Chủ Nhật, 6 tháng 2, 2022

NGUYỄN VĂN HIỆU VÀ TÔI, - Nguyễn Ái Việt (4b)

Phân 4b: 
 http://aivietnguyen.blogspot.com/2022/02/nguyen-van-hieu-va-toi-nguyen-ai-viet-4a.html

Ứng dụng phương pháp trường lượng tử trong vật lý chất rắn

     Khi về Viện Vật lý, tôi được phân công làm trong nhóm của các TS. Đào Vọng Đức và Nguyễn Thị Hồng. Nguyễn Văn Hiệu chỉ nói ngắn gọn “Cháu sẽ làm việc về lý thuyết hạt cơ bản với chú Đức, là một người rất giỏi. Chú cũng làm về hạt cơ bản, nhưng sẽ phụ trách nhóm nghiên cứu lý thuyết bán dẫn.” Sau này, tôi mới biết Nguyễn Văn Hiệu vẫn say mê và không ngừng nghiên cứu vật lý hạt cơ bản là mối tình khoa học đầu tiên của ông. Tuy vậy, ông nhận thức được rằng vật lý chất rắn sẽ có ý nghĩa lớn hơn đối với ứng dụng tại Việt Nam và tự thấy mình có trách nhiệm phát triển hướng nghiên cứu này. Ông tập hợp được một nhóm khá đông các nhà vật lý lý thuyết trẻ có năng lực, được tuyển chọn rất kỹ như Nguyễn Ái Việt A, Nguyễn Toàn Thắng, Nguyễn Bá Ân, Nguyễn Như Đạt, Nguyễn Vinh Quang, Hoàng Ngọc Cầm, Hà Vĩnh Tân, sau này có thêm Nguyễn Hồng Quang, Nguyễn Quê Hương, Hoàng Anh Tuấn, ngày nay đều là những nhà vật lý xuất sắc, thành danh. Trong phòng Lý thuyết còn có các anh lớn tuổi hơn như Nguyễn Văn Trọng, Nguyễn Ngọc Thuân, cũng là những nhà vật lý uyên bác, thông minh xuất chúng.

     Nguyễn Văn Hiệu muốn tạo ra một trường phái vật lý bán dẫn tại Việt Nam sử dụng thế mạnh của ông đã thành công vang dội tại Dubna là phương pháp tính biên độ tán xạ sử dụng các giản đồ Feynman. Nói ý tưởng thì đơn giản nhưng khi áp dụng không hoàn toàn như vậy. Trong nhiều năm, ông và các học trò đã phát triển một hướng đi độc đáo trong vật lý bán dẫn, phát triển một phương pháp luận tính toán các quá trình sinh hủy các giả hạt để giải thích rất nhiều hiện tượng vật lý trong chất bán dẫn. Rất nhiều công sức đã bỏ ra để có một phương pháp luận trong sáng, dễ hiểu, dễ dùng, từ những công cụ phức tạp của lý thuyết trường. Nhiều người cho rằng đây là cách dùng “đại bác bắn chim sẻ”, tuy vậy, tôi cho rằng đó là cách duy nhất làm đúng. Khi đó tại Việt Nam, tài liệu, điều kiện tiếp xúc quốc tế, điều kiện làm việc đều vô cùng khó khăn. Để có được một công trình mới có ý nghĩa có thể công bố được trên các tạp chí có uy tín trên thế giới là vô cùng khó khăn, chưa nói tới được việc hình thành một trường phái lớn, có ảnh hưởng tới thực nghiệm và ứng dụng. Một cách làm khác phổ biến hơn là vẫn tiếp tục các đề tài nghiên cứu ở nước ngoài và nỗ lực để có những thành công xuất sắc. Ở Phòng Vật lý thời đó, có những nhà khoa học giỏi như các anh Đoàn Nhật Quang, Nguyễn Văn Liễn, Nguyễn Minh Khuê, vẫn có thể làm những hướng khác, độc lập. Tuy vậy, nếu nhìn lại, nét chủ đạo vẫn là “công nghiệp tính toán sơ đồ Feynman cho bán dẫn” (như chúng tôi vẫn gọi đùa một cách thân thương) của nhóm nghiên cứu do GS Nguyễn Văn Hiệu lãnh đạo.

      Từ những năm 1980, lứa học trò đầu tiên của Nguyễn Văn Hiệu đã trưởng thành và đã vươn tới các đề tài hiện đại và có ý nghĩa vật lý sâu hơn như hiệu ứng Hall lượng tử, siêu dẫn nhiệt độ cao, quang học bán dẫn, tính toán lượng tử. Tuy tôi không làm việc trong nhóm của Nguyễn Văn Hiệu, nhưng tôi cũng học được ít nhiều các ý tưởng mới này qua các cuộc trò chuyện, semina và báo cáo hội nghị với các anh ở nhóm này, nhờ có chuẩn bị kiến thức cơ bản về Vật lý chất rắn và hệ nhiều hạt từ thời học đại học qua các giáo trình của C.Kittel và L.Landau. Một trong những điều thú vị của các Hội nghị Vật lý lý thuyết thời đầu là các chuyên gia ở các chuyên ngành có thể học hỏi từ các chuyên ngành khác. Trong nghiên cứu vật lý, việc có một nhãn quan rộng vượt khỏi đề tài hẹp của mình là vô cùng cần thiết.

Thứ Bảy, 5 tháng 2, 2022

NGUYỄN VĂN HIỆU VÀ TÔI - Nguyễn Ái Việt (4a)

 Thành lập Viện Vật lý 

     Năm 1969, Nguyễn Văn Hiệu cùng gia đình về nước, bằng chuyến tàu liên vận qua Syberia và Trung Quốc. Sau này, tôi đã từng đi chuyến tàu như thế, nên cũng có thể tưởng tượng được tâm trạng của GS. Hiệu khi đó như thế nào. Không thể nói là không có nhớ tiếc những công việc khoa học đang còn dang dở, môi trường làm việc lý tưởng đang thuận lợi, những người bạn đồng nghiệp tốt bụng và giỏi giang, cũng như những khắc khoải về khó khăn trước mắt. Tuy nhiên, tâm trạng sẵn sàng cho công việc mới mà đất nước đang sắp sửa giao phó cho ông cũng đầy hứng thú. Trên chuyến tàu này còn có TS trẻ Chu Hảo, sau này sẽ là Thứ trưởng Bộ Khoa học Công Nghệ, là người Nguyễn Văn Hiệu đã hướng dẫn nghiên cứu và đưa vào làm việc về Vật lý Chất rắn tại Dubna.  Tuy là thế hệ thầy trò, nhưng Chu Hảo cũng chỉ kém Nguyễn Văn Hiệu có vài tuổi.Tôi có thể tưởng tượng chuyến tàu đó với những câu chuyện về tương lai giữa hai nhà vật lý trẻ thông minh và vẻ mặt đăm chiêu của Nguyễn Văn Hiệu đã chìm đắm trong những viễn cảnh mới.

