Thứ Ba, 12 tháng 4, 2022

Chân Thiện Mỹ và quy tắc ứng xử

    Chân Thiện Mỹ là nội dung chính của Triết Học, thường bị quy giản về Đạo Đức học, một phần nhỏ của Triết Học. Trong cuộc sống, chúng ta còn có cách hiểu giản lược hơn nữa: Chân là cái Đúng; Thiện là cái Tốt; Mỹ là cái Đẹp. Những khái niệm này đều tương đối, chủ quan. Ngày nay chúng đã trở nên đa dạng và phải linh hoạt trong một xã hội đa nguyên, đa văn hoá, hội nhập và nhân bản.

Chân Thiện Mỹ vẫn còn đó. Chúng ta không đa sự cần lật nhào Triết Học. Tuy vậy, các khái niệm này cần có nội hàm mới. Thay vì nhồi sọ cho trẻ em và những người xung quanh hiểu về cái Đúng của bản thân ta, thực ra nhiều khi rất mâu thuẫn và bất nhất, trong một môi trường xã hội đang vận động, Chân phải cho con người phương pháp để phân biệt Đúng-Sai, Thực Giả, Thị Phi, thay vì áp đặt quan niệm của cá nhân. Thiện sẽ là phương pháp chọn nguyên tắc phân biệt Thiện Ác trong câc hoàn cảnh khác nhau, để biết thông cảm với tính người yếu đuối, sự phi lý và bất hạnh của kiếp nhân sinh. Mỹ là việc dạy cho con người cách thưởng thức để có thể hướng tới những cái đẹp khác nhau và biết tôn trọng các tiêu chuẩn đẹp xấu ở những nền văn hoá khác.
Nhưng như vậy liệu có phức tạp quá hay không? Hay liệu việc phải nấu một nồi lẩu các giá trị trái ngược có khả thi hay có ích lợi gì không? Trước hết, cần phải nhận thức được rõ ràng cái gọi là phức tạp, cái trái ngược chỉ là các ảo giác của tư duy, gắn liền với một cách nghĩ cũ. Đối với một người già 70 vào những năm 80 của thế kỷ trước nhạc Rock quá phức tạp, lối sống hippy quá trái ngược với các tiêu chí về đạo đức. Ngày nay trò chơi Pokemon cũng quá phức tạp với một số người, các giá trị trên mạng xã hội cũng có vẻ như trái ngược. Nói chung lớp người không chịu thay đổi thường vấp phải vấn đề và hay bức xúc với những điều được gọi là phức tạp. Họ cũng thường thấy những điểm trái ngược ở những chỗ chẳng có trái ngược gì. Nghệ thuật vị nghệ thuật và vị nhân sinh không hề có mâu thuẫn. Con gà hay quả trứng có trước là một câu hỏi vô nghĩa. Các quan điểm chính trị của những người bạn không thể là mâu thuẫn giai cấp, mà chỉ là ảo giác. Cải cách thường dễ chấp nhận với lớp trẻ, bình dân, học trò, khó khăn với người già, giới tinh hoa, các vị thầy, những người có nhiều cái để mất. Nói như vậy không có nghĩa người già, tinh hoa, vị thầy là những thứ đáng bỏ đi. Trái lại, những người lớn tuổi, tinh hoa, lương sư, cho dù hiếm hoi, nếu ủng hộ cải cách thì vô cùng quý giá, sẽ tác dụng to lớn, vĩ đại và đáng tôn trọng gấp bội.
Nhưng trong xã hội, việc thay đổi cách tiếp thụ Chân Thiện Mỹ sẽ cần phải thực hiện thế nào? Cốt lõi của vấn đề là phải chuyển từ Quy tắc đánh giá sang Quy tắc ứng xử. Thế hệ trẻ sẽ không còn nói cơm Trung Quốc ngon hơn cơm Ấn Độ để phải cãi nhau vô bổ như những người già trước đây. Họ đã biết cách ứng xử tốt hơn để chọn cơm Ấn Độ và thưởng thức nó một cách tốt nhất, mặc dù họ sinh ra trong một nền văn hoá thích cơm Trung Quốc.
Code of conduct- Quy tắc ứng xử có hai ưu thế vượt trội so với quy tắc đánh giá. Thứ nhất, trong những hoàn cảnh hoàn toàn mới, Quy tắc đánh giá có thể sẽ có nhiều phương án mâu thuẫn. Khi đó việc lựa chọn sẽ phụ thuộc vào những yếu tố ngẫu nhiên. Như vậy, cộng đồng sẽ sinh mâu thuẫn, mất phương hướng hoặc mất thời gian tranh cãi hoặc chính trị hóa mọi vấn đề. Thứ hai, khi có nhiều phương án có cùng một giá trị, con người sẽ phải phân vân không biết chọn phương án hiệu quả, thực tế nhất, lãng phí thời gian và cơ hội. Quả thực trong thực tế, nhiều việc có thể làm ngay chúng ta lại phân vân, nhiều việc ngu xuẩn lại dễ dàng đồng thuận mà không nghĩ ngợi gì.
Quy tắc ứng xử đơn giản chỉ là đặt câu hỏi hành động có phù hợp với các quy tắc ứng xử hay không. Nếu phù hợp, con người được tự do sáng tạo để hành động không bị ràng buộc bởi đánh giá dè bỉu của người khác hay các định kiến lỗi thời ngu dốt.
Một cộng đồng tôn vinh tự do và giá trị của cá nhân, quy tắc ứng xử sẽ là hành động vì sự tự do và không làm tổn hại đến giá trị riêng của các nhóm người dù là họ yếu thế, thiểu số hoặc không may mắn.

Thứ Sáu, 25 tháng 3, 2022

Thiên văn Trung Quốc

 

Mấy bài vừa rồi, tôi đã phân tích lịch pháp Trung Quốc có vẻ hạ thấp vai trò của Thiên Văn Trung Quốc. Thực ra Thiên Văn Trung Quốc cũng có những cái hay và có những đóng góp nhất định vào kho tàng tri thức của nhân loại. Cũng như những người quá khích nói nhạc đỏ không hay bằng nhạc vàng là sai lầm hoàn toàn. Tất nhiên, nhìn về toàn bộ, nhạc đỏ có chỗ dở, nhưng không nằm ở nhạc mà "chỉ" ở quan niệm về nhạc hơi chật hẹp. Nhìn chung thì văn hóa văn nghệ cũng như khoa học, dù không thoát ảnh hưởng của chính trị, nhưng cuối cùng những giá trị "phi chính trị" sẽ còn lại và trường tồn.
Bài này muốn nói lên những thành tựu của Thiên văn Trung Quốc.
THIÊN VĂN TRUNG QUỐC

