Nguyễn Đa Phương là con danh tướng Nguyễn Nạp Hòa còn gọi là Sư Tề, do ông là thầy dạy võ nổi tiếng. Nạp Hòa chỉ huy vệ Thần Võ, được phong làm Bình Man Đại tướng Quân. Trong chiến dịch đánh Chiêm Thành, ông làm phó chỉ huy cho Đại tướng Đỗ Lễ. Quân ta kéo sâu vào hiểm địa, quân Chiêm đã phục sẵn, vua Duệ Tông không nghe lời can của Đỗ Lễ mang quân vào hiểm địa, mắc phục binh, toàn quân bị tiêu diệt. Các đại tướng Đỗ Lễ, Nguyễn Nạp Hòa, Phạm Huyền Lệnh đều bảo vệ vua đến phút cuối và tử nạn cùng với vua. Nguyễn Đa Phương là cha của danh tướng Nguyễn Cảnh Chân nhà Hậu Trần, chính là ông tổ của dòng họ Nguyễn Cảnh.
Thứ Năm, 11 tháng 11, 2021
[Sử Việt] Danh tướng Nguyễn Đa Phương
Trần Nguyên Đán
Ông là dòng dõi Thượng tướng quân, Chiêu Minh đại vương Trần Quang Khải. Là quan đầu triều đời vua Nghệ Tông nhà Trần. Được tiếng nho nhã, để lại nhiều thơ nhàn tản vào thời loạn, được nhiều kẻ sĩ cho là thanh cao, nhưng không hề có công tích hay mưu kế gì ích quốc lợi dân.
Thứ Năm, 26 tháng 8, 2021
MONG MANH TRÍ THỨC VIỆT
Không phải ông nào không biết làm gì ngoài đọc sách, hoặc có bằng cấp đều đã là trí thức theo nghĩa mà tôi hiểu. Khi một người bắt đầu suy nghĩ về ý nghĩa thực sự đằng sau kiến thức trong sách vở, tìm cách kết nối chúng lại với nhau và với sự tồn tại của chính bản thân mình, khi đó hắn mới có thể được gọi là trí thức, khác với đám thợ chữ trộn bê tông chữ, xây trát chữ để mưu sinh. Nước Nga có nhiều nhà khoa học, Viện sĩ lỗi lạc, nhưng điển hình trí thức là Perelman không hề có danh hiệu gì. Tính cách Perelman càng nhiều thì độ trí thức sẽ càng cao. Lăng xăng quan quyền lắm danh hiệu như Lysenko, Sedov, Mitchourin hay Fadeev không thể gọi là trí thức. Tuy rằng hành động tự sát của Fadeev cũng có chút phảng phất hơi hướng trí thức Nga theo kiểu Yesenin.
Thứ Ba, 17 tháng 8, 2021
Vua sáng nhất đời Tam Quốc
1. Vua Á Đông sướng hơn vua Âu Mỹ. Điều đó cũng như ong, kiến, mối chúa sướng hơn trâu, ngựa đầu đàn. Hoàng đế Trung Hoa lại càng sướng. Món ngon, vật lạ, mỹ tửu, giai nhân, thậm chí mỹ nam (tin tôi đi, ngày xưa ở Trung Quốc, gay và lesbian còn nhiều hơn ở Mẽo bây giờ) loại thượng hạng, vưu vật bao nhiêu cũng có. Làm vua về nguyên lý sướng như vậy nên tranh nhau làm vua. Bạn bè, đồng liêu tranh đoạt không nói. Cha con, anh em cũng giết nhau như ngoé. Lên được ngôi rồi lại suốt ngày suy nghĩ lo giữ ngôi. Nghe nói Tần Thuỷ Hoàng, Hán Cao Tổ đọc và phê tấu chương từ sáng sớm đến khuya, rượu ngon, gái đẹp không hề sờ tới. Vài năm là lăn ra chết.
Thứ Bảy, 17 tháng 7, 2021
TAM GIÁC QUỶ CỐC
TAM GIÁC QUỶ CỐC
Chủ Nhật, 14 tháng 6, 2020
HAI BÀI ĐIẾU VĂN GIÁO SƯ NGUYỄN HUY NHU
Do sinh viên đại học Sư Phạm Huế đọc tại lễ an táng cố Giáo Sư Nguyễn Huy Nhu (Sưu tầm trong Đại học Sư phạm Huế, Tập 1, Dòng Việt (1999)) Được biết Dòng Việt số 10 sẽ nói về Đại học Sư Phạm Huế. Để hưởng ứng lời kêu gọi của Ban Chủ biên Dòng Việt, tôi xin gửi hai bài điếu văn sau đây của sinh viên Ban Việt Hán 1961 trường Đại học Sư phạm Huế đọc trong lễ an táng cố Giáo Sư Nguyễn Huy Nhu.
Giáo sư Nguyễn Huy Nhu sinh năm 1886, người xã Vạn Lộc, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, Cử nhân Khoa Kỷ Dậu (1909), Tiến Sĩ khoa Bính Thìn (1916), sung chức giáo thụ và suốt đời ở trong ngành giáo (Nguyễn Ái Việt: Chi tiết này chưa hoàn toàn đầy đủ. Ông tôi từng làm Giáo thụ Quảng Ninh, Quảng Binh. Tri phủ Nga Sơn, Hòa Đa, rồi về làm Lang Trung, Tá lý Bộ Lễ, trước khi cáo quan về khai rẫy ở Quảng Bình. Ngày nay ở thành phố Đồng Hới còn địa danh "Rẫy cụ Tá". Sau này ông tôi trở lại Huế, lập hội Hán học, giữ chức Giáo Sư Hán học tại Đại học Sư phạm Huế đến khi mất năm 1961).