     Thảo luận về việc về nước năm 1969 của Nguyễn Văn Hiệu, nhiều bạn trẻ băn khoăn, tiếc nuối về việc vì sao Nguyễn Văn Hiệu không tiếp tục ở lại để nghiên cứu. Thực ra, thời bấy giờ việc hết thời gian làm việc về nước, đất nước đã đào tạo ra nhà khoa học, thì nhà khoa học phải về nước phục vụ là một việc rất tự nhiên. Tuy vậy, Nguyễn Văn Hiệu hoàn toàn có thể nhờ các Viện sĩ có uy tín can thiệp, tác động để chính phủ Liên Xô gửi công hàm đề nghị giữ ông tiếp tục làm ở Dubna. Rõ ràng, Nguyễn Văn Hiệu đã có chuẩn bị cho việc về nước từ những ngày đầu. Việc này hoàn toàn phù hợp với việc cùng một lúc tham gia vào nhiều hướng khoa học. Tôi suy luận và phỏng đoán rằng Nguyễn Văn Hiệu khi đó đã nghĩ tới việc xây dựng một nền vật lý tương lai cho Việt Nam, nên ông tìm hiểu và thu gom mọi kiến thức không phải cho một mình ông mà cho cả một cộng đồng. Chính vì thế, ông làm việc bằng 3,4  lần người khác. Một trong những học trò gần gũi của ông là GS. Nguyễn Hồng Quang, đã khẳng định trong những buổi tâm sự với các học trò gần gũi, GS. Hiệu cũng đã tâm sự những điều tôi đã suy luận được.

     Về đến Việt Nam, Nguyễn Văn Hiệu được Thủ tướng Phạm Văn Đồng và chính phủ giao cho việc thành lập Viện Vật lý, khi mới 31 tuổi. Cho tới nay, ông vẫn là người trẻ nhất làm Viện trưởng một Viện nghiên cứu. Tôi nghe được câu chuyện Thủ tướng Phạm Văn Đồng, khi biết được người ta xếp lương cho Nguyễn Văn Hiệu ở mức chuyên viên 1 là 105 đồng, đã tự tay thay đổi thứ tự các con số thành 150 đồng, bằng lương Bộ trưởng, chuyên viên 7. 

Thứ Năm, 3 tháng 2, 2022

NGUYỄN VĂN HIỆU VÀ TÔI, - Nguyễn Ái Việt (3d)

 Tán xạ phi đàn tính sâu

      Trong những năm cuối ở Dubna, Nguyễn Văn Hiệu đã làm việc với một nhóm các nhà vật lý xuất sắc nhất trong nhóm của Bogoliubov như A.A.Logunov, A.N.Tavkhelize,… xây dựng các phương án thí nghiệm cho Trung tâm Vật lý năng lượng cao đang sắp hoàn thành ở Serpukhov. Nguyễn Văn Hiệu đã sử dụng những công cụ ông hết sức thành thạo để tính toán biên độ tán xạ cho các quá trình va chạm các hạt cơ bản ở năng lượng rất cao. Về mặt lý thuyết, sau khi nhà vật lý, giải thưởng Nobel, người Anh P.Dirac tìm ra phản vật chất, người ta đã biết rằng khi các hạt có năng lượng rất lớn va chạm với nhau sẽ tạo ra các hạt mới, từ các cặp hạt-phản hạt. Các quá trình này được gọi là các quá trình tán xạ phi đàn tính sâu. Các tính toán của nhóm Logunov, Tavkhelidze và Nguyễn Văn Hiệu, là cơ sở để thiết kế các thí nghiệm tại Serpukhov. Do những đóng góp này, Nguyễn Văn Hiệu đã được tặng giải thưởng Lenin. Nguyễn Văn Hiệu và Logunov, giám đốc Trung tâm Serpukhov và sau này là Hiệu trưởng Đại học Quốc gia Moskva mang tên Lomonosov, đều được trở thành Viện sĩ Liên Xô.


Hình ảnh lý tưởng: Richard Feynmann

        Theo đánh giá cá nhân của tôi, nếu Nguyễn Văn Hiệu được tiếp tục nghiên cứu tại Liên Xô, ông sẽ còn có những thành công rực rỡ hơn nữa. Có thể sẽ có những hiệu ứng, những phương trình vật lý mang tên Nguyễn Văn Hiệu. Nhưng đất nước Việt Nam vào thời điểm đó đang như ông để xây dựng ngành Vật lý non trẻ.  Đó là một sự hy sinh không hề nhỏ của Nguyễn Văn Hiệu, khi ông trở về nước năm 30 tuổi, tài năng đang vừa độ chính, uy tín quốc tế của ông đã rất lớn, các hướng nghiên cứu của ông đều đang hứa hẹn những kết quả phi thường. Tuy vậy, đối với tương lai của đất nước, việc xây dựng nền vật lý và cộng đồng khoa học sẽ là quan trọng hơn. Việc chúng ta có được một nền vật lý như ngày nay với một tập thể đông đảo các nhà khoa học theo nhiều hướng nghiên cứu khác nhau là một kiệt tác tầm cỡ hơn nhiều của Nguyễn Văn Hiệu. Tư tưởng đó của Nguyễn Văn Hiệu và nhiều người cùng thời đã ảnh hưởng tới nhiều tới các quyết định quan trọng của tôi trong sự nghiệp.