Kho tàng bản đồ sao Trung quốc
Thiên văn nói chung đều liên quan tới Chiêm tinh, là niềm tin rằng các thiên thể, không gian xa xôi đều chứa đựng thông tin về thân phận số kiếp của mỗi người, mỗi sinh vật, quốc gia trên thế giới. Đó là động lực để Thiên văn phát triển thời cổ.
Khái niệm Thiên văn Trung Quốc rất khác với khái niệm Thiên văn phương Tây ở chỗ, cho tới giai đoạn phát triển rực rỡ nhất, vẫn không thể thoát ra khỏi ảnh hưởng của Chiêm tinh. Cho đến bây giờ cũng vẫn có nhiều người tin như vậy. Tuy nhiên, đặc điểm kỳ lạ, đặc trưng và xuất sắc của Thiên văn Trung Quốc là việc rất chú trọng quan sát. Có thể nói đây là một con cừu đen, khác với các lý thuyết chém gió khác của phương Đông rất coi thường thực hành. Có lẽ vì thế mà Tần Thủy Hoàng không đốt sách Thiên Văn.
Bản đồ sao của Trung Quốc được lập rất chi tiết, phân loại hệ thống hóa hết sức khoa học và ngày nay trở thành dữ liệu rất bổ ích cho việc nghiên cứu sự phát triển vận động của vũ trụ. Về mặt này, người Ả Rập, Lưỡng Hà, Hy Lạp đi sau người Trung Quốc một bước. Tuy nhiên, học giả Needham có phần quá đà, có lẽ vì bất ngờ và choáng váng, khi suy diễn là Thiên Văn Trung Quốc có thể đã biết mọi chuyện nhiều hơn Ả Rập, Lưỡng Hà, Hy Lạp. Đó là hệ quả của việc thiếu hiểu biết về văn minh Á Đông, định kiến rằng phương Đông lạc hậu về mọi sự và chỉ quan tâm đến những chuyện vô bổ. Đánh giá thấp rồi đánh giá cao quá đều là thể hiện của cùng một nhận thức ấu trĩ. Thực ra, Thiên văn Trung Quốc bắt đầu tốt, nhưng phát triển bằng cách rẽ về hướng khác, dựa trên những giáo điều cứng nhắc và không thể phản bác hay kiểm chứng. Đó là cái yếu nói chung của khoa học cổ đại Trung Quốc và cũng có thể là cái may cho nhân loại. May nhất là ngày nay chúng ta có được kho bản đồ thiên văn Trung Quốc, đó là tài sản vô giá của tiền nhân.
Thực hành và quan sát nhưng thiếu hệ thống khái niệm đúng
Tên các sao được tìm thấy trong các di vật được cho là từ thời nhà Thương (1339-1281 trước Công lịch). Xem thiên văn trở thành một môn học được đánh giá cao đối với các kẻ sĩ "trên thông thiên văn, dưới tường địa lý" từ thời Chiến Quốc, sau đó nở rộ vào thời Hán. Trong tiểu thuyết Tam Quốc Diễn Nghĩa của La Quán Trung cho thấy mưu sĩ các bên đều xem thiên văn để ra quyết sách. Điều đó cho thấy Thiên văn Trung Quốc là một môn học có ứng dụng thực hành gắn liền với quan sát.
Tuy nhiên, đây là một ví dụ rất tốt để chỉ ra rằng quan điểm ứng dụng, thực hành không luôn luôn là động lực phát triển lâu dài nếu không có một hệ thống khái niệm đúng. Đó cũng là bài học ích lợi về nhận thức cho loài người, bên ngoài ý muốn của Thiên văn Trung Quốc. Các thành tựu chủ yếu
Thiên văn Trung Quốc tập trung vào việc thu thập dữ liệu quan sát về các hiện tượng vận động của các sao quan sát bằng mắt thường, tập trung chủ yếu vào các chòm đẩu tinh, và các chùm sao gần mặt phẳng Hoàng Đạo. Do không có một nhận thức chính xác về Trái Đất và chuyển động của nó, các nhà thiên văn Trung Quốc ghi nhận các chuyển động này bằng những gì mà họ thấy được. Sách vở tiếng Việt ngày nay gọi đó là chuyển động biểu kiến (apprarent). Do thực tế Trái Đất chuyển động quanh Mặt Trời, chúng ta có thể thấy Mặt Trời chuyển động quanh Trái Đất, theo một quỹ đạo tuần hoàn gọi là đường hoàng đạo (ecliptic). Phần mặt phẳng trong đường hoàng đạo, gọi là Hoàng Đạo, được chia làm 12 cung, mỗi cung 30 độ gọi là cung Hoàng Đạo. Chiêm tinh học phương Tây cũng có 12 cung từ Bạch Dương tới Song Ngư. Hoàng Đạo Trung Quốc chia 12 từ cung Tý tới cung Hợi.
Các nhà thiên văn, dù quan sát từ Trung Quốc hay Hy Lạp, sẽ thấy trên bầu trời có những chòm sao, chùm sao không bao giờ lặn mà xoay tròn quanh bầu trời, gọi là các đẩu tinh Bắc, lập thành các chòm Đại Hùng (Gấu lớn), Tiểu Hùng (Gấu nhỏ),... Thiên văn Trung Quốc đặc biệt quan sát các đẩu tinh, ghi nhận các quy luật, và tìm cách liên hệ nó với các sự kiện trong đời sống. Thí dụ sao Thái Bạch đi vào địa phận của sao Khuê, hoặc có một sao chổi xẹt ngang địa phận của đẩu tinh sẽ ứng với người chết, bạo loạn, hoặc ngược lại tin mừng, thời cơ để hành động, tùy theo quan điểm giải thích. Điều này không phải mâu thuẫn mà hiển nhiên trong một xã hội tranh giành, tin xấu với kẻ địch là tin tốt của ta.
Thiên văn Trung Quốc cũng quan tâm tới các quy luật liên quan sao Hôm, sao Mai, các sao xuất hiện khi Mặt Trời lặn hoặc mọc, vị trí tương đối của chúng với Mặt Trăng và cũng tìm ra các thông tin tương tự trong đời sống. Một đối tượng khác nữa của thiên văn Trung Quốc là các chòm hoàng đạo, các chòm sao quan sát được gần đường Hoàng Đạo Để tìm quy luật, các nhà quan sát thiên văn Trung Quốc đã lập ra các bản đồ sao rất lớn và tỷ mỉ, bằng phương pháp phân loại rất khoa học và công phu. Tiếp thu thành tựu từ bên ngoài
Thiên văn học Trung Quốc, không phải phát triển một mình. Từ thời Đông Hán (TK1-TK3) đã có rất nhiều nhà thiên văn Ấn Độ đến Trung Quốc và đóng vai trò dẫn dắt thiên văn Trung Quốc. Các nhà thiên văn lớn của Trung Quốc như Nhất Hạnh đều có thọ giáo họ. Chắc chắn, các nhà thiên văn Ấn Độ đã đem theo các kiến thức thiên văn từ Lưỡng Hà, Ai Cập và Hy Lạp vào Trung Quốc. Thời nhà Nguyên (TK13-TK14), các nhà thiên văn Hồi giáo cũng đến Trung Quốc và có nhiều ảnh hưởng mới, mang theo nhiều tri thức thiên văn ngả sang màu sắc chiêm tinh từ Trung Đông và Nam Âu. Sao chủ, sao khách và các sự kiện thiên văn
Dưới ảnh hưởng của Chiêm Tinh, thiên văn Trung Quốc chia các sao thành sao khách, xuất hiện không thường xuyên và sao chủ, xuất hiện cố định. Chúng ta thường nghe các đoạn nói về thiên văn như "Sao khách phạm vào địa phận Thái Bạch, hay Bắc Đẩu" hay "Huỳnh Hoặc xuất hiện ở phương Tây". Năm 1054 có một vụ nổ lớn sinh ra Crab Nebula (Tinh vân Con cua) theo ký hiệu thiên văn hiện đại là SN1054, được các nhà thiên văn Trung Quốc ghi nhận như một sao khách. Sự kiện này cũng được các nhà thiên văn Ả Rập ghi nhận, trong khi các nhà chiêm tinh Âu Châu không có ghi nhận nào. Nhị thập bát tú, tứ linh và thất tinh
Trong các chòm sao trong hệ thống phân loại chùm sao của Trung Quốc có Nhị thập bát tú (là 28 chòm sao chính, có hướng gần với mặt phẳng Hoàng Đạo). "Tú" là chòm sao, người Việt hay đơn giản hóa gọi thành "ngôi sao". Trong khi trong tiếng Trung Quốc "ngôi sao" phải là "tinh". Ví dụ Tao Đàn của vua Lê Thánh Tông là 28 chòm sao, chứ không phải là 28 vì sao.
Các chòm sao này chia làm 4 vùng, được các nhà chiêm tinh "giao" cho 4 con vật linh thiêng cai quản là "Chu tước", "Bạch hổ", "Thanh long" và "Huyền vũ" cai quản. Chẳng hạn thuộc Thanh Long có 7 chòm sao là Giác, Cang, Đê, Phòng, Tâm, Vĩ, Cơ,... Các độc giả thích đọc tiểu thuyết Tàu nên nắm được tên của từng chòm sao trong Nhị thập bát tú và biết được tính cách cũng như điển tích ứng với mỗi chòm sẽ hiểu được thêm nhiều điều thú vị khi liên tưởng đến ý nghĩa. Tôi sẽ bàn chi tiết vào một dịp khác nếu bạn đọc có hứng thú. Các nhà thiên văn cổ Trung Quốc và các bản đồ sao
Hai tên tuổi nhà thiên văn Trung Quốc cụ thể (rất quan trọng, vì sử Trung Quốc đầy rẫy những nhân vật tưởng tượng) là Thạch Thân và Cam Đức thời Chiến Quốc (TK4 trước CN). Họ đã có hai tác phẩm Thạch Thân Thiên Văn và Thiên Văn Tinh Chiếm với các danh mục sao do họ lập. Đáng tiếc là các tác phẩm này đều thất truyền. Các sách còn sót lại có nhắc đến các tác phẩm này, do đó chúng ta có cơ sở để đoán rằng các tác phẩm này còn tồn tại tới TK6 trước khi mất tăm tích hoàn toàn. Trước Cam và Thạch có Vu Hàm được cho là một trong ba nhà thiên văn cổ điển của Trung Quốc. Tuy vậy, xung quanh Vu Hàm có rất nhiều tranh cãi và tồn nghi.
Trương Hành ( 78-139) là nhà thiên văn nổi tiếng thời Hán đã để lại phân loại gồm hơm 2500 vì sao và hơn 100 chòm sao, thực sự là đóng góp vĩ đại. Thời Tam Quốc có Trần Trác (220-280) , đã phân loại 283 chòm sao và 1464 vì sao. Thời Nguyên, có Quách Thủ Kính (1279-1368) đã lập một bảng phân loại mới có hàng ngàn vì sao. Đáng tiếc là tác phẩm này đã bị thủ tiêu. Sách Nghi Tượng khảo hành in năm 1757 có công bố 3083 vì sao.
Có lẽ các bản đồ sao mới là đóng góp đặc biệt và không thể thay thế của Thiên văn Trung Quốc. Rất khó xác định bản đồ sao sớm nhất có từ bao giờ vì chúng được vẽ trên bình gốm. Bản đồ sao sớm nhất được in là của Tô Tụng thời Tống (1020–1101) Tuy nhiên, trước đó có bản đồ sao Đôn Hoàng được tìm thấy trong di chỉ Đôn Hoàng thời Đường (TK8). Bản đồ này vẽ 1350 vì sao trên giấy, có thể coi là bản đồ sao cổ nhất. Các nhà thiên văn Lưỡng Hà và Hy Lạp cổ cũng lập bản đồ sao, nhưng người ta không tìm thấy bản đồ nào chi tiết như bản đồ Đôn Hoàng. Các phát hiện của thiên văn cổ Trung Quốc
Các nhà thiên văn Trung Quốc đã thống kê hơn 1600 nhật nguyệt thực từ 750 trước Công Nguyên. Thạch Thân (TK4 trước CN) đã thấy được nhật thực có liên quan đến Mặt Trăng. Kinh Phòng (78-37 trước CN) cho rằng Mặt Trăng sáng do phản chiếu ánh sáng Mặt Trời. Thẩm Quát ( 1031–1095) đời Tống nhận thức Mặt Trăng và Mặt Trời hình cầu (Trước đó người TQ đều nghĩ Mặt Trăng, Mặt Trời là hai cái đĩa dẹt) chuyển động trên các quỹ đạo cách nhau nên không va vào nhau, ông cũng giải thích rõ hơn quan điểm của Thạch Thân và Kinh Phòng.
Đánh giá chung
Tóm lại, thiên văn Trung Quốc là một thành tựu lớn của loài người, rất đáng trân trọng. Tuy nhiên do quá tập trung vào ứng dụng các kết quả này trong chiêm tinh, nên mặc dù về mặt dữ liệu rất đồ sộ, nhưng không có được một bức tranh hoàn hảo về thế giới. Điều đó chứng minh rằng, nếu không có hệ thống khái niệm lý thuyết đúng đắn làm cốt lõi cho hoạt động thực hành, sự phát triển sẽ không thể tạo ra sức mạnh lâu dài. Có lẽ đó cũng là đóng góp của Thiên văn Trung Quốc cho dù là một ví dụ tiêu cực.

