Thứ Ba, 2 tháng 6, 2015

Hẹn nghìn thu cũ

Tôi đi bên Em. Đêm về sáng không khí se se lạnh. Trong đêm đen, một thứ ánh sáng huyền ảo tràn ngập thinh không, giống như thứ ánh sáng của Bắc cực quang tôi đã thấy ở Alaska. Mọi vật đều rõ nét, nhưng không chói chang, lòe loẹt, giống như trong phim đen trắng. Em mặc một chiếc áo choàng rộng, phong phanh, nhưng thơ thới. Tôi thoáng cảm thấy hình như bên trong Em không mặc gì khác. Nhưng đó là một cảm giác trong sạch, không có chút tục lụy xác thịt, có lẽ như thế là tốt không có ràng buộc, có cảm giác tự do hơn. Tôi muốn hơi ấm của mình truyền sang cho Em. Nhưng có lẽ Em không cần điều đó. Từ nơi Em tỏa ra một cảm giác mát rượi, lại vừa ấm áp kỳ lạ. Đúng là có một điều gì đó không bình thường.

Trời đêm vừa yên tĩnh lại vừa rất ồn ào. Xung quanh chúng tôi có rất nhiều người, nhưng dường như họ không để ý đến tôi, chỉ chú ý đến Em vì một lý do nghiêm trọng nào đó. Em dường như không để ý đến họ. Tóc bồng bềnh xòa trên trán,  bờ vai, không chải chuốt trang điểm, nhưng thanh thoát và cao nhã. Tôi thấy Em thật thân thương, gần giống như một phần của mình. Nhưng thật kỳ lạ, tôi không thể nhớ tên Em và bất cứ kỷ niệm của chúng tôi. Chúng tôi đang nói với nhau rất nhiều, như một cặp tình nhân lâu ngày gặp lại. Nhưng thật kỳ lạ, hoàn toàn không có một thanh âm nào. Tôi chợt thấy cảm giác nhớ nhung tích lũy từ một khoảng thời gian dài đằng dặc gần như vô tận trào về. Hình như là nỗi nhớ dành cho Em, nhưng thật vô lý vì tôi đang đi bên Em. Tại sao bấy lâu nay tôi không đi tìm Em.

Em nói vẫn nhớ lời hẹn của tôi và đã chờ đợi tôi thật nhiều. Em nói rất mừng vì gặp lại tôi. Em còn nói rất nhiều điều khác. Những điều người ta chỉ có thể cảm, không thể nhắc lại. Hơn nữa, thật kỳ lạ không có một thanh âm nào được thốt ra Giống như lời nói của em phát ra từ tâm hồn rót thẳng vào tâm can tôi. Tự nhiên tôi thấy xót xa, muốn ôm choàng Em vào lòng. Tôi đã đeo đuổi những việc gì đã gần nửa đời? Và để làm gì nhỉ?

Chúng tôi đang đi đâu đây? Hình như chúng tôi đến một quảng trường hay đúng hơn là một bãi đất khá rộng. Đất dưới chân đen là rắn khô vì lạnh. Những người xung quanh chúng tôi đều mặc áo choàng trắng toát, dày và nặng, có mũ chóp nhọn. Có người che kín mặt, có người để lộ, sát khí toát ra đầy trời. Hình như là một buổi hành quyết. Họ muốn giết ai? Những tiếng rì rầm vang lên khắp bơi, là tiếng cầu kinh hay cáo trạng, tôi không hiểu rõ. Chỉ chắc rằng đó là một nghi lễ nào đó cho người tử tội.

Hay là Em? Tôi chỉ thoáng nghe có tiếng nức nở của ai đó "Thế là hết". Tôi nhìn Em, chỉ thấy Em mỉm cười xác nhận "Anh đoán đúng rồi". Không có gì nghiêm trọng sao? "Không, không có gì nghiêm trọng cả, " Em lắc đầu "Chỉ tiếc lại phải xa anh. Xin lỗi lại để anh phải chờ một lần khác."  Cũng thật kỳ lạ, tôi cũng không thấy có gì nghiêm trọng cả, không hề hốt hoảng, sợ hãi cho em. Chỉ thấy tiếc sắp lại phải xa Em.

Em còn nói rất nhiều về lời hẹn của tôi ở một mùa thu cũ, đã đợi nhau thì ngàn năm đã qua hay ngàn năm tới chỉ là khoảnh khắc. Có một tiếng chuông gõ mạnh. Em nói Em phải đi rồi. Những người đội mũ chóp nhọn đi qua tôi, xúm quanh Em, đưa Em đi. Họ là người của thế kỷ nào, ở đâu, tôi không rõ,
Tôi đứng một mình, và có tiếng động lạch cạch rung chuyển, tôi thoáng nghĩ là tiếng của máy chém. Lại có tiếng kêu của ai đó "Thế là hết". Tôi chợt xót xa, hoảng sợ, nhớ tiếc. Thế là xa nhau sao?  Dến khi nào mới gặp lại? Tôi sẽ phải làm gì với thời gian dài dằng dặc không có Em? Tôi chợt muốn nhìn thấy Em thêm một lần và chạy lại phía đó. Âm thanh của cỗ máy chém rung lên cành cạch ngày càng lớn choáng óc. Tôi chợt thấy mình tan biến.

Mồ hôi lạnh toát đầy người. Tôi chợt tỉnh lại, thấy mình trong một căn phòng nhỏ ở Boston. Chiếc quạt trần vẫn rung lên cành cạch. Hơi ấm và mùi hương của Em vẫn còn như phảng phất. Cảm giác không giống như vừa qua một giấc mơ. Buổi sáng, đi trên quảng trường thành phố, chợt nghĩ đến giấc mộng đêm qua, chợt nghe tin công nương Dianna đã gặp nạn qua đời.

Thứ Tư, 13 tháng 5, 2015

Thống nhất không gian và thời gian không phải là một việc hòa bình

Ngày nay, ngay cả những người bình thường cũng nói về không thời gian như một khái niệm tồn tại đồng thời và thống nhất. Nhưng ít người để ý tới nội dung thật sự của khái niệm này và những hệ quả ghê gớm của việc thống nhất hai khái niệm vốn phân biệt về bản chất là không gian và thời gian. Cũng ít người để ý rằng, con người vẫn đang tiếp tục hành trình của mình để tiếp tục phá bỏ những quan niệm đã mất nhiều công sức tìm ra. Càng ít người để ý tới việc toàn bộ lịch sử nhận thức của con người về thế giới xung quanh chính là cuộc phiêu lưu khám phá không gian và thời gian. Cuộc phiêu lưu này vẫn còn tiếp diễn.
Con người biết tới không gian từ khá sớm, bằng chứng là mọi dân tộc đều có chung một nhận thức về ba chiều, xuất phát từ góc nhà họ ở,  đi chinh phục thế giới rộng lớn rồi bay vào vũ trụ. Có lẽ khái niệm không gian Euclide ba chiều phản ảnh ước vọng chinh phục vô tận của loài người, hơn là một thực tế có bằng chứng khách quan. Nhận thức ra mặt đất chúng ta sinh sống không phải là một mặt phẳng có thể kéo dài vô tận hoặc có một vùng biên nào đó nối với bầu trời, không hề đơn giản và là một cuộc chiến thực của những người vừa có trí tuệ vừa bị dày vò bởi sự trung thực. Cả một hệ thống tín điều thể chế, quyền lực, giáo điều do Con người dựng lên để ngăn cản Con người vươn tới một một thực tế khách quan là Trái đất tròn và chuyển động xung quanh Mặt trời. Phải mất nhiều thế hệ giằng xé, con người mới xóa được một chấp niệm về không gian. Không phải ngẫu nhiên mà những khái niệm dường như chẳng liên quan gì như Tự do, Bình đẳng, Dân chủ ra đời ngay sau đó.
Thời gian khác với không gian, vì không phải là một thực thể quan sát được trực tiếp bằng các giác quan mà phải nhờ tới lý tính. Cái người ta quan sát được chính là vận động, là sự thay đổi vị trí trong không gian. Thực tế đời sống cho phép người ta tin rằng mọi vận động đều có thể đặc trưng bởi một tham số là thời gian. Mọi phép đo thời gian đều dựa trên quan sát cục bộ, thường là phải gắn với một vận động của những vật cụ thể của cát, nước hay con lắc, Nhưng người ta vẫn cho rằng thời gian là một đường thẳng vô tận duy nhất, chung và tuyệt đối cho toàn thể vũ trụ hoàn toàn không nghĩ rằng điều đó không có cơ sở gì. Thời gian là một khái niệm cục bộ hoàn toàn dựa trên lý tính, đã được gắn ngay với một đường thẳng vô tận. Ngay trong một ý tưởng tự do vĩ đại đã manh nha một tín điều cố chấp mà sau này phải đợi đến sự ra đời của những bộ óc siêu việt lóe sáng mới phá bỏ được. Gần cây cao thì cớm nắng, sau thế hệ của các vĩ nhân thì vắng bóng các nhân cách lớn, Quy luật đó dường như được khẳng định quá nhiều lần.
Việc xem không gian và thời gian là có cùng một bản chất có lẽ nhờ vào khái niệm toán học không gian nhiều chiều. Tuy nhiên, trong người Inca ở Peru, một cách bản năng, hay nhờ lương năng đặc biệt đã sớm xem không thời gian là một khái niệm thống nhất. Các triết gia Đức như I.Kant và A.Shoppenhauer đã sớm quan tâm đến ý nghĩa đặc biệt của không gian, thời gian và đặt chúng vào cùng một phạm trù. Sau đó Minkowski, Poincaré, Lorentz, Einstein đã đặt không thời gian vào một mô hình hình học-vật lý chung. Đặc biệt Einstein đã giải nghĩa được những hệ quả ghê gớm của mô hình không thời gian này đưa tới dẫn tới sự liên hệ bất ngờ và lý thú giữa năng lượng và khối lượng.
Chính sự liên hệ này đã đưa loài người tới những nguồn năng lượng khổng lồ đang điều khiển vận động không ngừng của thế giới.
Thay vì bàn luận các khái niệm triết học trừu tượng, chúng ta hãy xem việc thống nhất không gian với thời gian có những hệ quả gì. Hệ quả đầu tiên của việc thống nhất thực sự là chuyển hóa. Không có chuyển hóa toàn diện từ cả hai phía, thống nhất chỉ là hình thức. Thời gian chuyển hóa thành vận động trong không gian. Không gian lại có thể chuyển hóa thành thời gian. Việc chuyển hóa này là lựa chọn chủ quan của các chủ thể quan sát. Vì thế bản thân việc thống nhất đã mang lại đả kích nặng nề cho quan niệm tuyệt đối về thời gian. Những người chấp nhận dễ dàng một việc tưởng chừng xa thực tế vô hại, chợt nhận ra mọi tín điều bị đe dọa sụp đổ.
Nhưng liệu điều này có phải một nghịch lý tư duy, xảo biện siêu hình học, luận lý học hình thức đã chui vào phá đám, lừa dối chúng ta. Chúng ta liệu có sai lầm ở đâu? Việc chuyển hóa các chiều trong không gian là việc bình thường. Góc tường nhà của mỗi người không thể mang đi khắp nơi để rao giảng làm mực thước, cho dù người rao giảng là những ông thánh. Nhiều khi chúng ta mất phương hướng về trên dưới, phải trái, Bắc Nam Đông Tây. Càng bay vào vũ trụ, mở rộng tầm nhìn chúng ta càng thấy rõ sự chuyển hóa các chiều không thời gian là tất yếu bởi các phép quay. Phép quay thực sự là một sự nổi loạn. Quay một hồi phải trái, trên dưới lộn tùng phèo.
Trong không thời gian thống nhất bốn chiều chúng ta còn có thêm các phép quay thời gian-không gian. Thực tế đây là các phép ném (boost) biến các vật đờ đẫn đứng yên thành các hệ vận động với các vận tốc khác nhau. Einstein là người phát hiện và áp đặt nguyên lý các vận tốc đó đều giới hạn bởi vận tốc của ánh sáng và chính vì vậy đồng hồ trong các hệ quy chiếu khác nhau sẽ chạy khác nhau. Chính nhờ sự chuyển hóa trong điều kiện đặc biệt như thế dẫn tới những nghịch lý như trong truyện Từ Thức hay Rip van Winkle. Thực ra khái niệm thời gian cục bộ vẫn còn sống sót trong lương năng của người bình dân trên khắp trái đất, trong khi chúng bị tận diệt trên thượng tầng. Chính sự hám lợi của Con người là nơi dễ thuyết phục nhất. Nếu lý thuyết tương đối không dẫn tới công thức khối lượng, với triển vọng giải phóng các nguồn năng lượng từ những thứ có đầy rẫy xung quanh ta là khối lượng, mới làm các nhà giáo điều kinh viện thôi bàn tán vu khoát, những tên thừa sai hiếu chiến mới thôi nghĩ tới việc gây ra những cuộc chiến tranh về tồn tại trong không thời gian. Hòa bình được vãn hồi nhờ viễn cảnh về lợi ích.
Thực tế, độc lập với ý muốn của những người phát minh ra nó, công thức khối lượng cũng đóng góp phần quan trọng vào việc hai quả bom nguyên tử nổ ở Hidroshima và Nagasaki. Openheimer là người làm ra bom nguyên tử cũng là người đã phải ra tòa vì muốn hủy bỏ nó. Tưởng chừng đó là nghịch lý, nhưng đó là cuộc sống. Con người tranh đấu phá bỏ tín điều để xây dựng các tín điều mới. Xây dựng và phá hủy cũng là những con người. Thiết lập giáo điều, thể chế và khát khao tự do cũng là con người. Trong một thế giới nhiều chiều phải biết chấp nhận các nghịch lý. Thực ra chúng cũng là những thực thể thống nhất đang chuyển hóa. Nhìn thấy sự khác biệt chẳng qua là những chấp niệm mê muội mà chúng ta còn cố bám vào một cách lười biếng mà thôi.
  



