Chân Thiện Mỹ là nội dung chính của Triết Học, thường bị quy giản về Đạo Đức học, một phần nhỏ của Triết Học. Trong cuộc sống, chúng ta còn có cách hiểu giản lược hơn nữa: Chân là cái Đúng; Thiện là cái Tốt; Mỹ là cái Đẹp. Những khái niệm này đều tương đối, chủ quan. Ngày nay chúng đã trở nên đa dạng và phải linh hoạt trong một xã hội đa nguyên, đa văn hoá, hội nhập và nhân bản.
Thứ Ba, 12 tháng 4, 2022
Chân Thiện Mỹ và quy tắc ứng xử
Thứ Sáu, 25 tháng 3, 2022
Thiên văn Trung Quốc
Thứ Ba, 22 tháng 3, 2022
Đọc Thơ thế nào cho bổ ích
Thứ Hai, 14 tháng 2, 2022
Tính phi nhân của tư tưởng Á Đông
Nhiều người cho rằng tư tưởng Á Đông mạnh về toàn cục nên kém về phân tích so với tư tưởng Phương Tây. Cao Xuân Huy cho rằng sự khác biệt là ở chủ toàn-chủ biệt. Phương Đông nhìn vấn đề theo hướng toàn cục, Phương Tây dựa trên phân tích thành từng mảnh nhỏ để lĩnh hội các mảnh dễ hơn "chia để chinh phục" (divide and conquest).
Nhiều người khác lại cho rằng tư tưởng Á Đông trọng ở tâm linh, tư tưởng Phương Tây trọng ở vật chất. Chúng ta sợ bất cứ loại ý thức siêu nhiên, phi vật chất nào, từ bình vôi đến ma xó. Phương Tây chỉ lo thiếu tiền, vì thế có sốt vàng, sốt thuộc địa, phát triển hạm đội, máy móc để kiếm tiền, trong khi ta nhàn tản trồng rau, nói chuyện đạo đức. Người khác lại cho Á Đông là duy tâm, Phương Tây là duy vật, Á Đông là chủ quan, Phương Tây là khách quan, Phương Đông là lý trí, Phương Tây là cảm giác, vân vân và vân vân.
Chủ Nhật, 13 tháng 2, 2022
VŨ TRỤ CAM
Có người ví quyền năng của Einstein là quyền năng của Satan, vì nếu Newton làm mọi sự trở nên sáng sủa minh bạch thì Einstein làm mọi sự trở nên tối tăm và mơ hồ. Trước hết là việc trong lỗ đen và ở thời điểm Big Bang không có không gian và thời gian gây ra rất nhiều khó chịu và sinh ra các câu hỏi: Chui vào lỗ đen rồi đi đâu? Trước Big Bang là cái gì? Nếu vũ trụ là một điểm thì xung quanh đó là cái gì? Phải có cái gì đó chứa một điểm hay phải có cái gì gây ra Big Bang chứ?
NGUYỄN VĂN HIỆU VÀ TÔI, - Nguyễn Ái Việt (6)
Con người Nguyễn Văn Hiệu
Nguyễn Văn Hiệu là một
nhà khoa học lớn, nhưng trước hết là một con người. Ở vị trí của mình, ông phải
chịu sức ép quá lớn từ hoàn cảnh, vốn không mấy thuận lợi cho việc phát triển
khoa học. Tôi nghĩ, ông thừa thông minh để hiểu, các nhà khoa học được tôn vinh
đôi khi chỉ để trang trí hoặc chỉ như một gia vị.
Nhiều người nói điểm mạnh và cũng là điểm
yếu của Nguyễn Văn Hiệu là tính độc đoán và định kiến. Trong nhiều hoàn cảnh,
tính quyết đoán của Nguyễn Văn Hiệu là ưu điểm vượt trội của ông trong một nền
hành chính thiếu quyết đoán, mù mờ, thủ tục nhiêu khê kéo dài, không ai dám quyết,
dám làm, dám chịu trách nhiệm. Ông kiên quyết bảo vệ quan điểm của mình. Dù
không phải lúc nào ông cũng đúng, nhưng sau này, có kinh nghiệm quản lý, tôi mới
thấy điều đó là cần thiết. Làm được 6-7 việc và sai 2-3, nếu không vi phạm luật
chắc chắn là hơn nhưng người chỉ làm 1-2 việc đúng. Tuy nhiên cũng có khi ông
khá độc đoán và định kiến kéo dài, không công bằng với một số người. Đó là điểm
yếu của ông, nhưng cũng là tất yếu có thể hiểu được.
