Dân tộc nào, thời đại nào cũng có người gàn. Socrates đốt đuốc tìm chân lý ban ngày. Diogenes sống trong thùng gỗ. Bá Di Thúc Tề không ăn thóc nhà Chu đến nỗi chết đói Thú Dương. Nhạc Phi cùng con trai bị hãm chết ở Phong Ba Đình vẫn tin ở "thiên nhật chiêu chiêu" (mặt trời sáng tỏ). Bùi Giáng rách rưới, đói khát, ngủ ngoài đường mà tự cho mình là trích tiên.
Chủ Nhật, 9 tháng 1, 2022
Chỉ những nền văn hoá lớn mới nuôi được bọn gàn
Thứ Hai, 6 tháng 12, 2021
NỬA TIẾNG CHUÔNG CHÙA
Mấy năm trước, nửa đêm tỉnh dậy nhìn sông Hồng, cao hứng dịch bài Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế:
Sương giăng quạ gọi trăng tàn
Lửa chài cây bến miên man nỗi sầu
Cô tô thành cũ còn đâu
Thứ Năm, 11 tháng 11, 2021
[Sử Việt] Danh tướng Nguyễn Đa Phương
Nguyễn Đa Phương là con danh tướng Nguyễn Nạp Hòa còn gọi là Sư Tề, do ông là thầy dạy võ nổi tiếng. Nạp Hòa chỉ huy vệ Thần Võ, được phong làm Bình Man Đại tướng Quân. Trong chiến dịch đánh Chiêm Thành, ông làm phó chỉ huy cho Đại tướng Đỗ Lễ. Quân ta kéo sâu vào hiểm địa, quân Chiêm đã phục sẵn, vua Duệ Tông không nghe lời can của Đỗ Lễ mang quân vào hiểm địa, mắc phục binh, toàn quân bị tiêu diệt. Các đại tướng Đỗ Lễ, Nguyễn Nạp Hòa, Phạm Huyền Lệnh đều bảo vệ vua đến phút cuối và tử nạn cùng với vua. Nguyễn Đa Phương là cha của danh tướng Nguyễn Cảnh Chân nhà Hậu Trần, chính là ông tổ của dòng họ Nguyễn Cảnh.
Trần Nguyên Đán
Ông là dòng dõi Thượng tướng quân, Chiêu Minh đại vương Trần Quang Khải. Là quan đầu triều đời vua Nghệ Tông nhà Trần. Được tiếng nho nhã, để lại nhiều thơ nhàn tản vào thời loạn, được nhiều kẻ sĩ cho là thanh cao, nhưng không hề có công tích hay mưu kế gì ích quốc lợi dân.
Thứ Năm, 26 tháng 8, 2021
MONG MANH TRÍ THỨC VIỆT
Không phải ông nào không biết làm gì ngoài đọc sách, hoặc có bằng cấp đều đã là trí thức theo nghĩa mà tôi hiểu. Khi một người bắt đầu suy nghĩ về ý nghĩa thực sự đằng sau kiến thức trong sách vở, tìm cách kết nối chúng lại với nhau và với sự tồn tại của chính bản thân mình, khi đó hắn mới có thể được gọi là trí thức, khác với đám thợ chữ trộn bê tông chữ, xây trát chữ để mưu sinh. Nước Nga có nhiều nhà khoa học, Viện sĩ lỗi lạc, nhưng điển hình trí thức là Perelman không hề có danh hiệu gì. Tính cách Perelman càng nhiều thì độ trí thức sẽ càng cao. Lăng xăng quan quyền lắm danh hiệu như Lysenko, Sedov, Mitchourin hay Fadeev không thể gọi là trí thức. Tuy rằng hành động tự sát của Fadeev cũng có chút phảng phất hơi hướng trí thức Nga theo kiểu Yesenin.