Vốn dòng khoa bảng-Thân sinh là cụ Nguyễn Huy Đào, Cử nhân khoa Mậu Tý (1888), tằng tổ là cụ Nguyễn Huy Triêm, Cử nhân khoa Kỷ Mão (1919), Thầy cùng với cha Thích (Nguyễn Ái Việt: Linh mục Sảng Đình Nguyễn Hy Thích) là hai vị giáo sư Hán Nôm đầu tiên của Trường Đại học Sư Phạm Huế. Sinh viên Ban Việt Hán trong những niên khóa này, không những được thụ những kiến thức uyên thâm Hán học của thầy mình, mà còn học hỏi được những nét sống kinh nghiệm ưu việt của thầy minh nữa.
Vào trung tuần tháng 12-1961, khi lên dốc Nam Giao thăm Thầy, lúc ấy tuy Thầy chỉ có uống mà không ăn được nữa, nhưng đứng ngồi còn vững, tinh thần còn sáng suốt. Tuy nhiên, chỉ chừng mươi hôm sau, thì đột nhiên nghe Thầy không còn nữa!
Thầy mất hôm 20 tháng 11 năm Tân Sửu tức ngày thứ Tư 27-12-1961, hưởng thọ 75 tuổi. Đám đưa vào ngày Chủ Nhật 31-12-1961. Hôm đó trời mưa nhẹ hạt, cả một rừng đối trướng đưa tiễn Thầy trên dốc Nam Giao đến nơi an nghỉ cuối cùng (Nguyễn Ái Việt: Ông tôi được an táng tại vườn cụ Phan Bội Châu dành cho những người yêu nước, nay là Nghĩa trang Phan Bội Châu, số 5 đường Thanh Hải, Huế) . Riêng kẻ sao lục hai bài điếu văn sau đây, nhớ lại bức trướng mấy anh em khóc thầy lúc đó, mang bốn chữ khiêm tốn Phong Phạm Do Lưu mà lòng trí lúc nào cũng như nhìn thấy thầy trước mắt.
Đoàn Khoách sưu lục
BÀI THỨ NHẤT
(DO ANH LÊ QUANG TẤN SINH VIÊN VIỆT HÁN NĂM THỨ HAI ĐỨNG CHỦ TẾ)
Hỡi ơi!
Núi Ngự mây mờ. Sông Hương nước vẩn.
Trời Thuận Hóa sụt sùi mưa rả. Đất Nam Giao lã chã lệ rơi.
Tủi chúng con chưa vẹn chữ thành nhân. Mà tiên sinh đã chia đường kim cổ.
Nhớ linh xưa:
Hào mại thiên tư. Khoa nhàn phong độ.
Dòng Lam Thủy chung anh. Đỉnh Hồng Sơn dục tú.
Trí tuệ quang minh, trời xanh phú bẩm vốn không cùng.
Tâm linh chính đại, đạo lớn uẩn tàng nguyên sẵn có.
Những tưởng trời Nghiêu đất Thuấn, giữa Nam thiên gặp gỡ hội thanh bình.
Nào ngờ gió Á mưa Âu, trên Quế hải tưng bừng cơn giông tố.
Tiên sinh đã quyết tránh đường khủng bố, chẳng quản chi lưu lạc nước non người.
Chí tiên sinh toan bận áo chính triều, đành phải chịu lìa xa quê quán cũ.
Cuộc tao loạn vào năm Đinh Hợi, khi lên đèo, khi xuống thác, lòng trượng phu nào quản lúc chông gai (Nguyễn Ái Việt Năm Đinh Hợi (1947) có lẽ tác giả chỉ sự kiện khi đó ông tôi là Chánh án Tòa án Tỉnh Quảng Binh, bác trưởng tôi là Nguyễn Huy Sương, khi đó là Trưởng Ty Giáo dục, bị kẻ gian ám sát)
Cơ hàn giữa tiết đông thiên, lúc gió táp lúc mưa sa, thân quân tử chẳng nài bề khốn khó.
Đi đến nơi về đến chốn, khúc khải hoàn những ngỡ rập hoan ca.
Chí còn mạnh, tiết vẫn bền, câu tịch cốc ai ngờ nơi biến cố.
Cày mây cuốc nguyệt, cảnh điền viên chi xiết vui vầy.
Nâng ly rượu vịnh thi, rèm phong nguyệt biết bao chí thú.
Màn loan gối phụng muôn thuở sum vầy. Mụn quế chồi lan một nhà đầy đủ.
Những tưởng tháng ngày tiên sinh còn rộng rãi. Nào ngờ giây phút đệ tử hết cậy trông.
Thương thay thời vận khôn lường. Ngán nỗi đầy vơi có số.
Cảm tiên sinh:
Đền cổ học lạnh lẽo khói mây. Trường sư phạm ủ ê hoa cỏ.
Hội nọ thường phiên vẫn họp, kẻ đi về lủi thủi, nào ngờ tiên sinh âm hưởng vắng không.
Trường kia giờ học còn nguyên, người trở lại ngậm ngùi, những tưởng tiên sinh dung nghi còn đó.
Núi Ngự cương thường chia nửa gánh, non mờ nước mịt, đoái cảnh tình lệ lại chứa chan.
Sông Hương liên tục rẽ đôi đường, én bắc nhạn nam, gẫm tâm sự lòng càng đau đớn.