Thứ Bảy, 9 tháng 5, 2015

Luận Tam Quốc: Cống cỏ bao mao

Tuần này, luận Tam Quốc nói đế việc cống cỏ bao mao là điển tích trong Đông Chu Liệt Quốc. Luận Tam Quốc hiểu theo nghĩa rộng có thể bàn về những tích không nhất thiết có trong Tam Quốc nhưng có liên quan (Gia Cát Lượng tự ví mình với Quản Trọng là nhân vật trong điển tích này)

Vua nước Sở họ Hùng, tổ là Dục Hùng vốn có công phò tá Vũ Vương nhà Chu diệt Trụ, được phong tước bá ở phía Nam, vùng Kinh Tương. Dục Hùng theo tương truyền chỉ là một gia nhân nên phẩm tước thấp kém hơn, lại không ở Trung Nguyên mà ở lẫn với bọn man di phương Nam. Trong khi đó các nước như Lỗ (dòng dõi Chu Công), Tống (dòng dõi nhà Thương), Tề (dòng dõi Khương Thái Công) đều là tước công hoặc tước hầu.

Tuy nhiên, nước Sở ở xa cũng có cái hay là ở lẫn với các nước nhỏ, ngu si, dễ hiếp đáp. Ở xa, lai có thể không phải theo luật lệ của nhà Chu. Dần dần nước Sở mở đất đai ngàn dặm thành một nước lớn, phương Nam sản vật lại nhiều, giàu có, trở thành một nước mạnh. Sở dần dần kiêu căng, trước là bỏ việc cống chim trả, cỏ bao mao, ngà voi,.... Sau thì xưng vương tước, đặt mình trên tất cả các chư hầu, ngang với thiên tử nhà Chu.

Tề Hoàn Công dùng Quản Trọng trước mở công nghiệp nhà thổ, đánh bạc vét tiền của người giàu, buôn muối vét tiền của người nghèo, lại khai khoáng, khuyến nông, phát triển công nông thương. Bên ngoài thì đánh dẹp nước yếu mở mang bờ cõi, làm bá ở Trung nguyên. Tuy nhiên, so sánh về binh lực và giàu có chưa thể bằng nước Sở. Quản Trọng lại khuyên Tề Hoàn Công vào chầu thiên tử nhà Chu để lấy danh nghĩa hiệu triệu thiên hạ. (Đoạn này rất nên học, không phải cái gì ra tiền mới nên làm. Giống như gửi một phong thư, trong đó có cái séc 1 triệu đô, cái tem bưu điện không đáng gì, nhưng rất quan trọng). Vì thế Tề Hoàn Công có được lệnh của thiên tử nhà Chu bắt các nước chư hầu hội thề. Riêng nước Sở không tới mà tổ chức hội thề riêng. Do vậy, đụng độ là không thể tránh khỏi.

Binh hai phe Nam Bắc chuẩn bị đụng độ. Quản Trọng cũng có ý ngại. Vì đánh mà thắng cũng không thể nuốt được Sở, và cũng không được gì hơn. Thua thì sợ các nước chư hầu trở mặt. Binh của Tề trước nay vẫn chưa gặp đối phương nào mạnh như Sở. Quản Trọng một mặt sai sứ sang thuyết phục vua Sở, vừa hù dọa vừa nịnh bợ, nói rõ thiệt hơn. Vua Sở ý muốn giảng hòa. Tướng nước Sở nói: Chưa đánh nhau, sao biết hơn thua. Tôi cho rằng ta mạnh hơn. Cho dù có sa sảy, ra rút về Nam, Tề dám qua sông đánh ta thì chỉ có chết. Vua Sở cười: Ta lại sợ Tề ư, nhưng hắn có danh nghĩa thiên tử, ta xem Trung nguyên cũng chưa suy yếu lắm. Nay ta nhường một bước xem hắn ra điều kiện thế nào, nếu quá quắt đánh nhau cũng chưa muộn. Bèn hỏi điều kiện giảng hòa và nói: Tôi lâu không triều cống sợ thiên tử trách phạt, thì phải làm thế nào.

Quản Trọng nói: Ngày xưa theo lệ nước Sở phải cống cỏ bao mao, nhiều năm bỏ bễ. Nay Sở phải mang mấy xe cỏ vào cống để biết đạo thần tử, Tề sẽ đứng ra xin thiên tử xá tội. Sở Vương ưng theo.
Bão Thúc Nha nói: Sở là nước cầm thú, dám xưng vương là việc lớn, còn phải tiến cống bao nhiêu thứ ông không hỏi đến, mấy xe cỏ nhỏ nhặt ông hỏi đến làm gì? Quản Trọng cười: Sở vô lễ lâu ngày, nay ta muốn đưa vào khuôn khổ phải chọn điều gì nhỏ nhặt dễ thực hiện. Điều kiện khó quá, nó không chịu nổi cắn càn, ta chắc gì đã thắng được nó. Nay ta bắt được Sở nghe theo dù là chuyện gì, đủ đắc chí với chư hầu và lập công với thiên tử. Thiên hạ nghe ta bắt được Sở phục tùng há dám không nghe ta, rồi lấy thế đó mới ép được Sở. Sở Vương thấy điều kiện giảng hòa dễ dàng, mừng lắm bèn cho đưa cỏ bao mao vào nhà Chu, lai viết thư tạ lỗi, không xưng tước mà chỉ tự xưng là "viễn thần". Thiên tử nhà Chu mừng lắm, đưa cỏ vào nhà Thái miếu báo cáo tổ tiên, thưởng cho Sở rất hậu, lại thưởng cho cả Tề. Một số nước chư hầu bèn bỏ minh ước của Sở theo Tề.

Về lâu dài, Sở vẫn là nước mạnh, tiếp tục xưng vương như cũ. Sau thời Tề Hoàn Công, nước Tề loạn, suy yếu, nhưng thế lực Sở vẫn mạnh, sau vẫn cùng Tần Mục Công, Tấn Văn Công, Tống Tương Công cạnh tranh. Mãi sau này Ngô Vương là Hạp Lư nhờ có Ngũ Tử Tư mới đánh được Sở.

Lời bàn: Thay đổi là khó. Khó nhất là thay đổi chạm đến sĩ diện. Muốn bắt tội đại nghịch bất đạo, nếu không đủ thế lực, phải bắt đầu uốn nắn từ những chỗ nhỏ nhặt, để người ta dễ chấp nhận. Trong Tam Quốc, Lưu Bị đánh Thục bắt bẻ Lưu Chương không cấp đủ binh lương, cũng là một cái bắt bẻ nhỏ nhặt. Tôi lớn nhất của Chương là đang làm chúa Ích Châu kia, cho đến khi nào Bị chưa lấy được Ích Châu  thì Chương vẫn còn có tội, há có thể mang vàng vài ngàn cân, lụa vài vạn cuộn, binh vài vạn tên, lương vài vạn hộc mà xóa tội được ư.



Thứ Bảy, 18 tháng 4, 2015

Nhàn đàm: Công nghiệp hát rong kể chuyện

Qua nhiều tỉnh ở Việt Nam, thấy nhân dân sống còn nghèo, tôi cứ băn khoăn không biết làm thế nào với những người này, có thể thu tiền làm CNTT từ họ. Hay nói rộng hơn, có thể thu tiền gì từ họ, ngoài đồ ăn, cái mặc, chỗ ở, thuốc thang và xa hơn một chút là học hành. Nếu thị trường mua không có, thì cũng khó có thể giúp họ có được thu nhập để nâng cao đời sống. Nói cho cùng, họ cũng phải bắt đầu thu nhập từ môi trường xung quanh. Vấn đề của các tỉnh đều là tìm ra sản phẩm công nghiệp. Tỉnh nào cũng nói thị trường trong tỉnh không có, muốn tìm cách bán ra tỉnh ngoài, nhưng cũng dựng hàng rào ngăn chặn sản phẩm của tỉnh khác vào tỉnh mình. Quay đi quay lại, cuối cùng lại trở về bán tài nguyên. Tỉnh nào không có tài nguyên thì bán đất. Đất mỗi ngày một cạn mà công nghiệp, sản phẩm không có, tương lai sẽ không biết bán cái gì. Tôi tán thành bán tài nguyên, nếu như nhằm vào mục tiêu tạo vốn, đầu tư vào công nghiệp, để trong tương lai có sản phẩm bán được.

Có lẽ vấn đề của cả nước Việt Nam cũng như vậy. Rất ít sản phẩm được thị trường trong và ngoài nước chấp nhận. Tôi đã từng đi dự một hội chợ sản phẩm công nghệ và hoàn toàn thất vọng. Mặt hàng bán chạy nhất là trái vải của Bắc Giang và bánh đậu xanh của Hải Dương. Cách sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao nhất là quy trình nuôi tôm và nén mùn cưa thành củi. Có lẽ khó khăn không nằm ở việc làm một sản phẩm cụ thể, mà ở chỗ vòng quay của hệ thống không trơn tru. Động vào chỗ nào cũng phải thắng được lực ì của cả hệ thống. Làm một việc thành công ở Việt Nam là phải vác lên vai toàn bộ các vấn đề của xã hội. Thành thử chỉ các công ty lớn mới có hy vọng thành công vì mới bõ công xây dựng một bộ máy toàn diện để giải quyết chừng đó vấn đề.