Thứ Ba, 17 tháng 8, 2021
Vua sáng nhất đời Tam Quốc
1. Vua Á Đông sướng hơn vua Âu Mỹ. Điều đó cũng như ong, kiến, mối chúa sướng hơn trâu, ngựa đầu đàn. Hoàng đế Trung Hoa lại càng sướng. Món ngon, vật lạ, mỹ tửu, giai nhân, thậm chí mỹ nam (tin tôi đi, ngày xưa ở Trung Quốc, gay và lesbian còn nhiều hơn ở Mẽo bây giờ) loại thượng hạng, vưu vật bao nhiêu cũng có. Làm vua về nguyên lý sướng như vậy nên tranh nhau làm vua. Bạn bè, đồng liêu tranh đoạt không nói. Cha con, anh em cũng giết nhau như ngoé. Lên được ngôi rồi lại suốt ngày suy nghĩ lo giữ ngôi. Nghe nói Tần Thuỷ Hoàng, Hán Cao Tổ đọc và phê tấu chương từ sáng sớm đến khuya, rượu ngon, gái đẹp không hề sờ tới. Vài năm là lăn ra chết.
Thứ Bảy, 17 tháng 7, 2021
TAM GIÁC QUỶ CỐC
TAM GIÁC QUỶ CỐC
Chủ Nhật, 14 tháng 6, 2020
HAI BÀI ĐIẾU VĂN GIÁO SƯ NGUYỄN HUY NHU
Do sinh viên đại học Sư Phạm Huế đọc tại lễ an táng cố Giáo Sư Nguyễn Huy Nhu (Sưu tầm trong Đại học Sư phạm Huế, Tập 1, Dòng Việt (1999)) Được biết Dòng Việt số 10 sẽ nói về Đại học Sư Phạm Huế. Để hưởng ứng lời kêu gọi của Ban Chủ biên Dòng Việt, tôi xin gửi hai bài điếu văn sau đây của sinh viên Ban Việt Hán 1961 trường Đại học Sư phạm Huế đọc trong lễ an táng cố Giáo Sư Nguyễn Huy Nhu.
Giáo sư Nguyễn Huy Nhu sinh năm 1886, người xã Vạn Lộc, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, Cử nhân Khoa Kỷ Dậu (1909), Tiến Sĩ khoa Bính Thìn (1916), sung chức giáo thụ và suốt đời ở trong ngành giáo (Nguyễn Ái Việt: Chi tiết này chưa hoàn toàn đầy đủ. Ông tôi từng làm Giáo thụ Quảng Ninh, Quảng Binh. Tri phủ Nga Sơn, Hòa Đa, rồi về làm Lang Trung, Tá lý Bộ Lễ, trước khi cáo quan về khai rẫy ở Quảng Bình. Ngày nay ở thành phố Đồng Hới còn địa danh "Rẫy cụ Tá". Sau này ông tôi trở lại Huế, lập hội Hán học, giữ chức Giáo Sư Hán học tại Đại học Sư phạm Huế đến khi mất năm 1961).
Vốn dòng khoa bảng-Thân sinh là cụ Nguyễn Huy Đào, Cử nhân khoa Mậu Tý (1888), tằng tổ là cụ Nguyễn Huy Triêm, Cử nhân khoa Kỷ Mão (1919), Thầy cùng với cha Thích (Nguyễn Ái Việt: Linh mục Sảng Đình Nguyễn Hy Thích) là hai vị giáo sư Hán Nôm đầu tiên của Trường Đại học Sư Phạm Huế. Sinh viên Ban Việt Hán trong những niên khóa này, không những được thụ những kiến thức uyên thâm Hán học của thầy mình, mà còn học hỏi được những nét sống kinh nghiệm ưu việt của thầy minh nữa.
Vào trung tuần tháng 12-1961, khi lên dốc Nam Giao thăm Thầy, lúc ấy tuy Thầy chỉ có uống mà không ăn được nữa, nhưng đứng ngồi còn vững, tinh thần còn sáng suốt. Tuy nhiên, chỉ chừng mươi hôm sau, thì đột nhiên nghe Thầy không còn nữa!