Chua xót nhẽ. Chí trượng phu không định, ngời lấp đồi cao suối thẳm, xác tha hương nấm đất trơ trơ.
Đau đớn thay! Cơn số kiếp đã rồi, mơ màng đất tổ quê cha, hồn cố quốc trông chờ vò vò.
Thôi thì thôi!
Mặc kệ chiến tranh thời xung đột, bạn Di Tề cùng lên đỉnh Thủ Dương;
Kể chi danh lợi lúc xôn xao, theo Hoàng Thạch mà qua miền Lạc Thổ.
Đau lòng thay lúc chia phôi.
Hỡi ơi
Huế, trọng Đông năm Tân Sửu
BÀI SỐ HAI
(Do anh Hà Thúc Hoan, sinh viên Việt Hán năm thứ hai đọc trước lúc hạ huyệt)
Kính lạy Thầy
Vẫn biết, sinh hữu hạn, tử vô kỳ, nhưng khi nghe tin Thầy mất, chúng con không khỏi ngỡ ngàng đến đau xót!
Mới hôm nào hầu chuyện với Thầy bên giường bệnh, được thấy Thầy vẫn quắc thước như xưa, chúng con vui vẻ ra về với một niềm tin: tin rằng Thầy con sống lâu để chỉ dạy chúng con, sống để trao lại cho bao thế hệ đang lên những tư tưởng hay, những tình cảm đẹp, sống để lưu lại cho đời mới những gì là hoa gấm một thời.... Nhưng bỗng nhiên sự thực phũ phàng vẫn xảy đến, để hôm nay chúng con chỉ biết nghẹn ngào lên đây nấc lên tiếng khóc.
Kính lạy Thầy!
Trong những năm qua, chúng con kẻ trước người sau, nhờ duyên may vừa nhận được sự giáo huấn của Thầy. Chính trong những năm này mà ngoài việc thu nhận tư tưởng của Thánh hiền, chúng con học được ở Thầy lối xử thế lý tưởng của một nhà nho tiết tháo: trước đây trong thời Pháp thuộc vì không chịu cúi mình trước quyền thế của một nhóm người, nên trên đường mây, Thầy không được chóng thăng quan tiến chức. Rồi tiếp đến, làn sóng mới ồ ạt dâng lên, Thầy vẫn hiển nhiên sống trong cảnh thanh đạm để giữ vẹn danh tiết của mình. Chúng con tìm thấy ở Thầy thái độ khí khái của một Nhan Chúc biết khước từ tước hầu vạn hộ và cỗ thái lao của vua Tề. Chúng con cũng tìm thấy ở Thầy nếp sống thanh cao của người ẩn sĩ ở núi Phương Sơn, luôn biết ngưng mình trong cảnh thanh bần để khí tiết khỏi bị cát bụi của cuộc đời làm vẩn đục.
Bên cạnh hình ảnh một nhà Nho khả kính ấy, chúng con còn tìm thấy ở Thầy hình ảnh một nhà giáo tận tụy với nghề. Mặc dù vì tuổi tác và sức khỏe không cho phép, suốt những năm qua Thầy vẫn tận tình chỉ dạy chúng con. Ở vào lớp tuổi Thầy, những người khác thường lo an nghỉ để tĩnh dưỡng tuổi già, Thầy của chúng con thì trái lại: vì lo cho nền cựu học thiếu kẻ phát huy, nên Thầy thường đứng trọn một giờ để chép cho xong một áng cổ văn, rồi phải nói nhiều trong suốt một giờ tiếp, để truyền lại cho chúng con những tư tưởng thâm sâu của người đã khuất. Và trong những tháng gần đây dầu bị cơn bịnh âm ỉ dày vò, Thầy rất ít khi chịu nghỉ dạy. Cho đến một hôm, Thầy nghỉ dạy liên tiếp ba tuần, thì đây chính là lúc chúng con không bao giờ được gặp lại Thầy nữa!
Bình sinh Thầy không muốn ai ca tụng đức độ của mình, nhưng ở đây, trong phút ly biệt cuối cùng này, chúng con xin phép nói lên một phần nào cảm nghĩ của chúng con về Thầy, may ra nguôi đi một phần nào thương tiếc.
Kính lạy Thầy,
Chốc nữa đây, ba thước đất vô tình sẽ đưa Thầy và chúng con vào hai cảnh âm dương nghìn đời cách biệt. Từ đây Đại học Huế mất đi một vị Giáo Sư duy nhất có cấp bằng Tiến Sĩ Việt Nam và chúng con mất một vị Thầy uyên thâm Nho học. Và cũng từ đây khi đứng trước rừng Nhan Khổng vô hạn thâm u hay trước bể Trình Chu bao la vời vợi, chúng con còn biết nhờ ai chỉ lối đưa đường. Thầy đã theo mây ngàn hạc nội mà tìm đến một thế giới huyền bí xa xôi!
Từ đây ai sẽ dẫn chúng con đi xem lầu Nhạc Dương, đình Khoái Tai hay trăng nước của sông Xích Bích. Ai tha thiết với nền cựu học mà không nuối tiếc khi hay tin Thầy đã qua đời? Ai lưu tâm đến nền văn hóa quốc gia mà không ngậm ngùi khi hay tin Thầy không còn nữa? Và những ai lưu luyến với những nét đẹp xưa, sẽ nghĩ thế nào khi thấy Thầy cũng như những mẫu người lý tưởng khác của một thời qua, cứ xa dần chúng con để đi vào thế giới mơ hồ của dĩ vãng!