Một
số người khác nói rằng điểm yếu của Nguyễn Văn Hiệu là khoa trương, nói nhiều
việc nhưng không thực hiện được. Sự thực thì Nguyễn Văn Hiệu rất nhiệt tình
truyền cảm hứng cho mọi người. Mỗi khi ông đi công tác nước ngoài về, có được
những ý tưởng mới, ông lại mời các cán bộ trong Viện lại và say sưa nói về viễn
cảnh phát triển. Có người đã nghe ông nói hàng chục lần, trải qua hàng chục
năm, nghe ông nói vẫn thấy nhiệt huyết sôi sục, muốn bắt tay vào việc. Đây
chính là biệt tài của ông, khiến ông có sức thu hút, có khả năng tập hợp người,
làm nhiều việc thành công. Tất nhiên, ông rất linh hoạt và luôn có ý tưởng mới,
vì vậy ông như một người rắc ý tưởng trên đường đi, không phải luôn luôn có thời
gian và nguồn lực để thực hiện. Nếu ai nắm bắt và sử dụng được, mọi ý tưởng của
ông đều hàm chứa những chân trời phát triển mới. Vì thế tôi cho đây là một tính
cách hồn hậu, nhiệt tình của Nguyễn Văn Hiệu.
Có
lẽ điểm yếu thực sự của ông là một tính cách tưởng chừng vô hại, và cũng là
tính cách chung của nhiều nhà khoa học Việt Nam là cảm tính và cả tin. Chẳng hạn,
tôi đã tận mắt thấy Nguyễn Hoàng Phương làm việc với “các nhà ngoại cảm”, ghi tất
cả những gì họ nói coi là nguồn thông tin tin cậy mà không kiểm tra. Ông ngây
thơ cho rằng ai cũng trong sáng, trọng danh dự và yêu chân lý như mình, không hề
nghĩ tới những động cơ xấu. Thành thử các nhà khoa học, đáng ra rất duy lý lại
dùng cảm tính để suy diễn và rất hay bị lừa phỉnh. Nguyễn Văn Hiệu cũng có những
niềm tin cảm tính như vậy. Là nhà quản lý, có danh vọng, nhiều người vây quanh
tâng bốc, lại bận rộn lọc thông tin không kỹ càng, rất dễ sai lầm. Bên cạnh đó,
nhà quản lý thường cô đơn, vì những nhà khoa học thực sự, có bản lãnh thường
không thích hòa mình vào đám đông xun xoe đang vây quanh ông. Tôi cảm nhận được
sự cô đơn của Nguyễn Văn Hiệu và nhiều khi thấy thương ông vô cùng.
GS Cao Long Vân, một nhà vật lý lý thuyết
xuất sắc tại Ba Lan, tỏ ý tiếc cho việc Nguyễn Văn Hiệu không phát huy được mặt
mạnh nhất của ông là lý thuyết trường và hạt cơ bản tại Việt Nam. Ông không có
truyền nhân trực tiếp nào có tầm cỡ như ông hoặc ít ra tương đương với các học
trò trong vật lý chất rắn. Trong những học trò đời cuối cùng của ông chỉ có Hà
Đại Phước còn làm về lý thuyết hạt cơ bản ở Mỹ, nhưng không phải theo hướng của
Nguyễn Văn Hiệu đã hướng dẫn. Tại Mỹ, Hà Đại Phước đã đi theo hướng nghiên cứu
của tôi làm thời sinh viên là tính mô ment từ của các hạt baryon và có những kết
quả xuất sắc. Nhà khoa học sẽ được sống mãi trong công việc tiếp nối của các học
trò, Nguyễn Văn Hiệu để những kiến thức về lý thuyết trường và hạt sơ cấp của
ông uổng phí là một điều đáng tiếc, không phải đối với riêng ông mà còn đối với
ngành Vật lý Việt Nam. Chúng ta có quyền đặt câu hỏi vì sao khi các học trò xuất
sắc nhất của ông như Nguyễn Ái Việt A, Nguyễn Toàn Thắng, Nguyễn Bá Ân, đã trưởng
thành, nghĩa vụ của Nguyễn Văn Hiệu đối với vật lý chất rắn đã hoàn tất, ông
không truyền thụ nốt cho họ những “tuyệt chiêu” về lý thuyết trường và hạt cơ bản
của ông. Một người thầy lớn phải luôn luôn mong muốn có những học trò được như
mình, thậm chí hơn mình, như Nguyễn Hoàng Phương đã từng hết lòng với Nguyễn
Văn Hiệu.