Thứ Ba, 22 tháng 3, 2022

Đọc Thơ thế nào cho bổ ích

1. Tôi về căn bản là người thực tế và thiên về triết lý. Tôi có thú đọc thơ, không nhiều lắm đến mức si cuồng, cũng không đến mức như một chuyên gia về thơ hay người làm thơ. Tôi thấy đọc thơ thú vị và thấy có ích lợi về tư duy và cả về triết lý nếu biết cách. 2. Kể ra hướng dẫn đọc thơ với nhan đề thế này, có vẻ cũng na ná như thường thức về chiên bít tết thế nào cho ngon hay uống rượu vang thế nào để tốt cho sức khỏe, cũng hơi tầm thường hóa và xúc phạm Nàng Thơ. Nhưng quả thực Thơ là một vưu vật của Tạo hóa được Con người mặc khải, nếu không biết để thưởng thức hoặc không biết thưởng lãm đúng nghĩa thì sống hoài phí.
3. Nói cho cùng, ích lợi của đọc thơ nếu không hơn thì cũng không kém nghe nhạc, đọc sách, xem tranhm vừa sướng khoái, vừa lành mạnh, vừa rèn luyện tính thần, suy nghĩ lại kích hoạt các ý tưởng mới. Tất nhiên, tôi không có ý định bàn sâu về các ích lợi mang tính "vị nhân sinh" như làm công cụ giải trí, giao lưu ở quán bia, hay để tiếp cận các bà, các cô thích sụt sịt với tình cảm sến, hoặc làm vũ khí chiến đầu như cụ Sóng Hồng. Các ích lợi này hiển nhiên là có vì bất cứ vũ khí gì dùng để đánh được quân thù thì đối kháng với phụ nữ và bạn bè chỉ là chuyện nhỏ. 4. Các chương trình đào tạo trí thức lớp trên (elite) cả Đông-Tây, Kim-Cổ đều có dạy về thơ. Điều đó chứng tỏ đọc-học thơ có lợi cho trí tuệ. Tuy nhiên, không phải nhồi nhét bất cứ thơ ca hò vè tục ngữ nào, và đơn thuần nuốt chửng thuộc lòng là sẽ có hiệu quả bổ trí não. Không phải cứ để xã hội nhồi cho Thơ nào thì nuốt thơ ấy như nhồi vịt vỗ béo, đều sẽ tốt cho thẩm mĩ. Trong hoàn cảnh dạy Thơ ở các trường phổ thông và tôn vinh Thơ trong xã hội từ nửa thế kỷ nay đều có vấn đề, việc thưởng thức thơ thụ động, vô cảm hoặc tạo cảm xúc vay mượn, chúng ta cần biết cách bổ khuyết. Nếu đã quá muộn thì cố gắng truyền lại kinh nghiệm thất bại cho thế hệ mai sau vậy.
5. Trước hết Thơ cũng như Nhạc, quan trọng nhất là mỹ cảm. Mỹ cảm hình thành nhờ cả ở tác phẩm và khiếu thẩm mĩ (gout) của chính bạn. Gọi là “khiếu” nhưng thực ra đây là năng lực được hình thành trong quá trình tiếp thu cái đẹp, tất nhiên phần nào cũng có chút ít tố chất, tạm coi là phúc đức. Nếu bạn có lỗ tai trâu, đương nhiên có nghe nhạc Beethoven suốt ngày, tôi ngờ vào việc bạn có thể hình thành năng lực thẩm mĩ tử tế. Tương tự, dù bạn có tai nghe của Bá Nha, nhưng mỗi khi khen bài giảng của GS Hoàng Chí Bảo, bạn được thưởng kẹo, và mỗi khi khen nhạc Chung Tử Kỳ phải lĩnh một cái tát, nếu bạn giữ được năng lực thẩm mĩ sau vài chục năm, tôi cho bạn là siêu nhân.
6. Dù bạn làm nghề gì, gout là cái quyết định tài năng của bạn. Nếu bạn dốt Toán hay tiếng Anh, bạn có thể kiên nhẫn, ai đó sẽ giúp bạn cải thiện. Nếu bạn có gout tồi, đó sẽ là tuyệt vọng, không ai muốn phí thời gian với bạn. Một GS một năm công bố hàng loạt công trình na ná nhau không thể nói là dốt, mà năng lực thẩm mĩ có vấn để. Rồi cũng sẽ chẳng đi đến đâu hay giá trị nào đáng kể cả. Not even wrong, thậm chí còn chưa được gọi là sai lầm. Cụ Khổng khuyên người đọc sách "nhật tân, nhật tân, hựu nhật tân" mỗi ngày đều phải có sự đổi mới về trí tuệ và cảm xúc.
7. Thơ rèn luyện năng lực thẩm mĩ tốt nhất NẾU ... chúng ta đọc thơ đúng cách. Thế nào là đúng cách? Chắc nhiều người sẽ nói tôi muốn áp đặt cách đọc thơ. Mỗi người một cách, chắc gì năng lực thẩm mĩ của tôi có gì hay ho, có gì hơn người. Đúng vậy, năng lực thẩm mĩ không ai giống ai và không phân định lượng hơn kém như điểm số. Tuy vậy, vẫn có những tiêu chuẩn nhất định.
8 Nghệ thuật nào cũng gắn liền với khuôn khổ. Đôi khi nghệ thuật phải phá khuôn khổ để tiến lên, nhưng nghệ thuật tồn tại nhờ sự đấu tranh giữa khuôn khổ và nội dung. Bạn tự do lựa chọn cách rèn luyện năng lực thẩm mĩ, nhưng rốt cuộc phải sinh được mĩ cảm. Và mĩ cảm đó phải phù hợp với con người thực của bạn. Xã Xệ, Lý Toét nghe nhạc giao hưởng, mặc complet không thể là mĩ cảm lành mạnh.
9. Để có mĩ cảm và tối thiểu là phân biệt thơ với hò vè, cần nắm được thi tứ. Và vì vậy, cố nhiên chỉ nên đọc các loại thơ thực sự có thi tứ. Do phương tiện biểu đạt của Thơ rất hạn chế nên thi tứ là một ngụ ý ẩn náu trong ngôn từ, không thể cắt nghĩa tường minh mà phụ thuộc vào vốn văn hoá và trải nghiệm về thơ của chính bạn tạo thành. Thi tứ giống như một bức tranh hoặc giống một làn điệu nhạc, diễn tả một ý tưởng, hình ảnh hoặc cảm xúc có sức gợi mở và liên tưởng. Gợi mở và liên tưởng càng đa dạng, càng lớn thì giá trị càng cao.
10. Như vậy, Thơ chuyển qua các trường phái Ấn tượng và Tượng trưng là tất yếu. Bạn chưa hiểu được thơ tượng trưng hoặc ấn tượng là chưa hiểu được đạo lý của Thơ. Khi các hình ảnh tả cảnh, tả tình của thơ Lãng mạn đã khai thác hết uy lực, trở nên sáo mòn. Bấy giờ Thơ trở nên nhàm chán như một ván bài domino, vần điệu và nội dung đều bị tất định đến mức không còn chỗ để người đọc có thể sáng tạo ra mĩ cảm. Đừng nghe mấy ông giáo sư văn học kiêm cán bộ tuyên truyền xã phán tầm bậy bảo Ấn tượng và Tượng trưng là sự bế tắc của văn học tư sản. Những nền thi ca trác tuyệt đều đã có tính tượng trưng và ấn tượng, và đó mới là giá trị cao nhất của thơ. 11. Như vậy, nếu thơ có được những ấn tượng tinh tế (không đơn giản) hoặc tổ hợp độc đáo của các biểu tượng, sức gợi mở sẽ lớn hơn nhiều. Khi đó thi tứ không phải là một mệnh đề, cho dù là một minh triết. Cần phân biệt thi tứ với đại ý là cái xác định, có thể tóm lược và không có sức gợi mở. Nói về đại ý của bài thơ thì cũng như mô tả sức cháy của một cây dương cầm khi đem đốt. Vì vậy kể lại bài thơ, dù là một bài trường ca là một việc phản thẩm mĩ.
12. Tìm thi tứ của bài thơ là một quá trình ngược với quá trình sáng tác từ ý thơ mà viết thành bài thơ, hay từ bố cục phác thảo tạo nên bức tranh. Nếu như mỗi nét phất, mỗi mảng, mỗi màu đều có chủ ý, thì mỗi từ, nhịp điệu, hình ảnh, âm điệu đều có chủ đích. Vì vậy, bên cạnh việc tương thông tức thời, bắt được “tần số” của bài thơ, việc giải mã tìm thi tứ rất quan trọng. Chính đây là lợi ích của việc đọc thơ. Đọc văn bản hoặc đọc ngôn ngữ cơ thể, có nhiều yếu tố thuận lợi hơn nhưng điểm quan trọng trong đọc thơ vẫn phải nắm bắt được ý sau câu chữ. Toàn bộ nhận thức của con người hơn kém nhau chỉ ở việc đọc. Đọc là lấy được thông tin cần thiết dựa trên dữ liệu đã có.
13.Theo nghĩa như vậy, có thể là do may mắn ngẫu nhiên, thơ Đường thực sự là ấn tượng và tượng trưng, có khả năng gợi mở nhiều nhất. Ngô Tùng Phong đã từng nói ngôn ngữ Trung là văn khiêu ý. Khiêu ý không tốt cho truyền đạt, mô tả chính xác nhưng cực hay cho Thơ. Tôi thấy đọc thơ Đường cực kỳ bổ ích. Có được cái thú đọc thơ Đường là một ân sủng trời cho. Đọc thơ Đường, sẽ thấy thơ ấn tượng và tượng trưng của Âu Mỹ có nhiều cái rất tương đồng.
14. Đọc thơ nói chung có lợi cho học từ và rèn luyện tư duy. Dạy thơ Việt hiện nay rất kém, không phải do số lượng giờ dạy hoặc số các bài thơ, mà chưa hề dạy cách đọc Thơ. Nếu đọc thơ tốt, bạn sẽ đọc kinh, sách và triết học dễ dàng.