Kính lạy Thầy!
Vẫn biết rằng sống là chết đi từng phút, nhưng ai có nhìn đoạn bài giảng mà Thầy còn bỏ dở, ai có nhìn tập bài làm mà Thầy chấm chưa xong, mới ý thức được tính cách dở dang đến chua xót của chuyến đi vĩnh viễn này: Thầy phải ra đi trong ý hướng thiết tha ở lại, Thầy phải từ giã cuộc đời trước tấm lòng khắc khoải muốn níu lại của chúng con. Cái chết vô tình đột nhiên đến đã cướp mất Thầy của chúng con, nhưng không phải vì thế Thầy kính yêu đã chưa làm trọn thiên chức cao cả của một nhà giáo đối với cuộc đời. Hơn hai mươi năm miệt mài nghiên bút và gần năm mươi năm tận tụy giảng sách Thánh hiền, thầy đã đào tạo cho xã hội những mẫu người biết sống làm sao cho phải đạo. Nếu người nghệ sĩ lưu lại cho đời một tác phẩm nghệ thuật sau vết chân đi, thì Thầy của chúng con đã lưu lại cho đời những tác phẩm bằng xương và thịt, những tác phẩm biết tư duy để sống cho ra người, những tác phẩm biết nghiền ngẫm những tư tưởng của thời xưa để phục vụ quốc gia và xã hội ngày nay một cách đắc lực. Thế cho nên hôm nay tuy Thầy không còn nữa với đời, nhưng hình ảnh khả kính của Thầy vẫn còn mãi trong tâm hồn chúng con. Ngày Thầy mất đi chính là ngày Thầy bắt đầu sống trong tình kính mến và thương yêu của mọi người.
Kính lạy Thầy!
Cuộc chia ly nào không làm nấc lòng kẻ ở người đi? Lần vĩnh biệt nào không làm xé lòng người còn trước kẻ mất? Bút mực hữu hạn làm sao diễn tả được cái vô hạn của tình người? Tiếng nói ngập ngừng của chúng con hôm nay, làm sao tát cạn được tấm lòng của những người đang thổn thức? Trước khi dứt lời, chúng con chỉ biết yên lặng, cúi đầu, kính cẩn dâng lên Thầy tất cả tấm lòng xót thương và kính mến của chúng con.
Chủ Nhật, 28 tháng 4, 2019
PHỦ ĐỊNH VẦ TƯ DUY
Quy trình dạy cách đặt câu hỏi tại sao cho trẻ em nói chung và cho người lớn bị liệt chức năng này như sau: 1) Luyện cách đặt các mệnh đề phán đoán. 2) Phát biểu một cặp mệnh đề có thể có liên quan. 3) Đặt câu hỏi tại sao. 4) Đặt câu nhân quả: vì.... nên.... 5) Mở rộng: nếu... thì....
Tuy vậy, tôi đoán rằng nếu bước 1) luyện không kỹ, tức là năng lực phán đoán không tốt, chưa ổn định, lập luận nhân quả sẽ lung tung. Đối với trẻ nhỏ thì việc xoá bỏ đi hoàn toàn để luyện lại rất dễ. Đối với người lớn tuổi bằng cấp chức tước càng cao sửa càng không dễ. Bản thân tôi thấy nhiều GS, TS, BT, CT lập luận mà thấy phải sửng sốt, phán đoán họ là nguồn cảm hứng vĩ đại của Mao Chủ Tịch khi Người nhận định về trí thức. Với những người cao cấp hơn không phải không có chuyện đó, nhưng tạm thời chúng ta sẽ không nói tới, thông cảm cho họ đã mất công vất vả leo trèo đến đó. Vả lại cũng không mấy bổ ích hay tác dụng.
Chỉ tóm gọn là có những lập luận của các bậc được xã hội kính trọng nhưng như ... shit. Dùng tạm tiếng Anh cho nhã. Thực ra, lập luận của họ thế nào không đáng làm ta quan tâm. Điều quan trọng là ta có thể rút ra kết luận có ích cho xã hội là khi năng lực phán đoán không vững lập luận sẽ như shit. Nói cách khác, không biết phải trái thị phi thì dù có là ông nọ bà kia cũng sẽ chẳng nên cơm cháo gì.
Phán đoán tức là phải có phủ định. Đừng lo chân lý bị phủ định. Chân lý luôn có thể phủ định bởi ai đó. Chân lý được phủ định mới thành chân lý. Đã là chân lý thì không bao giờ tàn lụi chỉ vì bị phủ định. Một đứa trẻ thích phủ định và biết phủ định, chưa biết đúng sai thế nào là đã hơn cả những người lớn không bao giờ thử phủ định các chân lý tưởng như bất di bất dịch.
Thứ Tư, 20 tháng 2, 2019
Thế nào là phản biện
Thực ra trả lời mấy chuyện lặt vặt này tôi rất ngại vì sẽ mang tiếng và có thể thực tế phải đôi co không bổ ích gì. Nếu không trả lời e sẽ mang tiếng chảnh, mà giữa tôi và người phản biện có quan hệ cố giao trên 40 năm. Mặt khác, một số thân hữu lại hiểu nhầm là tôi đuối lý. Mà bài viết này lại không nhằm vào mục đích chữ nghĩa vớ vẩn là thứ tôi tiện tay phiếm bút để nói những chuyện quan trọng hơn.