        Nếu được chọn cho Nguyễn Văn Hiệu một môi trường làm việc lý tưởng trên thế giới sau năm 1964, tôi sẽ chọn cho ông trường Đại học Caltech, để làm việc cùng với R.Feynman, giải thưởng Nobel 1964. Toàn bộ sự nghiệp của Nguyễn Văn Hiệu tình cờ có một sự đồng cảm sâu sắc với các phát minh của Feynman. Ông rất thành thạo phương pháp tính giản đồ và tích phân phiếm hàm của Feynman. Nếu được tới Caltech vào năm 1964, có thể ông sẽ giúp Feynman hình thành ý tưởng về parton sớm hơn, có những tính toán nhanh hơn. Ý tưởng vật lý của Feynman và năng lực tính toán của Nguyễn Văn Hiệu có thể là một kết hợp tuyệt vời. Về tính cách con người và tư duy, giữa Feynman và Nguyễn Văn Hiệu có nhiều điểm khác biệt, có thể bổ sung cho nhau. Nhưng về chuyên môn, hai người có những đồng cảm sâu xa. Đặc biệt là ở việc quan tâm rất rộng tới nhiều khía cạnh trong vật lý. Tôi nhớ Feynmann đã từng nói đại ý “Hãy mang vấn đề tới đây. Tôi sẽ giải quyết nó bằng bất cứ cách nào, hoặc sẽ sáng tạo ra cách giải quyết nó.” Nguyễn Văn Hiệu cũng là một người như vậy. Đó là tư duy của người khổng lồ, không phải dân tộc nào, thế hệ nào cũng có thể sản sinh được.  




NGUYỄN VĂN HIỆU VÀ TÔI, - Nguyễn Ái Việt (3c)

 Đối xứng unita của các hạt sơ cấp

      Điểm đặc biệt trong thành công của Nguyễn Văn Hiệu ở chỗ ông đã có một tầm nhìn xa và sâu sắc về bức tranh toàn cảnh Vật lý. Đó là tư duy của một nhà lãnh đạo khoa học tương lai. Trong khi làm luận án TS, ông đã nghiên cứu song song thêm các đề tài khác về tương tác mạnh và đã có những kết quả quan trọng bên ngoài luận án TS. Chúng ta có thể thấy nhà khoa học trẻ Nguyễn Văn Hiệu khao khát kiến thức và có năng lực làm việc lớn như thế nào. Ở đây chúng ta đã thấy thấp thoáng bóng dáng của một người khổng lồ, vác lên vai tất cả những kiến thức đồ sộ mà anh có thể thấy trên đường, để đem về xây dựng cho nền vật lý tương lai của quê hương. Ông như muốn học cả cho những người đang ở quê nhà, đang đợi ông để cùng xây dựng nền vật lý tương lai cho Việt Nam.  Nếu chỉ để học cho cá nhân mình, hay vì bằng cấp, Nguyễn Văn Hiệu hoàn toàn không cần làm như vậy.  Đến Dubna năm 22 tuổi, 8 năm sau ông đã được phong học hàm GS Liên Xô, phụ trách một nhóm nghiên cứu lớn, có nhiều học trò giỏi.

   Cùng với GS. Ya.A.Smorodinsky, Nguyễn Văn Hiệu đã nghiên cứu đối xứng unita của các hạt cơ bản. Đây là một hướng nghiên cứu rất mới, do nhà vật lý Mỹ M.Gell Mann đề xuất. Đối xứng unita là một quy luật tuần hoàn, phản ánh các thuộc tính lặp đi lặp lại của rất nhiều hạt cơ bản được phát hiện trong các máy gia tốc có năng lượng rất cao. Các thuộc tính tuần hoàn này tương tự như các thuộc tính của các nguyên tố hóa học trong bảng tuần hoàn Mendeleev. Công cụ toán học để phân loại và sắp xếp các hạt cơ bản là lý thuyết biểu diễn nhóm, một lý thuyết rất khó và trừu tượng vào lúc bấy giờ. Bằng công cụ toán học mới này, người ta thấy có một vị trí trong bảng tuần hoàn mới đó còn thiếu. Gell Mann đã tính toán khối lượng của hạt đó mà được ông đặt tên là Omega. Năm 1964, người ta đã phát hiện hạt Omega, bằng thực nghiệm. Đó là một thành công rực rỡ của nhóm đối xứng unita, mà các nhà viết lịch sử khoa học thường so sánh với việc phát hiện ra hành tinh Neptun. Nhóm nghiên cứu của Smorodinsky và Nguyễn Văn Hiệu đã nghiên cứu về nhóm đối xứng unita rất sớm. Smorodinsky, khi đó đã là trưởng phòng vật lý lý thuyết tại Dubna, vốn là học trò của nhà vật lý Liên Xô, giải thưởng Nobel, L.D.Landau lừng danh. Ông là một trong số ít những người thành công trong kỳ sát hạch khó khăn của Landau dành cho các nhà vật lý trẻ. Trong nhóm nghiên cứu của Smorodinsky, Nguyễn Văn Hiệu là người đi tiên phong trong việc nghiên cứu các công cụ toán học của lý thuyết biểu diễn nhóm. Ông tính toán cẩn thận và giảng lại cho các đồng nghiệp. Các bài giảng này sau này được soạn lại thành sách, một sách giáo khoa mẫu mực về sự sáng sủa về dễ hiểu. Cuốn sách này được Viện sĩ Bogoliubov viết lời nói đầu. Nguyễn Văn Hiệu cũng là một trong những người đầu tiên đề xuất sử dụng nhóm SL(6,C) để biểu diễn hạt cơ bản. Đây là nhóm đối xứng vừa chứa đối xứng unita SU(6) mô tả đối xứng gần đúng của 6 hạt quark mà sau này người ta sẽ tìm ra và nhóm đối xứng tương đối tính Lorentz.

     Nhiều năm sau, hướng nghiên cứu về đối xứng unita và các đối xứng mở rộng được tiếp tục ở nhóm nghiên cứu tại Viện Vật lý của Đào Vọng Đức và Nguyễn Thị Hồng, và nhóm nghiên cứu tại Khoa Vật lý, Đại học Tổng hợp TPHCM của Nguyễn Ngọc Giao và Dương Văn Phi. Cá nhân tôi cũng là một chuyên gia trưởng thành từ hướng nghiên cứu này. Có thể nói, ảnh hưởng của Nguyễn Văn Hiệu đã lan tỏa trong giới Vật lý Việt Nam trong nhiều năm sau. 