Tuy nhiên, xem ra các đại gia cũng chỉ say sưa lợi dụng thương quyền để đào mỏ, chứ không phải là muốn giải quyết đến gốc của vấn đề để phát triển lâu dài. Vì vậy, các khẩu hiệu luôn luôn đổi mới được đưa ra, giống anh con rể bắt chước bố vợ đủ thứ trong tiếu lâm Việt Nam, mà không làm chuyện gì cho ra hồn.

Xem ra, để làm ăn lớn có lẽ nên bắt đầu từ thị trường nước ngoài. Thị trường nước ngoài nếu thành công lâu dài và ổn định sẽ dần dần tạo ra thị trường trong nước. Thực sự thì trong CNTT, xu hướng gia công là xu hướng duy nhất thành công ở quy mô công nghiệp, sau khi đã thử nghiệm các ý tưởng như game, thương mại điện tử, mạng xã hội,.... không mấy thành công. Đến như đại gia Viettel, trước nguy cơ bão hòa thị trường Viễn thông trong nước đã bắt đầu tìm ra nước ngoài.

Có điều, chỉ là ra nước ngoài thôi thì vẫn chưa phải là một chiến lược cụ thể. Rõ ràng gia công không phải là một hướng lâu dài, do không thể hình thành thương hiệu. Không có thương hiệu thì không thể có khách hàng lâu dài và không thể có sản phẩm công nghiệp có tầm cỡ. Gia công mà không để ý tới sản phẩm thì cũng không hơn gì bán tài nguyên, trong đó con người cũng là một dạng tài nguyên. Có thể gia công là một giải pháp tốt nhất hiện nay mà chúng ta có, nhưng không thể là đích đi tới. Cũng như bán hoa hậu, người mẫu, than đá, dầu mỏ, đều phải hướng tới mục tiêu trong tương lai, là phải có sản phẩm công nghiệp.

Tôi nhớ, hình như Tố Hữu có lần được hỏi sẽ làm gì sau khi thôi chức Phó Thủ tướng, ông đã trả lời "Tôi sẽ đi hát rong kể chuyện". Cũng có thể ngài Phó Thủ tướng -Thi Sĩ phụ trách kinh tế hoàn toàn không có một ý tưởng nào về công nghiệp. Nhưng tôi chợt nghĩ: Tại sao lại không có công nghiệp hát rong kể chuyện. Nếu chúng ta thử tính xem doanh thu do di sản của ông già hát rong kể chuyện mù Homer, hay chàng nghệ sĩ Shakespeare đã tạo ra cho nhân loại là bao nhiêu, có lẽ toàn bộ doanh thu của ngành công nghiệp CNTT chỉ là con muỗi. La Quán Trung ngày xưa, Trương Nghệ Mưu ngày nay cũng là những người hát rong kể chuyện. Hát rong kể chuyện Harry Potter, Lords of the Ring tạo ra doanh thu khổng lồ mà bất cứ ngành công nghệp nào cũng phải ao ước.

Việt Nam có thể hát rong kể chuyện gì cho thế giới để thay vào các cố gắng thi hoa hậu, thi Olympics, làm game, đá bóng nhại theo tiqui-taka, gia công phần mềm.... không thể nào thành công nghiệp quy mô quốc gia được. Đừng tưởng hát rong kể chuyện không có vai trò lớn. Người ta mua hàng Trung Quốc, du lịch Trung Quốc, đầu từ vào Trung Quốc cũng bắt đầu từ các câu chuyện hát rong kể chuyện Đèn Lồng Đỏ treo Cao, Ngoạ hổ Tàng Long, Tam Quốc, Hồng Lâu Mộng,.... Trước khi  các thương hiệu Sony, NEC, Canon, Honda, Toyotta,... của Nhật trở thành quen thuộc, thế giới đã say sưa nghe Kurosava hát rong kể chuyện về con người và văn hóa Nhật bản. Có thể nói văn hóa dẫn đường và cũng là người bảo tiêu quan trọng nhất cho hàng hóa công nghiệp. Chúng ta sẽ kể chuyện gì đây và sẽ kể thể nào?  

Thứ Sáu, 3 tháng 4, 2015

Luận Tam Quốc: Quan Bình là con trưởng của Quan Vũ

Quan Công được thờ rất nhiều nơi ở Trung Quốc và Việt Nam. Trong đền Ngọc Sơn, được cho là nơi có linh khí vượng nhất Thăng Long, cũng có thời Quan Đế Quân. Ở đâu có Quan Đế Quân ở đó cũng có hai vị thiên tôn đứng hầu. Vị mặt đen, vác đao là Chu Sương, một nhân vật không có trong chính sử, mà được hư cấu trong tiểu thuyết. Vị mặt trắng, đẹp trai nho nhã là Quan Bình.
Trong Tam Quốc Diễn Nghĩa, Quan Bình được cho là con nuôi của Quan Vũ, có cha ruột là Quan Định, anh ruột là Quan Ninh. Nhưng sự thực, Quan Bình là con trưởng của Quan Vũ, mẹ là Hồ thị,  sinh năm 178 tại quê nhà của Quan Vũ, thôn Thường Bình, Giải Lương, Hà Đông. Năm 220, Quan Vũ mất vừa 58 tuổi, Bình mới 42 tuổi. Như vậy, Vũ sinh Bình khá sớm, mới 16 tuổi. Các tài liệu còn lại cũng nói Quan Vũ sống với Hồ thị không lâu. Thường thì có một ông bố ghê gớm như vậy thì hay có chuyện con nuôi nhận làm con đẻ. Chứ chuyện con đẻ rành rành, sao lại có chuyện lẫn thành con nuôi.
Bình có em trai là Quan Hưng, em gái là Quan Ngân Bình (cô hổ con, mà Quan Vũ không chịu gả cho công tử "chó con" là con trai của Tôn Quyền). Nhưng chắc khác mẹ, vì sau này Quan Vũ lấy người khác sinh ra Hưng và Ngân Bình. Có lẽ do Hồ thị lấy Quan Vũ thuở hàn vi, nhan sắc và dòng dõi đều tầm thường, nên ít được nhắc tới.
Quan Bình tự là Thản Chi (nghĩa là bình thản), làm tới Điển quân Trung lang tướng, luôn luôn theo sát cha trong trận mạc, chết chung với cha, do đó là hình tượng tôi trung, con hiếu, tình tình lại điềm đạm, cẩn thận lo mọi việc cho Quan Vũ.
Quan Bình là con rể của Triệu Vân, sinh được một con trai là Quan Việt. Khi Mạch Thành bị phá, Triệu thị dắt con là Quan Việt mới tám tuổi, chạy trốn, sống lẩn lút trong các làng xóm tại nước Ngô, lại phải đổi họ Môn. Không hiểu tại sao Triệu thị không đưa Việt về Thục, khi Triệu Vân vẫn làm tướng ở Thục, gia đình Quan Vũ cũng được trọng vọng ở Thục. Tuy vậy, như thế lại là may. Khi Chung Hội và Đặng Ngải phá Thục, con Bàng Đức là Bàng Hội, tìm giết sạch cả nhà họ Quan ở Thục để trả thù cho cha bị Quan Vũ giết. Vì vậy, dòng dõi của Quan Vũ chỉ còn Quan Việt.
Khi Tấn lấy Ngô, Quan Việt lấy lại họ Quan. Thời Thanh Ung Chính, dòng dõi của Việt có người ra làm quan và được vua Ung Chính ra một đạo dụ công nhận là dòng dõi Quan Vũ và Quan Bình.

