nao, khi vẫy tay theo cái khung cửa cứ bé dần đi như một tấm ảnh thu hình, ở cuối con đường tàu loáng ướt nước mưa.
*
*           *
 
Anh vẫn sống điều độ. Cái trật tự gia đình đã đi theo chị. Bàn viết của anh bây giờ là cả một mớ bòng bong những giấy má, sách báo, những chén trà cáu bẩn, cái gạt tàn đầy ngộn mẩu thuốc lá. Món tiền năm ngàn là quá nhỏ đối với cái công trình khoa học anh đang theo đuổi. Còn chậu hoa dưới mái hiên khuất nẻo kia là biểu tượng quá lớn của vũ trụ thiên nhiên. Anh đóng cửa về phía vũ trụ từ khi chị đi. Vì đó là nơi hứng gió mùa, là một nửa thành phố pha tạp, quay cuồng mua bán. Còn phía sau cửa sổ, nơi bàn viết của anh là mặt hồ yên tĩnh, là hàng sấu lốm đốm lá vàng, là nửa cái thành phố thuộc về suy tưởng. Những đêm thức rất khuya tiêu nốt những đồng bạc cuối cùng thành khói thuốc, anh có cái cảm giác đang sống lửng lơ trên một vùng biên giới nào đó nửa hư nửa thực của cái thành phố vừa đáng yêu lại vừa đáng ghét này.
*
*            *
 
Anh nghiên cứu về Trần Thủ Độ. Rồi anh sẽ viết về Cống Chỉnh, về Võ Văn Nhậm. Có thể là cả về Nguyễn Ánh... Về những danh nhân ra đời ở nơi giáp giới của Công và Tội, về bao nhiêu bậc tài đức còn khuất tên. Sử học, theo anh, đáng yêu chính là ở những vùng tranh tối tranh sáng ấy. Trong cái môn khoa học đầy bất trắc này, anh muốn soi rọi ánh sáng vào những nơi còn che khuất "đằng sau mặt trăng", như người ta thường nói. Và có thể, với anh, một nhà nghiên cứu trẻ tuổi, đó là con đường mạo hiểm, dẫn dắt bởi một tham vọng điên rồ.
Chị chẳng hiểu gì về nghề nghiệp của anh. Chị chỉ là một thầy thuốc. Chuyên về bệnh sốt rét, yêu con người, yêu thiên nhiên. Không, chị còn yêu anh nữa. Nhưng cái thành phố dở trăng dở đèn này không ráp mối nổi những sợi dây mong manh trong trái tim giầu xúc cảm và sôi nổi của chị. Nên chị vẫn thường sẵn lòng nhận những chuyến đi công tác ở nơi xa.
Giống như anh, chị cũng đang tìm kiếm một điều gì đấy. Họ chẳng bao giờ cản trở nhau. Vì hai người đều hiểu căn phòng ở nơi biên giới của hai nửa thành phố này sẽ chỉ còn là một đảo băng dễ vỡ, ngày nào cả hai người chẳng còn chút khát khao nào đối với những chân trời mà họ muốn tìm kiếm.
*
*           *
 
"Cuối cùng, cũng chỉ là tình yêu thôi". Chị nói thế. Và anh cũng nghĩ thế. Với mỗi chuyến đi xa, chị mang theo nỗi nhớ anh. Vậy mà anh, để làm cái công việc này, anh lại đang cần nhiều quên lãng.
Cứ vậy, cho đến một buổi sáng ngẫu nhiên anh mở cửa, trông ra hiên sau. Anh suýt bật kêu lên thành tiếng khi thấy cả chậu quỳnh sum suê trắng xóa một mầu hoa. Giữa những cành lá rậm rạp, những cuống hoa dài rủ xuống thõng mượt, với những búp hoa đã khép lại như những cái đầu thiên nga đã gẫy cánh. Lồng ngực anh đau tức như có một cái gì đang thít lại: Hoa đã nở hết đêm qua, có lẽ vào lúc cơn gió mùa đổ về dữ dội nhất, những bông hoa mà chị chăm bón, nâng niu, gửi gắm cho anh trước khi lên đường.
Bàng hoàng, anh bước qua bậu cửa sổ. Còn nhìn ngắm gì nữa, những đóa hoa tàn, tối qua đã nở hết mình trong mưa, trước một nửa thành phố ghẻ lạnh, thờ ơ và bên cạnh một ông chủ mải lang thang ở chân trời sử học. Anh đếm từng bông hoa, như đếm sức nặng mỗi lỗi lầm của chính mình.
*
*            *
 
May mắn cho anh, sục tìm một lúc trong đám lá dày, anh vẫn còn thấy sót lại một bông hoa chưa nở. Tim phập phồng, anh tìm kéo cắt vội cả cành hoa, thận trọng mang cắm vào lọ.
Và đêm nay, trong căn phòng vắng, anh thấp thỏm chờ hoa nở. Dưới vầng ánh sáng ngọn đèn bàn giờ phút này, đối diện với nhau chỉ có anh và bông hoa còn khép cánh.
"Em có nở không bông hoa...
"Em có chịu nở không bông hoa hoang dã và hết mực vô tư kia?". Anh thầm thì và hơi thấy buồn cười với cái ý nghĩ chải chuốt của mình. Không, anh đang nghĩ đến một điều thật nghiêm chỉnh. Đến mức gần như gắn liền với hạnh phúc và số phận của anh lúc này. Lẽ ra, cẩn thận hơn, anh phải đi hỏi bạn anh, một nhà thực vật học, xem hoa quỳnh có còn nở được không khi đã cắt lìa thân đem cắm vào lọ. Và bây giờ anh thấy lo lắng, canh cánh trong lòng một mối băn khoăn, day dứt.
Hai nửa thành phố như không còn nữa. Cái biên giới thực hư lửng lơ trên căn nhà không còn nữa. Mà ngoài cửa sổ chỉ là một thứ ánh sáng bàng bạc mầu xanh của đêm cuối thu, không có thời gian. ánh sáng ấy chiếu tỏa khắp nơi, đến mãi nơi đáy lòng của anh. Và đúng lúc ấy, anh thấy búp hoa cựa mình, giống như một sinh vật vào phút giây thoát xác. Rồi một chớp mắt sau, rất nhanh, khi những chiếc lá bên cạnh chưa ngớt rung rinh, những cánh hoa trắng muốt chậm rãi xòe ra với dáng mực thước, tự tin của những ngón tay nghệ sĩ, một mùi hương thoang thoảng tỏa ra từ những nhị hoa vàng nhạt.
Lúc đó, anh nghẹn ngào cảm thấy như có hàng vạn đóa hoa như thế, cùng một lúc bung nở khắp thành phố với một mùi hương thầm trìu mến và hòa giải.
Riêng với anh, bông hoa này mới thực là bông hoa chị giữ lại cho riêng anh. Cùng với năm ngàn đồng chóng tan thành mây khói, với chìa khóa, với sổ gạo, phiếu dầu và bao nhiêu thứ vụn vặt làm nên hạnh phúc.
Những bông hoa như thế vẫn nở mãi từ ngàn xưa trong lịch sử.
                                    Mùa xuân 1999