Việc "có đôi nhời" cũng đả động đến một vấn đề về tư duy tranh luận (không nên nhầm với văn hóa, vì người đối thoại là người có gia phong nền nếp, học hành đến nơi đến chốn và kiến văn trác tuyệt). Nếu không đúng protocol rất dễ thành "ông nói gà bà nói vịt", thảo luận như nước đổ lá khoai, không bên nào nghe bên nào, chỉ biết nói mà không tiếp thụ. Nay tôi xin thuật lại để chư vị tường lãm. Đúng sai thế nào đã có công luận. Mong rằng mọi người không coi đây là một vụ cãi vã hay chẹt xe cán chó. Ý muốn nói phần lớn nằm ở ngôn ngoại. Suy ngẫm sẽ có bổ ích, hiếu kỳ thì không.
Câu chuyện là tôi giải thích cụm chữ "lang bạt kỳ hồ". Cụm chữ này xuất hiện sớm nhất trong bài Mân phong của Kinh Thi, mô tả một con sói tiến tới thì dẫm phải yếm ngực, lui thì dẫm phải đuôi, đằng nào cũng khổ. Đoạn này mô tả tường minh, không có bóng bẩy gì, có lẽ không ai tranh luận về ý nghĩa. Có lẽ từ đây (ít ra sách vở của Trung Quốc đều thống nhất như vậy) xuất hiện thành ngữ "lang bạt kỳ hồ" nói tới tình trạng "mắc kẹt", "tiến thoái lưỡng nan". Trong tiếng Việt cũng có cụm thành ngữ "lang bạt kỳ hồ", được dùng với một nghĩa "lang thang" khác hẳn. Thành ngữ "lang bạt kỳ hồ" trong Hán ngữ được rút gọn thành từ "lang bạt". Tình cờ tiếng Việt cũng có từ "lang bạt" có nghĩa là "lang bang xiêu dạt" bị "bạt" đi. Trong khi đó "lang bạt" trong Hán ngữ vẫn giữ nghĩa như "lang bạt kỳ hồ" mô tả tình huống mắc kẹt. Tôi trích hai câu văn cổ. Một câu từ sách Tam Quốc chí của Trần Thọ đời Tấn, một câu đời Đường có dùng chữ "lang bạt", và phân tích để thấy rõ không hề có nghĩa lang thang như trong tiếng Việt. Do "lang bạt kỳ hồ" tiếng Việt gốc Hán rõ ràng, có thể là ban đầu không đến nỗi sai, nhưng dốt chữ, dịch ẩu nên dùng sai dần, thành thử không đúng với nghĩa gốc.
Người viết bài "phản biện" lại đưa ra một câu tiếp theo trong bài Mân phong nói về người giàu sang, quan lại đi đứng đàng hoàng. Sau khi phân tích giảng giải ý nghĩa của bài Mân phong (thực tế là không ăn nhập gì và không có gì để "phản phản biện"), anh làm một quantum leap logic (lập luận nhảy lượng tử) là chữ lang bạt, lang thang "có thể" là vì con sói sống lang thang và có ý phủ nhận ý học ẩu, ếch ngồi đáy giếng (thế ra là người Việt thông minh sáng tạo mới đúng).
Vấn đề là ở chỗ tôi xuất phát từ việc phân tích cụm từ "lang bạt kỳ hồ". Ngay trong bài Mân phong đọc kỹ cả hai câu cũng không có gì chứng tỏ nghĩa là lang thang. Người nghèo thì mắc kẹt, lúng túng khổ sở, tiến thoái lưỡng nan, người sang thì áo mũ xênh xang, đĩnh đạc hiên ngang. Nói thực ra, các từ "lang bạt" hay thành ngữ "lang bạt kỳ hồ" tôi đã cẩn thận tra kỹ trong chữ Hán chính thức không có nghĩa gì lang thang (biết đâu cũng có anh Hán dùng lung tung).
Điều đáng nói không phải chữ nghĩa lặt vặt. Ở đây là cách đọc và học của người Việt vô cùng ẩu tả, làm tiếng Việt thành một mớ hổ lốn, nhiều khi làm cách tư duy suy luận thêm lộn xộn, vì xuất phát điểm từ các sau lầm. Không nói các cụ ngày xưa chữ Hán sát vách mà vẫn hiểu sai lệch. Ngày nay chúng ta dùng từ dịch tiếng Anh cũng tùy tiện như thể chế, thiết chế, định chế mỗi người một phách, rao giảng, rồi cãi nhau suốt ngày, làm đám đông không hiểu ra sao. Chữ nghĩa lộn xộn thì tư duy lộn xộn không ai biết làm chủ tập thể, kiến tạo chính phủ hay cách mạng công nghiệp 4.0 thế nào, nhưng ai cũng nói cũng làm.
Và ít quan trọng hơn nghĩa của từ "phản biện" cũng cần xem lại. Khi phản biện cần bám sát vào logic của người ta, sai ở chỗ nào, xuất phát điểm từ đâu, sử dụng lập luận nào không đúng, bằng chứng nào không thuyết phục. Không phải nói chệch sang chuyện khác, giảng giải lằng nhằng (ý nói là các anh không biết bằng tôi) chẳng liên quan, bỏ qua các bằng chứng không thể bác bỏ thì gọi là "phản biện". Chữ nghĩa chỉ là cái vỏ logic mới là ý chính. Ta và Tàu đều không biết logic là gì cho đến khi Âu hóa, cho nên coi trọng làm xiếc với chữ nghĩa, ngụy biện lòe bịp là nhiều. Chính đại văn hào Trung Quốc Lỗ Tấn cũng đã nói nhiều về chuyện này.