Thứ Bảy, 28 tháng 3, 2015

Bình Tam Quốc: Lưu Chương mất Thục

Lưu Chương tự Quý Ngọc, con Lưu Yên, một trong các sứ quân hùng mạnh thời Hán Mạt cát cứ Ích Châu. Trong Long Trung Sách, Gia Cát Lượng cho rằng: Lưu Chương ngu hèn bất lực, do đó đặt mục tiêu cho Lưu Bị phải lấy Ích Châu chia ba thiên hạ.
Tuy nhiên, cần phải phân tích thêm nguyên nhân mất Thục của Lưu Chương. Kỳ thực, Lưu Chương không phải bất tài về quân sự. Trước khi Lưu Bị vào Ích Châu, Lưu Chương đã đánh dẹp được các tập đoàn quân sự lớn tại Ích Châu và các lực lượng của nhà Hán do Đổng Trác cử vào Ích Châu. Khi đó Lưu Chương có những biện pháp quân sự kiên quyết. Về mặt kinh tế, Ích Châu dân giàu nước mạnh, quân nhiều tướng khỏe, lương thảo đầy đủ, chắc chắn Lưu Chương cai trị Ích Châu không thua Lưu Bị, Gia Cát Lượng sau này. Về người tài, cả văn lẫn võ, Lưu Chương đều có đủ. Về tham vọng, Lưu Yên nhập Thục là đã có dã tâm cát cứ, cắt đường sạn đạo, sẵn sàng đối chọi với nhà Hán, tích lũy lương thực, tuyển binh tráng, chế tạo khí giới. Lưu Chương thừa kế cơ nghiệp của cha, không phải không muốn làm bá một phương. Bản thân Lưu Chương cũng là một người nhân nghĩa, biết thương dân. Khi Lưu Bị áp sát Thành Đô, binh lực, lương thảo của Lưu Chương vẫn còn đủ sức chống cự lâu dài, nhưng Chương nói "Ba năm chiến tranh, xương trắng đầy đồng, dân Ích Châu có tội gì, đều là lỗi tại ta chưa có ân đức gì với dân chúng." Điều đó thể hiện Lưu Chương biết nghĩ tới dân.  
Lưu Chương mất Ích Châu là do sai về phương lược, và thiếu tính chủ động cần thiết. Trong thời loạn, những kẻ sĩ dù giỏi và đã là chư hầu một phương nhưng lừng khừng, lười biếng, thiếu chủ động  như Công Tôn Toàn, Khổng Dung, Lưu Biểu,... đều thất bại. Bước đầu tụ thủ một phương, tích trữ thực lực, cắt đường sạn đạo, cắt rời Ích Châu khỏi Trung Nguyên là đúng. Nhưng áp dụng kế yên thân này mãi mãi, trong khi có nhiều kẻ nhòm ngó, mưu xâm chiếm như Tào Tháo, Lưu Bị lại là sai, không tính kế lấy tiến làm thủ thì cuối cùng "người là dao thớt, ta là thịt cá" để thiên hạ đến mổ xẻ.
Tín hiệu cho thấy là chính sách thủ một phương sai là ở việc để mặc Trương Lỗ xưng hùng ở Hán Trung. Trước đó mẹ Trương Lỗ, có nhan sắc, lại theo một tôn giáo mới, có qua lại giao thiệp với Lưu Yên. Do đó Lưu Yên để Trương Lỗ truyền bá tôn giáo Gạo tiến tới làm chủ Hán Trung với tư cách một chư hầu độc lập thuộc phạm vi cai trị của mình, trong khi đáng lẽ phải nắm lấy Hán Trung. Đây là một tâm lý lười biếng, nghĩ rằng dùng Lỗ làm bình phong chắn phương Bắc, để Lỗ lo việc cự Tào Tháo, nghĩ rằng mình sẽ không phải lo. Thực ra, xu thế sẽ là cá lớn nuốt cá bé để cuối cùng sẽ trở thành những tập đoàn lớn hơn. Nếu không biết nắm lấy thời cơ để trở thành một tập đoàn đủ lớn, sớm muộn cũng không thể tồn tại. Hán Trung vốn đã nằm trong tầm tay lại để vào tay Trương Lỗ, trở thành một ẩn số, không thể chủ động khống chế. Trong một thế cuộc hỗn loạn đã nhiều ẩn số, lại thêm một biến số không thế điều khiển, đó là sai.
Điều thứ hai, Lưu Chương lại dựa vào tập đoàn Đông Châu, là các lực lượng bên ngoài tới Ích Châu mà không nắm được tập đoàn hào mục Ích Châu. Nếu không nắm được thì phải cai trị bằng bàn tay sắt, rồi mới có ân huệ. Tuy nhiên, Lưu Chương lại thi hành một chính sách khoan dung, mà những kẻ được hưởng không hề biết ơn, trở nên kiêu căng phóng túng, không kiểm soát được, những kẻ sĩ đang đợi được trọng dụng, thay thế các quan chức cũ nằm trong tay hào mục,  như bọn Trương Tùng, Pháp Chính, Mạnh Đạt, Bành Dạng,... bất mãn.
Sai lầm trực tiếp là muốn dùng Lưu Bị để chống Tào Tháo, đó cũng là tâm lý lười biếng. Thực ra, kế sách này cũng không phải ngu dốt như La Quán Trung mô tả, mà là do cách thực hiện yếu kém. Khi đó, Lưu Bị đang không có đất cắm dùi, mới nắm được năm quận ở Kinh Châu với tư cách là mượn của Tôn Quyền, trong đó 3 quận phải dùng vũ lực để chiếm, không thu phục được quan dân, đe dọa bị mất bất cứ lúc nào. Thực tế, khi Lưu Bị vào Thục, Quan Vũ đã làm mất cả 3 quận này, do điều đình mới được Tôn Quyền nhường thêm cho quận Công An. Nắm được tâm lý đó, Lưu Chương muốn lợi dụng Lưu Bị để chống Tào Tháo, kể ra cũng không phải là không biết phân tích thời thế. Nếu thay vì hoàn toàn nhờ Lưu Bị, mà liên kết với Lưu Bị đánh Hán Trung, lợi dụng việc Lưu Bị đang khát chỗ ở mà lấy Hán Trung và tiến lên lấy toàn bộ Lũng (địa bàn sau này của Quách Hoài) và địa bàn của Mã Đằng Hàn Toại khi đó đã thất thế, tranh thủ mở rộng thế lực.
Sai lầm tiếp theo của Lưu Chương là không có chủ kiến, dễ bị ảnh hưởng bởi một số ý kiến lười biếng, hợp với tâm lý của mình, mà không chịu tiếp thu các ý kiến phải mất công, nỗ lực, khác với tư tưởng ngại khó của mình. Đã có tính cách lười biếng như vậy, thì không nên làm minh chủ, mà nên theo một người làm chỗ dựa vững chắc, làm một chức quan to, biết nghe lời là đủ. Khôn ngoan nhất vẫn là theo Tào Tháo, chắc chắn vẫn được làm thứ sử Ích châu. Sau này muốn vớt vát, thì theo Lưu Bị ngay từ đầu, không đến nỗi bị đày ra Công An. Cuối cùng, khi Tôn Quyền lấy Kinh Châu, Lưu Chương lại nhận chức Mục Ích Châu do Tôn Quyền phong mà không có một tấc đất Ích Châu, chẳng phải là lựa chọn ngu nhất hay sao.
Phàm là ở một vị trí nào đó trở lên, con người phải chọn giữa việc kiên quyết chủ động tiến lên hoặc lùi bước nương tựa vào một thế lực mạnh hơn, nếu thấy mình không đủ tư cách. Ví như Tào Sảng, nếu tiến lên một bước nắm lấy vua, hiệu triệu thiên hạ đủ làm Tư Mã Ý khốn đốn, gặp họa chu di tam tộc. Nhưng chí của Tào Sảng "chỉ làm một ông nhà giàu là đủ" để đến nỗi gặp họa diệt tộc. Nếu như vậy chi bằng ngay từ đầu, hùa theo Tư Mã Ý,  làm một chức đại tướng quân bù nhìn, rồi thoái lui làm Tam Công là đủ.
Chỉ tiếc thay cho những người kỳ tài như Hoàn Phạm, Trương Nhiệm đã đặt niềm tin vào những thủ lĩnh thiếu tính chủ động như Tào Sảng, Lưu Chương, chết mà không đáng.
Vì vậy, nói Lưu Chương mất Thục không phải do năng lực, tri thức và lực lượng mà là do sai ở tính thiếu chủ động, vì thiếu chủ động nên lười biếng, không có chủ kiến, lười biếng không có chủ kiến thì phụ thuộc vào người khác, nếu may, các đối thủ đều ngu thì có thể thoát, nhưng đụng vào Lưu Bị là tay kiêu hùng không thể thoát.

Thứ Ba, 24 tháng 3, 2015

Bình Tam Quốc: Chỉ có lên chứ không thể xuống một bậc

Đời Ngụy Chủ Tào Hoán, Tư Mã Chiêu ức hiếp vua, Ngụy chủ buồn bực mà làm ra bài thơ Rồng Lặn. Chiêu dặn Giả Sung: người này không tính sớm sẽ sinh chuyện. Giả Sung thưa: Tôi sẽ vì Chúa Công mà lo việc này.
Nhân có thiết triều, Tư Mã Chiêu đeo gươm lên điện. Ngụy Chủ run sợ. Quần thần đều nói: Nay Đại tướng quân công cao trùm thiên hạ, nên phong Tấn công, thụ cửu tích. Ngụy Chủ cúi đầu không nói gì. Tư Mã Chiêu quát: Cha con anh em tôi vì bệ hạ công lao không đáng Tấn Công sao. Ngụy Chủ nói: Đâu dám không nghe. Chiêu cười nhạt rồi lui.
Ngụy Chủ về cung buồn bực, bàn với Vương Kinh: Tư Mã Chiêu khinh rẻ thiên tử. Trẫm trước sau cũng bị hại. Chi bằng gọi thiên hạ cùng đánh nó. Bèn thu thập tả hữu được mấy chục người hò reo đánh trống, tiến ra cửa Nam để đánh Tư Mã Chiêu. Vương Kinh khóc: Bệ hạ đi chỉ có chết uổng thôi.
Giả Sung dẫn đầu quân ngự lâm gặp Ngụy Chủ. Binh lính đều sợ vua có ý chùn lại. Giả Sung hất hàm bảo Thành Tế: Ông Tư Mã nuôi các ngươi là dùng ở lúc này. Thành Tế vác kích đến trước mặt Ngụy Chủ. Ngụy chủ vừa kịp mở miệng mắng "Thằng thất phu to gan" đã bị Thành Tế đâm một kích xuyên người chết tại chỗ. Quân hầu chạy tán loạn. Vương Kinh mở miệng mắng Thành Tế giết vua cũng bị Tế giết chết.
Tư Mã Phu, ông chú của Tư Mã Chiêu, nghe tin, nằm gối đầu lên chân Tào Mao khóc: Bệ hạ bị thế này cũng là lỗi tại thần đây.
Tư Mã Chiêu gọi quần thần tới thương nghị thấy thiếu Trần Thái, bèn cho người đi gọi. Thái mặc áo tang vào khóc lóc thảm thiết. Chiêu hỏi Thái: Bây giờ nên làm thế nào. Thái nói: Bây giờ chém Giả Sung mới mong tạ tội với thiên hạ một chút. Chiêu hỏi: Liệu có xuống được một bậc không. Thái nói: Chỉ có thể lên chứ không thể xuống. Chiêu bèn ghép Thành Tế vào tội đại nghịch bất đạo, giết cả họ.
Mao Tôn Cương bàn: Ý Trần Thái nói Tư Mã Chiêu mới là thủ phạm chính. Ngày xưa, Triệu Chiên giết vua, Triệu Thuẫn còn ở trong triều, lại không giết Chiên, nên bị sử gia chép: Triệu Thuẫn giết vua. Khi Thuẫn trách quan thái sử, thái sử nói: Ngài là tướng quốc, cầm quyền lớn nhất, thân đang ở trong triều, Triệu Chiên là tay chân của ngài, giết vua làm sao ngài không biết, biết mà không trị tội Chiên, rõ ràng là ngài phải chịu trách nhiệm giết vua.  



Thứ Sáu, 13 tháng 3, 2015

Phiếm luận cuối tuần: Vòng tròn nhân quả và cách mở nút thắt Gordias của Alexander Đại Đế

Tìm ra mối quan hệ nhân quả (causality) là phương pháp tư duy quen thuộc để tìm hiểu thế giới. Giữa hai sự kiện hoặc hai sự vật, nếu có thể thiết lập một quan hệ nhân quả, một cái sẽ được xem là nhân, một cái sẽ được coi là quả. Nhân là cái có trước, sinh ra quả. Sư tồn tại của quả là tất yếu khi có nhân. Bằng cách đó, các nhà thông thái cho là giải thích được và tiên đoán được sự tồn tại của quả. Các nhà chính trị thích thú vì chỉ cần khống chế được nhân sẽ có thể nhào nặn quả như chơi đất sét. Trí thức được tưởng thưởng tốt hơn đám bình dân và có cơ hội gia nhập giới cầm quyền, chỉ để ngồi phát hiện ra các quan hệ nhân quả. Vận tốc đầu nòng súng và góc bắn là nhân, viên đạn bắn trúng đích là quả. Ném một người từ đỉnh Tháp Đôi New York, Tháp nghiêng Pisa hay Tháp Eiffel, bất kể sang tiện phú bần, tri thức, nhân cách, quan điểm ra sao đều có kết quả như nhau, và đều rơi với gia tốc trọng trường. Nhát cuốc trên cánh đồng bình thường hay trên Killing Field của Khmer Đỏ, đều tuân theo định luật Newton, có cùng phản lực và gây biến dạng tỷ lệ với xung lực. Khoa học và người sinh ra nó không có quan điểm, quan điểm và kết quả là do người dùng tạo ra. Động lực sử dụng tri thức lớn đến mức, nếu nó không được dùng cho một thế lực này, nó sẽ được sử dụng cho thế lực đối địch, giống như khương tuyến của chàng sĩ quan Hungari Feri được mời chào cho Nhà Thờ Chính giáo trước, nhưng rốt cuộc lại dùng để phá cổng thành Constantinople, thành trì của Chính giáo.