Thứ Hai, 14 tháng 2, 2022

Tính phi nhân của tư tưởng Á Đông

 Nhiều người cho rằng tư tưởng Á Đông mạnh về toàn cục nên kém về phân tích so với tư tưởng Phương Tây. Cao Xuân Huy cho rằng sự khác biệt là ở chủ toàn-chủ biệt. Phương Đông nhìn vấn đề theo hướng toàn cục, Phương Tây dựa trên phân tích thành từng mảnh nhỏ để lĩnh hội các mảnh dễ hơn "chia để chinh phục" (divide and conquest).

Nhiều người khác lại cho rằng tư tưởng Á Đông trọng ở tâm linh, tư tưởng Phương Tây trọng ở vật chất. Chúng ta sợ bất cứ loại ý thức siêu nhiên, phi vật chất nào, từ bình vôi đến ma xó. Phương Tây chỉ lo thiếu tiền, vì thế có sốt vàng, sốt thuộc địa, phát triển hạm đội, máy móc để kiếm tiền, trong khi ta nhàn tản trồng rau, nói chuyện đạo đức. Người khác lại cho Á Đông là duy tâm, Phương Tây là duy vật, Á Đông là chủ quan, Phương Tây là khách quan, Phương Đông là lý trí, Phương Tây là cảm giác, vân vân và vân vân.

Tất cả những luận thuyết đó đều là giản lược để phục vụ cho nhận thức chủ quan hoặc do hiểu quá sơ sài về tư tưởng Phương Đông hoặc Phương Tây, hoặc cả hai. Các quan điểm này mâu thuẫn với nhau đến nỗi chẳng thể rút ra một điều gì chung bổ ích. Thực ra mọi thứ như duy tâm-duy vật, tâm linh-vật chất, lý trí-cảm giác, chủ toàn-chủ biệt, chủ quan-khách quan, bản thể-hiện tượng, dù Đông hay Tây đều có đủ. Có chăng là ở Phương Tây do có phương pháp khoa học phát triển hơn mà các phạm trù này đều tinh tế hơn.

Khác biệt lớn nhất của tư tưởng Á Đông và Phương Tây là phi nhân và vị nhân. Mọi chủ thuyết của Á Đông đều không dựa trên cá nhân, không dựa trên cái tôi cụ thể. Mọi cá thể con người đều phải phủ định bản thân mình để phục tùng một trật tự được ai đó cho là hợp lý theo một nghĩa nào đó. Tu dưỡng, đào luyện ở phương Đông là quá trình phủ định các bản năng, để tiến tới phủ định hoàn toàn tư duy độc lập và cuối cùng là cá thể con người. Trong khi đó, cái Tôi là trung tâm của mọi tư tưởng, hành vi của Phương Tây. Nghệ thuật tạo hình Á Đông cũng vô cảm như vậy. Các bức tượng, tranh của phương Đông đều mang tính ước lệ đến nỗi các khuôn mặt tượng đều vô cảm, giống hệt nhau cho đến cả tư thế ngồi.

Xã hội Phương Đông được tổ chức mô phỏng theo hình thức toàn hảo nhất của loài côn trùng gồm ong, kiến và mối. Dân chủ, đổi mới nhất cũng chỉ là Vua Khỉ. Mọi cá thể khỉ đều là vô nghĩa, chỉ là một cái lông của Mỹ Hầu Vương. Mọi Hồng vệ binh chỉ là một con kiến thợ, mọi xúc cảm của họ đều là vô nghĩa trong tư tưởng chói sáng của Mao Chủ Tịch.

Chủ Nhật, 13 tháng 2, 2022

VŨ TRỤ CAM

Có người ví quyền năng của Einstein là quyền năng của Satan, vì nếu Newton làm mọi sự trở nên sáng sủa minh bạch thì Einstein làm mọi sự trở nên tối tăm và mơ hồ. Trước hết là việc trong lỗ đen và ở thời điểm Big Bang không có không gian và thời gian gây ra rất nhiều khó chịu và sinh ra các câu hỏi: Chui vào lỗ đen rồi đi đâu? Trước Big Bang là cái gì? Nếu vũ trụ là một điểm thì xung quanh đó là cái gì? Phải có cái gì đó chứa một điểm hay phải có cái gì gây ra Big Bang chứ?

Tôi sẽ đưa ra một mô hình tự tạo (home-made). Dám chắc là không có mấy người bác bỏ được. Nó sẽ giúp các bạn hiểu một số vấn đề, thậm chí còn đặt được một số câu hỏi có nghĩa hơn hoặc chí ít biết được một số câu hỏi không nên đặt ra. Tất nhiên bạn đừng coi nó là một mô hình vật lý nghiêm chỉnh.

Thế giới của tôi là một quả cam. Toàn thể vũ trụ đều tồn tại trên bề mặt quả cam. Mô hình này chỉ có 2 chiều, một chiều không gian và một chiều thời gian. Nhưng nếu bạn muốn mệt óc thì có thể cố tưởng tượng ra quả cam 5 chiều với bề mặt 4 chiều. Nhưng sẽ cũng chẳng vì thế mà những điều tôi sắp nói đây thay đổi về bản chất. Quả cam này có thể tích bao nhiêu nhỉ? Diện tích bề mặt là bao nhiêu? Đối với người sống ngoài thế giới-trái cam, chỉ việc lấy một cái thước (cố nhiên là thước của thế giới bên kia) đo là xong. Nhưng chắc chắn bề mặt của vũ trụ-cam là hữu hạn và nhỏ thôi. Điều gì xảy ra nếu, người ở thế giới bên kia cũng dung tục như trong thế giới của chúng ta? Họ sẽ đo bằng một cái thước cao su giống như một quan chức cảm tính, trái cam có thể lớn bằng trái bưởi hoặc nhỏ như trái chanh theo ý thích của người đo hoặc theo phong bì của người muốn đặt hàng bạn để bạn làm công việc đo cam nhưng theo một ý chí cam nào đó. Điều đó nghĩa là gì? Thay đổi độ đo sẽ cho kết quả khác! To nhỏ là do độ đo chứ không phải trái cam đã co lại hoặc dãn nở ra theo ý các "Thượng đế". Nhưng quyền năng của sự dối trá cũng có giới hạn, dù sao vũ trụ-cam cũng có kích thước hữu hạn đối với các sinh vật thượng đẳng. Ngựa hay hươu thì cuối cùng cũng là con vật có 4 chân mà thôi.


Đối với các sinh vật sống trong vũ trụ-cam thì sao? Có một ông Einstein-cam, viết ra một phương trình cam, và nói rằng metric phải được xác định bởi phương trình này. Cố nhiên ông có thể sẽ không được giải thưởng Nobel cam về phương trình cam này mà sẽ được giải về hiện tượng quang điện-cam nào đó. Rất không may là độ đo trong thế giới cam lại phụ thuộc vào tương tác hấp dẫn- cam và các sinh vật -cam thấy rằng trái cam đang nở ra, mặc dù ông Einstein cam cũng như bạn và tôi là những sinh vật thượng đẳng không tin ở điều đó. Nhưng chúng ta biết, vì Toán học của các sinh vật cam cũng giống như của chúng ta, rằng vật to hay nhỏ chỉ là do cách chọn độ đo. Nếu chọn một độ đo co lại theo thời gian thì thế giới nở ra. Độ đo tiến tới 0 thì thế giới sẽ nở ra vô cùng. Chọn độ đo nở ra thì thế giới co lại. Không có giới hạn nào cho việc chọn metric trong thế giới cam cả. Cố nhiên phương trình cam nói rằng quả cam đang nở ra với gia tốc dương.