Thầy mất hôm 20 tháng 11 năm Tân Sửu tức ngày thứ Tư 27-12-1961, hưởng thọ 75 tuổi. Đám đưa vào ngày Chủ Nhật 31-12-1961. Hôm đó trời mưa nhẹ hạt, cả một rừng đối trướng đưa tiễn Thầy trên dốc Nam Giao đến nơi an nghỉ cuối cùng (Nguyễn Ái Việt: Ông tôi được an táng tại vườn cụ Phan Bội Châu dành cho những người yêu nước, nay là Nghĩa trang Phan Bội Châu, số 5 đường Thanh Hải, Huế) . Riêng kẻ sao lục hai bài điếu văn sau đây, nhớ lại bức trướng mấy anh em khóc thầy lúc đó, mang bốn chữ khiêm tốn Phong Phạm Do Lưu mà lòng trí lúc nào cũng như nhìn thấy thầy trước mắt.
Đoàn Khoách sưu lục
BÀI THỨ NHẤT
(DO ANH LÊ QUANG TẤN SINH VIÊN VIỆT HÁN NĂM THỨ HAI ĐỨNG CHỦ TẾ)
Hỡi ơi!
Núi Ngự mây mờ. Sông Hương nước vẩn.
Trời Thuận Hóa sụt sùi mưa rả. Đất Nam Giao lã chã lệ rơi.
Tủi chúng con chưa vẹn chữ thành nhân. Mà tiên sinh đã chia đường kim cổ.
Nhớ linh xưa:
Hào mại thiên tư. Khoa nhàn phong độ.
Dòng Lam Thủy chung anh. Đỉnh Hồng Sơn dục tú.
Trí tuệ quang minh, trời xanh phú bẩm vốn không cùng.
Tâm linh chính đại, đạo lớn uẩn tàng nguyên sẵn có.
Những tưởng trời Nghiêu đất Thuấn, giữa Nam thiên gặp gỡ hội thanh bình.
Nào ngờ gió Á mưa Âu, trên Quế hải tưng bừng cơn giông tố.
Tiên sinh đã quyết tránh đường khủng bố, chẳng quản chi lưu lạc nước non người.
Chí tiên sinh toan bận áo chính triều, đành phải chịu lìa xa quê quán cũ.
Cuộc tao loạn vào năm Đinh Hợi, khi lên đèo, khi xuống thác, lòng trượng phu nào quản lúc chông gai (Nguyễn Ái Việt Năm Đinh Hợi (1947) có lẽ tác giả chỉ sự kiện khi đó ông tôi là Chánh án Tòa án Tỉnh Quảng Binh, bác trưởng tôi là Nguyễn Huy Sương, khi đó là Trưởng Ty Giáo dục, bị kẻ gian ám sát)
Cơ hàn giữa tiết đông thiên, lúc gió táp lúc mưa sa, thân quân tử chẳng nài bề khốn khó.
Đi đến nơi về đến chốn, khúc khải hoàn những ngỡ rập hoan ca.
Chí còn mạnh, tiết vẫn bền, câu tịch cốc ai ngờ nơi biến cố.
Cày mây cuốc nguyệt, cảnh điền viên chi xiết vui vầy.
Nâng ly rượu vịnh thi, rèm phong nguyệt biết bao chí thú.
Màn loan gối phụng muôn thuở sum vầy. Mụn quế chồi lan một nhà đầy đủ.
Những tưởng tháng ngày tiên sinh còn rộng rãi. Nào ngờ giây phút đệ tử hết cậy trông.
Thương thay thời vận khôn lường. Ngán nỗi đầy vơi có số.
Cảm tiên sinh:
Đền cổ học lạnh lẽo khói mây. Trường sư phạm ủ ê hoa cỏ.
Hội nọ thường phiên vẫn họp, kẻ đi về lủi thủi, nào ngờ tiên sinh âm hưởng vắng không.
Trường kia giờ học còn nguyên, người trở lại ngậm ngùi, những tưởng tiên sinh dung nghi còn đó.
Núi Ngự cương thường chia nửa gánh, non mờ nước mịt, đoái cảnh tình lệ lại chứa chan.
Sông Hương liên tục rẽ đôi đường, én bắc nhạn nam, gẫm tâm sự lòng càng đau đớn.
Chua xót nhẽ. Chí trượng phu không định, ngời lấp đồi cao suối thẳm, xác tha hương nấm đất trơ trơ.