Không phải quan hệ nhân quả luôn luôn hoạt động tốt với tư duy con người. Nó cũng có thể lừa gạt con người, làm cho số phận của họ khốn khổ hơn. Ở đây, chúng tôi sẽ không bàn tới những tên bồi thông thái, chuyên tìm ra các mối quan hệ nhân quả giả tạo để kiếm chác và sẽ bàn tới các tính huống có vòng tròn nhân quả (causality cycle). Thực ra quan hệ nhân quả phần lớn chỉ có thể áp dụng được trong một giai đoạn nhất định, con gà là nhân đẻ ra quả trứng là quả chỉ trong giai đoạn con gà sinh ra và lớn lên đẻ trứng. Khi đã có quả trứng, đưa vào lò ấp và nở ra con gà con, đó lại là một giai đoạn với quan hệ nhân quả khác. Thói xấu của tư duy trí thức là tổng quát hóa, lấy kinh nghiệm cục bộ, áp dụng cho toàn thể. Cũng như đem tư duy Toán học áp dụng cho các vấn đề công nghiệp, đem tư duy triết học, chính trị bàn giấy áp dụng cho cuộc sống. Thành công của tính nhân quả là với các chu kỳ dài, thường là trong thế giới cơ học. Tuy nhiên có những trường hợp một quá trình diễn ra là một chuỗi liên tiếp quả và nhân đổi chỗ cho nhau. Điều đó rất thường xảy ra trong thực tế xã hội. Chẳng hạn, chúng ta hãy xem tính nhân quả trong việc một người nhân viên nói thẳng làm sếp nổi giận lôi đình. Có thể xem nói thẳng là nhân, lôi đình là quả. Nhưng thực ra, nếu sếp không có quyền nổi giận lôi đình, thì sẽ không có cơn lôi đình đó. Cơ chế của giận lôi đình không phải là xảy ra ngay tức thì và phát triển một cách tất định (deterministic) đến cao trào. Các nhà tâm lý đã chỉ ra cơ chế như sau, ban đầu sếp thấy hơi khó chịu, khó chịu sinh ra hơi giận, cơn giận đó lại gây là khó chịu hơn, khó chịu hơn sẽ gây giận hơn, và cứ như thế các vòng tròn khó chịu- giận sẽ xoay với tốc độ ngày càng tăng, nhân quả liên tục bị vi phạm để đổi vai với tốc độ ngày càng cao và bùng phát thành một cơn giận lôi đình. Nếu có cách gì chặn ngay vòng tròn đó lại thì sẽ không có cơn lôi đình. Con chó hung hăng sủa cũng bắt đầu từ tâm trạng sợ hãi, muốn trấn an sợ hãi phải hung hăng và sủa, Sủa hung hăng lại thấy sợ hãi thêm, lông gáy dựng đứng lên.
Các vòng tròn nhân quả trong thượng tầng kiến trúc đã gây ra những tranh luận rất tốn kém, "con gà -quả trứng", "vật chất-tinh thần", "văn học-cuộc sống", "nghệ thuật-nhân sinh". Cố công xác định cho được đâu là nhân là quả, thực là vô bổ, khi nhân quả chỉ là một vai trò có tính giai đoạn là một chức năng mà tư duy tạm gán để có thể giúp đỡ cho sự hoạt động của nó dễ dàng hơn, để suy luận, tư biện. Nhìn rộng ra, xã hội, cuộc sống hàng ngày, thế giới, vũ trụ có vô số vòng tròn nhân quả đang đánh lừa các tư duy thông thái sa vào vòng xảo biện, mất thời gian. Nhiều vấn đề rơi vào việc tranh luận nhân quả mà không bao giờ kết thúc tranh luận, không ai chịu ai, rồi phải dùng nắm đấm, súng ống, bom liều chết, vũ khí nguyên tử,... Vì vậy, trước khi bắt đầu một cuộc tranh luận, cần phải xem xét chúng ta có đang bị một vòng nhân quả đánh lừa hay không. Cố nhiên, trong phần lớn các trường hợp, các bên đều bị khóa chết vào vòng tròn đó, và có ảo giác là nếu vấn đề không ngã ngũ sẽ không làm được việc gì khác. Người ta thường nhầm tưởng xã hội tiến lên nhờ đấu tranh. Thực ra, đấu tranh là tất yếu khi xã hội tiến lên, nhưng khi đấu tranh thì xã hội sẽ dừng lại, thậm chí thụt lùi. Đấu tranh là cái giá phải trả chứ không phải động lực cho sự tiến lên. Đấu tranh là bắt buộc, nhưng không phải đấu tranh càng nhiều càng tốt, các xã hội chỉ biết đấu tranh không ngơi nghỉ là các xã hội chậm tiến. Tổ chức đấu đá quanh năm là tổ chức tụt hậu.
Alexander Đại đế, từ năm 333 trước Công Nguyên đã có cách giải quyết các tình trạng "tiến thoái lưỡng nan", "lang bạt kỳ hồ" cắt đứt vòng nhân quả như thế.
Tương truyền rằng, tại xứ Gordium, nhà vua Gordias đã để lại một cái nút thắt Gordias (Gordian Knot) với lời nguyền "ai cởi được nó sẽ có quyền lực bao gồm cả châu Âu và châu Á". Nhiều thế hệ trôi qua, rất nhiều người đã cố gắng nhưng không ai cởi được cái nút thắt  Gordias. Mùa Đông năm 333, nhà vua Alexander của xứ Macedoin, dừng chân lại Gordium và thử gỡ nút thắt này. Sau một hồi loay hoay không thành công, một tư tưởng vĩ đại chợt lóe lên, nhà vua tuốt kiếm chém nút làm đôi. Theo truyền thuyết, lời giải của Alexander làm Zeus chúa tể của các chư thần thích thú đến nỗi cầm lưỡi tầm sét vung lên lung tung. Suốt cả đêm đó trời đầy giông bão, sấm chớp ầm ầm. Chúa tể của chư thần đưa Alexander từ một công vương Macedoin hẻo lánh lên tầm Đại Để làm chủ cả hai châu lục.
Thông điệp của Alexander có thể bắt đầu chỉ đơn giản là "nếu ta không làm được cũng đừng hòng có ai làm được". Tuy nhiên, điều đó đã đưa đến một lời giải tuyệt vời, cho đến nay chúng ta vẫn còn phải học để chặt phăng nhưng vòng nhân quả vô tích sự kéo giãn bên này thì thít chặt bên kia. Cứ ngẫm mà xem, lời giải vung gươm chặt phăng những cái nút luẩn quẩn sẽ giải quyết vô khối vấn đề của cuộc sống do chính chúng ta tạo ra với ảo tưởng của mình.

  

EM TÔI Thơ của Huy Phương

Bài thơ của cha tôi gửi tặng cô tôi là nhà văn Thanh Hương

Thuở ấy miền Hương Ngự
Dịu dàng như một lá thư xanh
Một dòng sông xinh
Đôi bờ thông nhỏ
Có con đường ngát gió
Về Nam Giao bóng nắng chênh chênh.
Em tôi áo biếc hiền lành
Lòng vui bước rộn nhanh nhanh đường dài
Phấn thông tỏa xuống lưng đồi
Lòng em cùng với hương đồi lâng lâng
Em thích bóng trăng
Vờn trên trang sách ngỏ
Em thích nghe tiếng gió
Ngân dài trong đêm sương
Mùa qua dệt mộng bình thường
Lững lờ trong nhịp dòng Hương khoan hò.\
Nhưng rồi có một mùa thu
Nắng không vàng xao xác
Súng nổ, đô thành tan tác
Máu hồng hoen ố đường xanh
Hướng về núi Ngự chênh chênh
Mịt mù khói tỏa, dập dềnh súng ngân
Em tôi cũng lên đường
Một sáng mùa thu ấy
Trong tiếng gọi mười phương
Cả đô thành bừng dậy hiên ngang.
Mẹ già đưa tiễn bên nương
Ngùi ngùi tóc trắng, vương vương lệ sầu
Em cười: “Năm bảy tháng sau
Con về với mẹ, có sao mẹ buồn?”
Nắng vàng ngả bóng nẻo thôn
Em đi, bước rộn trên đường vui vui.
Rồi từ đấy xa xôi
Em ra miền Bắc Việt
Trập trùng cao núi biếc
Ngàn ngạn dải sương xanh
Bốn mùa áo biếc hiền lành
Em vui gian khổ, vui tình núi sông
Em mơ một thuở phản công
Trở về Hương Ngự miền Trung với mẹ già
Với trang sách nhỏ đơn sơ
Chiều chiều có bóng trăng mờ nghiêng nghiêng.
Đêm nay gió lạnh mênh mang
Em tôi có nhớ nẻo đường chênh chênh
Một mùa thông ngát màu xanh
Mai sau cờ đỏ rung rinh sao vàng.
                               Hà Tĩnh, 4.1950