Rồi có một số nhà bác học cam nói rằng có một số nghiệm kỳ dị của phương trình cam: lỗ đen cam và nổ lớn cam. Họ cho rằng quả cam bắt đầu có từ một vụ nổ lớn, là một thời điểm kỳ dị không có không gian và thời gian. Thực ra cam vẫn là cam. Nổ lớn, điểm kỳ dị chỉ có trong đầu của mấy nhà khoa học cam. Họ làm như sau: Đặt cam lên bàn đã kẻ sẵn ô. Nối điểm cực bắc (điểm cao nhất) của trái cam với một điểm bất kỳ trên mặt trái cam. Đường đó sẽ cắt mặt bàn tại một điểm nào đó có tọa độ là (x,t). Đó chính là không gian và thời gian cam. Điểm cực bắc của trái cam sẽ không có giá trị không gian và thời gian nào cả. Là các sinh vật thượng đẳng, chúng ta sẽ thấy những câu hỏi lăng nhăng kiểu trước cực bắc của trái cam là cái gì, cái gì sinh ra cực bắc trái cam của các sinh vật cam là vô nghĩa. Mặc dù các sinh vật cam cũng biết có phép chiếu nổi như chúng ta.


Điều đó không có nghĩa là chúng ta thông minh hơn sinh vật cam. Chúng ta sẽ không bao giờ hiểu được các tương tác cam mô tả bởi phương trình cam sinh ra các độ đo kỳ dị dường như ngu xuẩn, ảo giác dãn nở, các lời giải kỳ dị của thế giới cam nó hay ho ở chỗ nào. Chúng ta không bao giờ hiểu được tình cảm cam, tình yêu cam hay một ông Ngô Bảo Châu cam nào cứ khăng khăng yêu một cái chũm cam hơn những chỗ khác trong quả cam cho dù có nhiều nước ngọt hơn thì có ý nghĩa gì với chúng ta. Chúng ta cũng không bao giờ hiểu được tại sao sinh vật cam lại phải tụ tập hội nghị, đại hội cam nghiêm trang bàn về những vấn đề rất là ... cam mà đối với chúng ta thế nào cũng xong.
Quyền năng của Chúa là thấy mọi vấn đề đơn giản bằng cách đứng ngoài thế giới. Quyền năng của Satan là làm mọi vấn đề trở nên phức tạp bằng cách dấn thân vào thế giới cam chăng? Biết đâu ở một thế giới nào đó bên kia đang có một sinh vật đang mỉm cười nhìn thế giới chúng ta như một trái cam bốn chiều nhỏ xíu, trong khi chúng ta đang nói về những khoảng cách hàng tỷ năm ánh sáng và sóng hấp dẫn. Không hiểu sinh vật đó có sẵn sàng đánh đổi những điều đơn giản, hợp lý, tuyệt đỉnh thông thái lấy những cái rắc rối của cuộc sống và một cái chũm cam 5 chiều không nhỉ?






NGUYỄN VĂN HIỆU VÀ TÔI, - Nguyễn Ái Việt (6)

 Con người Nguyễn Văn Hiệu

    Nguyễn Văn Hiệu là một nhà khoa học lớn, nhưng trước hết là một con người. Ở vị trí của mình, ông phải chịu sức ép quá lớn từ hoàn cảnh, vốn không mấy thuận lợi cho việc phát triển khoa học. Tôi nghĩ, ông thừa thông minh để hiểu, các nhà khoa học được tôn vinh đôi khi chỉ để trang trí hoặc chỉ như một gia vị.

     Nhiều người nói điểm mạnh và cũng là điểm yếu của Nguyễn Văn Hiệu là tính độc đoán và định kiến. Trong nhiều hoàn cảnh, tính quyết đoán của Nguyễn Văn Hiệu là ưu điểm vượt trội của ông trong một nền hành chính thiếu quyết đoán, mù mờ, thủ tục nhiêu khê kéo dài, không ai dám quyết, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Ông kiên quyết bảo vệ quan điểm của mình. Dù không phải lúc nào ông cũng đúng, nhưng sau này, có kinh nghiệm quản lý, tôi mới thấy điều đó là cần thiết. Làm được 6-7 việc và sai 2-3, nếu không vi phạm luật chắc chắn là hơn nhưng người chỉ làm 1-2 việc đúng. Tuy nhiên cũng có khi ông khá độc đoán và định kiến kéo dài, không công bằng với một số người. Đó là điểm yếu của ông, nhưng cũng là tất yếu có thể hiểu được.

       Một số người khác nói rằng điểm yếu của Nguyễn Văn Hiệu là khoa trương, nói nhiều việc nhưng không thực hiện được. Sự thực thì Nguyễn Văn Hiệu rất nhiệt tình truyền cảm hứng cho mọi người. Mỗi khi ông đi công tác nước ngoài về, có được những ý tưởng mới, ông lại mời các cán bộ trong Viện lại và say sưa nói về viễn cảnh phát triển. Có người đã nghe ông nói hàng chục lần, trải qua hàng chục năm, nghe ông nói vẫn thấy nhiệt huyết sôi sục, muốn bắt tay vào việc. Đây chính là biệt tài của ông, khiến ông có sức thu hút, có khả năng tập hợp người, làm nhiều việc thành công. Tất nhiên, ông rất linh hoạt và luôn có ý tưởng mới, vì vậy ông như một người rắc ý tưởng trên đường đi, không phải luôn luôn có thời gian và nguồn lực để thực hiện. Nếu ai nắm bắt và sử dụng được, mọi ý tưởng của ông đều hàm chứa những chân trời phát triển mới. Vì thế tôi cho đây là một tính cách hồn hậu, nhiệt tình của Nguyễn Văn Hiệu.

       Có lẽ điểm yếu thực sự của ông là một tính cách tưởng chừng vô hại, và cũng là tính cách chung của nhiều nhà khoa học Việt Nam là cảm tính và cả tin. Chẳng hạn, tôi đã tận mắt thấy Nguyễn Hoàng Phương làm việc với “các nhà ngoại cảm”, ghi tất cả những gì họ nói coi là nguồn thông tin tin cậy mà không kiểm tra. Ông ngây thơ cho rằng ai cũng trong sáng, trọng danh dự và yêu chân lý như mình, không hề nghĩ tới những động cơ xấu. Thành thử các nhà khoa học, đáng ra rất duy lý lại dùng cảm tính để suy diễn và rất hay bị lừa phỉnh. Nguyễn Văn Hiệu cũng có những niềm tin cảm tính như vậy. Là nhà quản lý, có danh vọng, nhiều người vây quanh tâng bốc, lại bận rộn lọc thông tin không kỹ càng, rất dễ sai lầm. Bên cạnh đó, nhà quản lý thường cô đơn, vì những nhà khoa học thực sự, có bản lãnh thường không thích hòa mình vào đám đông xun xoe đang vây quanh ông. Tôi cảm nhận được sự cô đơn của Nguyễn Văn Hiệu và nhiều khi thấy thương ông vô cùng.  

    GS Cao Long Vân, một nhà vật lý lý thuyết xuất sắc tại Ba Lan, tỏ ý tiếc cho việc Nguyễn Văn Hiệu không phát huy được mặt mạnh nhất của ông là lý thuyết trường và hạt cơ bản tại Việt Nam. Ông không có truyền nhân trực tiếp nào có tầm cỡ như ông hoặc ít ra tương đương với các học trò trong vật lý chất rắn. Trong những học trò đời cuối cùng của ông chỉ có Hà Đại Phước còn làm về lý thuyết hạt cơ bản ở Mỹ, nhưng không phải theo hướng của Nguyễn Văn Hiệu đã hướng dẫn. Tại Mỹ, Hà Đại Phước đã đi theo hướng nghiên cứu của tôi làm thời sinh viên là tính mô ment từ của các hạt baryon và có những kết quả xuất sắc. Nhà khoa học sẽ được sống mãi trong công việc tiếp nối của các học trò, Nguyễn Văn Hiệu để những kiến thức về lý thuyết trường và hạt sơ cấp của ông uổng phí là một điều đáng tiếc, không phải đối với riêng ông mà còn đối với ngành Vật lý Việt Nam. Chúng ta có quyền đặt câu hỏi vì sao khi các học trò xuất sắc nhất của ông như Nguyễn Ái Việt A, Nguyễn Toàn Thắng, Nguyễn Bá Ân, đã trưởng thành, nghĩa vụ của Nguyễn Văn Hiệu đối với vật lý chất rắn đã hoàn tất, ông không truyền thụ nốt cho họ những “tuyệt chiêu” về lý thuyết trường và hạt cơ bản của ông. Một người thầy lớn phải luôn luôn mong muốn có những học trò được như mình, thậm chí hơn mình, như Nguyễn Hoàng Phương đã từng hết lòng với Nguyễn Văn Hiệu.