Theo
tôi, tình yêu của Nguyễn Văn Hiệu đối với Vật lý luôn cháy bỏng, nhưng ông luôn
hướng tới những kết quả cụ thể, không để ý nhiều tới những vẻ đẹp mê hồn của
nó. Có một điều gì đó, tôi thấy thiếu ở Nguyễn Văn Hiệu là sự lãng mạn, tôn thờ
cái đẹp thủy chung trong Vật lý ở những người như Nguyễn Hoàng Phương, Cao Chi.
Có lẽ ông quá bận rộn không có thời gian để thưởng thức những vẻ đẹp mà đáng ra
ông có quyền được hưởng. Đôi khi ông bỏ qua những tài năng trẻ không theo những
hướng nghiên cứu mà ông đang quan tâm. Trường hợp mà tôi tiếc nhất là Trần Trí
Triết, là nghiên cứu viên của phòng Vật lý lý thuyết trong những năm 1979-1980.
Anh có những tư tưởng rất táo bạo, kiến thức rất sâu, nhưng không được động
viên và tạo điều kiện thích đáng, cuối cùng phải bỏ nghề.
Điều tôi tiếc nhất cho Nguyễn Văn Hiệu là
ông không giữ được quan hệ tốt đẹp với một số đồng nghiệp, trong đó có những
người thực sự xuất sắc. Nếu ông có thể kết hợp với họ, sử dụng được năng lực của
họ, với cả một tập thể lớn, nền vật lý của chúng ta có thể sẽ tiến xa hơn nữa.
Nước nổi, thuyền nổi, người cầm lái sẽ càng nổi. Người xưa có nói “dụng nhân
như dụng mộc”, dùng cây không chỉ dùng thân, sử dụng được cả lá, cành và rễ mới
là thợ cả giỏi. Đôi khi toàn bộ giá trị
của cây lại nằm trong phần rễ xấu xí ẩn sâu trong lòng đất.
Nhắc đến Nguyễn Văn Hiệu, không nhắc đến
Nguyễn Hoàng Phương là một thiếu sót lớn, không công bằng, có thể là thiếu
trung thực. Nếu Nguyễn Văn Hiệu không gặp được Logunov, Nguyễn Văn Hiệu có thể
không có bằng sáng chế về tán xạ phi đàn tính sâu, ông vẫn có thể có những công
trình khác với Pontercovo, Markov, Ogievetsky ở phòng thí nghiệm neutrino. Việt
Nam vẫn có thể có nhà quản lý Nguyễn Văn Hiệu, vì thời thế đã gọi tên ông. Thậm
chí ông có thể được nhắc tên nhiều hơn trên về khoa học. Nhưng nếu không có, sự
giúp đỡ chí tình, vô tư và tầm nhìn của một người thầy lớn, những hướng dẫn ban
đầu của Nguyễn Hoàng Phương, khó có thể có một Nguyễn Văn Hiệu như ngày nay
chúng ta biết.
Có thể nếu được làm việc dưới quyền của
Nguyễn Đình Tứ, tôi sẽ có cơ hội học hỏi nhiều hơn về tư duy quản lý, cảm thấy
sự ấm áp hơn về tình người. Nếu được làm khoa học với Trần Hữu Phát, có thể tôi
sẽ có được nhiều giờ thảo luận sâu hơn về vật lý thực sự. Có thể nếu được sinh
ra sớm hơn, tôi có thể sẽ được làm việc với Nguyễn Hoàng Phương để tiếp thu những
ý tưởng bay bổng. Nhưng nếu được chọn lại từ đầu, có lẽ tôi vẫn sẽ chọn về Viện
Vật lý, cho dù chỉ được chiêm ngưỡng, học hỏi Nguyễn Văn Hiệu từ xa và cuối
cùng chỉ nhận được từ ông sự cảm thông muộn màng. Đối với con đường khoa học và
đến với những hoài bão tuổi trẻ, một lời tri kỷ từ một đồng nghiệp cũng đã là
may mắn đủ cho thiên thu không dễ dầu gì có được. Có lẽ tôi cũng cô đơn như
ông, mặc dù chưa bao giờ muốn làm một người khổng lồ, với đôi đầu gối mỏi mòn
dưới sức nặng ngàn cân, lê từng bước nặng nề hành hương về một phương trời vô định.