SA MẠC Truyện ngắn của Huy Phương

Image result for Desert
Anh vừa ngồi vào bàn, viết được mấy dòng thì điện tắt. Cơ sự sẽ ra sao nếu sáng hôm nay anh không nộp được bài bình luận thời sự cho ông thư ký tòa soạn? Từ cửa miệng anh bật ra một tiếng nguyền rủa. Căn buồng bỗng tối như bưng. Anh rủa ai. Rủa cái anh nhà máy điện tùy tiện cửa quyền hay rủa số phận đã đem nhốt anh vào cái căn buồng không có cửa sổ này? Dẫu chỉ là viết một bản tin, việc đó cũng cần đến lòng say mê và cảm hứng. Nhưng có ai cần đến cảm hứng của anh kia chứ. Hai bàn tay anh sờ soạng trên cái mặt bàn ram ráp những vết mọt nhấm, giống như bàn tay một pháp sư lần tìm phép lạ. Cái bao diêm đây rồi. Một tia lửa bật lên vừa đủ hắt ánh sáng lên một cái thông phong đèn ám khói. Nhưng anh chưa kịp mừng rỡ vì cái điều may mắn đầu tiên trong một ngày thì từ phía ngoài sân đã nghe những chiếc xô sắt loảng xoảng va vào nhau và có tiếng hét bai bải của chị hàng xóm: Đứa nào trút xô nước của tao? Tiên sư cái con đĩ nào? Anh thở dài, ném que diêm xuống đất. Làm sao anh còn có thể quan tâm đến cuộc chiến tranh bên cái vịnh Ba Tư xa lắc ấy, một khi những cuộc chiến tranh vẫn cứ diễn ra hàng ngày, trong cái sân nhỏ kia, ngay trước cửa buồng anh.
Xứ Mêdôpôtami ở vùng Trung Á xưa kia vốn là một vùng đất phì nhiêu. Vậy mà do nạn phá rừng và khô kiệt nguồn nước, chỉ trong vòng mấy trăm năm, quá nửa đã trở nên một miền sỏi đá cằn cỗi. Hai hôm nay, kể từ lúc đi thăm ông bạn họa sỹ ấy trở về, không biết vì sao cái ý nghĩ về những vùng sa mạc xa xôi cứ luôn ám ảnh anh. Đã đến lúc, ngoài Đức ra, anh không có một người bạn nào khác trong cái thành phố này. Anh yêu Đức, chẳng phải vì những bức tranh của anh ta mà chỉ vì những gì anh trông thấy đằng sau những bức tranh ấy: một tài năng, một tâm hồn nghệ sỹ bẩm sinh. Chỉ có điều, luôn trong hàng chục năm trời này, Đức đã ra công cắt xén, nhào nặn tài năng ấy vào trong một cái khuôn tưởng tượng nào đó. Và tâm hồn anh, anh đã chà xát, vắt kiệt nó như một người thợ giặt tận tụy với nghề. Là bạn của Đức từ ngày còn trên ghế nhà trường phổ thông, từ những buổi đầu, khi Đức đang là một họa sỹ không có tên tuổi gì, anh biết rõ như thế. Nhưng thoạt tiên, điều ấy đối với anh mới đang là một linh cảm, một nỗi lo ngại mơ hồ. Hai ngàn năm trước Công nguyên, trên vùng đất Mêdôpôtami đúng là đã có một vương triều hùng mạnh, và năm trăm năm sau Công nguyên là cả một đế quốc cường thịnh. Sự suy sụp có thể là do một thái độ khinh suất đối với thiên nhiên, hoặc giả là lòng ham mê võ công và danh vọng đã làm hỏng tất cả. Còn đối với Đức, thì mọi biến đổi đã bắt đầu theo một lối khác. Những bạn bè gần gũi nhất của anh ở cái thành phố này hồi ấy hẳn vẫn chưa quên ba bức tranh sơn dầu ký tên Hoàng Đức, trưng bày ngay ở lối ra vào của phòng triển lãm tranh toàn quốc. Bức thứ nhất là một bức tĩnh vật và hai bức sau là hình ảnh của ngõ phố Hà Nội một chiều mưa với lối đi lầy lội, những gốc bàng già cỗi, những em bé nép bên vỉa hè ngước đôi mắt thơ ngây nhìn lên bầu trời, cả hai cùng một đề tài nhưng ở hai khung cảnh và sắc độ khác nhau. Báo chí nghệ thuật bình luận nghiêm khắc về ba bức tranh đó mà họ cho là đen tối về nội dung và suy đồi về phong cách. Thời kỳ đó, mỗi tác phẩm nghệ thuật, dẫu thuộc thể loại nào đều được xem như là một tuyên ngôn về chính kiến của tác giả. Hai bức “mưa chiều” mang ẩn ý bi quan của tác giả điều đó là khó chối cãi. Còn bức tranh tĩnh vật, chính vì nó từ chối không nói điều gì, nên ắt là một lời nói che giấu và đáng ngờ… Hoàng Đức thấy choáng váng vì bất ngờ khi đọc mấy bài báo ấy. Nhưng một con người như anh không chịu thất bại dễ dàng, sau một lần va vấp. Mình sẽ làm lại từ bước đầu tiên, Đức nói với anh như thế. Và quả thực anh đã làm, như anh nói. Anh mang giá vẽ lên Tây Bắc, lặn lội vào các tỉnh miền Trung, đến những nơi có chiến sự gay go nhất. Hai năm liền, gần như anh bặt tin, chỉ có vợ anh là thỉnh thoảng nhận được một lá thư, không có địa chỉ rõ ràng gửi về từ một nơi nào đó. Trên một trang giấy xé từ sổ tay ra, Đức nhắn anh một dòng ngắn ngủi: “Mình đang làm lại tất cả. Cuộc sống thật là lớn lao và đó là cái nguồn vô tận của nghệ thuật. Cậu hãy chờ xem những tác phẩm của mình”. Quả nhiên, cuối năm ấy, áp Tết, Đức đã trở về với những cuộn tranh bột màu, những phác thảo và ký họa, xếp đầy trong hai chiếc ba lô lớn. Căn nhà của Đức trở nên một phòng trưng bày suốt ngày nườm nượp khách ra vào, trong đó có đại diện quan trọng của các ngành văn hóa, những giáo sư mỹ thuật lão thành. Mọi người kinh ngạc trước hình ảnh mới mẻ và sống động mà tác giả đã ghi lại trên những tờ giấy như còn phảng phất mùi khói súng và cái màu nắng gió rực rỡ từ những dốc núi, bến sông, những công trường dã chiến trong hang đá. Anh cũng ngạc nhiên, nhưng với cái cảm giác bỡ ngỡ như chợt bắt gặp trên những bức tranh của bạn một con người khác hẳn, sắc sảo, tinh tường trên từng nét bút thật là khác lạ với người bạn họa sỹ mà anh từng biết lâu nay. Cũng không hẳn là như thế. Ở những ký họa chép lại một gương mặt thiếu nữ, một lối mòn gập ghềnh ven đồi, ánh đèn trong đêm hắt lên đôi mắt người lính trẻ, đây đó anh vẫn còn nhận ra cái sức rung cảm bí ẩn bắt nguồn từ một bản năng cảm nhận tinh tế và bộc trực nó vốn là cái nét tài hoa riêng biệt của Đức. Nhưng khi được bố cục thành những bức tranh thì tất cả đều mất đi, mà chỉ còn lại là những hình khối, mảng màu hướng về một ý định nào đó vừa chung chung mà lại vừa quá lộ liễu, làm tan biến hết những ấn tượng mạnh mẽ mà người xem vừa thấy nhóm lên khi nhìn vào tranh. Cảm giác ấy anh không thể nói với Đức. Vả chăng điều ấy phỏng có ý nghĩa gì? Sa mạc cũng có cái nét hùng vĩ riêng của nó. Và sỏi cát là cái gì, nếu không phải cũng chỉ là đất bị phong hóa, bị xói mòn mặt trời nung đốt hàng trăm, hàng ngàn năm mà hóa thân. Ai biết được xung quanh những thành cổ Babylon, một trong bảy kỳ quan thế giới, xưa kia đã từng có cuộc sống rực rỡ đến thế nào? Đức đã tìm thấy nghệ thuật trong lòng cuộc sống. Nhưng cuộc sống chỉ riêng nó phải chăng đã là cái khuôn của nghệ thuật? Đức không cần đặt câu hỏi đó vì anh tin vào tay nghề tài hoa của anh. Những năm sau đó, Đức vẽ tranh ngày một nhiều hơn, liên tiếp đi từ thành công này đến thành công khác. Bức sơn dầu “Bình minh rực rỡ” của anh, vẽ về nông trường chăn nuôi Tam Đảo được giải nhất trong cuộc triển lãm liên tỉnh. Bộ tranh thuốc nước “Ráng hồng” lấy đề tài từ một hợp tác xã đánh cá miền Trung được in lại trên các họa báo. Nhiều câu lạc bộ và cơ quan nhà nước đặt mua tranh của Đức. Các tờ báo hàng tuần và hàng ngày của thành phố coi như là một vinh dự được in tranh của Đức trên trang đầu vào những ngày lễ lớn. Anh hiểu Đức và mừng cho bạn. Người viết Thánh Kinh vẫn có thể là một nhà thơ lớn. Sự tích Phật tổ trên những bức phù điêu Ăngkovát là tác phẩm của những nghệ sĩ thực sự. Và Maia đã từng làm thơ về những chiếc đinh và thanh củi lò. Chỉ có điều, Hoàng Đức cứ mỗi ngày càng đi xa hơn. Anh sợ hãi cái lãnh đạm của dư luận. Anh sợ nỗi cô đơn và cái vắng lặng nhiều khi chính là dòng sữa thầm kín nuôi dưỡng những thai nhi nghệ thuật. Có nhà sử học nói những người Khơme xưa kia phải rời bỏ Ăngko vì nạn hạn hán đe dọa. Nhưng cũng có người nói đó chỉ là vì một nỗi sợ hãi bí ẩn, trong bước phát triển tột cùng của vương quốc. Để có những bức tranh tươi đẹp, Đức đã chưng cất tâm hồn anh thành một tinh dầu, một thứ nước thánh chỉ cần dùng cho các lễ hội. Cuộc sống rời bỏ dần những họa phẩm của anh, nơi đó hình ảnh cuộc đời và con người chỉ còn là đồ trang sức. Những năm về sau, hình như Đức cũng cảm thấy điều đó. Nhưng anh đã quá mệt mỏi để thay đổi. Cái công việc tự chưng cất mình đã làm anh kiệt sức. Và ở dưới đáy chiếc bình cất, qua năm tháng đã đọng lại nhiều tạp chất đục khoét cái cơ thể vốn không phải là khỏe mạnh của anh. Anh trở nên hoang tưởng. Anh đọc các bài nghiên cứu mỹ thuật và nổi giận khi người ta quên nhắc tới một bức tranh của anh. Anh mất ngủ nhiều đêm khi nghe một lời nói đùa vô tình của bè bạn. Anh nổi gai lên như một con nhím khi thấy báo chí tâng bốc có phần quá lời đối với một họa sỹ trẻ tuổi mà anh cho là bất tài. Rồi để khuây khỏa, anh lại vác ba lô lên đường. Nhưng những chuyến đi của anh cứ ngắn dần. Đức than thở là anh không vẽ được dễ dàng như trước nữa. Bởi vì, mình không thể lặp lại mình, anh nói thế. Chiếc bút vẽ của mình thì có hạn mà cuộc đời thì biến đổi quá nhanh. Đức đã gặp lại cô du kích năm xưa nay trở nên một cô mậu dịch viên đanh đá và tham lam. Người anh hùng lái xe hồi nào từng làm mẫu cho nhiều ký họa của Đức thì nay đang là một anh phó ty Giao thông trưởng giả và xảo quyệt. Thần thoại chỉ là vĩnh cửu trên những bức phù điêu, còn bên cạnh các kim tự tháp từ mấy ngàn năm con người đã tàn phá thiên nhiên, biến đất màu thành sỏi đá. Đức muốn con đà điểu rúc đầu trong cát. Anh cấm ngặt vợ con không nói đến chuyện giá rau, giá thịt trong bữa ăn. Mà không biết mỗi quả trứng, lá rau trên mâm cơm gia đình, vợ anh đấy thôi cũng phải xoay xở lo liệu bằng bao mưu tính. Mùa đông năm ấy bàn tay tài hoa của Hoàng Đức đã không thể giữ vững được bút vẽ. Anh là người đầu tiên nhận thấy triệu chứng căn bệnh của Đức mỗi lần đến chơi khi thấy Đức nâng chén mời nước anh mà run rẩy đến mức để nước sánh ra, lênh láng trên mặt bàn.

*
Cát còn có sức chảy dữ dội hơn nước nhiều lần. Người ta nói ở Ai Cập đã từng có nhiều thành phố cổ bị chôn vùi trong cát. Còn anh, hồi còn bé anh đã thấy ở bờ biển quê anh những đụn cát cao như núi mỗi ngày đêm có thể xê dịch hàng trăm mét và đã có những làng mạc bị quét đi dưới bước chân khổng lồ của cát. Nay thì cái ngôi nhà anh đang ở đây, giữa lòng thành phố, cũng đang có nguy cơ trở thành sa mạc. Khuôn sân vuông vắn xưa kia có hòn giả sơn, có chậu cảnh kê một dãy dài bên tường hoa nay chỉ còn là một mặt đất lát gạch, trơn nhão những rêu và rác rưởi mục nát trộn lẫn với nước xà phòng, nước gạo. Những viên gạch cũng chẳng còn nguyên vẹn. Từ hai tháng nay, những người sống quanh sân đã đào bới chúng lên để vét cống và tìm nguồn nước. Cái vòi nước công cộng bị bẻ cụt dần và nay thì người ta đang moi xuống mãi lòng đất để cưa, để cắt, để đục, hy vọng có thể làm bật lên cái dòng chất lỏng, thiếu nó thì cuộc sống không tồn tại trên trái đất. Sa mạc làm gì có chim muông và cá. Thậm chí cũng hiếm thấy có loài động vật nào ngoài lạc đà, các con vật thuộc bộ gặm nhấm và giống kỳ nhông mình đầy gai nhọn. Riêng ở Xahara, gần các ốc đảo, thỉnh thoảng người ta cũng nghe thấy tiếng rú của loài linh cẩu còn hung tợn hơn chó sói. Chiến tranh hàng ngày xảy ra trên cái sân con này. Và khi anh nhóm được lửa, nấu xong ấm nước thì tiếng la hét đã dậy lên bốn phía, tiếng tru tréo của đàn bà lẫn với tiếng giẫm chân thình thịch. Trên hành lang, không một ai động cựa. Trời đã đủ sáng để soi rõ những chuồng gà, chuồng vịt, những chạn ăn, những tủ bếp dầu kê ngổn ngang bên lối đi. Chị bác sỹ vừa đi xuất khẩu lao động ở Ăngôla về nửa năm nay, như thường lệ, vẫn ngồi đeo kính, trang trọng nhặt từng hạt thóc trong cái rá gạo nấu cơm sáng của chị. Xa hơn một chút, ông hàng xóm làm nghề phê bình văn học, gầy như một chiếc giá áo ở hiệu may, đang bình thản múa bài nhu quyền theo phép dưỡng sinh. Chị bác sỹ đã đủ giàu để trở nên keo kiệt và ích kỷ chẳng thiết để ý gì đến các bệnh tật của người đời. Còn nhà phê bình chuyên nghiệp kia, ông đã đủ thấm thía cái nghèo khó của nghề văn để chẳng thừa hơi quan tâm đến cái đúng cái sai trong những vụ tranh giành vì một xô nước trên cái sân gạch nhão này. Cũng như ở vịnh Ba Tư và nhiều nơi trên thế giới, chiến tranh cứ việc diễn ra và tự kết thúc, dẫu có ý kiến của Hội đồng Bảo an hay là không có. Vả chăng, ai mà can thiệp nổi vào một cuộc chiến tranh khi mỗi người đều có mang một cuộc nội chiến ở trong lòng. Giây lát đó, choáng váng vì những la lối, chính anh cũng đang bàng hoàng như trong một giấc mơ. Anh chỉ sực tỉnh, khi từ căn phòng ngay phía trước mặt, anh thấy nhao ra cái thân hình nhỏ nhắn của một người con gái. Trong chùm ánh nắng rọi chếch từ góc tường hoa sạt lở, anh thấy gương mặt tái nhợt của cô với đôi mắt đỏ ngầu bên dưới một mái tóc bù rối. Huệ! Anh chỉ kịp kêu to lên một tiếng thì cô gái đã lao vào giữa đám đông, chiếc gậy lớn trong tay vung lên. Chị hàng xóm to béo đứng ở góc sân trượt chân, ngã xoài về phía sau cũng là lúc cây gậy nện choang vào chiếc xô sắt, nước tung tóe lên giữa những tiếng hò la, chửi rủa. Ba bước chân, anh đã ở bên cạnh cô gái, tay níu chặt lấy hai vai cô. Huệ ngước lên, mắt đã dại đi, trắng dã, không còn nhận ra anh nữa. Bỏ tôi ra, giời ơi, ông có bỏ tôi ra không nào? Tiếng hét líu lại trên đôi môi tím ngắt, sít chặt thành một vạch rúm ró. Giống như tiếng gió rít qua một khe đá.