      Theo tôi, tình yêu của Nguyễn Văn Hiệu đối với Vật lý luôn cháy bỏng, nhưng ông luôn hướng tới những kết quả cụ thể, không để ý nhiều tới những vẻ đẹp mê hồn của nó. Có một điều gì đó, tôi thấy thiếu ở Nguyễn Văn Hiệu là sự lãng mạn, tôn thờ cái đẹp thủy chung trong Vật lý ở những người như Nguyễn Hoàng Phương, Cao Chi. Có lẽ ông quá bận rộn không có thời gian để thưởng thức những vẻ đẹp mà đáng ra ông có quyền được hưởng. Đôi khi ông bỏ qua những tài năng trẻ không theo những hướng nghiên cứu mà ông đang quan tâm. Trường hợp mà tôi tiếc nhất là Trần Trí Triết, là nghiên cứu viên của phòng Vật lý lý thuyết trong những năm 1979-1980. Anh có những tư tưởng rất táo bạo, kiến thức rất sâu, nhưng không được động viên và tạo điều kiện thích đáng, cuối cùng phải bỏ nghề.

     Điều tôi tiếc nhất cho Nguyễn Văn Hiệu là ông không giữ được quan hệ tốt đẹp với một số đồng nghiệp, trong đó có những người thực sự xuất sắc. Nếu ông có thể kết hợp với họ, sử dụng được năng lực của họ, với cả một tập thể lớn, nền vật lý của chúng ta có thể sẽ tiến xa hơn nữa. Nước nổi, thuyền nổi, người cầm lái sẽ càng nổi. Người xưa có nói “dụng nhân như dụng mộc”, dùng cây không chỉ dùng thân, sử dụng được cả lá, cành và rễ mới là thợ cả giỏi.  Đôi khi toàn bộ giá trị của cây lại nằm trong phần rễ xấu xí ẩn sâu trong lòng đất.

     Nhắc đến Nguyễn Văn Hiệu, không nhắc đến Nguyễn Hoàng Phương là một thiếu sót lớn, không công bằng, có thể là thiếu trung thực. Nếu Nguyễn Văn Hiệu không gặp được Logunov, Nguyễn Văn Hiệu có thể không có bằng sáng chế về tán xạ phi đàn tính sâu, ông vẫn có thể có những công trình khác với Pontercovo, Markov, Ogievetsky ở phòng thí nghiệm neutrino. Việt Nam vẫn có thể có nhà quản lý Nguyễn Văn Hiệu, vì thời thế đã gọi tên ông. Thậm chí ông có thể được nhắc tên nhiều hơn trên về khoa học. Nhưng nếu không có, sự giúp đỡ chí tình, vô tư và tầm nhìn của một người thầy lớn, những hướng dẫn ban đầu của Nguyễn Hoàng Phương, khó có thể có một Nguyễn Văn Hiệu như ngày nay chúng ta biết. 

     Có thể nếu được làm việc dưới quyền của Nguyễn Đình Tứ, tôi sẽ có cơ hội học hỏi nhiều hơn về tư duy quản lý, cảm thấy sự ấm áp hơn về tình người. Nếu được làm khoa học với Trần Hữu Phát, có thể tôi sẽ có được nhiều giờ thảo luận sâu hơn về vật lý thực sự. Có thể nếu được sinh ra sớm hơn, tôi có thể sẽ được làm việc với Nguyễn Hoàng Phương để tiếp thu những ý tưởng bay bổng. Nhưng nếu được chọn lại từ đầu, có lẽ tôi vẫn sẽ chọn về Viện Vật lý, cho dù chỉ được chiêm ngưỡng, học hỏi Nguyễn Văn Hiệu từ xa và cuối cùng chỉ nhận được từ ông sự cảm thông muộn màng. Đối với con đường khoa học và đến với những hoài bão tuổi trẻ, một lời tri kỷ từ một đồng nghiệp cũng đã là may mắn đủ cho thiên thu không dễ dầu gì có được. Có lẽ tôi cũng cô đơn như ông, mặc dù chưa bao giờ muốn làm một người khổng lồ, với đôi đầu gối mỏi mòn dưới sức nặng ngàn cân, lê từng bước nặng nề hành hương về một phương trời vô định.

NGUYỄN VĂN HIỆU VÀ TÔI, - Nguyễn Ái Việt (5)

Phần 4c 
Những kỷ niệm cuối cùng

      Từ năm 1991, tôi đi Mỹ, nghiên cứu tại Đại học Syracuse, phát triển lý thuyết Kaluza-Klein với chiều gián đoạn, thống nhất tương tác hấp dẫn với các tương tác điện từ, mạnh và yếu. Đây là một hướng nghiên cứu hẹp, công cụ toán học trừu tượng và khó. Hồi bấy giờ, Syracuse là trung tâm mạnh nhất thế giới về lý thuyết hấp dẫn, quy tụ được nhiều nhà vật lý cự phách như A.Ashtekhar, R.Penrose (giải thưởng Nobel 2021), L.Smolin, C.Rovelli,… Do đó tôi quyết định gác những đề tài đang còn dở dang chuyển sang làm hấp dẫn để có thể tận dụng cơ hội hiếm có này. Cũng may, khi đó TS.Nguyễn Hồng Chương, một chuyên gia về vũ trụ học cũng đang làm việc tại Syracuse. Mỗi buổi sáng vào trường, Nguyễn Hồng Chương lại nói cho tôi nghe một chút về bức tranh toàn cảnh của lĩnh vực này, điều mà tôi rất thiếu khi bước vào lý thuyết trường. Đồng thời tôi cũng theo dõi công việc của nhóm Ashtekhar. Chính nhờ vậy, tôi đã nhanh chóng nắm được những vấn đề lớn trong lĩnh vực này và định ra được cho mình một hướng đi sau 6 tháng khi tới Syracuse. Nhờ vậy, tôi đã xây dựng thành công lý thuyết Einstein dựa trên hình học không giao hoán, vượt quá được những khó khăn mà nhóm của J.Frohlich đã vấp phải và chỉ ra lý thuyết này chính là lý thuyết Kaluza Klein với chiều phụ gián đoạn. Về mặt hiện tượng luận, cũng có những thành công nhất định, khi ứng dụng lý thuyết này tiên đoán khối lượng của quark top, hạt Higgs và mô tả hệ Hall lượng tử hai lớp. Trước khi mất một năm nhà vật lý gốc Ấn Độ, giải thưởng Nobel 1983, S.Chandrasekhar có tới Syracuse gặp tôi sau khi đọc các bài báo này và khuyên tôi “Nếu tôi là anh và nếu tôi còn trẻ, cho đến cuối đời, tôi sẽ chỉ làm đề tài này.” Đối với tôi đó là thành tích cao nhất về khoa học mà tôi có được.

    Năm 1995, tôi chuẩn bị cho việc về nước, nên bắt đầu nghiên cứu thêm về CNTT, khi đó bắt đầu phát triển rất mạnh tại Mỹ sau sự ra đời của công nghệ Web. Khi đó tôi nghĩ rằng CNTT sẽ phát triển ở Việt Nam, tôi sẽ có thêm một nghề tay trái để tiếp tục làm Vật lý lý thuyết. Tuy nhiên, những cơ duyên mới được mở ra và do nhu cầu thực tế, tôi trở thành chuyên gia CNTT, Vật lý lý thuyết chỉ còn là nghề tay trái. Trong lĩnh vực mới này, tôi có cơ hội đóng góp tốt hơn cho xã hội. Do đó tôi phần nào hình dung được việc Nguyễn Văn Hiệu chuyển hướng sang Vật lý bán dẫn, rồi công nghệ nano. Có lẽ ông cũng loay hoay tìm hướng hoạt động có tác động xã hội trực tiếp và mạnh hơn. Về phương diện này, có lẽ tôi đã may mắn hơn ông.

      Năm 2003, tình cờ Nguyễn Văn Hiệu gặp vợ tôi và nói “Chú vẫn thường xuyên đọc tất cả công trình của Việt, và thấy rất thích cách nghĩ táo bạo của Việt. Chú thấy Việt có nhiều điểm giống chú. Bây giờ chú thấy tiếc đã không hướng dẫn trực tiếp và tạo điều kiện làm việc tốt cho Việt. Việt đã phải làm việc trong điều kiện rất khó khăn mà vẫn tìm được cho mình được con đường riêng là một điều đáng phục.” Lúc đó tôi mới biết, ông chưa hề “bỏ rơi” tôi về tinh thần. Điều đó đã giải phóng cho tôi phần nào tâm sự, và làm tôi thấy nhẹ nhõm hơn. Quả thật tôi chỉ muốn có một sự thừa nhận công bằng chứ không hề muốn có sự nâng đỡ đặc biệt của bất cứ ai. Lần cuối cùng, tôi gặp ông tại một Hội thảo về Bách Khoa Toàn Thư Việt Nam. Chúng tôi phụ trách công việc ở hai Ban khác nhau, ông ở Ban Vật lý, tôi ở Ban Công nghệ Thông tin. Ông đăng đàn, kể lể công lao của ngành Vật lý khiến tôi bùi ngùi xót xa. Ngành Vật lý là một ngành khoa học lâu đời nhất của nền khoa học Việt Nam, một thời tập trung nhiều nhân tài xuất chúng nhất, đáng lẽ phải là anh cả, dẫn đầu các ngành khoa học mà chỉ yêu cầu được coi ngang hàng hay gần bằng với các ngành khoa học, công nghệ khác mà thôi ư? Ai phải chịu trách nhiệm về điều đó? Tại hội thảo đó, tôi đã đề xuất một phương pháp ứng dụng CNTT thông tin để soạn Bách Khoa Toàn Thư nhanh chóng và đảm bảo chất lượng. Sau Hội thảo, ông cùng Nguyễn Đại Hưng đến gặp tôi nói “Chú ủng hộ phương pháp của Việt. Về CNTT, bây giờ chú phải học cháu chứ. Chạy dạy chú cách để chú làm Bách Khoa Toàn thư cho ngành Vật lý.”