NGUYỄN VĂN HIỆU VÀ TÔI, - Nguyễn Ái Việt (5)
Phần 4c
Những
kỷ niệm cuối cùng
Từ năm 1991, tôi đi Mỹ, nghiên cứu tại Đại
học Syracuse, phát triển lý thuyết Kaluza-Klein với chiều gián đoạn, thống nhất
tương tác hấp dẫn với các tương tác điện từ, mạnh và yếu. Đây là một hướng
nghiên cứu hẹp, công cụ toán học trừu tượng và khó. Hồi bấy giờ, Syracuse là
trung tâm mạnh nhất thế giới về lý thuyết hấp dẫn, quy tụ được nhiều nhà vật lý
cự phách như A.Ashtekhar, R.Penrose (giải thưởng Nobel 2021), L.Smolin,
C.Rovelli,… Do đó tôi quyết định gác những đề tài đang còn dở dang chuyển sang
làm hấp dẫn để có thể tận dụng cơ hội hiếm có này. Cũng may, khi đó TS.Nguyễn Hồng
Chương, một chuyên gia về vũ trụ học cũng đang làm việc tại Syracuse. Mỗi buổi
sáng vào trường, Nguyễn Hồng Chương lại nói cho tôi nghe một chút về bức tranh
toàn cảnh của lĩnh vực này, điều mà tôi rất thiếu khi bước vào lý thuyết trường.
Đồng thời tôi cũng theo dõi công việc của nhóm Ashtekhar. Chính nhờ vậy, tôi đã
nhanh chóng nắm được những vấn đề lớn trong lĩnh vực này và định ra được cho
mình một hướng đi sau 6 tháng khi tới Syracuse. Nhờ vậy, tôi đã xây dựng thành
công lý thuyết Einstein dựa trên hình học không giao hoán, vượt quá được những
khó khăn mà nhóm của J.Frohlich đã vấp phải và chỉ ra lý thuyết này chính là lý
thuyết Kaluza Klein với chiều phụ gián đoạn. Về mặt hiện tượng luận, cũng có những
thành công nhất định, khi ứng dụng lý thuyết này tiên đoán khối lượng của quark
top, hạt Higgs và mô tả hệ Hall lượng tử hai lớp. Trước khi mất một năm nhà vật
lý gốc Ấn Độ, giải thưởng Nobel 1983, S.Chandrasekhar có tới Syracuse gặp tôi
sau khi đọc các bài báo này và khuyên tôi “Nếu tôi là anh và nếu tôi còn trẻ,
cho đến cuối đời, tôi sẽ chỉ làm đề tài này.” Đối với tôi đó là thành tích cao
nhất về khoa học mà tôi có được.
Năm 1995, tôi chuẩn bị cho việc về nước,
nên bắt đầu nghiên cứu thêm về CNTT, khi đó bắt đầu phát triển rất mạnh tại Mỹ
sau sự ra đời của công nghệ Web. Khi đó tôi nghĩ rằng CNTT sẽ phát triển ở Việt
Nam, tôi sẽ có thêm một nghề tay trái để tiếp tục làm Vật lý lý thuyết. Tuy
nhiên, những cơ duyên mới được mở ra và do nhu cầu thực tế, tôi trở thành
chuyên gia CNTT, Vật lý lý thuyết chỉ còn là nghề tay trái. Trong lĩnh vực mới
này, tôi có cơ hội đóng góp tốt hơn cho xã hội. Do đó tôi phần nào hình dung được
việc Nguyễn Văn Hiệu chuyển hướng sang Vật lý bán dẫn, rồi công nghệ nano. Có lẽ
ông cũng loay hoay tìm hướng hoạt động có tác động xã hội trực tiếp và mạnh
hơn. Về phương diện này, có lẽ tôi đã may mắn hơn ông.
Năm 2003, tình cờ Nguyễn Văn Hiệu gặp vợ
tôi và nói “Chú vẫn thường xuyên đọc tất cả công trình của Việt, và thấy rất
thích cách nghĩ táo bạo của Việt. Chú thấy Việt có nhiều điểm giống chú. Bây giờ
chú thấy tiếc đã không hướng dẫn trực tiếp và tạo điều kiện làm việc tốt cho Việt.
Việt đã phải làm việc trong điều kiện rất khó khăn mà vẫn tìm được cho mình được
con đường riêng là một điều đáng phục.” Lúc đó tôi mới biết, ông chưa hề “bỏ
rơi” tôi về tinh thần. Điều đó đã giải phóng cho tôi phần nào tâm sự, và làm
tôi thấy nhẹ nhõm hơn. Quả thật tôi chỉ muốn có một sự thừa nhận công bằng chứ
không hề muốn có sự nâng đỡ đặc biệt của bất cứ ai. Lần cuối cùng, tôi gặp ông
tại một Hội thảo về Bách Khoa Toàn Thư Việt Nam. Chúng tôi phụ trách công việc ở
hai Ban khác nhau, ông ở Ban Vật lý, tôi ở Ban Công nghệ Thông tin. Ông đăng
đàn, kể lể công lao của ngành Vật lý khiến tôi bùi ngùi xót xa. Ngành Vật lý là
một ngành khoa học lâu đời nhất của nền khoa học Việt Nam, một thời tập trung
nhiều nhân tài xuất chúng nhất, đáng lẽ phải là anh cả, dẫn đầu các ngành khoa
học mà chỉ yêu cầu được coi ngang hàng hay gần bằng với các ngành khoa học, công nghệ khác mà thôi ư? Ai phải chịu trách nhiệm về điều đó? Tại
hội thảo đó, tôi đã đề xuất một phương pháp ứng dụng CNTT thông tin để soạn
Bách Khoa Toàn Thư nhanh chóng và đảm bảo chất lượng. Sau Hội thảo, ông cùng
Nguyễn Đại Hưng đến gặp tôi nói “Chú ủng hộ phương pháp của Việt. Về CNTT, bây
giờ chú phải học cháu chứ. Chạy dạy chú cách để chú làm Bách Khoa Toàn thư cho
ngành Vật lý.”