Thứ Tư, 12 tháng 9, 2018
Lê Nin trước mặt tôi - HUY PHƯƠNG
Tay bóp trán, trần ngâm, suy nghĩ
- Bức tranh nhỏ tôi mua ngoài phố
Giữa hàng trăm tờ báo cũ phai màu
Nhưng Lê Nin với đôi mắt thẫm sâu
Vẫn chói lọi giữa đống giấy nhàu thời sự -
Lê Nin về cùng tôi từ đó
Ngày đêm Người gần gũi bên tôi
Phòng nhỏ đơn sơ, đối diện với Người
Tôi bỗng thấy tôi vô cùng giàu có!
Những buổi mai mặt trời rực đỏ
Những đêm dài không ngủ, trầm ngâm
Những ngày mưa rả rích âm thầm
Người vẫn lặng bên tôi, suy nghĩ.
Và tôi bên Người, cần cù bền bỉ
Bút chẳng rời tay kiên nhẫn làm thơ
Tôi muốn được cùng Người lặng lẽ thi đua
Người suy nghĩ và tôi sáng tác
Trên vách lặng Người nhìn tôi thầm nhắc:
- Thuở hoa niên, ta cũng như anh:
Yêu cuộc sống vinh quang, yêu Tổ quốc chân thành
Là biết sống không ngừng sáng tạo !
Cám ơn Lê Nin !
Người đã giúp tôi qua những ngày giông bão
Những phút run tay mình tưởng thiếu tin mình
Những mẩu đời ti tiện, lưu manh
Muốn nắm cẳng lôi tôi sụp đổ
Những sau những giờ loanh quanh đường phố
Những phút hoa tay, mím lợi, chau mày
Tôi lại về trong phòng,
Lê Nin của tôi đây
Vẫn bình tĩnh trước bàn suy nghĩ
Trên đường lớn đi lên chân lý
An ủi bao nhiêu những đôi mắt chân thành,
Khi nhớ một nụ cười, một mảng trời xanh,
Một nắm tay đựa nặng tình đồng chí
Ta đứng dậy đi vào giông bão
Không một lần ngợ bước, run tay.
Mỗi một niềm tin còn trọn vẹn hôm nay
Mạng lịch sử
bao nỗi niềm đầu tiên
bé bỏng !
Cám ơn Lê Nin, đôi mắt từ dĩ vãng
Rọi sáng bây giờ, và cả những ngày mai
Như ánh sao đêm thao thức chân trời
Vĩnh viễn yêu thương
chan hòa,
suy nghĩ
Đôi mẳt bên tôi ngày đêm gần gũi
Vượt trên tất cả :
Thời gian - bia đá - tượng đồng.
5-1957
Báo Văn Nghệ 1957
Sau đây là bản dịch từ tiếng Nga ra tiếng Việt của Nguyễn Hải Thanh
Hữu Phương
Khuôn mặt Người tư tưởng lớn lao tỏa sáng
Ngày dần trôi qua đi năm tháng
Trang báo từ lâu đã ngả màu rồi
Và bức ảnh cũng ngả màu thời gian
Từ trên tường cao vẫn dõi nhìn thân quen một nụ cười
Và trái tim tôi lại hòa nhịp đập cùng trái tim Người
Khiêm nhường căn phòng tôi nhưng tôi có trên tường bức ảnh
Nên đời tôi giàu có biết bao nhiêu
Những ngày u ám ào ạt mưa dông
Luôn cùng tôi trong nắng sôi hay buốt giá
Niềm tin, cách nhìn và tư tưởng của Lê Nin
Nhiệt huyết tràn lồng ngực giục tiếng hát trái tim
Nụ cười của Người, thưa đồng chí Lê Nin,
Cho những vần thơ của tôi thêm sức mạnh
Đường tới chiến thắng bao khốc liệt, chông gai
Nhưng trong lành và xán lạn nụ cười của Người
Giúp chúng ta tiến lên phía trước
Dù cho bao bão lửa hiểm nguy
Chúng ta vượt qua có xá chi
Theo con đường Lê Nin thân yêu chỉ lối
Từ bức ảnh đôi mắt thân yêu vẫn dõi nhìn
Cảm ơn Lê Nin vì Người luôn cùng bên
Luôn ở bên cùng các dân tộc toàn thế giới.
(12/9/2018 Dịch từ bản tiếng Nga của M. Vaksmakher sang tiếng Việt tặng Nguyễn Chánh tuổi 60: link Nguyễn Hải Thanh)
Thứ Tư, 18 tháng 4, 2018
Huyền sử về nhà Thục trong sử Việt
Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, một tác phẩm viết vào thế kỷ 15, phần ngoại sử thì Âu Lạc là của Thục Phán, một hậu duệ của nhà Thục bên Trung Quốc thành lập, sau khi diệt Văn Lang của Hùng Vương, lúc đầu đóng đô ở Phong Khê, sau dời về Cổ Loa (Đông Anh).
Theo quan điểm của các sử gia Việt hiện đại hơn, có phần hơi bị định kiến bởi tinh thần dân tộc thô sơ thì "trước họa xâm lăng của phương Bắc, hai bộ tộc Âu và Lạc đã hợp nhất (tất nhiên có người tự nguyện có người phải dùng roi quất bắt buộc hợp nhất) (và cũng tất nhiên là ông đứng ra hợp nhất lại chạy từ Tứ Xuyên về).