Thứ Hai, 31 tháng 1, 2022

NGUYỄN VĂN HIỆU VÀ TÔI, - Nguyễn Ái Việt (3b)

Phần 3a: http://aivietnguyen.blogspot.com/2022/01/nguyen-van-hieu-va-toi-nguyen-ai-viet-3a.html

Phần 3b:

 
Bất biến thang độ và tương tác mạnh

     Với Viện sĩ N.N.Bogoliubov, giám đốc Viện Dubna, Nguyễn Văn Hiệu, nghiên cứu mô hình các hạt sơ cấp, các tính chất nhân quả của biên độ tán xạ. Các nghiên cứu đó, sau này có ảnh hưởng tới việc nghiên cứu các quá trình tương tác mạnh của các hạt sơ cấp, là một lĩnh vực khác với vật lý neutrino. Ông nhanh chóng có những đóng góp quan trọng vào những kết quả nổi tiếng thế giới về hệ thức tán sắc, tái chuẩn hóa của Bogoliubov. Viện sĩ N.N.Bogoliubov từng là một trong những thần đồng khoa học của Liên Xô, bắt đầu nổi tiếng với các công trình khoa học từ khi 15 tuổi. Có lẽ đó là điểm đồng cảm giữa Bogoliubov và Nguyễn Văn Hiệu. Chính Bogoliubov đánh giá rất cao tài năng của Nguyễn Văn Hiệu. Ông viết “Nhà vật lý tài giỏi và năng động Nguyễn Văn Hiệu đã trở thành một nhà vật lý lý thuyết có đẳng cấp cao. Anh nhanh chóng bước vào các lĩnh vực vật lý lý thuyết mới, nắm vững kỹ thuật nghiên cứu mới. Trong bất kỳ lĩnh vực nào anh làm việc, anh luôn đạt được những kết quả mới và quan trọng. Trong nhóm của Bogoliubov lúc đó có một nhà vật lý xuất sắc là A.A.Logunov. Ông bảo vệ TSKH năm 1959, khi đó đã là phó phòng Vật lý lý thuyết và là học trò cưng của Bogoliubov và là tấm gương để Nguyễn Văn Hiệu noi theo. Logunov cũng bỏ rất nhiều thời gian với Nguyễn Văn Hiệu và nhanh chóng có những kết quả tốt. Nhờ các kết quả này, Nguyễn Văn Hiệu đã bảo vệ thành công luận án TSKH về “Bất biến thang độ của tiết diện tán xạ tạo thành nhiều hạt” năm 1964, chỉ một năm sau khi bảo vệ luận án TS. Trong việc Nguyễn Văn Hiệu sớm bảo vệ thành công và xuất sắc luận án TSKH, Logunov là người có công lớn. Logunov rất cởi mở, luôn nói rằng Nguyễn Văn Hiệu là cộng sự của mình. Vì vậy, trong một thời gian dài, có nhiều người cho rằng Nguyễn Văn Hiệu là học trò của Bogoliubov cũng như Logunov. Sau này, Nguyễn Văn Hiệu đã cải chính điều này, nói rằng ông coi Logunov như thầy.

      Nhiều người đã đặt câu hỏi làm thế nào trong một năm Nguyễn Văn Hiệu có thể làm luận án về một đề tài mới, có những kết quả đỉnh cao để có thể bảo vệ luận án TSKH. Có người cho rằng đó là một may mắn, khi Nguyễn Văn Hiệu được làm việc trong một nhóm nghiên cứu đang “đào trúng mỏ vàng” như cách nói của M.A.Markov. Tuy vậy, tôi không nghĩ rằng Nguyễn Văn Hiệu đã thực hiện công việc một cách tuần tự và chỉ bắt đầu nghiên cứu về đề tài này sau khi hoàn thành luận án TS. Những người có kinh nghiệm trong lĩnh vực nghiên cứu này đều biết rõ rằng, trong một năm, chỉ để hiểu về một vấn đề trong lĩnh vực này cũng không thể đủ thời gian. Trong khoa học có những bước đi thần tốc, nhưng cũng cần những thời gian ấp ủ để ý tưởng sáng tạo chín muồi và nảy mầm. Bất biến thang độ là đặc trưng của tương tác mạnh giữa các hạt cơ bản, thể hiện bằng việc trong các quá trình tán xạ ở năng lượng cao, các hạt hadron thể hiện tính chất như là các hạt điểm, không có cấu trúc.

      Nguyễn Văn Hiệu sử dụng rất thành thạo các công cụ rất nổi tiếng mang tên “tái chuẩn hóa BPHZ” của nhóm Bogoliubov để mô tả tường minh bất biến thang độ. Nhưng đặt vấn đề nghiên cứu bất biến thang độ là một ý tưởng vật lý đi trước thời đại, chứ không phải chỉ là kỹ thuật tính toán. Sau này, đến năm 1966, nhà vật lý nổi tiếng người Mỹ J.Bjorken mới phát hiện ra thang độ Bjorken trong các tán xạ bao gồm hadron. Năm 1973, một nhà vật lý Mỹ khác S.Brodsky mới phát biểu tường minh ý tưởng áp dụng bất biến thang độ trong các quá trình tương tác mạnh sử dụng sắc động học lượng tử. Dựa trên các ý tưởng này, nhà vật lý Mỹ, giải thưởng Nobel 1964, R.Feynmann đã phát triển mô hình parton, làm cơ sở cho những quá trình thực nghiệm khẳng định sự tồn tại của quark. Trong thập kỷ 1980, nhóm nghiên cứu của GS. Trần Hữu Phát ở Viện 481 có nhiều công trình nghiên cứu xuất sắc về mô hình parton và các hiệu ứng EMC tính đến vi phạm bất biến thang độ.  