Đau đớn thay! Cơn số kiếp đã rồi, mơ màng đất tổ quê cha, hồn cố quốc trông chờ vò vò.
Thôi thì thôi!
Mặc kệ chiến tranh thời xung đột, bạn Di Tề cùng lên đỉnh Thủ Dương;
Kể chi danh lợi lúc xôn xao, theo Hoàng Thạch mà qua miền Lạc Thổ.
Đau lòng thay lúc chia phôi.
Hỡi ơi
Huế, trọng Đông năm Tân Sửu
BÀI SỐ HAI
(Do anh Hà Thúc Hoan, sinh viên Việt Hán năm thứ hai đọc trước lúc hạ huyệt)
Kính lạy Thầy
Vẫn biết, sinh hữu hạn, tử vô kỳ, nhưng khi nghe tin Thầy mất, chúng con không khỏi ngỡ ngàng đến đau xót!
Mới hôm nào hầu chuyện với Thầy bên giường bệnh, được thấy Thầy vẫn quắc thước như xưa, chúng con vui vẻ ra về với một niềm tin: tin rằng Thầy con sống lâu để chỉ dạy chúng con, sống để trao lại cho bao thế hệ đang lên những tư tưởng hay, những tình cảm đẹp, sống để lưu lại cho đời mới những gì là hoa gấm một thời.... Nhưng bỗng nhiên sự thực phũ phàng vẫn xảy đến, để hôm nay chúng con chỉ biết nghẹn ngào lên đây nấc lên tiếng khóc.
Kính lạy Thầy!
Trong những năm qua, chúng con kẻ trước người sau, nhờ duyên may vừa nhận được sự giáo huấn của Thầy. Chính trong những năm này mà ngoài việc thu nhận tư tưởng của Thánh hiền, chúng con học được ở Thầy lối xử thế lý tưởng của một nhà nho tiết tháo: trước đây trong thời Pháp thuộc vì không chịu cúi mình trước quyền thế của một nhóm người, nên trên đường mây, Thầy không được chóng thăng quan tiến chức. Rồi tiếp đến, làn sóng mới ồ ạt dâng lên, Thầy vẫn hiển nhiên sống trong cảnh thanh đạm để giữ vẹn danh tiết của mình. Chúng con tìm thấy ở Thầy thái độ khí khái của một Nhan Chúc biết khước từ tước hầu vạn hộ và cỗ thái lao của vua Tề. Chúng con cũng tìm thấy ở Thầy nếp sống thanh cao của người ẩn sĩ ở núi Phương Sơn, luôn biết ngưng mình trong cảnh thanh bần để khí tiết khỏi bị cát bụi của cuộc đời làm vẩn đục.
Bên cạnh hình ảnh một nhà Nho khả kính ấy, chúng con còn tìm thấy ở Thầy hình ảnh một nhà giáo tận tụy với nghề. Mặc dù vì tuổi tác và sức khỏe không cho phép, suốt những năm qua Thầy vẫn tận tình chỉ dạy chúng con. Ở vào lớp tuổi Thầy, những người khác thường lo an nghỉ để tĩnh dưỡng tuổi già, Thầy của chúng con thì trái lại: vì lo cho nền cựu học thiếu kẻ phát huy, nên Thầy thường đứng trọn một giờ để chép cho xong một áng cổ văn, rồi phải nói nhiều trong suốt một giờ tiếp, để truyền lại cho chúng con những tư tưởng thâm sâu của người đã khuất. Và trong những tháng gần đây dầu bị cơn bịnh âm ỉ dày vò, Thầy rất ít khi chịu nghỉ dạy. Cho đến một hôm, Thầy nghỉ dạy liên tiếp ba tuần, thì đây chính là lúc chúng con không bao giờ được gặp lại Thầy nữa!
Bình sinh Thầy không muốn ai ca tụng đức độ của mình, nhưng ở đây, trong phút ly biệt cuối cùng này, chúng con xin phép nói lên một phần nào cảm nghĩ của chúng con về Thầy, may ra nguôi đi một phần nào thương tiếc.