Thứ Năm, 10 tháng 2, 2022
NGUYỄN VĂN HIỆU VÀ TÔI - Nguyễn Ái Việt (4c)
Phần 4c
Tiếp
tục nghiên cứu về lý thuyết trường lượng tử
Tôi về phòng Viện Vật lý, đúng dịp TS Đào
Vọng Đức đi nghiên cứu dài ngày ở Ý. GS. Nguyễn Văn Hiệu, nhận tạm thời hướng dẫn
tôi và anh Hoàng Ngọc Long. Ông lại hướng dẫn chúng tôi đọc các bài báo về
monople của t’Hooft và Polyakov, về instanton của Belavin, Schwarz, Polyakov và
Tyuptin. Đây là các vấn đề rất khó và rất thời sự vào lúc đó, được hy vọng là lời
giải cho bài toán cầm tù quark. Rõ ràng Nguyễn Văn Hiệu chưa bao giờ rời bỏ những
hướng nghiên cứu mà ông đã vạch ra cho tôi. Một trong những điểm khó hiểu nhất
trong các bài báo này là các khái niệm về topo và hình học vi phân. Tôi đã tổ
chức một semina hàng tuần về phương pháp toán học này tại nhà, có Nguyễn Quốc
Nam, Nguyễn Hùng Sơn và một số người khác tham dự. Nguyễn Văn Hiệu rất quan tâm
đến semina này. Ông thường hỏi tôi “Semina của cậu có hay không?” Tuy vậy, thời
gian được làm việc với thầy Hiệu của tôi chỉ kéo dài 2 tháng. Thậm chí, tôi
chưa có buổi nào được làm việc trực tiếp mà chỉ nhận tài liệu qua thư ký để đọc.
Ông quá bận để có thể có thời gian cho tất cả mọi người.
Một trong những khó khăn của tôi trong thời
kỳ này là việc định hướng nghiên cứu. Tôi khi đó còn quá trẻ chưa có tầm nhìn
toàn cảnh về ngành Vật lý, không biết phải học và nghiên cứu cái gì. Sau này,
Nguyễn Văn Hiệu có nói ông có hai may mắn. Một là được chuẩn bị kiến thức cơ bản,
đọc đúng sách cần thiết trước khi đi Dubna. Hai là gặp được những người hướng dẫn
tận tình và giỏi. Cả hai điều này tôi đều không có. Ở Phòng lý thuyết, tôi được
biết là không thể đi về các hướng sẽ hướng tới sử dụng máy tính như ở Budapest,
bên cạnh đó, ở Việt Nam khi đó chỉ có Nguyễn Văn Hiệu quan tâm tới sắc động học
lượng tử. Một lần, Nguyễn Văn Hiệu đi công tác ở Pháp về gọi chúng tôi tới nói
về các công trình siêu hấp dẫn trong không gian 11 chiều của một nhà vật lý trẻ
là Julia. Ông nói: Julia không hơn gì tuổi các cậu đã giỏi như vậy, các cậu phải
cố lên. Thực ra không dễ dầu gì có được điều kiện làm việc như Julia. Cái chúng
tôi được nhà nước cung cấp cho là một tháng 2 thếp giấy nháp màu nâu, chỉ viết
được trên một mặt và 2 cái bút chì, và được bảo là “làm khoa học đi”. Các tạp
chí khoa học trước đó được Trung Quốc viện trợ, lúc đó đã bị cắt hẳn. Thi thoảng
cũng có một vài số tạp chí mới nhất, thường là chậm từ 5-10 năm. Chúng tôi chia
sẻ với nhau một số sách tiếng Nga kinh điển như cuốn “Điện động học lượng tử” của
Akhiezer, “Nhập môn lý thuyết trường lượng tử” của Bogoliubov và Shirkov. Chúng
tôi cũng được truyền kinh nghiệm “Sếp Hiệu đã tính nát hai bộ sách này, nên mới
thành công như vậy ở Dubna”. Chúng tôi cũng tin là chỉ cần đọc kỹ và thực hiện
tính toán trong hai cuốn sách này, vật lý thế giới sẽ nằm trong tầm tay. Ngày