      Ở hướng nghiên cứu này, chúng ta thấy ảnh hưởng của Bogoliubov đối với Nguyễn Văn Hiệu rất lớn. Nhiều cộng sự với Nguyễn Văn Hiệu sau này đã kể lại, việc ông đã đọc đi đọc lại bộ sách “Nhập môn lý thuyết trường lượng tử” của Bogoliubov và Shirkov, tính toán rất chi tiết đến từng bước suy diễn đơn giản nhất. Ông đã bắt đầu đọc bộ sách này ngay từ khi vừa mới tốt nghiệp đại học, làm việc ở Khoa Vật lý. GS. Nguyễn Hoàng Phương, chủ nhiệm đầu tiên của Khoa Vật lý, Đại học Tổng hợp Hà Nội, sau khi làm việc tại Dubna đã mang bộ sách này về và giới thiệu bộ sách này với các nhà vật lý trẻ trong khoa, tại semina khoa học về Vật lý lượng tử do ông tổ chức. Semina này đã đào tạo ra một thế hệ vật lý xuất sắc và sau này sẽ thành danh như Trần Hữu Phát, Đào Vọng Đức, Cao Chi, Nguyễn Ngọc Giao, Lương Duyên Bình, Phạm Công Dũng,… Người tiếp cận nhanh nhất được với kiến thức mới là Nguyễn Văn Hiệu. Ông đã được GS. Nguyễn Hoàng Phương giới thiệu với GS Tạ Quang Bửu là một nhà khoa học “trẻ và giỏi một cách kỳ lạ.” Chính GS. Phương đã đề nghị Nguyễn Văn Hiệu thay mình đi làm cộng tác viên về vật lý lý thuyết tại Dubna. Trong khoa học, thành công phụ thuộc vào cố gắng và năng lực cá nhân, nhưng sự giúp đỡ ban đầu là một trong những may mắn quan trọng nhất. Phải rất nhân văn mới nhận thức được những điều quý giá mà sau này chỉ có vẻ rất nhỏ nhặt.



NGUYỄN VĂN HIỆU VÀ TÔI - Nguyễn Ái Việt (3a)

Phần 2: http://aivietnguyen.blogspot.com/2022/01/nguyen-van-hieu-va-toi-nguyen-ai-viet-2.html 

Phần 3a: 

Những năm thành công huyền thoại tại Dubna

    Lớp cán bộ trẻ của phòng Vật lý lý thuyết, Viện Vật lý chúng tôi thời đó vẫn truyền tụng nhau về những thành công huyền thoại của GS Nguyễn Văn Hiệu tại Viện nghiên cứu liên hợp hạt nhân Dubna. Chính Viện sĩ Viện trưởng N.N.Bogoliubov lừng danh đã đánh giá Nguyễn Văn Hiệu là một trong số nhà khoa học trẻ giỏi và thông minh nhất một thời tại Dubna, là nơi vốn quần tụ các anh tài vật lý một thời của Liên Xô và các nước Đông Âu. Nếu như đa số các nhà khoa học Việt Nam thời bấy giờ và sau này đều làm việc với một thầy, tập trung vào một đề tài để bảo vệ cho xong luận án TS, rồi tiếp tục làm TSKH, Nguyễn Văn Hiệu đã thể hiện một cách làm hoàn toàn khác. Ông không chỉ nhanh chóng hoàn thành nội dung luận án TS, mà còn đồng thời tham gia nghiên cứu với nhiều những nhóm nghiên cứu hàng đầu của Dubna và nhanh chóng có thành tựu vang dội và có tầm cỡ thực sự.

Tính chất tiệm cận biên độ tán xạ và vật lý neutrino

      Tại phòng thí nghiệm neutrino, Nguyễn Văn Hiệu làm việc với các Viện sĩ M.A.Markov và B.Pontercovo về tương tác yếu của các hạt neutrino bí ẩn, có khả năng đâm xuyên qua mọi vật cao nhất trong các hạt mà chúng ta biết. Lĩnh vực này đến nay vẫn là một trong những lĩnh vực sôi động và còn nhiều bí ẩn nhất trong vật lý. Chính Viện sĩ Markov là người đề xuất ý tưởng kính viễn vọng neutrino ngầm dưới đáy biển. Viện sĩ Pontecorvo là cha đẻ của ý tưởng dao động neutrino. Hiện tượng này chỉ được kiểm chứng thực nghiệm sau khi Pontecorvo mất 22 năm, đem lại giải thưởng Nobel năm 2015 cho nhà vật lý người Nhật T.Kajita và nhà vật lý người Canada A.B.McDonald.  Năm 1963, khi bảo vệ luận án TS nhan đề “Các hệ thức tiệm cận của biên độ tán xạ trong lý thuyết trường lượng tử tương đối tính” liên quan tới các tính chất của neutrino, Nguyễn Văn Hiệu đã công bố 12 công trình khoa học. Trả lời phỏng vấn báo chí, Viện sĩ Markov nói “Bạn và tôi đang tiếp xúc với một con người xuất chúng. Đôi khi người ta thực sự gặp may trong công việc nhờ tìm thấy một ý tưởng thiên tài dẫn đến những kết quả quan trọng, như phát hiện một mỏ vàng. Nguyễn Văn Hiệu đi theo một con đường khác. Như người ta thường nói, anh không ngồi chờ khoa học đến "bố thí"; anh đã đạt được những kết quả đáng ngạc nhiên bằng cách lao động rất nhiều, bằng năng lực lao động rất lớn”. Tình cờ, tôi cũng có duyên nợ với con số 12 này, năm 1987, khi bảo vệ luận án TS Toán Lý trong nước, tại Viện Vật lý, tôi cũng đã có 12 bài báo được công bố. 

    Nguyễn Văn Hiệu đã có cơ hội hợp tác với Pontecorvo để đi đầu trong hướng nghiên cứu về dao động neutrino. Và nếu ông nhận thức được tầm quan trọng của neutrino, hoàn toàn  có thể giải thưởng 2015 đã phải nhắc đến tên ông. Tuy vậy, có vẻ như Nguyễn Văn Hiệu quan tâm nhiều tới sử dụng công cụ tính toán để có những thành công nhanh chóng hơn là những vấn đề vật lý cơ bản cần thời gian dài để chín muồi. Do đó, ông hướng sự chú ý tới hướng nghiên cứu thuộc một phòng thí nghiệm khác.