Khoan hãy nói Hùng Vương và Văn Lang có thực hay không. Trước hết hãy xem Âu Lạc là ai từ các nguồn gốc.
Về việc nước Thục bị diệt, sách Hoa Dương Quốc Chí- thiênThục Chí cho biết: Nước Thục cổ, được nhà Chu phong cho dòng họ Khai Minh. Tới thời Chu Noãn Vương bị các tướng Tần là Trương Nghi, Tư Mã Thác công phá. Thục Vương thân ra cửa Hà Manh cự địch nhưng thất trận, chạy tới Vũ Dương thì bị giết. Thái tử chạy tới Bạch Lộc Sơn cũng bị giết.
Như vậy Thục bị diệt vào năm 316 trước công nguyên. Một số sử gia như Ngô Thì Sĩ nghi ngờ việc Thục Phán là hậu duệ của nước Thục, nói là Việt Nam quá xa, và không thể đi từ Thục sang để chinh phục. Liệu điều đó có phải là lập luận chứng minh có thể phủ nhận sự liên hệ của nhà Thục với nước Thục cổ hay không?
Có 2 điểm cần xác định:
1. Hoa Dương Quốc Chí Do Thường Cừ soạn vào thời Tây Tấn chắc có dựa trên sử liệu thời Ngụy Hán. Được xem là bộ sách về địa lý lịch sử lớn nhất về ba tỉnh Vân Nam Quý Châu và Tứ Xuyên, có thêm Cam Túc Thiểm Tây và Hồ Bắc. Chắc chắn Đại Việt Sử Ký Toàn Thư cũng lấy lại sử liệu từ đây hoặc các nguồn dẫn từ sách này.
2. Hơi đánh ngờ một chút, vì Vũ Dương nay là huyện Bành Sơn, thuộc Tứ Xuyên, có địa danh Bạch Lộc Sơn nay thuộc Hắc Long Giang. Thời bấy giờ không thuộc đất Tần. Có thể có Bạch Lộc Sơn khác ở trong đất Thục chăng? Có thể thấy từ Vũ Dương, các tôn thân nhà Thục có hai hướng chạy. Một về Đông qua Giang Nam (đường Thục sang Ngô thời Tam Quốc). Một chạy về Nam qua Vân Nam Quý Châu.
Vân Quý khi đó thuộc Sở là kẻ thù của Tần. Như vậy, tàn quân Thục có thể được dung nạp và có thời gian để nghỉ ngơi. Nhưng chẳng bao lâu Tần diệt Sở, con cháu nhà Thục lại phải chạy tiếp, có thể đem theo cả người Sở không chịu theo Tần. Làn sóng tỵ nạn Thục-Sở này vượt hồ Điền Trì (Côn Minh) tìm đến thượng nguồn sông Lô và tiến vào Việt Nam và Quảng Tây, lúc đó đang là đất của Lạc Việt. Khi đó Khai Minh Chế (Thục Chế) được liên minh tị nạn bầu lên làm lãnh đạo. Trên đường đi ông thu phục các bộ lạc của Tây Âu rồi các bộ lạc của Lạc Việt. Lạc Việt khi đó còn trong một trạng thái kém phát triển. Do đó các tù trưởng dễ dàng tôn Thục Chế có binh lực lớn, tổ chức tốt và mang đến văn minh làm vua. Cũng có thể có một vài phản kháng, nhưng dễ dàng bị bẻ gãy.
Hán thư chép: Khi đó Tây Âu Lạc Việt còn ở tình trạng bán khai, ở trần, che thân bằng vỏ cây, chưa biết đến quần áo. Có lẽ là còn đóng khố. Do đó An Trị Vương (Thục Chế) vốn ở nơi văn minh tới rất nhanh được các đầu mục bộ lạc suy tôn làm quân trưởng. Có lẽ đánh nhau không nhiều nên thời gian vừa đi vừa chính phục mới nhanh đến thế. Sách cũng chép người Lạc Việt tự xưng là người Lão (Lạo, Lào, Liêu???) nghĩa là răng sói, ý nói rất cường ngạnh hung dữ. (Đoạn này so sánh với người Âu Việt rất hiền lành). Sách Động khê tiêm chí của Lục Thứ Vân chép "Lão nhân xử vu lĩnh biểu hải ngoại, xạ sinh vi hoạt, thôn phệ côn trùng" Người Lão ở ngoài lĩnh biểu, săn bắn mà sống, ăn cả côn trùng". Nghe rất giống thói quen của người Lào, người Thái ăn các loại côn trùng, tuy dân Việt ta ngày nay vẫn ăn bọ xít, châu chấu, dế, nhộng, ong... đúng là "thôn phệ côn trùng" (dịch ăn là rất lịch sự, thực chất là ngốn, nuốt). Thời đó ăn côn trùng không có nghĩa là khoa học bổ dưỡng vi chất hay nghệ thuật ẩm thực đa dạng. Đơn giản không có gì ăn đành chén côn trùng.