*
Anh dắt xe đạp ra sân, buồn bã. Một người nào đó cưỡi chiếc Honda đỏ chói vút qua bên cạnh anh, chiếc mũ lưỡi trai quay ngoắt lại; một tiếng quát chát chúa hắt vào mặt anh: Thằng già kia mù à? Mày đi thế hả? Không, anh không mù. Anh chỉ đang điếc và câm. Anh như đi trong một đám sương mờ dày đặc, giống như thứ ảo giác mà những kẻ lữ hành thường gặp trên sa mạc. Ừ, không biết Huệ, cô giáo nhỏ nhắn ấy có bao giờ xem tranh của Hoàng Đức không? Cô có bao giờ mơ ước đến một “Bình minh rực rỡ” hoặc trông thấy “Ráng hồng” giữa bầu trời? Cô chưa có người yêu và vẫn sống một mình trong căn phòng nhỏ ấy kể từ ngày ông bố góa vợ của cô trở về miền Nam. Cô ham đọc sách, bởi vì không đủ tiền mua sách, thỉnh thoảng cô vẫn sang hỏi mượn anh những cuốn mới nhất: Con tàu trắng, Trăm năm cô đơn và Cõi người ta. Cô đọc ngấu nghiến những cuốn tiểu thuyết đó, và khi anh dò hỏi cảm tưởng của cô, Huệ chỉ đỏ bừng mặt, đôi mắt long lanh. Một chiếc tàu lênh đênh ở chân trời, góc biển, những con người thân phận mỏng manh trong một làng xa Nam Mỹ, cánh bay giữa những vì sao và sa mạc: những chuyện đó đã đem gì đến trong cái tâm hồn đang khép kín của một cô giáo cấp hai? Anh biết sao được nơi cái khung trời chật chội phía trên mảnh sân lầy lội này, mỗi đêm ngồi bên chiếc bàn ghép bằng gỗ thùng, bê bết những vết mực xanh, mực đỏ, cô gái kia đã trông thấy những gì? Gương mặt của một kẻ tử vì đạo còn chưa tự hiểu mình kia có thể được ghi lại trong những bức ký họa nào của Đức. Và đó là gương mặt thật của Huệ hay là gương mặt của cô khi ngước lên nhìn anh với tiếng la hét và chiếc gậy trong tay? Con chó bông hiền lành nằm ở thềm nhà phải chăng có tổ tiên là chó sói. Con linh cẩu hung dữ vì bản tính hay chỉ vì nó sống lưu đày trên sỏi đá?
Anh tạt vào một quán cà phê bên đường. Bà chủ quán ngạc nhiên thấy anh gọi liền một lúc hai cốc cà phê. Ôi, sao lúc này anh thèm khát có một người bạn bên cạnh mình. Hai cốc cà phê đặt trước mặt giúp anh dịu bớt cái cảm giác cô đơn quay quắt, đến gần như nhục nhã. Dẫu sao, anh phải viết cho xong bài bình luận thời sự về cuộc chiến tranh vùng vịnh Ba Tư trước khi đến trụ sở, phải nhìn thấy gương mặt nhạt nhẽo và nghiêm nghị của ông thư ký tòa soạn. Viết cho xong, trước đôi mắt nghi hoặc của bà chủ quán có lắm nhẫn vàng, ngay trên chiếc bàn đầy vệt tàn thuốc lá và cáu bẩn này. Ước sao anh có được cái bình tĩnh của Đức mỗi lần anh ta khoác ba lô lên vai để lên đường và cái tự tin của anh ta nữa, mỗi lần đứng trước giá vẽ, ngày nào…
*
Hoàng Đức không khá lên được bao nhiêu sau ba tháng nằm bệnh viện. Anh uể oải ngồi dậy khi thấy bạn bước vào, tay chống lên những tờ tạp chí bỏ vương vãi khắp đầu giường.
Người mới tới ngồi vào chiếc ghế bành bên cửa sổ. Anh cố ý ngồi đó, để có thể ngắm nhìn Đức một cách kỹ lưỡng hơn. Đức có sắc mặt đỏ đắn hơn trước một chút, nhưng đôi mắt lại có vẻ mệt mỏi, thẫn thờ hơn.
- Thế nào? Đỡ nhiều chứ? - Anh hỏi, mắt vẫn theo dõi từng cử chỉ của Đức.
- Chẳng hơn gì! - Cái đầu của Đức khẽ lúc lắc trên một thân hình bất động - Vẫn nhức đầu, tức ngực và đau bụng từng cơn. Chỉ có điều, chắc là chưa thể chết.
Anh phì cười:
- Ờ, ờ, thì mình vẫn nói mãi với cậu như thế mà. Rốt cuộc thì mình vẫn là người chẩn đoán đúng nhất cho mà xem. Cậu chẳng có thứ bệnh tật nào giống như các ông thầy thuốc họ nghĩ ra cho cậu đâu.
Đức ốm lay lắt đã hơn một năm trời. Anh không muốn đi khám bệnh, một phần vì không tin, phần khác là vì anh sợ các bác sỹ sẽ nói lên cái sự thật mà anh muốn giấu giếm ngay cả với chính mình. Anh uống hầu hết các thứ thuốc những người quen biết mách cho anh. Thuốc đau gan, dạ dày, đường ruột. Và nhiều nhất là những liều thuốc an thần giúp anh ngủ được và khuây khỏa những cơn đau vô cớ cứ thường dằn vặt anh về đêm. Và khi đã cho anh uống đủ các thứ thuốc thì tuy không nói ra mà, kể cả vợ anh, mọi người đều nghĩ rằng anh đang mắc cái chứng bệnh hiểm nghèo mà cả loài người đều lo sợ, cái chứng bệnh nó là bản án tử hình đối với kẻ bất hạnh. Chỉ có riêng bạn anh, người đang ngồi trước mắt anh đây là chưa bao giờ tin như thế. Anh đến thăm Đức đều đều mỗi tuần, sau mỗi kỳ báo, nộp bài xong cho tòa soạn. Câu chuyện giữa hai người vẫn thế: những suy nghĩ, những băn khoăn bất tận về đời sống, về thời cuộc. Anh cố tình nói trêu chọc để khuấy động cái tâm trạng mỗi ngày một thêm u uẩn, giống như một lớp cặn xuống ngày một dày thêm trong con người của Đức. Anh muốn bạn mình có cảm giác là đối với anh ta, mọi sự đều bình thường. Nhưng cái công việc ấy mỗi ngày một thêm khó khăn. Trái ngược hẳn với bản tính xưa kia của anh, Đức trở nên ít lời, giống như anh đang thu mình lại, xa cách với mọi biến đổi ở xung quanh. Rồi ngay đến nghệ thuật cũng không làm anh quan tâm nữa. Ngồi trước mặt bạn, đôi mắt của Đức là đôi mắt của con người quay về phía bên trong, nơi đó là những dằn vặt, những cơn đau lặng lẽ, do một chứng bệnh mà không một ai, kể cả Đức có thể biết được. Ở bệnh viện, người ta đã soi quang tuyến, chụp hình từng ngóc ngách trong ổ bụng anh, thử máu hàng chục lần, làm sinh thiết gan, ruột, dạ dày, thử phân, nước dãi, sục tìm bất cứ nơi nào có thể nghi ngờ tìm thấy một khối u nào đó. Cái công việc vô hiệu ấy trong ba tháng trời ròng rã chỉ làm cho các đường dây thần kinh của Đức thêm rệu rã. Người ta lại trả anh về nhà sau khi đã bón thúc cho cái cơ thể suy kiệt của anh bằng một loạt các thứ thuốc tăng lực và sinh tố. Vợ con anh mừng rỡ. Bè bạn trong giới nghệ thuật đến tặng hoa mừng anh. Mọi người coi anh như vừa thoát hiểm trở về. Mà không một ai để ý đến đôi mắt thất thần, cái dáng đi thờ thẫn của người mộng du và gương mặt bì bì, bất động của anh. Ở sa mạc, khi con người uống hết giọt nước cuối cùng, bắt đầu trông thấy trước mắt hiện lên những hồ nước, những dòng sông, những thành phố lộng lẫy, đó là khi con người đó sắp lìa đời. Cái chết làm nên những ảo ảnh. Và ảo ảnh, đến lượt nó lại làm nên cái chết, ảo ảnh về một đế quốc thuần chủng đã tạo nên Hitle. Ảo tưởng đã từng một thời gieo rắc bao tang tóc lên đất nước Khơme cổ kính. Còn nghệ thuật khi nó rời bỏ cuộc sống thực, cũng có thể tạo nên những ảo giác nguy hiểm. Đôi mắt thất thần của Đức đã từng nhìn thấy ráng hồng ở nơi chỉ có màu xanh, và thấy tráng lệ, rực rỡ ở nơi chỉ có cuộc sống bình thường, hồn hậu. Căn phòng với bốn bức tường la liệt những bức tranh nhiều màu sặc sỡ vây quanh gương mặt của Đức lúc này, anh chợt thấy rờn rợn cái khung cảnh của một điện thờ. Và từ đáy lòng, anh thấy nhói lên một nỗi lo âu đến choáng váng cả đầu óc:
 Anh nói buột ra điều đó, như phải cất một gánh nặng. Như người thầy thuốc phải bấm một cái huyệt cốt tử trên thân thể người bệnh. Và anh trông thấy gương mặt của Đức tái nhợt đi. Anh ta đặt tay lên ngực, rên lên một tiếng khe khẽ. Rồi lập cập đứng dậy, nói như nói một mình: Muộn rồi, tất cả đều muộn rồi!- Này Đức, cậu có bao giờ hối tiếc là đã vẽ nhiều tranh đến thế không? Có bao giờ cậu nghĩ cho thật kỹ là những bức tranh như thế có lợi và có hại gì cho những người xem tranh của cậu không?
*