Kính lạy Thầy,
Chốc nữa đây, ba thước đất vô tình sẽ đưa Thầy và chúng con vào hai cảnh âm dương nghìn đời cách biệt. Từ đây Đại học Huế mất đi một vị Giáo Sư duy nhất có cấp bằng Tiến Sĩ Việt Nam và chúng con mất một vị Thầy uyên thâm Nho học. Và cũng từ đây khi đứng trước rừng Nhan Khổng vô hạn thâm u hay trước bể Trình Chu bao la vời vợi, chúng con còn biết nhờ ai chỉ lối đưa đường. Thầy đã theo mây ngàn hạc nội mà tìm đến một thế giới huyền bí xa xôi!
Từ đây ai sẽ dẫn chúng con đi xem lầu Nhạc Dương, đình Khoái Tai hay trăng nước của sông Xích Bích. Ai tha thiết với nền cựu học mà không nuối tiếc khi hay tin Thầy đã qua đời? Ai lưu tâm đến nền văn hóa quốc gia mà không ngậm ngùi khi hay tin Thầy không còn nữa? Và những ai lưu luyến với những nét đẹp xưa, sẽ nghĩ thế nào khi thấy Thầy cũng như những mẫu người lý tưởng khác của một thời qua, cứ xa dần chúng con để đi vào thế giới mơ hồ của dĩ vãng!
Kính lạy Thầy!
Vẫn biết rằng sống là chết đi từng phút, nhưng ai có nhìn đoạn bài giảng mà Thầy còn bỏ dở, ai có nhìn tập bài làm mà Thầy chấm chưa xong, mới ý thức được tính cách dở dang đến chua xót của chuyến đi vĩnh viễn này: Thầy phải ra đi trong ý hướng thiết tha ở lại, Thầy phải từ giã cuộc đời trước tấm lòng khắc khoải muốn níu lại của chúng con. Cái chết vô tình đột nhiên đến đã cướp mất Thầy của chúng con, nhưng không phải vì thế Thầy kính yêu đã chưa làm trọn thiên chức cao cả của một nhà giáo đối với cuộc đời. Hơn hai mươi năm miệt mài nghiên bút và gần năm mươi năm tận tụy giảng sách Thánh hiền, thầy đã đào tạo cho xã hội những mẫu người biết sống làm sao cho phải đạo. Nếu người nghệ sĩ lưu lại cho đời một tác phẩm nghệ thuật sau vết chân đi, thì Thầy của chúng con đã lưu lại cho đời những tác phẩm bằng xương và thịt, những tác phẩm biết tư duy để sống cho ra người, những tác phẩm biết nghiền ngẫm những tư tưởng của thời xưa để phục vụ quốc gia và xã hội ngày nay một cách đắc lực. Thế cho nên hôm nay tuy Thầy không còn nữa với đời, nhưng hình ảnh khả kính của Thầy vẫn còn mãi trong tâm hồn chúng con. Ngày Thầy mất đi chính là ngày Thầy bắt đầu sống trong tình kính mến và thương yêu của mọi người.
Kính lạy Thầy!
Cuộc chia ly nào không làm nấc lòng kẻ ở người đi? Lần vĩnh biệt nào không làm xé lòng người còn trước kẻ mất? Bút mực hữu hạn làm sao diễn tả được cái vô hạn của tình người? Tiếng nói ngập ngừng của chúng con hôm nay, làm sao tát cạn được tấm lòng của những người đang thổn thức? Trước khi dứt lời, chúng con chỉ biết yên lặng, cúi đầu, kính cẩn dâng lên Thầy tất cả tấm lòng xót thương và kính mến của chúng con.
Chủ Nhật, 28 tháng 4, 2019
PHỦ ĐỊNH VẦ TƯ DUY
Quy trình dạy cách đặt câu hỏi tại sao cho trẻ em nói chung và cho người lớn bị liệt chức năng này như sau: 1) Luyện cách đặt các mệnh đề phán đoán. 2) Phát biểu một cặp mệnh đề có thể có liên quan. 3) Đặt câu hỏi tại sao. 4) Đặt câu nhân quả: vì.... nên.... 5) Mở rộng: nếu... thì....