NGUYỄN VĂN HIỆU VÀ TÔI - Nguyễn Ái Việt (2)

Phần 1:  
http://aivietnguyen.blogspot.com/2022/01/nguyen-van-hieu-va-toi-1.html
Phần 2:

Hai đặc trưng đáng yêu nhất của Nguyễn Văn Hiệu   

       Năm 1978, khi đang học năm thứ 4, ngành Vật lý, tại Đại học Debrecen, Hungary, tôi nhận được một bức thư với nét chữ lạ, rắn rỏi, vuông vức. Trên phong bì đề Nguyễn Văn Hiệu. Bức thư khá dài, đại khái ông được biết tôi đang học Vật lý lý thuyết, và rất mừng khi có người sẽ theo ngành của ông. Ông căn dặn tôi nghiên cứu về các hướng mô hình quark, sắc động học lượng tử và hiện tượng cầm tù quark. Quark là hạt do nhà vật lý Mỹ, giải thưởng Nobel 1969, M.Gell Mann đề xuất là hạt thành phần cho các hạt cơ bản thuộc họ hadron. Dựa trên giả thiết về sự tồn tại của quark, người ta có thể giải thích được một lớp rất lớn các hạt cơ bản quan sát được trong các máy gia tốc năng lượng cao. Các hạt baryon được giải thích là trạng thái liên kết của ba hạt quark, các hạt meson được giải thích là trạng thái liên kết của một hạt quark và một hạt phản quark. Các quark tương tác với nhau thông qua một trường màu với lượng tử là các hạt gluon, tương tự như photon là lượng tử của trường điện từ. Sắc động học lượng tử là lý thuyết tương tác giữa các quark. Do quark không quan sát được trong thực tế, người ta giả thiết quark bị cầm tù trong những cái túi. Ngày nay, sự tồn tại của quark là một trong những cơ sở của Mô hình Chuẩn, là nền tảng cho hiểu biết của chúng ta về vật lý cơ bản ở vùng năng lượng cao mà các máy va chạm trên Trái Đất có thể đạt tới. Nhưng hồi đó, nhiều nhà vật lý vẫn chưa thực sự tin tưởng ở sự tồn tại của quark. Vì vậy, lá thư của GS. Nguyễn Văn Hiệu làm tôi vừa mừng vui vừa ngạc nhiên. Trước hết, tôi ngạc nhiên khi biết ở Việt Nam đã có người quan tâm đến vấn đề mới như thế này. Ở Debrecen, nơi tôi học đại học, với phong cách khá thủ cựu, người ta hoàn toàn không nhắc đến quark. Điều đó làm các sinh viên trẻ như bị giam cầm vào các đề tài cũ kỹ. Thứ hai, việc GS. Nguyễn Văn Hiệu quan tâm viết cho tôi, một sinh viên trẻ, không có tiếng tăm gì, một lá thư dài và chi tiết như thế, không phải là một việc thường thấy ở các nhà quản lý Việt Nam. Sau này, tôi mới biết việc luôn luôn quan tâm tới những vấn đề vật lý thời sự nhất trên thế giới và tới các sinh viên trẻ là thói quen và phong cách suốt đời của Nguyễn Văn Hiệu. Tuy không có điều kiện làm việc trực tiếp nhiều với ông, tôi luôn kính trọng ông về điều đó.

      Rất may cho tôi, hồi bấy giờ Budapest đang là một trong những trung tâm nghiên cứu sôi động trên thế giới với mô hình túi quark Budapest do J.G.Kuti, sau này là GS ở Đại học San Diego (Mỹ) dẫn đầu. Các nhà vật lý nổi tiếng thế giới như P.Dirac, V.Gribov, H.Nielsen,…đều thường xuyên đến Budapest dự hội thảo, đọc bài giảng. Vì vậy, tôi dễ dàng tiếp cận về những vấn đề mà GS. Nguyễn Văn Hiệu đã “đặt hàng”. Nếu như GS. Nguyễn Hoàng Phương, định hướng cho tôi học Vật lý lý thuyết, thì GS. Nguyễn Văn Hiệu là người định hướng cho tôi nghiên cứu vật lý hạt cơ bản. Năm thứ 5 đại học, tôi chuyển về Budapest làm luận văn tốt nghiệp về “Mô men từ của baryon trong mô hình thế năng dao động điều hòa của quark” với Viện sĩ I.Lovas tại Viện Vật lý Trung tâm. Tôi được dự các bài giảng về Sắc động học lượng tử của J.G.Kuti và Hình học vi phân của G.Sos tại Đại học Tổng hợp Budapest. Năm đó tôi cũng được giải thưởng đặc biệt trong cuộc thi Ortway Rudolph dành cho các nhà vật lý trẻ, đồng thời có kết quả nghiên cứu tốt, tôi được Viện Hàn Lâm đề nghị chuyển tiếp sinh, với một vị trí nghiên cứu được thu xếp ngoài hiệp định giữa hai nước. Tuy vậy, tôi nóng lòng về nước gặp Nguyễn Văn Hiệu để kể cho ông nghe về những cái tôi đã làm được. Tôi nghĩ rằng tôi sẽ quay lại Budapest dễ dàng trong một thời gian ngắn. Nhưng nếu ở Việt Nam có công việc cần đến tôi, thì việc quay lại Budapest cũng không hoàn toàn quan trọng. Hồi đó chúng tôi đều nghĩ đơn giản và trong sáng, không hề màng tới bằng cấp, sở thích và lợi lộc cá nhân như thế.

      Về Việt Nam, tôi có hai lựa chọn là về Viện Hạt Nhân của GS.Nguyễn Đình Tứ hoặc về Viện Vật lý của GS.Nguyễn Văn Hiệu. GS. Nguyễn Đình Tứ, khi đó đang kiêm Bộ trưởng Bộ Đại học, là người có quyền quyết định về việc quay lại Budapest làm việc của tôi. Ông đã gặp tôi đề xuất tôi trở lại Budapest nghiên cứu về vật lý lò phản ứng. Ông giới thiệu cho tôi các anh Trần Thanh Minh, Phạm Duy Hiển từ Đà Lạt ra và nhóm lý thuyết của các anh Cao Chi, Đoàn Nhượng, tại trụ sở Nguyễn Du. Các anh đều rất dễ mến và cởi mở. Phải nói đề xuất của Nguyễn Đình Tứ khá hấp dẫn, tôi vẫn có thể tiếp tục nghiên cứu về quark vừa học thêm các kiến thức để vận hành lò phản ứng ở Đà Lạt, là công việc đang rất cấp thiết. Nhưng cuối cùng tôi bị thu hút bởi phong cách của Nguyễn Văn Hiệu nhiều hơn. Ông tới nhà tôi nhiều lần, rồi chạy sang Bộ Đại Học, để xin cho tôi về Viện Vật lý. Lần nào ông cũng tất tả đến rồi đi như một cơn lốc, nhiều lần không ngồi, chỉ đứng nói và nói ầm ầm. Ông có một phong cách sôi nổi, lôi cuốn đối với bọn trẻ như tôi, trái với phong cách nhỏ nhẻ điềm đạm của Nguyễn Đình Tứ. Nguyễn Hoàng Phương cũng ủng hộ tôi về làm việc ở Viện Vật lý của  GS Hiệu. Sau này tôi mới biết GS Hiệu tốt nghiệp đại học khi mới 18 tuổi, năm 1958 và năm 22 tuổi đã được các thầy Nguyễn Hoàng Phương và Tạ Quang Bửu giới thiệu và cử đi nghiên cứu tại Dubna.