Thứ Năm, 10 tháng 2, 2022

NGUYỄN VĂN HIỆU VÀ TÔI - Nguyễn Ái Việt (4c)

 Phần 4b

Phần 4c

Tiếp tục nghiên cứu về lý thuyết trường lượng tử

     Tôi về phòng Viện Vật lý, đúng dịp TS Đào Vọng Đức đi nghiên cứu dài ngày ở Ý. GS. Nguyễn Văn Hiệu, nhận tạm thời hướng dẫn tôi và anh Hoàng Ngọc Long. Ông lại hướng dẫn chúng tôi đọc các bài báo về monople của t’Hooft và Polyakov, về instanton của Belavin, Schwarz, Polyakov và Tyuptin. Đây là các vấn đề rất khó và rất thời sự vào lúc đó, được hy vọng là lời giải cho bài toán cầm tù quark. Rõ ràng Nguyễn Văn Hiệu chưa bao giờ rời bỏ những hướng nghiên cứu mà ông đã vạch ra cho tôi. Một trong những điểm khó hiểu nhất trong các bài báo này là các khái niệm về topo và hình học vi phân. Tôi đã tổ chức một semina hàng tuần về phương pháp toán học này tại nhà, có Nguyễn Quốc Nam, Nguyễn Hùng Sơn và một số người khác tham dự. Nguyễn Văn Hiệu rất quan tâm đến semina này. Ông thường hỏi tôi “Semina của cậu có hay không?” Tuy vậy, thời gian được làm việc với thầy Hiệu của tôi chỉ kéo dài 2 tháng. Thậm chí, tôi chưa có buổi nào được làm việc trực tiếp mà chỉ nhận tài liệu qua thư ký để đọc. Ông quá bận để có thể có thời gian cho tất cả mọi người.

     Một trong những khó khăn của tôi trong thời kỳ này là việc định hướng nghiên cứu. Tôi khi đó còn quá trẻ chưa có tầm nhìn toàn cảnh về ngành Vật lý, không biết phải học và nghiên cứu cái gì. Sau này, Nguyễn Văn Hiệu có nói ông có hai may mắn. Một là được chuẩn bị kiến thức cơ bản, đọc đúng sách cần thiết trước khi đi Dubna. Hai là gặp được những người hướng dẫn tận tình và giỏi. Cả hai điều này tôi đều không có. Ở Phòng lý thuyết, tôi được biết là không thể đi về các hướng sẽ hướng tới sử dụng máy tính như ở Budapest, bên cạnh đó, ở Việt Nam khi đó chỉ có Nguyễn Văn Hiệu quan tâm tới sắc động học lượng tử. Một lần, Nguyễn Văn Hiệu đi công tác ở Pháp về gọi chúng tôi tới nói về các công trình siêu hấp dẫn trong không gian 11 chiều của một nhà vật lý trẻ là Julia. Ông nói: Julia không hơn gì tuổi các cậu đã giỏi như vậy, các cậu phải cố lên. Thực ra không dễ dầu gì có được điều kiện làm việc như Julia. Cái chúng tôi được nhà nước cung cấp cho là một tháng 2 thếp giấy nháp màu nâu, chỉ viết được trên một mặt và 2 cái bút chì, và được bảo là “làm khoa học đi”. Các tạp chí khoa học trước đó được Trung Quốc viện trợ, lúc đó đã bị cắt hẳn. Thi thoảng cũng có một vài số tạp chí mới nhất, thường là chậm từ 5-10 năm. Chúng tôi chia sẻ với nhau một số sách tiếng Nga kinh điển như cuốn “Điện động học lượng tử” của Akhiezer, “Nhập môn lý thuyết trường lượng tử” của Bogoliubov và Shirkov. Chúng tôi cũng được truyền kinh nghiệm “Sếp Hiệu đã tính nát hai bộ sách này, nên mới thành công như vậy ở Dubna”. Chúng tôi cũng tin là chỉ cần đọc kỹ và thực hiện tính toán trong hai cuốn sách này, vật lý thế giới sẽ nằm trong tầm tay. Ngày nay nhìn lại mới thấy niềm tin đó thật ngây thơ như ếch ngồi đáy giếng. Vào năm 1956-1958, hai bộ sách này còn là mới và đang theo sát các vấn đề mà giới vật lý quan tâm, được hướng dẫn đọc hai bộ sách này, rồi lại đến Dubna làm việc với các tác giả là may mắn của Nguyễn Văn Hiệu. Tới năm 1980, các cuốn sách này ít có liên hệ trực tiếp với những vấn đề thời sự trong vật lý. Tuy vậy, tôi quyết định bỏ thời gian nghiên cứu phương pháp topo và hình học vi phân. Tôi nói rằng nếu Julia thành công ở tuổi 30, tôi sẽ được như Julia vào năm 40 tuổi hoặc thậm chí 60 tuổi cũng là tốt rồi. Thực ra, đó chỉ là cách chọn hướng cụ thể khác, về phương pháp cũng là do ảnh hưởng từ Nguyễn Văn Hiệu.

     Năm 1980, Nguyễn Văn Hiệu quan tâm trở lại lĩnh vực trường lượng tử và hạt cơ bản. Ông lập một nhóm nghiên cứu rất mạnh gồm có Nguyễn Hùng Sơn, Hà Đại Phước và Lê Viết Dũng, là những nhà khoa học trẻ giỏi nhất của Trung tâm Vật lý lý thuyết. Đây là thế hệ học trò cuối cùng về vật lý hạt cơ bản của Nguyễn Văn Hiệu. Sau hơn 10 năm không làm việc trong lĩnh vực này, mặc dù vẫn luôn cố gắng cập nhật với các thành tựu mới nhất, Nguyễn Văn Hiệu đã phải hết sức vất vả để mở một hướng đi cho nhóm này vừa phải xứng đáng với tầm cỡ của mình. Ông đã cố gắng nghiên cứu về một cách biểu diễn mới cho siêu đối xứng. Tình cờ, đây cũng là đề tài nghiên cứu của tôi.  Năm 1984, tôi có dịp đến Dubna làm việc mấy tháng và chọn làm việc với GS. V.I.Ogievetsky, là người rất nổi tiếng trên thế giới với khái niệm “siêu không gian điều hòa”. Tại Mỹ ông được mệnh danh là “Fezza Gursey của Nga” thể hiện một sự kính trọng tuyệt đối. Ogievetsky cùng tuổi với Nguyễn Văn Hiệu và bắt đầu làm việc với Viện sĩ M.A.Markov tại phòng thí nghiệm neutrino từ năm 1956. Tuy vậy, ông bị thành kiến, chèn ép nên mãi tới năm 1990 mới được ra nước ngoài lần đầu, đến Budapest dự một hội nghị. Tôi đã đưa ông và vợ đi chơi Budapest, rất ngạc nhiên khi ông nói lần đầu tiên được ra nước ngoài và đời sống ở Nga lúc bấy giờ rất túng thiếu. Năm 1994, tôi còn gặp Ogievetsky lần cuối cùng ở Philadelphia, khi ông sang Mỹ làm việc ngắn hạn theo lời mời của J.Bagger.

        Nhờ những chuẩn bị khá tốt về phương pháp hình học và topo, lại ứng dụng được những kiến thức này trong một công trình viết chung với nhóm nghiên cứu của Ogievetsky, năm 1977, sau khi bảo vệ luận văn tiến sĩ trong nước, tôi đã có được một công trình độc lập về phương pháp topo được đăng Tạp chí Physics Letters B, là tạp chí hàng đầu về vật lý lý thuyết và cũng đã hình thành được hướng nghiên cứu khá hấp dẫn về mô hình Skyrme cùng với Phạm Thúc Tuyền. Mô hình này được quan tâm trở lại và trở thành đề tài nóng, với tư tưởng là phương pháp topo sau công trình của nhóm nghiên cứu của nhà vật lý Mỹ, giải thưởng Fields 1990, E.Witten. Tuy vậy, chúng tôi bắt buộc phải tính toán trên máy tính để có các kết quả so khớp được với thực nghiệm. Cũng may là lúc đó tôi nhận được giải thưởng về Vật lý của Viện Hàn lâm Khoa học Hungary và có điều kiện sang Budapest. Giải thưởng này khá vinh dự vì mỗi năm chỉ có 2 người được nhận giải, cùng năm với tôi là Viện sĩ Nga N.Gribov và trước đó là P.Dirac, giải thưởng Nobel năm 1932. Kèm theo giải thưởng là học bổng một năm nghiên cứu tại Budapest. Tại Budapest, tôi nhanh chóng hoàn thành các tính toán và công bố các bài báo cùng với anh Phạm Thúc Tuyền, các kết quả này được nhà vật lý nổi tiếng Fezza Gursey nhắc đến.