nay nhìn lại mới thấy niềm tin đó thật ngây thơ như ếch ngồi đáy giếng. Vào năm
1956-1958, hai bộ sách này còn là mới và đang theo sát các vấn đề mà giới vật
lý quan tâm, được hướng dẫn đọc hai bộ sách này, rồi lại đến Dubna làm việc với
các tác giả là may mắn của Nguyễn Văn Hiệu. Tới năm 1980, các cuốn sách này ít
có liên hệ trực tiếp với những vấn đề thời sự trong vật lý. Tuy vậy, tôi quyết
định bỏ thời gian nghiên cứu phương pháp topo và hình học vi phân. Tôi nói rằng
nếu Julia thành công ở tuổi 30, tôi sẽ được như Julia vào năm 40 tuổi hoặc thậm
chí 60 tuổi cũng là tốt rồi. Thực ra, đó chỉ là cách chọn hướng cụ thể khác, về
phương pháp cũng là do ảnh hưởng từ Nguyễn Văn Hiệu.
Năm 1980, Nguyễn Văn Hiệu quan tâm trở lại
lĩnh vực trường lượng tử và hạt cơ bản. Ông lập một nhóm nghiên cứu rất mạnh gồm
có Nguyễn Hùng Sơn, Hà Đại Phước và Lê Viết Dũng, là những nhà khoa học trẻ giỏi
nhất của Trung tâm Vật lý lý thuyết. Đây là thế hệ học trò cuối cùng về vật lý
hạt cơ bản của Nguyễn Văn Hiệu. Sau hơn 10 năm không làm việc trong lĩnh vực
này, mặc dù vẫn luôn cố gắng cập nhật với các thành tựu mới nhất, Nguyễn Văn Hiệu
đã phải hết sức vất vả để mở một hướng đi cho nhóm này vừa phải xứng đáng với tầm
cỡ của mình. Ông đã cố gắng nghiên cứu về một cách biểu diễn mới cho siêu đối xứng.
Tình cờ, đây cũng là đề tài nghiên cứu của tôi.
Năm 1984, tôi có dịp đến Dubna làm việc mấy tháng và chọn làm việc với
GS. V.I.Ogievetsky, là người rất nổi tiếng trên thế giới với khái niệm “siêu
không gian điều hòa”. Tại Mỹ ông được mệnh danh là “Fezza Gursey của Nga” thể
hiện một sự kính trọng tuyệt đối. Ogievetsky cùng tuổi với Nguyễn Văn Hiệu và bắt
đầu làm việc với Viện sĩ M.A.Markov tại phòng thí nghiệm neutrino từ năm 1956.
Tuy vậy, ông bị thành kiến, chèn ép nên mãi tới năm 1990 mới được ra nước ngoài
lần đầu, đến Budapest dự một hội nghị. Tôi đã đưa ông và vợ đi chơi Budapest, rất
ngạc nhiên khi ông nói lần đầu tiên được ra nước ngoài và đời sống ở Nga lúc bấy
giờ rất túng thiếu. Năm 1994, tôi còn gặp Ogievetsky lần cuối cùng ở
Philadelphia, khi ông sang Mỹ làm việc ngắn hạn theo lời mời của J.Bagger.
Nhờ những chuẩn bị khá tốt về phương
pháp hình học và topo, lại ứng dụng được những kiến thức này trong một công
trình viết chung với nhóm nghiên cứu của Ogievetsky, năm 1977, sau khi bảo vệ
luận văn tiến sĩ trong nước, tôi đã có được một công trình độc lập về phương
pháp topo được đăng Tạp chí Physics Letters B, là tạp chí hàng đầu về vật lý lý
thuyết và cũng đã hình thành được hướng nghiên cứu khá hấp dẫn về mô hình
Skyrme cùng với Phạm Thúc Tuyền. Mô hình này được quan tâm trở lại và trở thành
đề tài nóng, với tư tưởng là phương pháp topo sau công trình của nhóm nghiên cứu
của nhà vật lý Mỹ, giải thưởng Fields 1990, E.Witten. Tuy vậy, chúng tôi bắt buộc
phải tính toán trên máy tính để có các kết quả so khớp được với thực nghiệm.