NGUYỄN VĂN HIỆU VÀ TÔI - Nguyễn Ái Việt (1)

 Người khổng lồ cô đơn

      Hơn nửa thế kỷ qua, cái bóng của Nguyễn Văn Hiệu vẫn sừng sững phủ lên nền khoa học, ngành Vật lý Việt Nam và các học trò của mình. Ông là người cuối cùng của thế hệ đã đặt nền móng cho nền khoa học đó. Là một nhà lãnh đạo khoa học lâu năm nhất, ông có nhiều người mang ơn, yêu quý, nhưng  cũng không thiếu  người không ưa, trách móc hay ghen tị. Nhưng thật công tâm mà nói, ai cũng phải thừa nhận tài năng khoa học và đóng góp của ông cho khoa học nước nhà.      

         Cá nhân tôi đánh giá Nguyễn Văn Hiệu là một tài năng lớn mà mỗi dân tộc không phải lúc nào cũng có thể sản sinh ra. Năng lực và nỗ lực cá nhân đặc biệt hội tụ với những cơ hội hiếm có đã chung đúc nên một Nguyễn Văn Hiệu xuất chúng như chúng ta biết. Sẽ phải còn rất lâu, dân tộc ta mới sẽ sản sinh được một tượng đài như thế.

      Dù vậy, tôi đã băn khoăn nhiều trước khi cầm bút viết bài này. Một mặt, tôi chưa từng là học trò hay đồng sự gần gũi của Nguyễn Văn Hiệu. Kỷ niệm của tôi với ông không có nhiều, thậm chí chỉ là một tấm ảnh chụp chung cũng không có, không đủ thuyết phục để viết về ông. Mặt khác, tôi không phải là một người có thể viết tốt một bài tổng kết, đánh giá để tôn vinh một người vừa nằm xuống. Về tư duy quản lý khoa học, tôi và Nguyễn Văn Hiệu thuộc về hai thời kỳ hoàn toàn khác nhau. Có thể giữa chúng tôi có một mối tương thông nào đó về tư tưởng, hoặc với tư cách là đồng nghiệp, tôi có thể diễn giải ý nghĩa  nhiều công trình khoa học của Nguyễn Văn Hiệu để mọi người có thể hiểu đúng những giá trị thực sự đẹp đẽ đằng sau vẻ chói lòa của chúng. Tôi có thể sẽ viết một cuốn sách đầy đủ về ông vào một dịp khác, khi không khí trang trọng nhớ tiếc đối với ông sẽ lắng xuống, nhường chỗ cho việc suy nghĩ duy lý và công bằng hơn. Cuối cùng, như một con người Nguyễn Văn Hiệu có những điểm yếu, những bi kịch cá nhân, bị giằng xé bởi nhiều mâu thuẫn. Sẽ là phiến diện, công thức một chiều hay sáo mòn, nếu không hiểu được những khía cạnh con người, cảm thấy được sức nặng mà ông đã phải gánh chịu để thấy hết được tầm cỡ  lớn lao của ông.

      Nhắc đến GS Nguyễn Văn Hiệu, tôi luôn nhớ tới hình ảnh của ông rất đẹp vào những năm 1980: mạnh mẽ, xốc vác, sẵn sàng xông vào bất cứ vấn đề khoa học nào, không ngán ngại bất cứ vấn đề quản lý nào. Ông như một người khổng lồ sẵn sàng vác cả ngành vật lý và cả nền khoa học Việt Nam trên vai mình. Vào một ngày nào đó, buổi sáng, GS Hiệu có thể đang say sưa nói về lý thuyết siêu hấp dẫn trong không gian 11 chiều, giảng về ứng dụng lý thuyết trường lượng tử trong vật lý bán dẫn, buổi chiều, ông đã tất tả bay vào Tây Nguyên, vật nài một ai đó để có hàng trăm mét khối gỗ xây dựng cho Viện Khoa học Việt Nam. Dưới những áp lực khủng khiếp của thời cuộc, của những định kiến lạc hậu và ngộ nhận duy ý chí của một thời, để tồn tại và được làm việc, ông đã phải thỏa hiệp, chịu đựng và thậm chí phải đánh đổi rất nhiều. Đằng sau vinh quang chói lọi là sự cô đơn mênh mông. Nhưng với một năng lượng tinh thần không bao giờ cạn, ông luôn miệt mài với công việc mới, không nề hà bất cứ công việc nào, dẫm lên nỗi buồn mà đi. Có lẽ với tâm thế như vậy, ông dần hình thành một dáng đi rất đặc biệt: bước chân nặng nề, đầu gối như phải chịu áp lực ngàn cân, tưởng chừng sẽ sụt xuống, nhưng rồi lại hết sức bật lên, không ngừng tiến tới, giống như một người khổng lồ trong thần thoại Hy Lạp đang vác cả bầu trời trên đôi vai vạm vỡ của mình.




Chủ Nhật, 9 tháng 1, 2022

Chỉ những nền văn hoá lớn mới nuôi được bọn gàn

Dân tộc nào, thời đại nào cũng có người gàn. Socrates đốt đuốc tìm chân lý ban ngày. Diogenes sống trong thùng gỗ. Bá Di Thúc Tề không ăn thóc nhà Chu đến nỗi chết đói Thú Dương. Nhạc Phi cùng con trai bị hãm chết ở Phong Ba Đình vẫn tin ở "thiên nhật chiêu chiêu" (mặt trời sáng tỏ). Bùi Giáng rách rưới, đói khát, ngủ ngoài đường mà tự cho mình là trích tiên.