Tuy vậy, tôi đoán rằng nếu bước 1) luyện không kỹ, tức là năng lực phán đoán không tốt, chưa ổn định, lập luận nhân quả sẽ lung tung. Đối với trẻ nhỏ thì việc xoá bỏ đi hoàn toàn để luyện lại rất dễ. Đối với người lớn tuổi bằng cấp chức tước càng cao sửa càng không dễ. Bản thân tôi thấy nhiều GS, TS, BT, CT lập luận mà thấy phải sửng sốt, phán đoán họ là nguồn cảm hứng vĩ đại của Mao Chủ Tịch khi Người nhận định về trí thức. Với những người cao cấp hơn không phải không có chuyện đó, nhưng tạm thời chúng ta sẽ không nói tới, thông cảm cho họ đã mất công vất vả leo trèo đến đó. Vả lại cũng không mấy bổ ích hay tác dụng.
Chỉ tóm gọn là có những lập luận của các bậc được xã hội kính trọng nhưng như ... shit. Dùng tạm tiếng Anh cho nhã. Thực ra, lập luận của họ thế nào không đáng làm ta quan tâm. Điều quan trọng là ta có thể rút ra kết luận có ích cho xã hội là khi năng lực phán đoán không vững lập luận sẽ như shit. Nói cách khác, không biết phải trái thị phi thì dù có là ông nọ bà kia cũng sẽ chẳng nên cơm cháo gì.
Phán đoán tức là phải có phủ định. Đừng lo chân lý bị phủ định. Chân lý luôn có thể phủ định bởi ai đó. Chân lý được phủ định mới thành chân lý. Đã là chân lý thì không bao giờ tàn lụi chỉ vì bị phủ định. Một đứa trẻ thích phủ định và biết phủ định, chưa biết đúng sai thế nào là đã hơn cả những người lớn không bao giờ thử phủ định các chân lý tưởng như bất di bất dịch.
Thứ Tư, 20 tháng 2, 2019
Thế nào là phản biện
Thực ra trả lời mấy chuyện lặt vặt này tôi rất ngại vì sẽ mang tiếng và có thể thực tế phải đôi co không bổ ích gì. Nếu không trả lời e sẽ mang tiếng chảnh, mà giữa tôi và người phản biện có quan hệ cố giao trên 40 năm. Mặt khác, một số thân hữu lại hiểu nhầm là tôi đuối lý. Mà bài viết này lại không nhằm vào mục đích chữ nghĩa vớ vẩn là thứ tôi tiện tay phiếm bút để nói những chuyện quan trọng hơn.
Việc "có đôi nhời" cũng đả động đến một vấn đề về tư duy tranh luận (không nên nhầm với văn hóa, vì người đối thoại là người có gia phong nền nếp, học hành đến nơi đến chốn và kiến văn trác tuyệt). Nếu không đúng protocol rất dễ thành "ông nói gà bà nói vịt", thảo luận như nước đổ lá khoai, không bên nào nghe bên nào, chỉ biết nói mà không tiếp thụ. Nay tôi xin thuật lại để chư vị tường lãm. Đúng sai thế nào đã có công luận. Mong rằng mọi người không coi đây là một vụ cãi vã hay chẹt xe cán chó. Ý muốn nói phần lớn nằm ở ngôn ngoại. Suy ngẫm sẽ có bổ ích, hiếu kỳ thì không.