Cũng may là lúc đó tôi nhận được giải thưởng về Vật lý của Viện Hàn lâm Khoa học
Hungary và có điều kiện sang Budapest. Giải thưởng này khá vinh dự vì mỗi năm
chỉ có 2 người được nhận giải, cùng năm với tôi là Viện sĩ Nga N.Gribov và trước
đó là P.Dirac, giải thưởng Nobel năm 1932. Kèm theo giải thưởng là học bổng một
năm nghiên cứu tại Budapest. Tại Budapest, tôi nhanh chóng hoàn thành các tính
toán và công bố các bài báo cùng với anh Phạm Thúc Tuyền, các kết quả này được
nhà vật lý nổi tiếng Fezza Gursey nhắc đến.
Chủ Nhật, 6 tháng 2, 2022
NGUYỄN VĂN HIỆU VÀ TÔI, - Nguyễn Ái Việt (4b)
Phân 4b:
http://aivietnguyen.blogspot.com/2022/02/nguyen-van-hieu-va-toi-nguyen-ai-viet-4a.html
Ứng
dụng phương pháp trường lượng tử trong vật lý chất rắn
Khi về Viện Vật lý, tôi được phân công làm
trong nhóm của các TS. Đào Vọng Đức và Nguyễn Thị Hồng. Nguyễn Văn Hiệu chỉ nói
ngắn gọn “Cháu sẽ làm việc về lý thuyết hạt cơ bản với chú Đức, là một người rất
giỏi. Chú cũng làm về hạt cơ bản, nhưng sẽ phụ trách nhóm nghiên cứu lý thuyết
bán dẫn.” Sau này, tôi mới biết Nguyễn Văn Hiệu vẫn say mê và không ngừng
nghiên cứu vật lý hạt cơ bản là mối tình khoa học đầu tiên của ông. Tuy vậy,
ông nhận thức được rằng vật lý chất rắn sẽ có ý nghĩa lớn hơn đối với ứng dụng
tại Việt Nam và tự thấy mình có trách nhiệm phát triển hướng nghiên cứu này.
Ông tập hợp được một nhóm khá đông các nhà vật lý lý thuyết trẻ có năng lực, được
tuyển chọn rất kỹ như Nguyễn Ái Việt A, Nguyễn Toàn Thắng, Nguyễn Bá Ân, Nguyễn
Như Đạt, Nguyễn Vinh Quang, Hoàng Ngọc Cầm, Hà Vĩnh Tân, sau này có thêm Nguyễn Hồng Quang,
Nguyễn Quê Hương, Hoàng Anh Tuấn, ngày nay đều là những nhà vật lý xuất sắc,
thành danh. Trong phòng Lý thuyết còn có các anh lớn tuổi hơn như Nguyễn Văn Trọng,
Nguyễn Ngọc Thuân, cũng là những nhà vật lý uyên bác, thông minh xuất chúng.
Nguyễn Văn Hiệu muốn tạo ra một trường
phái vật lý bán dẫn tại Việt Nam sử dụng thế mạnh của ông đã thành công vang dội
tại Dubna là phương pháp tính biên độ tán xạ sử dụng các giản đồ Feynman. Nói ý
tưởng thì đơn giản nhưng khi áp dụng không hoàn toàn như vậy. Trong nhiều
năm, ông và các học trò đã phát triển một hướng đi độc đáo trong vật lý bán dẫn,
phát triển một phương pháp luận tính toán các quá trình sinh hủy các giả hạt để
giải thích rất nhiều hiện tượng vật lý trong chất bán dẫn. Rất nhiều công sức
đã bỏ ra để có một phương pháp luận trong sáng, dễ hiểu, dễ dùng, từ những công
cụ phức tạp của lý thuyết trường. Nhiều người cho rằng đây là cách dùng “đại
bác bắn chim sẻ”, tuy vậy, tôi cho rằng đó là cách duy nhất làm đúng. Khi đó tại
Việt Nam, tài liệu, điều kiện tiếp xúc quốc tế, điều kiện làm việc đều vô cùng
khó khăn. Để có được một công trình mới có ý nghĩa có thể công bố được trên các
tạp chí có uy tín trên thế giới là vô cùng khó khăn, chưa nói tới được việc
hình thành một trường phái lớn, có ảnh hưởng tới thực nghiệm và ứng dụng. Một
cách làm khác phổ biến hơn là vẫn tiếp tục các đề tài nghiên cứu ở nước ngoài
và nỗ lực để có những thành công xuất sắc. Ở Phòng Vật lý thời đó, có những nhà
khoa học giỏi như các anh Đoàn Nhật Quang, Nguyễn Văn Liễn, Nguyễn Minh Khuê, vẫn
có thể làm những hướng khác, độc lập. Tuy vậy, nếu nhìn lại, nét chủ đạo vẫn là
“công nghiệp tính toán sơ đồ Feynman cho bán dẫn” (như chúng tôi vẫn gọi đùa một
cách thân thương) của nhóm nghiên cứu do GS Nguyễn Văn Hiệu lãnh đạo.