Chủ Nhật, 6 tháng 2, 2022

NGUYỄN VĂN HIỆU VÀ TÔI, - Nguyễn Ái Việt (4b)

Phân 4b: 
 http://aivietnguyen.blogspot.com/2022/02/nguyen-van-hieu-va-toi-nguyen-ai-viet-4a.html

Ứng dụng phương pháp trường lượng tử trong vật lý chất rắn

     Khi về Viện Vật lý, tôi được phân công làm trong nhóm của các TS. Đào Vọng Đức và Nguyễn Thị Hồng. Nguyễn Văn Hiệu chỉ nói ngắn gọn “Cháu sẽ làm việc về lý thuyết hạt cơ bản với chú Đức, là một người rất giỏi. Chú cũng làm về hạt cơ bản, nhưng sẽ phụ trách nhóm nghiên cứu lý thuyết bán dẫn.” Sau này, tôi mới biết Nguyễn Văn Hiệu vẫn say mê và không ngừng nghiên cứu vật lý hạt cơ bản là mối tình khoa học đầu tiên của ông. Tuy vậy, ông nhận thức được rằng vật lý chất rắn sẽ có ý nghĩa lớn hơn đối với ứng dụng tại Việt Nam và tự thấy mình có trách nhiệm phát triển hướng nghiên cứu này. Ông tập hợp được một nhóm khá đông các nhà vật lý lý thuyết trẻ có năng lực, được tuyển chọn rất kỹ như Nguyễn Ái Việt A, Nguyễn Toàn Thắng, Nguyễn Bá Ân, Nguyễn Như Đạt, Nguyễn Vinh Quang, Hoàng Ngọc Cầm, Hà Vĩnh Tân, sau này có thêm Nguyễn Hồng Quang, Nguyễn Quê Hương, Hoàng Anh Tuấn, ngày nay đều là những nhà vật lý xuất sắc, thành danh. Trong phòng Lý thuyết còn có các anh lớn tuổi hơn như Nguyễn Văn Trọng, Nguyễn Ngọc Thuân, cũng là những nhà vật lý uyên bác, thông minh xuất chúng.

     Nguyễn Văn Hiệu muốn tạo ra một trường phái vật lý bán dẫn tại Việt Nam sử dụng thế mạnh của ông đã thành công vang dội tại Dubna là phương pháp tính biên độ tán xạ sử dụng các giản đồ Feynman. Nói ý tưởng thì đơn giản nhưng khi áp dụng không hoàn toàn như vậy. Trong nhiều năm, ông và các học trò đã phát triển một hướng đi độc đáo trong vật lý bán dẫn, phát triển một phương pháp luận tính toán các quá trình sinh hủy các giả hạt để giải thích rất nhiều hiện tượng vật lý trong chất bán dẫn. Rất nhiều công sức đã bỏ ra để có một phương pháp luận trong sáng, dễ hiểu, dễ dùng, từ những công cụ phức tạp của lý thuyết trường. Nhiều người cho rằng đây là cách dùng “đại bác bắn chim sẻ”, tuy vậy, tôi cho rằng đó là cách duy nhất làm đúng. Khi đó tại Việt Nam, tài liệu, điều kiện tiếp xúc quốc tế, điều kiện làm việc đều vô cùng khó khăn. Để có được một công trình mới có ý nghĩa có thể công bố được trên các tạp chí có uy tín trên thế giới là vô cùng khó khăn, chưa nói tới được việc hình thành một trường phái lớn, có ảnh hưởng tới thực nghiệm và ứng dụng. Một cách làm khác phổ biến hơn là vẫn tiếp tục các đề tài nghiên cứu ở nước ngoài và nỗ lực để có những thành công xuất sắc. Ở Phòng Vật lý thời đó, có những nhà khoa học giỏi như các anh Đoàn Nhật Quang, Nguyễn Văn Liễn, Nguyễn Minh Khuê, vẫn có thể làm những hướng khác, độc lập. Tuy vậy, nếu nhìn lại, nét chủ đạo vẫn là “công nghiệp tính toán sơ đồ Feynman cho bán dẫn” (như chúng tôi vẫn gọi đùa một cách thân thương) của nhóm nghiên cứu do GS Nguyễn Văn Hiệu lãnh đạo.

      Từ những năm 1980, lứa học trò đầu tiên của Nguyễn Văn Hiệu đã trưởng thành và đã vươn tới các đề tài hiện đại và có ý nghĩa vật lý sâu hơn như hiệu ứng Hall lượng tử, siêu dẫn nhiệt độ cao, quang học bán dẫn, tính toán lượng tử. Tuy tôi không làm việc trong nhóm của Nguyễn Văn Hiệu, nhưng tôi cũng học được ít nhiều các ý tưởng mới này qua các cuộc trò chuyện, semina và báo cáo hội nghị với các anh ở nhóm này, nhờ có chuẩn bị kiến thức cơ bản về Vật lý chất rắn và hệ nhiều hạt từ thời học đại học qua các giáo trình của C.Kittel và L.Landau. Một trong những điều thú vị của các Hội nghị Vật lý lý thuyết thời đầu là các chuyên gia ở các chuyên ngành có thể học hỏi từ các chuyên ngành khác. Trong nghiên cứu vật lý, việc có một nhãn quan rộng vượt khỏi đề tài hẹp của mình là vô cùng cần thiết.

Thứ Bảy, 5 tháng 2, 2022

NGUYỄN VĂN HIỆU VÀ TÔI - Nguyễn Ái Việt (4a)

 Thành lập Viện Vật lý 

     Năm 1969, Nguyễn Văn Hiệu cùng gia đình về nước, bằng chuyến tàu liên vận qua Syberia và Trung Quốc. Sau này, tôi đã từng đi chuyến tàu như thế, nên cũng có thể tưởng tượng được tâm trạng của GS. Hiệu khi đó như thế nào. Không thể nói là không có nhớ tiếc những công việc khoa học đang còn dang dở, môi trường làm việc lý tưởng đang thuận lợi, những người bạn đồng nghiệp tốt bụng và giỏi giang, cũng như những khắc khoải về khó khăn trước mắt. Tuy nhiên, tâm trạng sẵn sàng cho công việc mới mà đất nước đang sắp sửa giao phó cho ông cũng đầy hứng thú. Trên chuyến tàu này còn có TS trẻ Chu Hảo, sau này sẽ là Thứ trưởng Bộ Khoa học Công Nghệ, là người Nguyễn Văn Hiệu đã hướng dẫn nghiên cứu và đưa vào làm việc về Vật lý Chất rắn tại Dubna.  Tuy là thế hệ thầy trò, nhưng Chu Hảo cũng chỉ kém Nguyễn Văn Hiệu có vài tuổi.Tôi có thể tưởng tượng chuyến tàu đó với những câu chuyện về tương lai giữa hai nhà vật lý trẻ thông minh và vẻ mặt đăm chiêu của Nguyễn Văn Hiệu đã chìm đắm trong những viễn cảnh mới.

     Thảo luận về việc về nước năm 1969 của Nguyễn Văn Hiệu, nhiều bạn trẻ băn khoăn, tiếc nuối về việc vì sao Nguyễn Văn Hiệu không tiếp tục ở lại để nghiên cứu. Thực ra, thời bấy giờ việc hết thời gian làm việc về nước, đất nước đã đào tạo ra nhà khoa học, thì nhà khoa học phải về nước phục vụ là một việc rất tự nhiên. Tuy vậy, Nguyễn Văn Hiệu hoàn toàn có thể nhờ các Viện sĩ có uy tín can thiệp, tác động để chính phủ Liên Xô gửi công hàm đề nghị giữ ông tiếp tục làm ở Dubna. Rõ ràng, Nguyễn Văn Hiệu đã có chuẩn bị cho việc về nước từ những ngày đầu. Việc này hoàn toàn phù hợp với việc cùng một lúc tham gia vào nhiều hướng khoa học. Tôi suy luận và phỏng đoán rằng Nguyễn Văn Hiệu khi đó đã nghĩ tới việc xây dựng một nền vật lý tương lai cho Việt Nam, nên ông tìm hiểu và thu gom mọi kiến thức không phải cho một mình ông mà cho cả một cộng đồng. Chính vì thế, ông làm việc bằng 3,4  lần người khác. Một trong những học trò gần gũi của ông là GS. Nguyễn Hồng Quang, đã khẳng định trong những buổi tâm sự với các học trò gần gũi, GS. Hiệu cũng đã tâm sự những điều tôi đã suy luận được.

     Về đến Việt Nam, Nguyễn Văn Hiệu được Thủ tướng Phạm Văn Đồng và chính phủ giao cho việc thành lập Viện Vật lý, khi mới 31 tuổi. Cho tới nay, ông vẫn là người trẻ nhất làm Viện trưởng một Viện nghiên cứu. Tôi nghe được câu chuyện Thủ tướng Phạm Văn Đồng, khi biết được người ta xếp lương cho Nguyễn Văn Hiệu ở mức chuyên viên 1 là 105 đồng, đã tự tay thay đổi thứ tự các con số thành 150 đồng, bằng lương Bộ trưởng, chuyên viên 7.