Câu chuyện là tôi giải thích cụm chữ "lang bạt kỳ hồ". Cụm chữ này xuất hiện sớm nhất trong bài Mân phong của Kinh Thi, mô tả một con sói tiến tới thì dẫm phải yếm ngực, lui thì dẫm phải đuôi, đằng nào cũng khổ. Đoạn này mô tả tường minh, không có bóng bẩy gì, có lẽ không ai tranh luận về ý nghĩa. Có lẽ từ đây (ít ra sách vở của Trung Quốc đều thống nhất như vậy) xuất hiện thành ngữ "lang bạt kỳ hồ" nói tới tình trạng "mắc kẹt", "tiến thoái lưỡng nan". Trong tiếng Việt cũng có cụm thành ngữ "lang bạt kỳ hồ", được dùng với một nghĩa "lang thang" khác hẳn. Thành ngữ "lang bạt kỳ hồ" trong Hán ngữ được rút gọn thành từ "lang bạt". Tình cờ tiếng Việt cũng có từ "lang bạt" có nghĩa là "lang bang xiêu dạt" bị "bạt" đi. Trong khi đó "lang bạt" trong Hán ngữ vẫn giữ nghĩa như "lang bạt kỳ hồ" mô tả tình huống mắc kẹt. Tôi trích hai câu văn cổ. Một câu từ sách Tam Quốc chí của Trần Thọ đời Tấn, một câu đời Đường có dùng chữ "lang bạt", và phân tích để thấy rõ không hề có nghĩa lang thang như trong tiếng Việt. Do "lang bạt kỳ hồ" tiếng Việt gốc Hán rõ ràng, có thể là ban đầu không đến nỗi sai, nhưng dốt chữ, dịch ẩu nên dùng sai dần, thành thử không đúng với nghĩa gốc.
Người viết bài "phản biện" lại đưa ra một câu tiếp theo trong bài Mân phong nói về người giàu sang, quan lại đi đứng đàng hoàng. Sau khi phân tích giảng giải ý nghĩa của bài Mân phong (thực tế là không ăn nhập gì và không có gì để "phản phản biện"), anh làm một quantum leap logic (lập luận nhảy lượng tử) là chữ lang bạt, lang thang "có thể" là vì con sói sống lang thang và có ý phủ nhận ý học ẩu, ếch ngồi đáy giếng (thế ra là người Việt thông minh sáng tạo mới đúng).
Vấn đề là ở chỗ tôi xuất phát từ việc phân tích cụm từ "lang bạt kỳ hồ". Ngay trong bài Mân phong đọc kỹ cả hai câu cũng không có gì chứng tỏ nghĩa là lang thang. Người nghèo thì mắc kẹt, lúng túng khổ sở, tiến thoái lưỡng nan, người sang thì áo mũ xênh xang, đĩnh đạc hiên ngang. Nói thực ra, các từ "lang bạt" hay thành ngữ "lang bạt kỳ hồ" tôi đã cẩn thận tra kỹ trong chữ Hán chính thức không có nghĩa gì lang thang (biết đâu cũng có anh Hán dùng lung tung).
Điều đáng nói không phải chữ nghĩa lặt vặt. Ở đây là cách đọc và học của người Việt vô cùng ẩu tả, làm tiếng Việt thành một mớ hổ lốn, nhiều khi làm cách tư duy suy luận thêm lộn xộn, vì xuất phát điểm từ các sau lầm. Không nói các cụ ngày xưa chữ Hán sát vách mà vẫn hiểu sai lệch. Ngày nay chúng ta dùng từ dịch tiếng Anh cũng tùy tiện như thể chế, thiết chế, định chế mỗi người một phách, rao giảng, rồi cãi nhau suốt ngày, làm đám đông không hiểu ra sao. Chữ nghĩa lộn xộn thì tư duy lộn xộn không ai biết làm chủ tập thể, kiến tạo chính phủ hay cách mạng công nghiệp 4.0 thế nào, nhưng ai cũng nói cũng làm.
Và ít quan trọng hơn nghĩa của từ "phản biện" cũng cần xem lại. Khi phản biện cần bám sát vào logic của người ta, sai ở chỗ nào, xuất phát điểm từ đâu, sử dụng lập luận nào không đúng, bằng chứng nào không thuyết phục. Không phải nói chệch sang chuyện khác, giảng giải lằng nhằng (ý nói là các anh không biết bằng tôi) chẳng liên quan, bỏ qua các bằng chứng không thể bác bỏ thì gọi là "phản biện". Chữ nghĩa chỉ là cái vỏ logic mới là ý chính. Ta và Tàu đều không biết logic là gì cho đến khi Âu hóa, cho nên coi trọng làm xiếc với chữ nghĩa, ngụy biện lòe bịp là nhiều. Chính đại văn hào Trung Quốc Lỗ Tấn cũng đã nói nhiều về chuyện này.