Từ những năm 1980, lứa học trò đầu tiên của
Nguyễn Văn Hiệu đã trưởng thành và đã vươn tới các đề tài hiện đại và có ý
nghĩa vật lý sâu hơn như hiệu ứng Hall lượng tử, siêu dẫn nhiệt độ cao, quang học
bán dẫn, tính toán lượng tử.
Thứ Bảy, 5 tháng 2, 2022
NGUYỄN VĂN HIỆU VÀ TÔI - Nguyễn Ái Việt (4a)
Thành lập Viện Vật lý
Năm 1969, Nguyễn Văn Hiệu
cùng gia đình về nước, bằng chuyến tàu liên vận qua Syberia và Trung Quốc. Sau
này, tôi đã từng đi chuyến tàu như thế, nên cũng có thể tưởng tượng được tâm trạng
của GS. Hiệu khi đó như thế nào. Không thể nói là không có nhớ tiếc những công
việc khoa học đang còn dang dở, môi trường làm việc lý tưởng đang thuận lợi, những
người bạn đồng nghiệp tốt bụng và giỏi giang, cũng như những khắc khoải về khó
khăn trước mắt. Tuy nhiên, tâm trạng sẵn sàng cho công việc mới mà đất nước
đang sắp sửa giao phó cho ông cũng đầy hứng thú. Trên chuyến tàu này còn có TS
trẻ Chu Hảo, sau này sẽ là Thứ trưởng Bộ Khoa học Công Nghệ, là người Nguyễn
Văn Hiệu đã hướng dẫn nghiên cứu và đưa vào làm việc về Vật lý Chất rắn tại
Dubna. Tuy là thế hệ thầy trò, nhưng Chu
Hảo cũng chỉ kém Nguyễn Văn Hiệu có vài tuổi.Tôi có thể tưởng tượng chuyến tàu
đó với những câu chuyện về tương lai giữa hai nhà vật lý trẻ thông minh và vẻ mặt
đăm chiêu của Nguyễn Văn Hiệu đã chìm đắm trong những viễn cảnh mới.
Thảo luận về việc về nước năm 1969 của
Nguyễn Văn Hiệu, nhiều bạn trẻ băn khoăn, tiếc nuối về việc vì sao Nguyễn Văn
Hiệu không tiếp tục ở lại để nghiên cứu. Thực ra, thời bấy giờ việc hết thời
gian làm việc về nước, đất nước đã đào tạo ra nhà khoa học, thì nhà khoa học phải
về nước phục vụ là một việc rất tự nhiên. Tuy vậy, Nguyễn Văn Hiệu hoàn toàn có
thể nhờ các Viện sĩ có uy tín can thiệp, tác động để chính phủ Liên Xô gửi công
hàm đề nghị giữ ông tiếp tục làm ở Dubna. Rõ ràng, Nguyễn Văn Hiệu đã có chuẩn
bị cho việc về nước từ những ngày đầu. Việc này hoàn toàn phù hợp với việc cùng
một lúc tham gia vào nhiều hướng khoa học. Tôi suy luận và phỏng đoán rằng Nguyễn
Văn Hiệu khi đó đã nghĩ tới việc xây dựng một nền vật lý tương lai cho Việt
Nam, nên ông tìm hiểu và thu gom mọi kiến thức không phải cho một mình ông mà
cho cả một cộng đồng. Chính vì thế, ông làm việc bằng 3,4 lần người khác. Một trong những học trò gần
gũi của ông là GS. Nguyễn Hồng Quang, đã khẳng định trong những buổi tâm sự với
các học trò gần gũi, GS. Hiệu cũng đã tâm sự những điều tôi đã suy luận được.
Về đến Việt Nam, Nguyễn Văn Hiệu được Thủ
tướng Phạm Văn Đồng và chính phủ giao cho việc thành lập Viện Vật lý, khi mới
31 tuổi. Cho tới nay, ông vẫn là người trẻ nhất làm Viện trưởng một Viện nghiên
cứu. Tôi nghe được câu chuyện Thủ tướng Phạm Văn Đồng, khi biết được người ta xếp
lương cho Nguyễn Văn Hiệu ở mức chuyên viên 1 là 105 đồng, đã tự tay thay đổi
thứ tự các con số thành 150 đồng, bằng lương Bộ trưởng, chuyên viên 7.