Gàn tức là đi ngược lại tính toán khôn ngoan thường tình. Thường thì gàn không có công tích gì cụ thể, chẳng tạo lập được tài sản, ngu ngơ giữa đường đời, thiệt thân mình, khổ vợ con.
Vậy mà những dân tộc lớn lại trọng người gàn. Những dân tộc quá tỉnh táo, khinh rẻ người gàn thường lại là nhược tiểu, đói nghèo, lạc hậu, suốt ngày nói chuyện khởi nghiệp, đi tắt đón đầu, mơ chuyện ông Bành Tổ, chê bai kẻ gàn dở, khinh bạc kẻ cần kiệm, bạc đãi kẻ không biết xa hoa.
Quốc gia sáng suốt không phải là tập hợp của những kẻ quá tinh ranh. Kẻ tinh ranh thành thói quen tính lợi hại trước mắt. Tính lợi hại thì xoay chiều liên tục, như chiếu tam cúc, chuyển tiền từ túi này qua túi khác rồi lại trở về, khó sinh giá trị mới. Quốc gia sáng suốt phải dựa trên các giá trị ổn định. Không ai giữ giá trị ổn định đáng tin cậy bằng bọn gàn. Vì sao quỹ khoa học, quỹ đầu tư của các quốc gia, không phải lo quản lý đến từng xu mà chọn lựa vẫn công tâm, hiệu quả đầu tư cao? Vì bọn quản lý toàn những tay gàn, không hề quan tâm đến thiệt hơn. Đừng có tưởng bọn Tây là ngố ngốc dễ lừa. Không bọn con buôn nào ma lanh láu cá như bọn tư bản Tây. Nhưng hễ cần hỏi ý kiến là chúng mời ngay bọn gàn, được chăm bẵm để giữ bằng được bản tính gàn và để ra các quyết định thay cho xã hội.
Cố nhiên các quốc gia tinh ranh hơn không đời nào chịu nuôi bọn gàn, để mất thời gian nghe chúng bàn chuyện viển vông, nghiên cứu phát triển RD gì đó vớ vẩn. Vả lại có muốn nuôi cũng chẳng nuôi nổi vì các quốc gia này thường đói nghèo, lạc hậu, quốc khố rỗng tuếch có được đồng nào không bị bọn tinh ranh tham nhũng thì đã bị các quyết định đầu tư ngu xuẩn ăn hết sạch.
Vì thế mới có chuyện bà bán phở ở khu Kim Liên xem TV thấy giới thiệu về Giáo sư Trần Đức Thảo nổi tiếng thế giới bèn chép miệng mà rằng "Cũng là Trần Đức Thảo mà Trần Đức Thảo của người ta sao mà giỏi giang quý hoá thế. Trần Đức Thảo ở khu mình sống khác gì con chó".

Thứ Hai, 6 tháng 12, 2021

NỬA TIẾNG CHUÔNG CHÙA

  Mấy năm trước, nửa đêm tỉnh dậy nhìn sông Hồng, cao hứng dịch bài Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế:

Sương giăng quạ gọi trăng tàn

Lửa chài cây bến miên man nỗi sầu

Cô tô thành cũ còn đâu

Đêm buông nửa tiếng chuông rầu thuyền ai

Phong Kiều Dạ Bạc, là một trong những bài thơ Đường hay nhất. Nửa đêm nhìn sông, chút ánh đèn le lói, trời mù sương, chợt nhớ thơ Trương Kế.
Người bình thường đọc thơ thường dịch với ngắt câu
Dạ bán | chung thanh | đáo | khách thuyền
Nửa đêm | tiếng chuông | đến | thuyền khách
Không hiểu sao trong đầu tôi khi đọc câu này lại tự động ngắt
Dạ | bán chung thanh | đáo | khách thuyền
Đang đêm | nửa tiếng chuông | đến | thuyền khách
Nghe tứ thơ hiện đại mà thi vị hơn hẳn. "Nửa tiếng chuông" nghe không sáo mòn như "tiếng chuông".
Nhân tiện tra luôn ý nghĩa của Phong Kiều xem tên của bài thơ
Phong Kiều là địa danh ở ngoài cửa Xương Môn thành phố Tô Châu. Người ta thường nói "Trên trời có thiên đàng, hạ giới có Tô Hàng" ý nói phong cảnh tuyệt đẹp. Tôi mới qua Tô Châu một lần chưa thấy hết cái đẹp, nhưng rất mê Hàng Châu. Tô Châu thời cổ chính là Cô Tô của nước Ngô, nơi Ngô Vương Phù Sai ngắm trăng với người đẹp Tây Thi để Ngũ Tử Tư phẫn hận lo cho nước mà chết. Rồi Phạm Lãi đem thuyền đón nàng đi chơi Ngũ Hồ. Đợi hoài trên bến mà đâu có thấy người, lòng nhớ buồn cô quạnh.
Biết thêm một điều lý thú Phong Kiều vốn là 枫桥 Cây cao có lá, sau bài thơ của Trương Kế mới đổi thành 封桥 Cây phong cao.
Không biết Trương Kế nghe hiểu lầm chữ Phong mà đề thơ hay ông muốn chơi chữ. Vì trong bài thơ có cây phong trên sông.
Đọc lại cả bài cho vui.
楓橋夜泊
月落烏啼霜滿天
江楓魚火對愁眠
姑蘇城外寒山寺
夜半鐘聲到客船

Phong Kiều dạ bạc
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền

Bản dịch của Nguyễn Hàm Ninh
Trăng tà chiếc quạ kêu sương
Lửa chài cây bến sầu vương giấc hồ
Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San

Bản dịch của Tản Đà hơi phá cách nghe không mượt bằng
Quạ kêu, trăng lặn, sương rơi
Lửa chài, cây bãi, đối người nằm co
Con thuyền đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San
Các cao thủ đều dịch là nửa đêm. Tuy nhiên, nửa đêm chữ Hán người ta thường nói là "bán dạ" mới đúng.