Đọc tiếp: Vì thế người Thục muốn tiếp tục Nam tiến về đồng bằng Bắc Bộ nơi có nhiều thức ăn ngon lành hơn. An Trị Vương Khai minh Chế mất năm 95 tuổi. Con là Khai Minh Phán mới 10 tuổi lên thay, người trong họ là Khai Minh Mô làm nhiếp chính. Các tù trưởng bộ lạc nghe tin bèn bao vây kinh đô, bức Thục Mô từ chức. Các tù trưởng sau đó bãi binh nhưng hình thành việc cát cứ. Thục Phán chỉ nắm được một khu trong 10 khu của vua cha đã chinh phục được, còn lại chỉ có tiếng hão, không có thực quyền. Điều này cũng gần giống việc Ngô Xương Ngập, Ngô Xương Xí sau này, không kiểm soát được tình hình tự nguyện (hay buộc phải) trở thành một sứ quân. Thục Phán bèn thách đố các đầu mục thi (chắc khi này cậu bé đã đủ lớn) và thắng trong 10 môn. Từ đó thống nhất lấy lại được đại quyền như cha. Câu chuyện này gọi là "Thập hạng toàn năng tái" được sách Tàu ghi lại. Như thế cụ An Dương Vương nhà mình, tài năng không phải tay vừa.
Đánh thắng Hùng Vương: Sách Tàu không ghi lại các chi tiết về Hùng Vương mà Đại Việt Sử Ký Toàn Thư ghi điều này đầy tiên. Có thể tồn tại huyền sử truyền miệng Hùng Vương là vua của nước Văn Lang. Nhưng sách Tàu có ghi việc Thục Phán chinh phục Hùng Vương hay Lạc Vương (chưa thể xác định rõ Hùng Vương ghi trong sử Tàu người Tráng hay người Việt). Theo đó, Hùng Vương là nhân vật có sức khỏe tuyệt luân, nhiều lần đánh bại quân Thục, nên chủ quan, uống rượu, chơi gái. Thục Phán mang quân đến còn chưa tỉnh rượu, rồi cuống quýt lao đầu xuống giếng chết. ( Chỉ hơi khác một chút so với Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, do đó có thể các sử gia ta dựa vào đây mà cải biên).
Như vậy Thục Phán lên ngôi kiêm tính toàn Âu Lạc lập ra nước Âu Lạc tự xưng là An Dương Vương, đóng đô ở Phong Khê rồi dời về Cổ Loa. Quân Thục rất giỏi làm cung nỏ, đã có tiếng ở Trung Quốc thời cổ. Khi sang Việt Nam có thể đã phát minh thêm công nghệ bịt mũi tên bằng đồng để có sức công phá và sát thương mạnh hơn. Việc Âu Lạc bị Triệu Đà thôn tính được ghi tường tận trong sử sách Trung Quốc do đó sự tồn tại của An Dương Vương là chắc chắn hơn Hùng Vương.
Kết luận:
1. An Dương Vương và Âu Lạc có thể có thật vì có trong các sách sử xuất hiện khá sớm.
2. Việc An Dương Vương dòng dõi nhà Thục cũng là khả thi, do quá trình di dân từ Thục từ kéo dài hơn 100 năm từ khi nhà Thục bị diệt năm 316 TCN đến khi An Dương Vương diệt xong Hùng Vương lập nước Âu Lạc 207 TCN.
3. Chưa rõ Hùng Vương bị Thục Phán diệt có phải là ở Phú Thọ và có nước Văn Lang hay không. Hay đó là một Hùng Vương nào đó người Tráng.
II. An Dương Vương Thục Phán có gốc Hán Tạng?
Đây có thể là 1 trong 5 thành phần sắc tộc chính để hình thành nên dân tộc Việt vào thế kỷ 10-15 bao gồm:
1. Nam Á (Khmer, Mường, Lê Lợi)
2. Nam Đảo (Một phần của Chiêm Thành, phần kia của Chiêm Thành là người Thủy xuất phát từ Hải Nam, châu Đạm châu Nhĩ).
3. Thai-Kadai (Lạc Việt-Tráng, Hùng Vương)
4. Hán (Triệu Đà, Lý Bôn, Lý Công Uẩn, Trần Cảnh, Hồ Quý Ly)
5. Hán- Tạng.
Ngày nay, phân tích gien đã cho thấy các thành phần như vậy. Câu hỏi đặt ra là thành phần Hán Tạng có gốc gác cụ thể thế nào và hòa huyết vào đại gia đình dân tộc Việt từ bao giờ. Rất có thể An Dương Vương là làn sóng hòa huyết lần thứ nhất của người Hán-Tạng.
Trong phần I chúng tôi cho rằng nếu thái tử nhà Thục chạy về nước Sở với một binh lực còn khá lớn, các lực lượng Thục cũng dần dần tụ họp lại ở phía Nam nước Sở, trong một thế hệ. Khi nước Sở mất, họ lại di chuyển tiếp về phía Nam, thống nhất các bộ tộc người Việt ở đây và trở thành thủ lĩnh liên minh bộ lạc, đã đánh bại quân Tần là Đồ Thư trong địa phận Quý Châu, Quảng Tây. (Thục Chế, Thục Phán). Sau đó Thục Phán diệt nước Văn Lang (nếu có), chứ không phải là liên minh.
Âu Việt gồm Đông Âu, ở vào vùng Phúc Kiến, Cối Kê là nước Việt của Câu Tiễn. Tây Âu ở bắc Quảng Tây, có sông Quế, sông Tầm. Sách Cựu Đường Thư, Địa lý chí nói "Thời Tần là Quế Lâm, thời Hán là Uất Lâm. Ấy là nơi cư trú của Tây Âu, Lạc Việt cổ". Có thuyết cho rằng Tây Âu và Lạc Việt cũng là một, chỉ các bộ lạc ở vùng Quảng Tây, Quý Châu (10 bộ lạc liên minh với Thục Chế).
1. Thuyết An Dương Vương có gốc gác từ nước Thục cổ là có khả năng thực tế. Vừa có thể giải thích được thành phần Hán-Tạng trong gien người Việt.