Anh đến cơ quan trưa hôm ấy, vẫn còn kịp gặp ông thư ký tòa soạn để nộp bài bình luận thời sự của anh. Các căn phòng đều đã vắng tanh. Chỉ có cô thường trực và cô y tá cơ quan đang ngồi ghếch chân lên chiếc bàn ở phòng khách, chụm đầu vào tờ tạp chí thời trang, vừa chỉ trỏ vừa cười rúc rích. Anh muốn tạt vào gọi điện thoại cho vợ Đức nhưng sợ làm phiền hai cô gái. Mốt áo quần quả là cái trò ngốc nghếch. Nhưng nói cho đúng, thời trang cũng như thời sự, nó lôi cuốn chỉ vì nó thay đổi hàng ngày. Trong đời anh, anh đã đọc kể có đến hàng ngàn bản tin. Chẳng ai nghĩ là nên làm một bộ tổng tập các bản tin. Nếu như thế, người ta sẽ có cả bộ biên niên sử khổng lồ trong đó dễ thường có đến quá nửa là sự tích những việc làm rồ dại nhất của loài người, có phải thế không nhỉ. Theo thói quen mỗi ngày, anh ghé vào phòng tư liệu, lật qua những bản tin nhanh đã được cặp lại thành từng tập. Tin mới nhất: ở thành phố X, quận 8, một cô gái vào nhà người yêu rút chốt lựu đạn. Lựu đạn nổ, cô gái chết ngay tức khắc. Toàn bộ căn nhà bị thiêu hủy. Ở tỉnh Y, cô Nguyễn Thị Loan 17 tuổi, tự thiêu vì không chịu nổi cuộc sống chung với người dì ghẻ khắc nghiệt. Không một ai trong khu nhà vào dập tắt ngọn lửa. Cũng ở tỉnh Y: cuộc chạm súng giữa một toán cướp và nửa tiểu đội công an đi tuần tra trên quốc lộ 4. Một đại úy cảnh sát hy sinh, ba tên cướp bị bắn chết tại chỗ. Ở Atlanta, bang Georgia, Hoa Kỳ: năm vạn tấn dầu chảy tràn xuống sông. Các đội phòng chống ô nhiễm đang làm việc 24 giờ trên 24 để cứu con sông. Ở Trieste, Italia: một nhóm khủng bố đặt mìn trong phòng đợi nhà ga. Hai mươi tám hành khách bị thương nặng và thiệt mạng... Chỉ trong một ngày đã có bao tin tức như thế trong nước và trên thế giới. Đầu anh thấy ong ong cái nắng oi ả của một ngày hè muộn và cả cái nóng từ những dòng tin giống như thứ gió lửa thường thổi qua các sa mạc Bắc Phi. Giữa lúc ấy, mái tóc đen nhánh của cô thường trực chợt nhô vào ở khung cửa: A, chú vẫn còn ở đấy à? Có điện thoại gọi chú gấp từ bệnh viện. Anh ném tập bản tin xuống bàn chạy vội theo cô thường trực. Ở đằng kia dây nói, anh nghe vẳng đến cái giọng nói hổn hển của vợ Hoàng Đức.
Với chiếc thẻ phóng viên, anh tìm đến được ngay phòng cấp cứu mà không gặp khó khăn gì. Vợ Đức ngồi trên chiếc ghế dài ở hành lang lưng gập xuống, hai gò má ướt nước mắt. Trong phòng bệnh, lố nhố nhiều chiếc áo choàng trắng xúm quanh cái giường sắt, mùi cồn, ête nồng nặc. Qua những vai áo, anh trông thấy đôi mắt nhắm nghiền của Đức, cái thân hình gầy gò, giống như thân hình trẻ con chỉ còn hơi phập phồng ở nơi vùng ngực. Mà thật lạ, trên gương mặt của Đức lúc này là một dáng vẻ điềm đạm, hồn nhiên, gần như ngây thơ mà anh đã trông thấy một lần nào đó. Đó là gương mặt của con người sắp lìa đời hoặc đang tái sinh, gương mặt mà anh đã bắt gặp ở Đức hơn ba mươi năm trước trong một lòng khe cạn bên chân dốc Ba Rền, Quảng Bình. Trong chuyến đi lần ấy của hai người, từ Bình Trị Thiên ra, cơn sốt ác tính đã quật ngã Đức ở giữa đường. Năm ngày liền, dưới một mái lán bỏ hoang, dột nát, anh đã nuôi Đức với ít nước cháo nấu bằng mấy lon gạo cuối cùng dành cho cả hai người. Anh đã cố gắng cứu Đức bằng một thứ củ rừng giống như củ sả có mùi thơm hăng hắc mà cho đến nay anh vẫn chưa biết là loại củ gì. Nhiều đêm giữa cảnh hoang vắng đến tê lạnh của núi rừng, anh chợt thức giấc, nghe những con thú đi ăn đêm sục tìm mồi ngay dưới chân mình mà kinh hoàng với cái ý nghĩ chỉ cần anh thiếp đi chốc lát thì lúc tỉnh dậy anh sẽ không sờ thấy bạn ở bên cạnh mình nữa. Vậy mà, hết ngày thứ năm Đức đã hồi tỉnh. Và hai hôm sau, gặp một đơn vị bộ đội đi qua, họ đã giúp cáng Đức đi theo và cũng kịp cứu sống chính anh, lúc này đã lả đi vì đói.
Dẫu thế nào thì những con người như anh và Đức cũng không thể chết được vì những chứng bệnh thông thường. Chiến tranh đã không giết được họ. Bây giờ, cuộc sống bình thường này cũng đang ấp ủ trong lòng nó một thứ chiến tranh khác, giữa những con người với chính mình. Họ sẽ không bị loại bỏ dễ dàng chừng nào còn chưa chịu là người thua trận. Ở ngoài hành lang, một vị bác sỹ trẻ tuổi đi đến trước mặt anh. Infarctus: anh ta nói khe khẽ và lắc đầu. Nhồi máu cơ tim ư? Hết dạ dày, gan, ruột, rồi lại đến tim, thật là đơn giản. Một người như Đức, nếu chết thì đó chỉ là do đã vỡ ra một cái gì đó trong sọ não mà thôi.
Trên chiếc ghế dài, vợ Đức đã có vẻ trấn tĩnh hơn khi nhìn thấy nét mặt thản nhiên của anh. Bao giờ cũng vậy, chị tin vào sự sáng suốt của bạn chồng mình hơn là ở chính anh ta. Chẳng biết vì sao lại thế!
Image result for sa mạc hóa
*
Anh trở về nhà, đèn đường đã bật sáng. Một vài nhà trông ra vỉa hè, ngoắc trộm được điện, sáng trưng ánh đèn, trong khi các căn hộ khác vẫn tối om. Nhưng mọi người đều có vẻ phấn chấn. Từ đầu ngõ, có tiếng râm ran. Có nước rồi! Có nước rồi! Từ ngày mai, cuộc chiến tranh có cơ hòa hoãn vì người ta đã tìm thấy được dầu hỏa trên sa mạc. Trong lòng đất, sau một ngày ra sức đào bới, đám thanh niên trong khu nhà đã khám phá được ống nước cái. Và bây giờ thì các cậu đang trổ tài cưa, đục. Trên cái sân con, gần như không thiếu mặt một ai. Chị hàng xóm béo tốt, bà bác sỹ chủ nhân của ba chiếc xe Cub, toàn thể gia đình bác thợ khóa với mấy cô con gái to mồm và đến cả nhà phê bình văn học khổ hạnh vẫn thường lạnh lùng quan sát xã hội để răn đe các nhà văn. Ánh đèn bão hắt lên trên những gương mặt thân thiện, hoan hỉ. Giờ phút đó có cái không khí hòa hợp, long trọng chưa từng thấy, đến mức làm cho anh không nén nổi xúc động. Ôi hạnh phúc và những gì làm nên niềm vui cho con người quả là hiếm hoi mà cũng giản dị làm sao.
Anh vừa thắp được ngọn đèn dầu, thì thấp thoáng trước cửa có bóng người. Hành lang đầy bóng tối nên anh chỉ trông thấy nửa khuôn mặt của Huệ chập chờn trong ánh đèn. Huệ dừng lại ở bậc cửa, có ý không muốn vào nên anh phải đi đến gần cô.
- Cháu mang mấy cuốn sách sang trả chú và cũng để xin lỗi chú - Cô gái nói bằng giọng bối rối.
- Có gì đâu - Anh cười vui vẻ - Những cuốn ấy tôi đã đọc rồi. Cô giữ mà đọc đến bao giờ cũng được.
Huệ cúi xuống, tay mân mê bìa cuốn sách như có vẻ suy nghĩ. Rồi chợt ngước lên với đôi mắt rầu rĩ:
- Không phải đâu ạ. Cháu xin lỗi chú về một chuyện khác… Sáng nay cháu đã không phải với chú, không phải với mọi người. Nhất là với chú...
Giọng cô gái nghẹn ngào, ấm ức. Và anh nóng bừng cả người khi trông thấy từ đôi mắt đã nhòa đi của cô gái, những giọt nước mắt trào ra.
- Kìa Huệ, làm sao thế? Cô có lỗi gì với tôi đâu?
Anh nói lúng búng, không biết là mình đang nói gì.
Huệ lắc đầu và như hơi lảo đảo, phải tựa mình vào khung cửa:
- Không ạ. Chú hiểu cho cháu. Cháu xấu hổ lắm. Trong đời cháu, cháu chưa bao giờ như thế. Cháu biết làm cách nào để chú có thể hiểu được cháu.
Và cô đặt vội mấy quyển sách lên mặt bàn, chạy vội đi.
Phải làm gì để cô gái ấy yên tâm. Phải nói gì để cô ấy hiểu rằng cuộc đời của cô còn rất dài và lầm lỗi của cô không phải là tội ác so với tất cả những gì đã xảy ra trong ngày hôm nay trên trái đất. Hơn nữa, cô đã hối hận. Lần thứ hai, trong một ngày, anh đã trông thấy những giọt nước mắt. Thế mà ngày nào, anh và Hoàng Đức vẫn thường mơ tưởng đến một thế giới mà đi đến đâu cũng chỉ thấy những gương mặt phớn phở và nghe thấy tiếng cười. Chừng nào trái đất còn tồn tại thì ngày ấy con người cần phải biết xấu hổ về chính mình. Còn riêng anh, ngày hôm nay, lẽ nào anh lại không có điều gì đáng phải ân hận? Anh đã không dám phá những ống nước cũng như không ngăn cản người ta đục phá những ống nước, trong cái thành phố cũ kỹ đã rệu rã khô kiệt vì nắng mùa hè này.
Tối nay, anh lại trở vào bệnh viện. Chưa bao giờ anh cảm thấy tính mạng của mình gắn liền với chính mình đến thế. Nhưng rồi liệu Hoàng Đức có vượt qua được không? Điều đó, lần này đã rõ ràng là chẳng còn phụ thuộc vào ý muốn của một riêng ai được nữa. Nhưng anh sẵn lòng tin, như bằng một thứ linh cảm, là có một điều tốt lành sẽ đến.
Đèn đã bật sáng trong các ngôi nhà. Từ trong các ngõ xóm anh nghe thấy tiếng cười reo của lũ trẻ con. Giờ này chắc là Huệ đã ngồi vào bàn, trước chồng vở học sinh của cô. Ngày mai, cô sẽ đến lớp và bắt đầu bài trí nhớ, hình ảnh của một con tàu lênh đênh, một cánh bay giữa các vì sao và mênh mông sa mạc.

Image result for Ốc đảo